1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

Thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động thực trạng và những khía cạnh pháp lí đặt ra

10 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỬU- TRAO ĐÔITHOẢ THUẬN HẠN CHÊ CẠNH TRANH TRONG ŨNH vực LAO ĐỘNG THỰC TRẠNG VÀ NHŨNG KHÍ A CẠNH PHÁP LÍ ĐẶT RA TRẦN THỊ THÚY LÂM * NGUYỄN VIỆT HÙNG ** * Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Tr

Trang 1

NGHIÊN CỬU- TRAO ĐÔI

THOẢ THUẬN HẠN CHÊ CẠNH TRANH TRONG ŨNH vực LAO ĐỘNG

THỰC TRẠNG VÀ NHŨNG KHÍ A CẠNH PHÁP LÍ ĐẶT RA

TRẦN THỊ THÚY LÂM * NGUYỄN VIỆT HÙNG **

* Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội

E-mail: thuylamld@hlu.edu.vn

** Thạc sĩ, Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và

công nghệ

E-mail: nguyenviethung@ipvietnam.gov.vn

Tóm tắt: “Thoả thuận hạn chế cạnh tranh ” (non-compete agreement) trong lĩnh vực lao động đã được ghi nhận trong pháp luật lao động của một số quốc gia nhằm bảo vệ bí mật kinh doanh của người sử dụng lao động, hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh từ các đối thủ cạnh tranh Pháp luật Việt Nam chưa có quy định trực tiếp về “thoả thuận hạn chế cạnh tranh ” trong lĩnh vực lao động đã dân đến sự lúng túng của của các cơ quan có thấm quyển trong việc giải quyết một so vụ tranh chấp xảy ra trong thực tế Bài viết phân tích về thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động, thực trạng pháp luật và những khia cạnh pháp lí đặt ra đối với những thoả thuận này từ một số vụ việc trên thực tế; đưa ra kiến nghị nhằm xây dựng khung pháp lí về thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam.

Từ khoá: Thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động; bảo vệ bỉ mật kinh doanh; người sử dụng lao động

Nhận bài: 02/8/2021 Hoàn thành biên tập: 12/01/2022 Duyệt đăng: 12/01/2022

NON -COMPETE AGREEMENT IN LABOUR - REALITY AND LEGAL ASPECTS

Abstract: Non-compete agreement in labour has been acknowledged in the labour code of many countries to protect the employers ’ trade secrets and prevent unfair competition Due to the lack of regulations regarding ‘non-compete agreement’ in Vietnamese law, there has been confusion from authorities while resolving such disputes This article will discuss the ‘non-compete agreement ’ and its legal aspects from real-life cases and then, propose solutions to formulate a legal framework on non-compete agreement in the labour sector of Vietnam.

Keywords: Non - Compete Agreement in labour; trade secret protection; employer

Received: Aug 2nd, 2021; Editing completed: Jan 12th, 2022; Accepted for publication: Jan 12th, 2022

1 Khái niệm thoả thuận hạn chế cạnh

tranh trong lao động

Mồi doanh nghiệp đều có những thông

tin và dữ liệu mà doanh nghiệp xem là đặc

biệt quan trọng đối với sự phát triển và thành công của doanh nghiệp Trong quá trình làm việc, người lao động (NLĐ), đặc biệt là các nhân sự cấp cao có thế được tiếp cận với thông tin mật của doanh nghiệp như bí mật kinh doanh, bí quyết công nghệ sản xuất, chiến lược kinh doanh, thông tin và sự quen biết với khách hàng Nếu NLĐ này đi làm việc ở chỗ khác và mang những sự hiểu biết

Trang 2

NGHIÊN cứu- TRAO ĐÓI

này đến phục vụ cho người sừ dụng lao động

(NSDLĐ) khác, nhất là NSDLĐ đó lại là đối

thủ cạnh tranh thì có thể sẽ gây ra những

thiệt hại nghiêm trọng cho NSDLĐ trước đó

Vì vậy, để hạn chế việc NLĐ làm rò rỉ

thông tin cũng như sử dụng một cách bất

chính những thông tin, dữ liệu này trong và

sau khi hợp đồng lao động (HĐLĐ) kết thúc,

NDSLĐ thường yêu cầu NLĐ kí kết các cam

kết về thoả thuận hạn chế trong lĩnh vực lao

động như thoả thuận bảo mật, thông tin, thoả

thuận hạn chế tiếp cận và thoả thuận hạn chế

cạnh tranh Trong đó, thoả thuận hạn chế

cạnh tranh là loại thoả thuận quan trọng nhất

và hạn chế sự cạnh tranh của NSDLĐ một

cách toàn diện nhất

Vậy thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong

lao động là gì? Theo Đạo luật Thoả thuận

hạn chế cạnh tranh của bang Massachusetts,

Hoa Kỳ do Thống đốc Charlie Baker kí

thông qua ngày 10/8/2018, áp dụng với các

thoả thuận hạn chế cạnh tranh với NLĐ làm

việc hoặc cư trú tại bang Massachusetts thì:

“Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là thoả

thuận giữa một NSDLĐ và một NLĐ, hoặc

phát sinh từ một quan hệ lao động sắp được

hình thành, trong đó NLĐ hoặc NLĐ tưcmg

lai đồng ỷ rằng họ sẽ không tham gia vào

một số hoạt động nhất định có tính cạnh

tranh với NSDLĐ sau khi quan hệ lao động

chấm dứt”.^

Luật số 276 năm 2017 của bang Nevada

về thoả thuận hạn chế cạnh tranh thì cho

rằng: “Thoả thuận hạn chế cạnh tranh (noncompetition covenant) là thoả thuận giữa NSDLĐ và NLĐ, sau khỉ chấm dứt quan hệ lao động với NLĐ, cẩm NLĐ thực hiện ngành nghề tương tự có cạnh tranh hoặc làm việc cho một đổi thủ cạnh tranh củaNSDLĐ".™

Như vậy, có thể thấy, tuy có sự diễn đạt khác nhau nhưng khái niệm thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong các đạo luật trên đều xác định đây là thoả thuận giữa NSDLĐ với NLĐ, theo đó NLĐ sẽ cam kết không làm việc cho đối thủ cạnh tranh của NSDLĐ sau khi chấm dứt HĐLĐ Tuy nhiên, các khái niệm này mới chỉ nhắc đến sự hạn chế sau khi HĐLĐ chấm dứt mà chưa đề cập hạn chế với NLĐ khi HĐLĐ đang còn hiệu lực và cũng chưa đề cập mục đích chính của thoả thuận hạn chế cạnh tranh là nhằm bảo vệ thông tin mật của NSDLĐ, nên có thể dẫn đến khả năng hiểu nhầm về ý nghĩa, giá trị của thoả thuận này.(3)

Thực tế cho thấy không thể tồn tại một thoả thuận độc lập với nội dung không được làm việc cho đối thủ cạnh tranh mà nó thường được lồng ghép trong thoả thuận không tiết lộ, bảo mật và không cạnh tranh (non - disclosure agreement and confidentiality and non - competition), thường gọi là NDA

ND A ra đời dựa trên nhận thức: khi NLĐ làm việc ít nhiều họ sẽ biết được các thông

(2) Assembly Bill No 276, https://www.leg.state.nv us/Session/79th2017/Bills/AB/AB276_EN.pdf, truy cập 10/7/2021.

(3) Đoàn Thị Phương Diệp, “Điều khoản bảo mật - Hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng lao động”, Tạp

chí Nghiên cứu lập pháp, (24)/2015, Hà Nội, tr 48

(1) The Massachusetts Noncompetition Agreement

Act added by St.2018, c 228, § 21, https://www

mass.gov/info-details/mass-general-laws-cl49-ss-241

#contact, truy cập 10/7/2021.

Trang 3

NGHIÊN cứu- TRAOĐỞI

tin mật (Confidential Information) của

NSDLĐ (một số doanh nghiệp dùng từ bí

mật kinh doanh sẽ có nghĩa hẹp hon); để hạn

chế các thông tin này bị rò ri - mà quan ngại

nhất là lọt vào tay công ti bị định vị là đổi

thủ cạnh tranh, NSDLĐ sẽ yêu cầu NLĐ

phải kí NDA trước khi chính thức làm việc

cho NSDLĐ.(4)

Bởi vậy, thoả thuận hạn chế cạnh tranh

trong lao động cần được hiểu là thoả thuận

giữa NSDLĐ và NLĐ về việc NLĐ không tự

mình đứng ra kinh doanh hoặc tham gia vào

quan hệ lao động với NSDLĐ khác có thực

hiện hoặc có khả năng thực hiện hoạt động

cạnh tranh với NSDLĐ, trong thời gian thực

hiện quan hệ lao động hoặc sau khi chấm dứt

quan hệ lao động, nhằm bảo vệ các thông tin

bí mật, quan trọng, có giá trị kinh tế của

NSDLĐ đó

Cũng cần lưu ý, trong lĩnh vực lao động

có ba dạng cam kết hạn chế đó là: thoả thuận

hạn chế cạnh tranh , thoả thuận cấm lôi kéo

và thoả thuận bảo mật hay thoả thuận cấm

tiết lộ Mục đích chung của ba thoả thuận này

là để hạn chế một bên không được thực hiện

hoặc không có khả năng thực hiện các hành

vi cạnh tranh không lành mạnh như sử dụng

thông tin bí mật của một bên đề phục vụ hoạt

động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh của

bên đó; lôi kéo khách hàng, đối tác, nhân viên

của một bên về hợp tác, làm việc cho mình;

tiết lộ thông tin bí mật của một bên;

Tuy nhiên, giữa chúng có những điểm khác biệt Thoả thuận hạn chế cạnh tranh có đối tượng chính là hạn chế NLĐ không làm việc cho NSDLĐ khác hoạt động trong cùng lĩnh vực hoặc cạnh tranh với chính NSDLĐ

đó trong hoặc sau khi kết thúc quan hệ lao động với NSDLĐ Trong khi đó, đối tượng chính của thoả thuận cấm lôi kéo lại là việc sau khi kết thúc quan hệ lao động với NSDLĐ, NLĐ sẽ không được lôi kéo, chào mời các đồng nghiệp đang làm việc cho NSDLĐ hay khách hàng, đối tác của NSDLĐ mà mình có kết nối thương mại từ công việc với NSDLĐ cũ, để về làm việc cho mình hoặc cho NSDLĐ mới của mình Còn thoả thuận bảo mật (confidentiality agreement) hay thoả thuận cấm tiết lộ (non­ disclosure agreement) có đối tượng chính là trách nhiệm không tiết lộ, không sử dụng các các thông tin bí mật quan trọng, có giá trị kinh tế của NSDLĐ cho bất kì bên thứ ba nào khác Thoả thuận này dề bị nhầm lẫn với thoả thuận hạn chế cạnh tranh, bởi xét cho cùng thì mục đích của thoả thuận hạn chế cạnh tranh cũng giống như thoả thuận bảo mật, là để hạn chế việc NLĐ bảo vệ, không tiết lộ và không sử dụng các thông tin bí mật của NSDLĐ Tuy nhiên, trong thoả thuận cấm tiết lộ, NLĐ hoàn toàn không bị hạn chế làm việc cho bất kì doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nào, dù có cùng lĩnh vực, hoạt động cạnh tranh hay có khả năng cạnh tranh với NSDLĐ NLĐ chỉ có trách nhiệm bảo vệ, không tiết lộ thông tin mật của NSDLĐ cho doanh nghiệp, tổ chức đó Trong khi đó, ờ thoả thuận hạn chế cạnh tranh, NLĐ không được phép làm việc cho NSDLĐ là đối thủ cạnh

(4) Trần Văn Trí, “Không được làm việc cho đối thủ

cạnh tranh - được pháp luật thừa nhận”, Thời báo

Kinh tế Sài Gòn, 25/6/2018, https://thesaigontimes.vn/

boi-roi-quanh-cam-ket-khong-lam-viec-cho-doi-thu/,

truy cập 15/3/2021.

Trang 4

NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÓI

tranh của NSDLĐ cũ, tức thoả thuận này tập

trung vào trách nhiệm hạn chế cạnh tranh mà

không cần phải xem xét vấn đề NLĐ có tiết lộ

các thông tin bí mật của NSDLĐ hay không

2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về

thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh

vực lao động

Tại BLLĐ năm 1994, vấn đề bảo đảm bí

mật công nghệ, bí mật sản xuất, kinh doanh

chỉ được đề cập một cách gián tiếp bằng việc

cho phép NSDLĐ có quyền sa thải NLĐ nếu

“tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh”.(5)

Như vậy việc NLĐ tiết lộ bí mật kinh doanh

chỉ bị xử lí dưới hình thức kỉ luật Pháp luật

không thừa nhận việc xử lí ở những hình

thức khác, dù có sự thoả thuận của các bên

Khoản 2 Điều 29 BLLĐ năm 1994 quy định:

“Trong trường họp một phần hoặc toàn bộ

nội dung của hợp đồng lao động quy định

quyền lợi của người lao động thấp hơn mức

được quy định trong pháp luật lao động,

thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động

đang áp dụng trong doanh nghiệp hoặc hạn

chế các quyền khác của người lao động thì

một phần hoặc toàn bộ nội dung đó phải

được sửa đổi, bổ sung” Bởi vậy, các quy

định của BLLĐ năm 1994 chưa phù hợp với

thực tiễn

BLLĐ năm 2012 ra đời, lần đầu tiên đã

đưa ra quy định mang tính chất mở đường

cho thoả thuận này bằng việc cho phép các

bên trong HĐLĐ thoả thuận một điều khoản bảo mật tại khoản 2 Điều 23: “Khi NLĐ

làm việc có liên quan trực tiếp đến bi mật kỉnh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật thì NSDLĐ có quyền thoả thuận bằng văn bản với NLĐ về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kỉnh doanh, bỉ mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp NLĐ vi phạm” BLLĐ

năm 2012 quy định việc bảo vệ tài sản, bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, sở hữu trí tuệ của NSDLĐ là một nội dung trong nội quy lao động (Điều 119) và nếu NLĐ vi phạm sẽ bị xử lí kỉ luật sa thải (Điều 126) BLLĐ năm 2019 cũng vẫn tiếp tục giữ nguyên quy định này cho phép các bên trong HĐLĐ được thoả thuận một điều khoản bảo mật (khoản 2 Điều 21)

Như vậy, có thể thấy, pháp luật lao động bước đầu cho phép NSDLĐ thoả thuận với NLĐ về điều khoản “hạn chế cạnh tranh” liên quan đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ Tuy nhiên, quy định trên của BLLĐ mới chỉ dừng ở việc hạn chế việc tiết lộ các bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ (một trong những dạng của thoả thuận hạn chế) chứ chưa hẳn là thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động theo đúng nghĩa của nó

Vấn đề đặt ra là cùng với luật lao động, các luật khác liệu có quy định về thoả thuận hạn chế cạnh tranh? Luật Cạnh tranh năm

2018 có đưa ra khái niệm về thoả thuận hạn chế cạnh tranh tại khoản 4 Điều 3 như sau: “Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là hành vi thoả thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gãy tác động hoặc có khả năng gãy tác động hạn che cạnh tranh ” Tuy

(5) Điều 85 BLLĐ năm 1994 quy định: “Hình thức

xử lí ki luật sa thải chỉ được áp dụng trong những

trường hợp sau đây: a) Người lao động có hành vi

trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh

doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm

trọng về tài sản, lợi ích của doanh nghiệp ”.

Trang 5

NGHIÊN CỨU- TRAO ĐÔI

nhiên, đối tượng áp dụng của quy định này

chủ yếu liên quan tới các doanh nghiệp, tổ

chức, hiệp hội ngành, nghề, của Việt Nam

và nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

(Điều 2) Mặt khác, Luật này quy định về

hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế

gây tác động hoặc có khả năng gây tác động

hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam

(Điều 1) chứ không điều chỉnh về thoả thuận

hạn chế cạnh tranh trong lao động Mười

một hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh

trong Luật Cạnh tranh hoàn toàn không có

liên quan đến lĩnh vực lao động

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi,

bô sung năm 2009 cũng chỉ dừng lại ở việc

đưa ra giải thích bí mật kinh doanh là gì và

các hành vi được xác định là xâm phạm đến

quyền đối với bí mật kinh doanh chứ cũng

không đề cập vấn đề thoả thuận hạn chế

cạnh tranh Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng

không quy định về vấn đề này

Như vậy, có thể thấy pháp luật lao động

Việt Nam hiện nay chỉ dừng lại ở việc quy

định về thoả thuận nội dung bảo mật thông

tin về bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ,

về thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ

bí mật công nghệ, về quyền lợi và việc bồi

thường trong trường hợp vi phạm thời hạn

bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật

công nghệ Những vấn đề mang tính cốt lõi

của thoả thuận hạn chế cạnh tranh chưa được

quy định cụ thể như phạm vi công việc

không được làm việc cho đối thủ cạnh tranh,

thời gian không được làm việc cho đối thủ

cạnh tranh, phạm vi không gian không được

làm việc cho đối thủ cạnh tranh, vấn đề bù

đắp thu nhập cho NLĐ trong thời gian không gian không được làm việc

3 Thực tiễn và một số khía cạnh pháp

lí đặt ra đối vói thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động

Mặc dù pháp luật chưa quy định cụ thể song để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, NSDLĐ vẫn tìm cách đưa điều khoản này vào HĐLĐ Từ năm 2010, đã xuất hiện

“bóng dáng” của những thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong một số vụ việc.(6) Đến năm

2018, bùng nổ tranh luận về thoả thuận hạn chế cạnh tranh bắt nguồn từ phán quyết của toà án đối với vụ tranh chấp giữa Công ti TNHH R và bà Đ.T.M.T Nội dung vụ việc như sau:

Ngày 10/10/2015, bà Đỗ Thị Mai T kí HĐLĐ xác định thời hạn 12 tháng với Công

ti trách nhiệm hữu hạn X (Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) ở vị trí trưởng bộ phận tuyển dụng Tiếp đó, ngày 21/10/2015, bà T

kí tiếp thoả thuận cấm tiết lộ (NDA - Non Disclosure Agreement) với Công ti X, trong

đó có điều khoản quy định: “Trong thời gian

12 thảng sau khi chấm dứt tuyển dụng hoặc kết thúc việc làm với Công ti X, không xét đến nguyên nhân chấm dứt HĐLĐ, NLĐ không được làm những công việc tương tự ở các doanh nghiệp có cùng lĩnh vực kinh doanh, các đối thủ cạnh tranh hoặc những đơn vị liên kết, đổi tác của công ti, nếu vỉ phạm, NLĐ sẽ phải bồi thường” Ngày

(6) Như vụ tranh chấp giữa Công ti s và ông R từng

là chuyên viên kĩ thuật của Công ti s., Bản án lao động sơ thẩm số 09/2010/LĐ-ST ngày 10/12/2010 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tình Long An.

Trang 6

NGHIÊN CỨU- TRAO ĐÔI

01/01/2016, bà T kí tiếp HĐLĐ xác định

thời hạn 12 tháng với công ti X và nghỉ việc

vào ngày 18/11/2016.<7)

Đến ngày 02/10/2017, phát hiện bà T

đang làm việc cho một doanh nghiệp kinh

doanh cùng lĩnh vực, Công ti X đã khởi kiện

bà T tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt

Nam (VIAC), yêu cầu bà T bồi thường 3

tháng tiền lương vì vi phạm NDA Hội đồng

Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế

Việt Nam (VIAC) lập tại Thành phố Hồ Chí

Minh đã ra Phán quyết số 75/17 ngày

19/02/2018 buộc bà T bồi thường cho Công

ti X hơn 205 triệu đồng

Không đồng ý với phán quyết của VIAC,

bà T đã gửi đơn ra toà án có thẩm quyền để

yêu cầu hủy phán quyết của trọng tài Toà án

đã bác toàn bộ yêu cầu của bà T vi cho rằng

khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015

quy định: “Các bên có quyền tự do thoả

thuận không trái với các quy định của pháp

luật, thuần phong mĩ tục và đạo đức xã hội

để xác lập các quyển và nghĩa vụ của các

bên trong hoạt động thương mại Nhà nước

tôn trọng và bảo hộ các quyền đó” Tại thời

điểm kí kết NDA, bà T có đầy đủ năng lực

hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện và không

bị ép buộc Đồng thòi, nội dung NDA cũng

không vi phạm điều cấm của pháp luật, không

trái đạo đức xã hội nên theo nguyên tắc tự

nguyện, tự do cam kết, thoả thuận NDA có

hiệu lực và phải được các bên tuân thủ.(8)

Ngay sau khi toà án công nhận phán quyết của trọng tài về việc buộc bà Đồ Thị Mai T phải bồi thường cho công ti do đã vi phạm cam kết về thoả thuận hạn chế cạnh tranh đã “dấy lên” làn sóng tranh luận của các luật sư, nhà nghiên cứu, các nhà luật học

về khía cạnh pháp lí của thoả thuận này Xung quanh việc tranh luận về NDA có hai quan điểm đối lập nhau:

Quan điểm thứ nhất(9) cho rằng, thoả thuận này là họp pháp xuất phát từ cơ sở thoả thuận hạn chế cạnh tranh liên quan đến bảo mật thông tin, điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi khoa học công nghệ phát triển Bên cạnh đó đã có rất nhiều nước quy định về vấn đề này, đặc biệt là những nước phát triển như Mỹ, Đức, Trung Quốc Vì vậy, Việt Nam cũng cần phải thừa nhận vấn đề này để phù hợp với xu thế hội nhập Hơn nữa điều khoản này là do hai bên thoả thuận NLĐ có quyền tự do việc làm, tuy nhiên chính NLĐ đã từ bỏ quyền của mình bằng thoả thuận hạn chế cạnh tranh thì NLĐ phải có nghĩa vụ tuân theo thoả thuận

và phải chịu chế tài (bồi thường) nếu vi phạm Quan điểm thứ hai(l0) cho rằng, với quy

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

(9) Nguyễn Ngọc Bích, Điều khoản không cạnh tranh

trong NDA,

63/dieu-khoan-khong-canh-tranh-trong-hop-dong- nda-.html, truy cập 15/5/2021; Lê Thiện, Tranh chấp

NDA - Đã tham gia cuộc chơi sao không chấp nhận luật chơi,

tranh-chap-nda-tham-gia-cuoc-choi-sao-khong-chap- nhan-luat-choi.html, truy cập 15/5/2021.

https://www.thesaigontimes.vn/td/2750

https://www.thesaigontimes.vn/275648/

(10) Trần Văn Trí, Thỏa thuận không được làm việc

cho đối thủ cạnh tranh đã được chấp nhận trong thực

(7) Mai Chi, Cẩn trọng với “thỏa thuận bảo mật”,

https://nld.com.vn/cong-doan/can-trong-voi-thoa-

thuan-bao-mat-20180618192839114.htm, truy cập

15/7/2021.

(8) Quyết định số 755/2018/QĐ-PQTT của Toà án

Trang 7

NGHIÊN cúv - TRA o ĐÔI

định của pháp luật thực định hiện nay thì

thoả thuận hạn chế cạnh tranh sẽ là không

hợp pháp

Cơ sở của quan điểm này chủ yếu dựa

trên các quy định của pháp luật lao động

Việt Nam hiện hành Cụ thể tại khoản 1 Điều

35 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công

dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề

nghiệp, việc làm và nơi làm việc” Khoản 1

Điều 5 BLLĐ ghi nhận NLĐ có quyền “làm

việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp,

học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và

không bị phân biệt đổi xử” Khoản 6 Điều 9

Luật Việc làm quy định về những hành vi bị

nghiêm cấm, bao gồm hành vi “cản trở, gây

khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền và lợi

ích họp pháp của NLĐ, NSDLĐ” Từ

những quy định này có thể cho rằng không ai

được quyền hạn chế quyền làm việc của NLĐ

Sau vụ tranh chấp này, vào năm 2019

xảy ra vụ tranh chấp tương tự liên quan đến

thoả thuận hạn chế cạnh tranh là tranh chấp

giữa giữa công ti u và Ông P.T.B Ông B là

nhân viên thiết kế của công ti u, có kí kết

thoả thuận bảo mật thông tin, thoả thuận

quyền sở hữu trí tuệ và không cạnh tranh sổ

07/2016/SHTT&CtrUR ngày 29/01/2016 với

công ti u Theo đó, ông cam kết sau khi nghỉ

việc vẫn bảo mật toàn bộ thông tin thuộc

quyền sở hữu của Công ti u và không làm việc cho công ti đối thủ của Công ti u Tuy nhiên, sau đó Công ti u phát hiện ông B đang làm việc cho Công ti p Do vậy, Công

ti u khởi kiện yêu cầu toà án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, buộc ông P.T.B không được tiếp tục làm việc cho đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Công ti u là Công ti p Đối với vụ việc này, cả toà án cấp sơ thâm và toà án cấp phúc thẩm đều có chung quan điểm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ti u về việc buộc ông Phan Thanh B không được tiếp tục làm việc cho đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Công ti u bởi thoả thuận này là trái quy định của pháp luật,

cụ thể là vi phạm điều cấm tại khoản 1 Điều 4 Luật Việc làm năm 2013 và điểm a khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 10 BLLĐ năm 2012.* 111

tiễn, http://fụjilaw.com/thoa-thuan-khong-duoc-lam-

viec-cho-doi-thu-canh-tranh-da-duoc-chap-nhan-

trong-thuc-tien/; Đinh Quang Thuận, Tranh chấp

NDA, xử sao cho chọn, https://www.thesaigontimes

vn/275441/Tranh-chap-ND A-xu-sao-cho-tron.html;

Lạc Duy, Tranh chap NDA: ai tự nguyện đeo vòng

kim cô, https://www.thesaigontimes.vn/td/275062/

tranh-chap-nda-ai-tu-nguyen-deo-vong-kim-co%E2%

80%99%E2%80%99-.html, truy cập 15/5/2021.

Như vậy, qua hai vụ án này có thể thấy các toà án có quan điểm khác nhau trong việc thừa nhận tính hợp pháp của các thoả thuận hạn chế cạnh tranh Cùng với đó, một vấn đề háp lí nữa cũng được đặt ra ở đây là tranh chấp về thoả thuận hạn chế cạnh tranh này là tranh chấp lao động hay tranh chấp dân sự, thương mại Việc xác định loại tranh chấp cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng vì liên quan đến việc xác định luật áp dụng để giải quyết tranh chấp

Điều này cho thấy cần phải có quy định

cụ thể của pháp luật về thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên và tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật

(11) Bản án số 420/2019/LĐ-PT của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 8

NGHIÊN cứư - TRAO ĐÔI

4. Một số kiến nghị xây dựng và hoàn

thiện khung pháp luật về thoả thuận hạn

chế cạnh tranh trong lĩnh vực lao động ở

Việt Nam hiện nay.

Bảo vệ bí mật kinh doanh đối với các

doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng,

nhất là trong thời kì Cách mạng công nghiệp

4.0 Neu không được bảo vệ, đối thủ cạnh

tranh của doanh nghiệp có thể sử dụng những

sáng tạo này mà không phải gánh chịu bất kì

phí tổn cũng như rủi ro nào trong quá trình

nghiên cứu và phát triển sáng tạo Bởi vậy,

nhu cầu đặt ra giới hạn về quyền tự do làm

việc của NLĐ, nhằm ngăn cản việc tiết lộ

hoặc sử dụng bí mật thương mại của

NSDLĐ là hết sức cần thiết Pháp luật một

số nước trên thế giới (như Mỹ, Đức, Trung

Quốc ) đã và đang công nhận “thoả thuận

không cạnh tranh” là công cụ để thực thi

nghĩa vụ bảo mật.(12) Trong xu thế hội nhập,

nhiều công ti đa quốc gia đã và đang có xu

hướng đầu tư vào Việt Nam nên việc thừa

nhận thoả thuận hạn chế cạnh tranh mang

tính tất yếu khách quan Hơn nữa, thực tế

cho thấy, dù pháp luật chưa quy định cụ thể

nhưng thực tế đã phát sinh một số vụ tranh

chấp liên quan đến vấn đề này Trong tương

lai, thoả thuận hạn chế cạnh tranh ngày càng

được sử dụng phổ biến, kéo theo đó là tranh

chấp phát sinh từ thoả thuận này cũng ngày

càng nhiều Nếu pháp luật không quy định

cụ thể, đầy đủ, sẽ không có cơ sở để NLĐ và NSDLĐ căn cứ, xác lập thoả thuận hợp lí trong thực tế cũng như giải quyết khi có tranh chấp phát sinh Điều đó đòi hỏi cần phải có khung khổ pháp lí điều chỉnh về vấn

đề này nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên trong quan hệ lao động Khung pháp lí

về thoả thuận hạn chế cạnh tranh cần được quy định trong pháp luật lao động và có thể gồm các nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, quy định về khái niệm thoả

thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động Pháp luật Việt Nam từ trước đến nay chưa đưa ra khái niệm cụ thể về thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động Sự thiếu vắng khái niệm gây không ít khó khăn trong việc xác định thoả thuận này trong thực tế là thoả thuận trong lao động hay thoả thuận dân

sự, dẫn đến cách hiểu, cách áp dụng pháp luật khác nhau Trên cơ sở lí luận cũng như học hỏi kinh nghiệm pháp luật các nước, pháp luật Việt Nam có thể xây dựng khái niệm về các loại thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động như sau: “Thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động là thoả thuận giữa NSDLĐ và NLĐ về việc NLĐ không đứng ra tự mình thành lập hoặc không tham gia vào quan hệ lao động với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác có thực hiện hoặc có khả năng thực hiện hoạt động cạnh tranh với NSDLĐ, trong thời gian thực hiện HĐLĐ hoặc sau khi hết thời hạn của HĐLĐ trong một khoảng thời gian nhất định và hậu quả pháp lí trong trường hợp có vi phạm”

Thứ hai, quy định về chủ thể và mục đích của thoả thuận hạn chế cạnh tranh Thoả thuận hạn chế cạnh tranh hướng đến việc bảo vệ bí mật thông tin, bí mật kinh

(12) Luật Hợp đồng lao động của Trung Quốc năm

2006; Steve Adler (2006), General Report Non­

competition clauses (covenants not to compete) in

labour contracts, XIVth Meeting of European Labor

Court Judges, p 25; Jonathan D Rosenfeld, Laura E

Schneider, Ariella Feingold, Andrew Stauber, Julie

Murphy Clinton (2018), New Massachusetts Non-

Compete Law Requires Em.

Trang 9

NGHIÊN CỨU- TRAO ĐÔI

doanh của NSDLĐ nhưng lại hạn chế

“quyền việc làm” của NLĐ, vì vậy không

phải trong mọi trường hợp NSDLĐ và NLĐ

đều phải kí kết thoả thuận về hạn chế cạnh

tranh mà việc thoả thuận này chỉ nên áp

dụng đối với những lao động nắm giữ bí mật

thông tin, bí mật kinh doanh của NSDLĐ

Do đó, pháp luật cần có quy định cụ thể về

chủ thể và mục đích của thoả thuận hạn chế

cạnh tranh nhằm định hướng sự thoả thuận

của các bên, góp phần bảo vệ lợi ích hợp

pháp của NSDLĐ mà không ảnh hưởng tiêu

cực đến cuộc sống cùa NLĐ Chẳng hạn như

những vấn đề liên quan đến bí mật thương

mại; lợi thế thương mại; kết nối thương mại

với khách hàng, đối tác, nhà cung cấp; thông

tin kĩ thuật-công nghệ; sự ồn định của lực

lượng lao động và thông tin mật Thoả thuận

này không được tạo nên sự cản trở không

chính đáng đối với sự nghiệp của NLĐ hay

tác động tiêu cực đến trật tự công

Thứ ba, cần đưa ra quy định về các giới

hạn của thoả thuận hạn chế cạnh tranh

Thoả thuận hạn chế cạnh tranh cần phải

có giới hạn nhất định bởi nếu không sẽ vi

phạm quyền tự do lao động của NLĐ, gây

khó khăn cho cuộc sống của họ cũng như gia

đình Vì vậy, trong thực tiễn xét xử cũng như

pháp luật thành văn của các quốc gia trên thế

giới, để một thoả thuận hạn chế được công

nhận và cho phép thực thi, thoả thuận đó phải

có những giới hạn hợp lí Những giới hạn

được đặt ra trong thoả thuận hạn chế cạnh

tranh thường bao gồm phạm vi công việc bị

hạn chế và thời gian không được làm việc

của NLĐ cho NSDLĐ là đối thủ cạnh tranh

Phạm vi công việc bị hạn chế không được

vượt quá khả năng chuyên môn của NLĐ và đảm bảo khả năng tìm kiếm việc làm trong tương lai của NLĐ NLĐ sẽ thực hiện phạm

vi hạn chế này bằng việc không được tham gia làm việc cho đối thủ cạnh tranh của NSDLĐ hoặc tự mình tiến hành hoạt động kinh doanh cạnh tranh với NSDLĐ về thời gian không được làm việc của NLĐ cho NSDLĐ là đối thủ cạnh tranh, pháp luật của một số nước (như Anh, Hoa Kỳ, Đức) quy định là 12 tháng.’131

Thứ tư, quy định khoản tiền hồ trợ cho NLĐ khi giao kết thoả thuận hạn chế cạnh tranh

Trong thoả thuận hạn chế cạnh tranh, NLĐ cam kết không làm việc cho đối thủ cạnh tranh trong một thời gian nhất định nên trong khoảng thời gian này, NLĐ có thể không có việc làm nên không có thu nhập Bởi vậy, trong thời gian thực hiện thoả thuận, NSDLĐ phải có trách nhiệm bù đắp khoản thu nhập đó để đảm bảo cho NLĐ có thể duy trì cuộc sống Việc đặt ra các giới hạn và cân nhắc khoản đền bù phù hợp là thật sự cần thiết, đảm bảo quyền lợi cho cả NLĐ và NSDLĐ Khoản tiền này cũng cần phải đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu cho NLĐ trong thời gian hạn chế cạnh tranh sau khi chấm dứt HĐLĐ Theo kinh nghiệm của các nước (Mỹ, Anh, Đức), NSDLĐ có trách nhiệm hồ trợ cho NLĐ mức tối thiểu bằng 50% tiền lương bình quân của 12 tháng liền trước của NLĐ trước khi chấm dứt HĐLĐ;

(13) Steve Adler, General Report Non-Competition clauses (covenants not to compete) in labour contracts, XIVth Meeting of European Labor Court

Judges, 2006, tr 25.

Trang 10

NGHIÊN cứu- TRAO ĐÓI

trong trường hợp mức 50% này thấp hơn tiền

lương tối thiểu vùng thì mức hồ trợ bằng tiền

lương tối thiểu vùng.(I4)

Thứ năm, quy định về chế tài xử lí hành

vi vi phạm thoả thuận hạn chế cạnh tranh

Để ràng buộc trách nhiệm của NLĐ, cần

phải có quy định về chế tài xử lí hành vi vi

phạm thoả thuận hạn chế cạnh tranh

NSDLĐ và NLĐ có quyền thoả thuận về

mức bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm

trong trường hợp NLĐ có hành vi vi phạm

nghĩa vụ của thoả thuận hạn chế cạnh tranh;

nghĩa vụ chứng minh trong trường hợp này

thuộc về NSDLĐ Tuy nhiên, mức bồi

thường thiệt hại và phạt vi phạm cần được

giới hạn ở mức độ nhất định bởi việc bắt

buộc NLĐ phải bồi thường số tiền quá lớn so

với khả năng tài chính của họ có thể gây khó

khăn nghiêm trọng đến đời sống của NLĐ

Bên cạnh đó, pháp luật cũng cần quy

định NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt

thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong trường

hợp NSDLĐ không thực hiện hoặc thực hiện

không đầy đủ nghĩa vụ chi trả khoản hồ trợ

NLĐ Quy định này để đề phòng trường hợp

NSDLĐ không thiện chí hoặc không có khả

năng thanh toán lợi ích bù đắp cho NLĐ Khi

đó, NLĐ nên được giải phóng khỏi nghĩa vụ

hạn chế cạnh tranh tự do tìm việc làm./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Steve Adler, General Report Non-Competition

clauses (covenants not to compete) in labour

contracts, XIVth Meeting of European

Labor Court Judges, 2006

2 Nguyễn Ngọc Bích, Điều khoản không cạnh tranh trong NDA, https ://

times.vn/td/275063/dieu-khoan-khong- canh-tranh-trong-hop-dong-nda-.html

www.thesaigon

3 Mai Chi, Cẩn trọng với “thỏa thuận bảo

mật ”,

192839114.htm

https://nld.com.vn/cong-doan/can- trong-voi-thoa-thuan-bao-mat-20180618

4 Đoàn Thị Phương Diệp, “Điều khoản bảo mật - Hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng lao động”, Tạp chỉ Nghiên cứu lập pháp,

(24)/2015

5 Lạc Duy, Tranh chấp NDA: ai tự nguyện

đeo vòng kim cô, https ://

times.vn/td/275062/tranh-chap-nda-ai-tu- nguyen-deo-vong-kim-co%E2%80% 99% E2%80%99-.html

www.thesaigon

6 Lê Thiện, Tranh chấp NDA - Đã tham gia cuộc chơi sao không chấp nhận luật chơi,

tranh-chap-nda-tham-gia-cuoc-choi-sao- khong-chap-nhan-luat-choi.html

https://www.thesaigontimes.vn/275648/

7 Đinh Quang Thuận, Tranh chấp NDA, xử

vn/275441/Tranh-chap-NDA-xu-sao-cho- tron.html

https://www.thesaigontimes

8 Trần Văn Trí, Thỏa thuận không được làm việc cho đổi thủ cạnh tranh đã được chấp nhận trong thực tiễn, com/thoa-thuan-khong-duoc-lam-viec- cho-doi-thu-canh-tranh-da-duoc-chap- nhan-trong-thuc-tien/

http://fujilaw

9 Trần Văn Trí, “Không được làm việc cho đối thủ cạnh tranh - được pháp luật thừa nhận”, Thời bảo Kinh tế Sài Gòn, 25/6/2018, https://thesaigontimes.vn/boi- roi-quanh-cam-ket-khong-lam-viec-cho- doi-thu/

(14) Steve Adler, tldd, tr 25.

Ngày đăng: 29/10/2022, 17:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w