1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

Vấn đề nộp đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình bằng hình thức trực tuyến

10 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN cửư - TRÁ o ĐÕ ỉVẤN ĐỂ NỘP ĐƠN KHỎI KIỆN, TÀI LIỆU, CHỨNG cứ LIÊN QUAN ĐẾN BÍ MẬT CÁ NHẰN, BÍ MẬT GIA ĐÌNH BẰNG HÌNH THỨC TRựC TUYẾN TRẨN NGỌC TUẤN * * Khoa Luật, Đại học Sài Gò

Trang 1

NGHIÊN cửư - TRÁ o ĐÕ ỉ

VẤN ĐỂ NỘP ĐƠN KHỎI KIỆN, TÀI LIỆU, CHỨNG cứ LIÊN QUAN ĐẾN

BÍ MẬT CÁ NHẰN, BÍ MẬT GIA ĐÌNH BẰNG HÌNH THỨC TRựC TUYẾN

TRẨN NGỌC TUẤN *

* Khoa Luật, Đại học Sài Gòn

E-mail: tntuan@sgu.edu.vn

Tóm tắt: Bài viết phân tích những hạn chế và thách thức từ quy định và thực tiễn triển khai việc gửi đơn khởi kiện bằng hình thức điện tử có đính kèm tài liệu, chứng cứ liên quan đến bí mật cá nhân,

bỉ mật gia đình trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư tác động, thay đôi phương thức giải quyết tranh chấp và xu thế chung của thế giới hiện nay Đồng thời, bài viết cùng phản tích một số

mô hình giải quyết tranh chấp trực tuyến của các quốc gia trên thế giới, từ đó có sự đối chiếu và đề xuất giãi pháp nham từng bước thực hiện mô hình này tại Việt Nam.

Từ khóa : Bí mật cá nhân; bí mật gia đình; chứng cứ; gửi đơn khởi kiện trực tuyến; tài liệu

Nhận bài: 01/01/2021 Hoàn thành biên tập: 31/5/2022 Duyệt đăng: 31/5/2022

ISSUES IN SUBMITTING CLAIMS,DOCUMENTS, EVIDENCE RELATED TO PERSONAL AND FAMILY SECRETS INELECTRONIC FORM

Abstract: The article analyzes some limitations and challenges from current regulations and practices of sending petition electronically with attached documents and evidence related to personal and family secrets in the context of the Industrial Revolution 4.0, which has been affecting and changing global trend in dispute settlement methods At the same time, this article also analyzes some online dispute settlement models of countries worldwide, from which it compares and proposes some solutions to gradually implement these models in Vietnam.

Keywords : Document; evidence; family secrets; personal secrets; submit an online petition

Received: Jan 1 , 2021; Editing completed: May 31st, 2022; Accepted for publication: May 31 st , 2022

Triển khai và áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lí nhà nước nói

chung và động tư pháp nói riêng đã và đang

là vấn đề cấp bách hơn lúc nào hết, đặc biệt

trong bối cảnh toàn cầu đang trải qua nhiều

thiên tai, dịch bệnh Mô hình giải quyết tranh

chấp tại toà án bằng phương thức trực tuyến

đã được triển khai tại nhiều quốc gia như

Liên minh châu Âu, Canada, Australia,

Singapore Bắt kịp với xu thế chung của

thế giới, Việt Nam cũng đang từng bước

triển khai mô hình này trong hệ thống toà án

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) lần đầu tiên quy định hình thức gửi đơn khởi kiện trực tuyến bằng hình thức điện tử qua cổng thông tin điện tử của toà án bên cạnh 02 hình thức đã được quy định trước đây gồm nộp trực tiếp tại toà án hoặc gửi đến toà án theo đường dịch vụ bưu chính (Điều 190 BLTTDS) Tuy nhiên, câu hỏi đặt

ra là liệu các quy định của pháp luật hiện hành đã có thể đảm bảo cho việc áp dụng mô hình giải quyết tranh chấp bằng hình thức trực tuyến, mà bước đầu là việc tiếp nhận, thụ lí đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ đính kèm theo nhưng có liên quan đến bí mật

Trang 2

NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÔI

cá nhân, bí mật gia đình?

Bài viết sẽ tập trung giải quyết câu hỏi

nêu trên, đồng thời phân tích và luận giải

những thách thức pháp lí đối với nội dung tài

liệu, chứng cứ đính kèm trong đơn khởi kiện

bằng hình thức điện tử liên quan đến bí mật

cá nhân, bí mật gia đình (Điều 189 BLTTDS)

Đồng thời bài viết đề xuất thí điểm ưu tiên

áp dụng một số loại tranh chấp được giải

quyết bằng hình thức trực tuyến thông qua

việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số

quốc gia trên thế giới

1 Khái niệm, vai trò của phương thức

giải quyết tranh chấp trực tuyến

Sự phát triển của khoa học, công nghệ đã

tạo ra tác động và cũng làm thay đổi cách

thức giải quyết tranh chấp chung vì các giải

pháp hoặc giải quyết tranh chấp thông thường

được coi là không đủ đế đáp ứng các yêu cầu

của thời đại hiện nay Giải quyết tranh chấp

trực tuyến (Online Dispute Resolution - ODR)

đã ưở thành giải pháp mang tính bước ngoặt

và thời đại, bổ trợ cho phương thức truyền

thống ODR hiện có vẻ đang mở rộng sang

các tranh chấp dân sự nói chung1

1 Robert J Condlin, “Online Dispute Resolution:

Stinky, Repugnant, or Drab”, Cardozo Journal of

Conflict Resolution, 18 (03), 2017, tr 720.

2 https://www.law.ox.ac.uk/sites/files/oxlaw/dr_pablo

_cortes.pdf, truy cập 10/9/2021.

3 Jie Zheng, Online Resolution of E-commerce Disputes

Perspectives from the European Union, the UK,

and China, Springer, 2021, tr 34.

Theo định nghĩa của Trung tâm Nghiên

cứu pháp lí xã hội của Anh (Centre for

Socio-Legal Studies - CSLS) thì giải quyết

tranh chấp trực tuyến là một dạng của giải

quyết tranh chấp thay the (Alternative

dispute resolution - ADR) tận dụng tốc độ và

sự tiện lợi của Internet và công nghệ thông

tin-truyền thông (Information Communication

Technology - ICT)12 ODR theo nghĩa đen

CÓ nghĩa là một quy trình giải quyết tranh chấp sử dụng Internet và công nghệ thông tin Tuỳ thuộc vào việc có bao gồm thủ tục toà án hay không, ODR có phạm vi định nghĩa rộng và hẹp khác nhau Quy tắc Colin gợi ý rằng, ODR có thể có phạm vi rộng là

“bất kì việc sử dụng công nghệ nào để bổ sung, hồ trợ hoặc quản lí quy trình giải quyết tranh chấp” Định nghĩa rộng của ODR bao gồm tất cả các loại giải quyết tranh chấp sử dụng công nghệ thông tin, bất

kể chúng có tư pháp hay không Nó bao gồm các thủ tục toà án trực tuyến được thực hiện qua internet Định nghĩa hẹp về ODR, chỉ bao gồm các cơ chế ADR được bổ sung bởi các công nghệ mới3

Như vậy, giải quyết tranh chấp trực tuyến

có đặc điểm là: 1) xuyên biên giới; 2) giá trị thấp; 3) khối lượng lớn; và 4) xảy ra giữa những người sử dụng internet

Nhận thấy, mô hình ODR trở thành một phương thức bổ trợ, khắc phục những điểm còn chưa hợp lí cho hình thức giải quyết ưanh chấp truyền thống Các mô hình tư pháp hiện tại để giải quyết các vấn đề phụ thuộc nhiều vào vị trí địa lí, vì vị trí địa lí quyết định thẩm quyền pháp lí của quá trình giải quyết Nhưng internet có thể góp phần hỗ trợ điều đó Thế nên, ODR như một công cụ linh hoạt để các toà án có thể lựa chọn vận dụng trong từng trường hợp cụ thể nhằm đảm bảo sự tối ưu trong hiệu quả giải quyết tranh chấp

Như vậy, trong xu thế chung của sự phát triển, cách lựa chọn giải quyết tranh chấp của con người dần có sự thay đổi theo tiến trình phát triển đột phá của công nghệ Điều

Trang 3

NGHIÊN cứu- TRAO ĐÓI

này quyết định kiến trúc thượng tầng tương

ứng là pháp luật phải có những chuyển biến

nhằm phù hợp với trình độ của các quan hệ

xã hội trong thời kì công nghệ số và với nhu

cầu của con người trong xã hội đó

2 Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự

Việt Nam về việc nộp đơn khởi kiện và các

tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khỏi kiện

liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Tại Phiên họp thứ 47 ngày 10/8/2020 của

ủy ban thường vụ Quốc hội đã thống nhất ý

kiến, xác định mục tiêu đến ngày 31/12/2025

là thời điểm Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân

cư được hoàn thiện; 100% cổng dịch vụ

công, hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp

bộ, cấp tỉnh được kết nối, chia sẻ với cổng

dịch vụ công quốc gia; 100% dịch vụ công

trực tuyến mức độ 3, 4 phổ biến, liên quan

tới nhiều người dân, doanh nghiệp được tích

họp lên Cống dịch vụ công quốc gia; thông

tin của người dân, doanh nghiệp đã được số

hóa, lưu trữ tại các cơ sở dữ liệu quốc gia4

4 Phiên họp thứ 47 ngày 10/8/2020, Uỷ ban Thường

vụ Quốc hội tiếp tục cho ý kiến về dự án Luật Cư

trú (sừa đổi) Xem thêm: https://quochoi.vn/ UBTV

QH/cacphienhop/quochoikhoaXIV/phienhopthu47/

Pages/van-kien-tai-lieu.aspx?ItemID=4725, truy

cập 10/8/2021.

5 Chánh án Toà án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa

Bình và Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng chủ trì buổi làm việc nhằm triển khai gửi, nhận văn bản trên Trục liên thông văn bản quốc gia và tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến của Toà án nhân dân tối cao trên Cổng dịch vụ công quốc gia Xem thêm: http://vpcp chinhphu.vn/Home/Tien-toi-gui-nhan-don-khoi- kien-thong-bao-van-ban-to-tung-truc-tuyen/202012/ 29186.vgp, truy cập 10/8/2021.

6 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh,

Giáo trĩnh Luật tố tụng Dân sự Việt Nam, Nxb

Hồng Đức, 2019, tr 349.

Mới đây nhất ngày 09/12/2020 là thông

báo về việc 05 dịch vụ công của Toà án nhân

dân tối cao sẽ được cung cấp lên cổng dịch vụ

công quốc gia, cụ thể: 1) Gửi, nhận đơn khởi

kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông

báo văn bản tố tụng trực tuyến; 2) Đăng kí

trực tuyến cấp sao bản án, tài liệu trong hồ

sơ vụ án; 3) Công bố bản án, quyết định của

toà án; 4) Án lệ; 5) Nghị quyết của Hội đồng

Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao5 *

Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu đặt ra nêu trên đòi hỏi sự nồ lực rất lớn, đặc biệt là hệ thống các quy định của pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lí vững chắc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân khi

mà các thông tin đều được số hóa, trong đó

có hoạt động khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng cứ - những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến người khởi kiện, đến quyền riêng tư và thậm chí đến kết quả của việc giải quyết vụ việc tại toà án

Quyền khởi kiện vụ án dân sự là một trong những quyền cơ bản của con người, được pháp luật thừa nhận, bảo đảm thực hiện, theo đó các chủ thể được gửi đơn khởi kiện để yêu cầu toà án nhân dân với tư cách

là cơ quan tài phán, nhân danh quyền lực nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động trong trường họp cho rằng bị vi phạm hay có tranh chấp6 Theo quy định tại khoản 1 Điều 190 BLTTDS năm 2015, các chủ thể được lựa chọn cho mình phương thức nộp đơn khởi kiện: 1) nộp trực tiếp tại toà án; 2) gửi đến toà án theo đường dịch vụ bưu chính; 3) gửi trực tuyến bằng hình thức điện từ qua cổng thông tin điện tử của toà án (nếu có)

Trang 4

NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÔI

Để việc gửi đơn trực tuyến bằng hình

thức điện tử được triển khai đồng bộ và hiệu

quả, ngày 30/12/2016, Hội đồng thẩm phán

Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị

quyết số 04/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn thi

hành một số quy định của BLTTDS năm

2015 về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu,

chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn

bản tố tụng bằng phương tiện điện tử Nghị

quyết đã quy định chi tiết gửi tài liệu, chứng

cứ bằng phương tiện điện tử và nộp bản

chính, bản sao hợp pháp của các tài liệu,

chứng cứ đó tại toà án theo quy định của

pháp luật Quy định này giúp người tiến

hành tố tụng chủ động đánh giá được toàn bộ

các tài liệu, chứng cứ một cách khách quan,

toàn diện Cùng với đó là việc đương sự

được thực hiện các giao dịch điện tử với toà

án suốt 24 giờ trong ngày và bảy ngày trong

tuần, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ, ngày

tết Tiếp đó, ngày 22/10/2018, Toà án nhân

dân tối cao đã ra mắt cổng thông tin điện tử

để nộp đơn khởi kiện qua mạng tại địa chỉ:

https://nopdonkhoikien.toaan.gov.vn/

Ngoài ra, tại Điều 18 Nghị quyết số

04/2016/NQ-HĐTP quy định ngoài người

khởi kiện thì người tham gia tố tụng khác

cũng được quyền gửi tài liệu, chứng cứ bằng

phương thức trực tg gvauyến đến toà án

thông qua cổng thông tin điện tử của toà án,

trừ chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà

nước, thuần phong mĩ tục của dân tộc, bí mật

nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá

nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính

đáng của đương sự, chứng cứ là vật chứng,

tài liệu nghe được hoặc nhìn được hoặc tài

liệu khác mà không thể định dạng dưới dạng

thông điệp điện tử được chấp nhận trên cổng

thông tin điện tử của toà án

Khoản 2 Điều 109 BLTTDS quy định:

“Toà án không công khai nội dung tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bỉ mật nhà nước, thuần phong mĩ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bỉ mật kỉnh doanh, bí mật cá nhãn,

bỉ mật gia đình theo yêu cầu chính đảng của đương sự nhưng phải thông báo cho đương

sự biết những tài liệu, chứng cứ không được công khai

Với quy định của BLTTDS và Nghị quyết

số 04/2016/NQ-HĐTP thì những tài liệu liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình sẽ không được phép gửi bằng phương thức trực tuyến đến toà án thông qua cổng thông tin điện tử của toà án Tuy nhiên, BLTTDS cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định cụ thể với nội dung tài liệu, chứng

cứ là bí mật cá nhân, bí mật gia đinh Điều này dẫn đến những khó khăn nhất định trong quá trình giải quyết của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình triển khai mô hình này trong thực tiễn Khi pháp luật chuyên ngành không quy định cụ thể thì có thể áp dụng những quy định của luật chung để giải quyết, trong trường hợp này là quy định tại Điều 38 BLDS năm 2015 về quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình Tuy nhiên, Điều 38 BLDS năm 2015 không quy định thế nào là đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và phạm vi của nhóm quyền này như thế nào

Nhận thấy xu hướng phát triển của hình thức giải quyết tranh chấp trực tuyến trong tương lai tại Việt Nam, Toà án nhân dân tối cao đã ra mắt cổng thông tin điện tử để người dân có thể nộp đơn khởi kiện thông qua các phương tiện điện tử bằng công cụ hỗ trợ là Internet và đẩy mạnh xây dựng dịch vụ công gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng

Trang 5

NGHIÊN cứu - TRA o ĐỜI

cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố

tụng trực tuyến

Tuy nhiên, để ứng dụng được những

thành tựu của khoa học - công nghệ trong vấn

đề phát triển hình thức giải quyết tranh chấp

trực tuyến, yêu cầu đặt ra đối với cơ quan lập

pháp là phải có lộ trình cụ thể và hoàn thiện

khung pháp luật hiện có Việc xác định loại

tranh chấp cũng như loại tài liệu, chứng cứ

kèm theo nào được phép nộp thông qua hình

thức trực tuyến vẫn chưa được quy định chi

tiết và rõ ràng Liệu tất cả mọi tranh chấp và

tài liệu, chứng cứ đều có thể được nộp bằng

các công cụ Internet hay không hay chỉ áp

dụng với một số loại vụ việc nhất định?

3 Quy định về vấn đề nộp đơn khởi kiện,

các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi

kiện theo hình thức trực tuyến tại một số

quốc gia

Tại Úc, Toà án Liên bang đã cung cấp

một số dịch vụ điện tử hạn chế, bao gồm hội

nghị truyền hình, quản lí điện tử (để nộp đơn

điện từ) và toà án điện tử với năng lực tư

pháp hạn chế Hầu hết các toà án ở úc hiện

nay đều cung cấp các phương tiện nộp đơn

điện tử. Tiểu bang New SouthWales có một

cơ quan đãng kí trực tuyến cho các toà án

của mình, cho phép giải quyết các vấn đề

trực tuyến và ở một số toà án, quản lí trực

tuyến trình tự, thủ tục của các vụ việc, cho

biết vụ án đang được thụ lí giải quyết ở mức

độ nào Cơ quan đăng kí trực tuyến cung cấp

hơn 80 biểu mẫu có thể nộp trực tuyến và

các biểu mẫu có thể được sử dụng ờ các giai

đoạn khác nhau của quá trình tố tụng7 Tuy

nhiên, điểm lưu ý của thủ tục nộp đơn điện

tử tại Úc là các tài liệu trong danh mục tài

's https://ucprforms.nsw.gov.au/documents/pdl/ucpr_ form l l_v3.pdf, truy cập 18/8/2021.

9 https://www.statecourts.gov.sg/cws/CDRT/Pages/ Filing-a-Claim-in-the-CDRT.aspx, truy cập 19/8/2021; hoặc: https://www.statecourts.gov.sg/ cws/NewsAndEvents/Documents/MediaRelease_C JTS%20Phase2_5Feb2018V140218.pdf, truy cập 19/8/2021.

https://www.ucprforms.nsw.gov.au/, truy cập

18/8/2021.

liệu đính kèm trong đơn khởi kiện theo mẫu

11 của Quy tắc tổ tụng dân sự thống nhất (Uniform Civil Procedure Rules - UCPR)8 đảm bảo thuộc sở hữu của bên gửi thì thoả mãn yêu cầu của các mục trong biểu mẫu đơn được gửi trực tuyến mà không có những yêu cầu khác đối với nội dung liên quan đến các tài liệu, chứng cứ Qua quy định trong pháp luật của Úc cho thấy quốc gia này rất thận trọng trong việc triển khai mô hình giải quyết tranh chấp bằng hình thức trực tuyến bằng việc chỉ cho phép một số toà án tiến hành hình thức này cũng như quy định các biểu mẫu có thể được nộp trực tuyến

Tại Singapore, theo thông tin từ Toà án Tối cao của quốc gia này, từ ngày 05/02/2018, tất cả các khiếu nại phải được gửi trực tuyển thông qua Hệ thống toà án và công lí cộng đồng (Community Justice and Tribunals System - cJTS) với 18 bước bắt buộc người nộp đơn phải hoàn thành9 Trong đó, tại bước

6 về tải tài liệu, chứng cứ, thủ tục nộp đơn trực tuyến không yêu cầu chi tiết nội dung tài liệu, chứng cứ nào được quyền nộp theo hình thức trực tuyến mà chỉ quy định định dạng tài liệu tải lên và kích thước tối đa cho mỗi tài liệu Qua đó cho thấy, hình thức gửi đơn trực tuyến đã dành cho người nộp đơn quyền tự lựa chọn các nội dung tài liệu, chứng cứ để nộp cho toà án, kể cả nội dung đó liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình, miễn là người nộp đơn công khai việc giao nộp cho

Trang 6

NGHIÊN CỨU- TRAO ĐÓI

toà án qua hình thức trực tuyến Với việc quy

định các bước bắt buộc người nộp đom phải

hoàn thành đầy đủ để bắt đầu cho quy trình

tố tụng của pháp luật Singapore là kinh

nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo

Canada là quốc gia đã có những ứng

dụng tối ưu công nghệ thông tin trong giải

quyết tranh chấp Toà án giải quyết dân sự

British Columbia (CRT) là toà án trực tuyến

đầu tiên của Canada10 11 CRT có thẩm quyền

giải quyết đối với: 1) tranh chấp về thưomg

tích xe cơ giới lên đến 50.000 đô la; 2) các

khiếu nại nhỏ tranh chấp lên đến 5.000 đô la;

3) tranh chấp tài sản chung cư; 4) các hiệp

hội và hiệp hội hợp tác tranh chấp về bất kì

số tiền nào Đe nộp đơn trực tuyến, hệ thống

toà án trực tuyến của CRT yêu cầu người

nộp đơn phải cung cấp các thông tin” như

thông tin mang định tính danh của nguyên

đơn, bị đơn, những người có quyền, nghĩa vụ

liên quan, mô tả tranh chấp và nội dung yêu

cầu Neu thuộc một trong 4 tranh chấp mà

Toà dân sự British Columbia quy định thì

chỉ cần người nộp đơn cung cấp đầy đủ các

thông tin nhận dạng bản thân và tranh chấp

thì Toà án đã tiến hành thụ lí

10 https://www2.gov.bc.ca/gov/content/housing-

tenancy/strata-housing/resolving-disputes/the-civil-

resolution-tribunal#:~:text=The%20Civil%20Reso

lution%20Tribunal%20(CRT)%20is%20Canada's%

20first%20online%20tribunal,claims%20disputes%

20up%20to%20%245%2C000, truy cập 18/8/2021.

11 https://civilresolutionbc.ca/how-the-crt-works/getting

-started/#what-information-do-i-need-to-apply-for-

dispute-resolution, truy cập 18/8/2021.

12 Nguyễn Ngọc Hà, “Cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến trong Liên minh châu Âu và khuyến nghị đối với Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lí

Việt Nam, số 03 (133)/2020, tr 84.

13 Điều 8 Quy định số 524/2013 về giải quyết tranh chấp trực tuyến cho các tranh chấp của người tiêu dùng ở EU.

14 https://www.legislation.gov.uk/eur/2013/524/annex, truy cập 19/8/2021.

Liên minh châu Âu không ban hành cơ

chế giải quyết tranh chấp trực tuyến áp dụng

cho mọi loại tranh chấp mà chỉ tập trung vào

giải quyết các chấp tiêu dùng, tên miền và

các tranh chấp nhỏ Bên cạnh đó, cơ chế giải

quyết tranh chấp nhỏ cho phép sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin để thúc đấy quá trình giải quyết12 Chẳng hạn như đối với thủ tục giải quyết tranh chấp trực tuyến các tranh chấp tiêu dùng thì khi muốn khởi kiện tranh chấp tiêu dùng thông qua nền tảng ODR, nguyên đơn điền mẫu đơn khởi kiện điện tử được cung cấp trực tuyến trên nền tảng ODR cũng như cung cấp các tài liệu liên quan13 Theo Phụ lục của Quy định số 524/2013 của Nghị viện châu Âu và của Hội đồng về thông tin tài liệu, chứng cứ cần phải cung cấp thì nội dung phụ lục cũng không quy định chi tiết loại nội dung, tài liệu nào được phép và không được phép gửi qua hình thức trực tuyến mà chỉ liệt kê 16 mục thông tin cần cung cấp khi gửi đơn khiếu nại14 chủ yếu là tên, địa chỉ mail (thư điện tử) của các bên liên quan, ngôn ngữ, hàng hoá dịch vụ khởi kiện, bản mô tả khiếu kiện

Có thể thấy các quy định về nộp đơn khởi kiện bằng hình thức trực tuyến không phái là quá mới mẻ với các quốc gia trên thế giới Mặc dù mồi nước có những quy định đặc thù, tuy nhiên nhìn chung đều rất thận trọng khi triển khai mô hình này, đặc biệt là vấn đề nộp tài liệu chứng cứ thông qua phương thức trực tuyến Các hướng dẫn, quy trình nộp và hệ thống bảo mật thông tin của các bên cũng được chú trọng Mô hình ODR cũng là vấn đề cần xem xét để Việt Nam xây

Trang 7

NGHIÊN CỦI' - TRAO ĐÔI

dựng các quy trình cho việc nộp đom khởi

kiện, tài liệu, chứng cứ trực tuyến

4 Đề xuất giải pháp áp dụng hiệu quả

việc nộp đơn khởi kiện bằng hình thức

trực tuyến

Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đã bổ

sung phưomg thức trong việc nộp đom khởi

kiện, các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ

án bằng hình thức trực tuyến bên cạnh

phương thức giao nộp trực tiếp tại toà án hay

qua bưu điện Đây được xem là bước đi cụ

thể trong tiến trình xây dựng toà án điện tử tại

Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng, hiệu

quả hoạt động xét xử của toà án, phù hợp với

xu thế chung của các quốc gia có nền tư pháp

phát triển trên thế giới, với bối cảnh kinh tế -

xã hội hiện nay, đặc biệt là khi xã hội xảy ra

những tình huống bất thường mà điển hình là

dịch Covid-19 đang diễn ra trên toàn cầu

Tại Việt Nam, Toà án nhân dân tối cao

đã ban hành Chỉ thị số 02/2020/CT-CA ngày

10/3/2020 về phòng, chống dịch Covid-19

trong hệ thống toà án nhân dân trong đó có

quy định: “Từ nay đến hết thảng 3 năm

2020, các toà án tập trung thực hiện tot yêu

cầu về tạm dừng việc nhận đơn khởi kiện,

đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ và tiếp công

dân trực tiếp tại trụ sở toà án Toà án thông

bảo, hướng dẫn cơ quan, tổ chức, cá nhân

thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình thông

qua các phương thức khác như: gửi đến toà

án thông qua dịch vụ bưu chính; gửi trực

tuyến bằng hình thức điện tử qua cổng thông

tin điện tử của toà án

Những biến đổi của bối cảnh kinh tế - xã

hội, đặc biệt là vấn đề quản lí nhà nước trong

các tình huống bất thường là những yêu cầu

đòi hỏi nhà nước phải có quy định cụ thể để

kịp thời ứng phó Trong ngành tư pháp hiện

nay, một trong những giải pháp hữu hiệu là ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động xét xử, trước mắt là đối với nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ và tiếp công dân bằng hình thức trực tuyến Đây cũng là thời điểm thích hợp Việt Nam đẩy mạnh việc triển khai mô hình này trong thực tiễn Tuy nhiên, triển khai như thế nào cho hiệu quả, đảm bảo được tính khách quan, chính xác và bảo vệ được quyền riêng tư của các chủ thể là vấn để cần phải có sự nghiên cứu, học hỏi và hoàn thiện

Thực tế hiện nay chưa có người nộp đơn nào thực hiện việc nộp đơn khởi kiện bằng hình thức trực tuyến, cũng như chưa có toà

án nào chấp nhận việc nhận đơn khởi kiện với các tài liệu, chứng cứ đính kèm thông qua hình thức này vấn đề này ngoài lí do từ

hệ thống hạ tầng, cơ sở vật chất chưa cho phép, mà còn xuất phát từ việc các quy định pháp luật làm cơ sở cho việc nộp đơn khởi kiện trực tuyến đến nay vẫn chưa được quy định và hướng dẫn một cách cụ thể

Từ các phân tích nêu trên và kinh nghiệm

từ mô hình của một số quốc gia cho thấy cần

có những giải pháp mang tính cụ thế với lộ trình xác định, trong đó đặt vấn đề về quyền riêng tư làm trọng tâm:

Thứ nhất, xác định thí điểm một số loại tranh chấp được ưu tiên nộp đơn khởi kiện bằng hình thức trực tuyến

Mặc dù quy định của BLTTDS cho phép mọi loại tranh chấp đều có thể gửi đơn bằng hình thức trực tuyến nhưng để quy định này thật sự đi vào đời sống và mang lại hiệu quả tích cực thì Việt Nam cần có những bước đi thận trọng trong việc triển khai mô hình này Mặt khác, chính sự đa dạng và phức tạp của các tranh chấp dân sự mà đòi hỏi phải có sự

Trang 8

NGHIÊN cứu - TRA o ĐỚI

Cẩn trọng trong từng giai đoạn của quá trình

tố tụng Việc đổi mới đồng loạt tất cả các

loại hình tranh chấp dễ dẫn đến hệ quả là quá

tải, gây sai sót trong quá trình bảo mật và xử

lí thông tin Tham khảo kinh nghiệm của

Canada, pháp luật Canada mới chỉ trao thẩm

quyền cho CRT giải quyết 4 loại tranh chấp

mang tính đặc thù (tranh chấp đơn giản có

giá trị thấp), mức độ phức tạp không cao để

từ đó mới xem xét mở rộng mô hình này

trong hệ thống toà án

Chính vì vậy, trước mắt Việt Nam nên

thí điểm cho việc gửi đơn, tài liệu, chứng cứ

thông qua hình thức trực tuyến đối với một

số loại tranh chấp nhất định Đó là các tranh

chấp đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng như

tranh chấp có số lượng đương sự ít, giá trị

tranh chấp không lớn, chẳng hạn dưới 100

triệu đồng Việc thừa nhận một cơ chế mới

cần thiết phải đi từng bước, để khắc phục kịp

thời những sai sót, tránh chồng chéo, quá tải,

gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi

ích hợp pháp của đương sự Thiết nghĩ, tại

một số quận trung tâm của Thành phố Hồ

Chí Minh là nơi phù hợp để thực hiện tiên

phong vấn đề này Cơ sở vật chất, hạ tầng,

khoa học kĩ thuật, công nghệ thông tin tại

Thành phố Hồ Chí Minh tương đối phát triển

so với các vùng còn lại, do đó, việc triển

khai sẽ đảm bảo được yếu tố nhanh chóng,

khoa học, dễ dàng điều chỉnh, khắc phục sai

sót nếu có Mặt khác, đây cũng là nơi có nền

kinh tế phát triển, trình độ dân trí tương đổi

cao, linh hoạt trong việc tiếp cận các chính

sách mới nên lựa chọn này là phù hợp nhất

để từ đó có thể ghi nhận những phản ứng của

người dân, những bất cập bước đầu của mô

hình này, tổng kết và sửa đổi, bổ sung hoàn

thiện trước khi triển khai trên toàn quốc

Thứ hai, đảm bảo quyền riêng tư đối với

các loại tài liệu, chứng cứ bí mật cá nhân, bí mật gia đình đính kèm theo đơn khởi kiện thông qua việc định nghĩa về quyền riêng tư

và liệt kê các loại tài liệu phải được đính kèm cũng như cơ quan, giải pháp bảo mật chúng Theo kinh nghiệm của EU tại Quy định

số 524/2013 về thông tin tài liệu, chứng cứ cần phải cung cấp thì EU không quy định chi tiết loại nội dung, tài liệu do bên khởi kiện nộp bằng hình thức trực tuyến mà chỉ tập trung vào các quy định mang tính khái quát

về tranh chấp như tên, địa chỉ mail (thư điện từ) của các bên liên quan, ngôn ngữ, hàng hoá dịch vụ khởi kiện, bản mô tả khiếu kiện

để bắt đầu quy trình giải quyết tranh chấp bằng hình thức trực tuyến và dành quyền tự quyết định lựa chọn các loại tài liệu, chứng

cứ cho các bên đương sự

Theo quy định của pháp luật úc, những văn bản, tài liệu được các bên đương sự gửi bằng hình thức trực tuyến thì chỉ có các bên đương sự mới có quyền xem15 Do đó, vấn

đề các tài liệu, chứng cứ liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình không phải là thách thức lớn trong giới hạn của mô hình này mà quan trọng là xây dựng được hệ thống ứng dụng có độ bảo mật cao và xử lí

dữ liệu khi xảy ra các sự cố như bị tấn công

dữ liệu, rò rỉ thông tin

15 Lê Thuỳ Khanh, “Mô hình toà án điện tử một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam”,

Tạp chi Toà án nhân dân, số 20 (kì II tháng

10/2020), tr 37.

Việc đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là

“bí mật cá nhân”, “bí mật gia đình” không quá quan trọng mà cần xác định những nguyên tắc pháp luật trong từng lĩnh vực để thể hiện được nội dung của nhóm quyền này,

Trang 9

NGHIÊN cứu - TRAO ĐÔI

đảm bảo hệ thống các quy định về quyền

riêng tư nói chung và bí mật cá nhân, bí mật

gia đình được linh hoạt và mang tính thực tiễn

cao chứ không cần những quy định khung,

quy định cứng trong các văn bản pháp luật

Do đó, để giúp cho việc xác định rõ ràng

và thống nhất nội dung tài liệu, chứng cứ

đính kèm nào trong đơn khởi kiện có liên

quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình khi

người nộp đơn thực hiện hành vi nộp đơn

khởi kiện qua hình thức trực tuyến, cần xây

dựng nguyên tắc trong việc định hình từng

loại tài liệu, chứng cứ Chẳng hạn, giấy tờ

tùy thân thì thuộc mục nào, giấy chứng nhận

tình trạng sức khỏe có nên được t toà án xem

xét lưu trữ theo diện mật hay không ? vấn

đề là quan điểm của chính đương sự, bởi họ

là chủ thể trong cuộc, thông tin đó thuộc về

cá nhân họ, họ muốn giữ cho riêng họ, do

đó, họ được quyền định đoạt, gửi hoặc

không nếu họ nghi ngờ về hệ thống bảo mật

Do đó, vấn đề về mô hình quản trị, bảo mật

thông tin là yêu cầu tất yếu và cấp bách nếu

áp dụng ODR Theo đó, hệ thống cần cho

phép đương sự gửi đơn và chọn mục “tài liệu

chứng cứ liên quan đến quyền riêng tư ”,

thể hiện quan điểm chủ quan của đương sự

về việc giữ bí mật đời tư, bảo vệ quyền riêng

tư của bản thân mình Bên cạnh đó, cơ quan

tư pháp cũng cần xem xét các nguyên tắc:

thông tin cá nhân (gồm tình trạng bản thân,

gia đình) được liệt vào danh mục tài liệu

chứng cứ liên quan quyền riêng tư

Thứ ba, khắc phục một số khó khăn trong

giải quyết tranh chấp bằng mô hình ODR

Việc sử dụng ODR trong các toà án có lẽ

vẫn còn trong giai đoạn sơ khai và cần từng

bước hoàn thiện Việc sử dụng công nghệ

thông tin trong giải quyết tranh chấp yêu cầu

hệ thống đó phải có sự phân tích, đánh giá được các vấn đề tranh chấp, tài liệu, chứng cứ kèm theo và sắp xếp chúng theo trình tự các giai đoạn để phù hợp với các quy định pháp luật về tố tụng, bảo vệ quyền lợi các bên và đảm bảo được tính nhanh chóng, hiệu quả, tiết kiệm của loại hình ứng dụng công nghệ

số này Tuy nhiên, các hình thức ODR hiện nay đã gây ra những khó khăn nhất định trong suốt tiến trình giải quyết tranh chấp, bởi với mô hình này các bên đương sự gần như ít đến toà án làm việc trực tiếp với những người liên quan mà hoàn toàn bằng hình thức trực tuyến, điều này dần đến hoạt động kiểm tra, đánh giá những yếu tố nhân thân của đương sự không hiệu quả như hình thức truyền thống

Do đó, để góp phần hạn chế những bất cập mà mô hình ứng dụng này mang lại, đòi hỏi ngay ở giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng phải được kiểm ưa, giám sát một cách chặt chẽ, cụ thể việc nộp đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện phải được tiếp nhận, phân loại rõ ràng, xây dựng tiêu chí đánh giá các tài liệu nộp qua hình thức trực tuyến, đặc biệt là việc xác minh các yếu tố nhân thân của đương sự Một ưong những tiêu chí có thể được đề xuất như sau:

- Tài liệu cần thiết phải có công chứng, chứng thực với bản scan màu hoặc bản gốc scan màu mới được xem là chứng cứ hợp lệ;

- Địa chỉ gửi đơn khởi kiện phải có thông tin hay minh chứng kèm theo để xác nhận người nộp đơn chính là người khởi kiện hay được ủy quyền nộp đon khởi kiện;

- Cần yêu cầu đăng kí tài khoản bằng chính căn cước công dân của mồi người để

dễ dàng cho việc định danh, xác nhận thòng tin qua các ứng dụng trung gian hỗ trợ

Trang 10

NGHIÊN cửu - TRA o ĐÓI

Bên cạnh đó, cần xây dựng khung thời

gian để thụ lí, xác minh và giải quyết vụ việc

bằng mô hình ODR theo hướng rút ngắn thời

gian tố tụng Bởi khi đã được thực hiện thông

qua hệ thống máy tính, các vấn đề về nhập

liệu cũng được rút ngắn hơn Điều này sẽ góp

phần tạo được niềm tin bước đầu và khuyến

khích các bên đương sự lựa chọn phương

thức giải quyết tranh chấp trực tuyến

Như vậy, với việc cho phép đương sự

được gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng

cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố

tụng bằng phương tiện điện tử, cho thấy Việt

Nam đang từng bước hoàn thiện các quy

định của pháp luật tố tụng dân sự, cho phép

người dân được quyền tự do lựa chọn các

hình thức giải quyết tranh chấp để bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp cũng như phù hợp

với xu thế phát triển của công nghệ thông tin

và các tinh huống bất thường hiện nay

Từ những phân tích nêu trên, tác giả cho

rằng, việc áp dụng công nghệ thông tin trong

toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp bằng

hình thức trực tuyến là hoàn toàn có thể và

không nên bị giới hạn chỉ ở việc nộp đơn

khởi kiện của người khởi kiện hay việc cấp,

tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự của toà án Qua đó, tạo nên sự chủ động của các bên liên quan trong việc giải quyết tranh chấp khi có những tình huống bất thường xảy

ra, chẳng hạn như dịch bệnh Covid 19 hiện nay./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí

Minh, Giảo trình Luật tố tụng Dân sự Việt Nam, Nxb Hồng Đức, 2019

2 Nguyễn Ngọc Hà, “Cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến trong liên minh châu Âu và khuyến nghị đối với Việt Nam”,

Tạp chí Khoa học pháp lí Việt Nam, số 03 (133)72020

3 Jie Zheng, Online Resolution of E-commerce Disputes Perspectives from the European Union, the UK, and China, Springer, 2021

4 Lê Thuỳ Khanh, “Mô hình toà án điện tử một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Toà án nhân dân,

số 20 (kì II tháng 10/2020)

5 Robert J Condlin, “Online Dispute Resolution: Stinky, Repugnant, or Drab”,

Cardozo Journal of Conflict Resolution,

18 (03), 2017

CÁC GIAI ĐOẠN PHẠM TỘI: LÍ LUẬN, THựC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH Sự NĂM 2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

(tiếp theo trang 69)

11 Kiều Đình Thụ, Tìm hiểu luật hình sự

Việt Nam, Nxb Đồng Nai, 1998.

12 Đào Trí úc, Luật hình sự Việt Nam

(Quyến I - Những vẩn đề chung), Nxb

Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000

13 Trịnh Tiến Việt, Tống quan luật hình sự

Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật,

Hà Nội, 2021

14 Trịnh Tiến Việt (chủ biên), Trách nhiệm

hình sự và hình phạt, Nxb Đại học Quốc

gia Hà Nội, 2022

15 Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ

Tư pháp, Bình luận Bộ luật Hình sự năm

2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Phần Những quy định chung, Nxb Tư pháp, Hà

Nội, 2018

Ngày đăng: 29/10/2022, 16:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w