1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

Các giai đoạn phạm tội lí luận, thực trạng quy định của bộ luật hình sự năm 2015 và định hướng tiếp tục hoàn thiện pháp luật

10 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các giai đoạn phạm tội: Lí luận, thực trạng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và định hướng tiếp tục hoàn thiện pháp luật
Tác giả Nguyễn Kim Chi
Trường học Học viện Tư pháp
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, bài viết đánh giá thực trạng quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về các giai đoạn phạm tội, từ đó chi ra tồn tại, hạn chế, vướng mắc làm cơ s

Trang 1

NGHIÊN CÚV - THA o ĐÕI

CÁC GIAI ĐOẠN PHẠM TỘI: LÍ LUẬN, THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH Sự NAM 2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

NGUYỄN KIM CHI *

* Tiến sĩ, Học viện Tư pháp

E-mail: chink@hocvientuphap.edu.vn

1 Nguyễn Ngọc Chí, “Chương 10 - Các giai đoạn phạm

tội”, trong sách: Giáo trình luật hình sự Việt Nam

(Phần chung), Lê Văn Cảm (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2021, tr 214.

2 Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bàn trong khoa học luật hình sự - Phần chung (Giáo trình sau đại học),

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019, tr 416.

Tóm tắt: Khoa học luật hình sự đã thống nhất chia các giai đoạn phạm tội thành ba giai đoạn: Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đối năm 2017 đã có nhiều điểm mới liên quan đến các giai đoạn phạm tội. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, bài viết đánh giá thực trạng quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về các giai đoạn phạm tội, từ đó chi ra tồn tại, hạn chế, vướng mắc làm cơ sở để tiếp tục hoàn thiện pháp luật như phân hóa các trường họp phạm tội chưa đạt, quy định tội phạm hoàn thành và vấn đề này đối với pháp nhản thương mại phạm tội), qua đó, góp phần xử lí hiệu quả và công bằng trách nhiệm hình sự, cũng như đẩu tranh phòng, chống tội phạm.

Từ khoá: Chuẩn bị phạm tội; phạm tội chưa đạt; tội phạm hoàn thành; hoàn thiện pháp luật Nhận bài: 09/3/2022 Hoàn thành biên tập: 30/5/2022 Duyệt đăng: 30/5/2022

STAGES OF COMMITTING CRIMES: THE THEORY AND APPLICATION OF THE 2015

PENAL CODE AND ORIENTATIONS FOR FURTHER LEGAL REFINEMENT

Abstract: Criminal law science uniformly divides the process of committing a crime into three stages: Preparing to commit a crime, committing an unsatisfactory crime and committing a completed crime The 2015 Penal Code, revised in 2017, introduces many new points related to the stages of committing crime Therefore, on the basis of theoretical research, this article evaluates the current situation of provisions of the current Penal Code on the stages of crime, thereby pointing out the existence, limitations and obstacles as a basis for further improvement of legislation (such as the division of unsatisfactory crimes, the regulation of completed crimes and this problem for commercial legal entities committing crimes), thereby, contributing to the effective and fair handling of criminal liability, as well as the fight against crime.

Keywords : Preparing to commit a crime, committing an unsatisfactory’ crime committing a completed crime, perfect the law

Received: Mar 9 th, 2022; Editing completed: May 3Ơ h , 2022; Accepted for publication: May 3Ơh , 2022

1 Đặt vấn đề

Khoa học luật hình sự đã thống nhất các

giai đoạn phạm tội được hiểu là những bước

trong quá trình (tiến trình) thực hiện tội

phạm do cố ý (trực tiếp)*1 *, phản ánh mức độ

nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội ở từng thời điểm nhất định, bao gồm: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (hai giai đoạn này còn gọi là tội phạm chưa hoàn thành)2 và

Trang 2

NGHIÊN CÚ I -TRAO ĐÒI

tội phạm hoàn thành Sự khác nhau giữa

từng giai đoạn phạm tội chính là ở một số

yếu tố như: Tính chất nguy hiểm cho xã hội

của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm

tội của chủ thể thực hiện hành vi, diễn biến

thực tế và thời điểm dừng lại hoặc chấm dứt

của hành vi đó3, qua đó góp phần xử lí triệt

đê tội phạm và người phạm tội, cũng như

phân hoá tối đa trách nhiệm hình sự

3 Trịnh Tiến Việt, Tống quan luật hình sự Việt Nam,

Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2021,

tr 198.

4 Xem thêm: Cao Thị Oanh, Nguyên tắc phản hoá

trách nhiệm hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, 2008, tr 13.

5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biêu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị

Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2021, tr 202.

Có thể đưa ra định nghĩa như sau: “Các

giai đoạn phạm tội là những bước trong quá

trình thực hiện tội phạm do cố ý trực tiếp,

phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của

hành vi do chủ thể thực hiện ở từng thời

điểm khác nhau với diễn biến thực tế của

hành vi trong quá trình đó”

Hiện nay, theo Bộ luật Hình sự năm 2015,

(sửa đổi, bổ sung năm 2017), trách nhiệm

hình sự chỉ đặt ra khi một người bước vào

giai đoạn chuẩn bị phạm tội và có hai trường

hợp là chuẩn bị phạm tội phải chịu trách

nhiệm hình sự và chuẩn bị phạm tội không

phải chịu trách nhiệm hình sự Sở dĩ quy

định như vậy nhằm đáp ứng yêu cầu của

thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm

“từ trong trứng nước”, tầm quan trọng của

quan hệ xã hội cần bảo vệ, yêu cầu ngăn

chặn, phòng ngừa là chính, nguyên tắc nhàn

đạo (hạn chế hậu quả bằng việc xử lí tội phạm

ở các mức khác nhau), cũng như nguyên tắc

phân hoá trách nhiệm hình sự trong thực

tiễn4 Vì vậy, việc đánh giá thực trạng quy

định của Bộ luật Hình sự hiện hành về từng

giai đoạn phạm tội trên cơ sở khái niệm, đặc trưng của từng giai đoạn, từ đó kiến nghị hoàn thiện pháp luật rõ ràng là có tính cấp thiết, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, phục vụ nhiệm vụ chung trong Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và định hướng đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 623/QĐ-TTg ngày 14/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ, cũng như thực hiện thành công nhiệm vụ trọng tâm “hoàn thiện

đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách ”5 mà Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định Trong Bộ luật Hình sự hiện hành, các nhà làm luật đã cụ thể hoá các giai đoạn phạm tội vào Điều 14 (chuẩn bị phạm tội), Điều 15 (phạm tội chưa đạt), Điều 16 (tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội) và gián tiếp trong toàn bộ các tội phạm trong Phần các tội phạm (tội phạm hoàn thành)

2 Thực trạng quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về các giai đoạn phạm tội

2.1 Chuản bị phạm tội

Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu của quá trình thực hiện tội phạm do cố ý trực tiếp, chủ thể đã có ý định và bắt tay vào chuẩn bị và kế hoạch thực hiện một số tội phạm nhất định do Bộ luật Hình sự hiện hành quy định phải chịu trách nhiệm hình sự

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung về chuấn bị phạm tội bảo đảm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới Cụ thể, chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều

Trang 3

NGHIÊN CỨU- THAO ĐÓI

kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành

lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp

quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều

113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 Bộ luật

này So với quy định chuẩn bị phạm tội tại

Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 1999, quy định

tại Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015 có ba

điểm mới sau: 1) Bổ sung hành vi thành lập,

tham gia nhóm tội phạm vào định nghĩa khái

niệm chuẩn bị phạm tội6; 2) Giới hạn và

quy định hành vi chuẩn bị phạm những tội

cụ thể phải chịu trách nhiệm hình sự; 3) Giới

hạn rõ người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với

hành vi chuẩn bị phạm một số tội cụ thể

trên cơ sở chung

6 Lí do bổ sung hành vi hành vi “thành lập, tham gia

nhóm tội phạm” vào nội dung chuẩn bị phạm tội

nhằm tạo cơ sở pháp lí chủ động ngăn chặn sớm tội

phạm xảy ra, góp phần nâng cao hiệu quả phòng

ngừa tội phạm, đồng thời phù hợp với tinh thần của

Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có

tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 mà Việt Nam là

thành viên Cùng với đó, đây cũng là một biểu hiện

của xu hướng “quốc tế hoá” trong luật hình sự Việt

Nam, từng bước đang xây dựng chế định tổ chức

tội phạm (hoặc nhóm tội phạm có tổ chức) để nâng

cao hiệu quà xử lí triệt để, toàn diện hơn Xem:

Đào Lệ Thu, “Xu hướng quốc tế hoá của luật hình

sự Việt Nam và vấn đề đặt ra cho lập pháp hình

sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12(6)/2020,

tr 3-13.

7 Lưu ý, riêng đối với các hành vi chuẩn bị phạm một số tội cụ thể nêu tại khoản 2 và khoản 3 Điều

14 và trong 25/314 tội danh của Bộ luật Hình sự năm 2015 thi các nhà làm luật quy định chuẩn bị phạm một số tội danh trên phải chịu trách nhiệm hình sự, thì cũng có thể coi hành vi chuẩn bị đó là hành vi khách quan của các tội danh tương ứng đó (mặc dù còn có quan điểm khác nhau).

Như vậy, về nguyên tắc, nếu chủ thể

chuẩn bị càng chu đáo và đầy đủ thì khả

năng cụ thể hoá và thực hiện ý định phạm tội

này càng cao và ngược lại Việc chuẩn bị

phạm tội này còn phụ thuộc vào các yếu tố

khác tác động trong thực tiễn như: chủ thể

dự định sẽ thực hiện là loại tội phạm gì, thời

gian, địa điểm, bối cảnh phạm tội Đặc

trưng của giai đoạn này là chủ thể chưa bắt

tay vào việc thực hiện hành vi nguy hiếm

cho xã hội được mô tả trong mặt khách quan của tội phạm quy định trong Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự, hành vi chuẩn bị này chưa xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, cụ thể là chưa trực tiếp làm biến đổi tình trạng của đối tượng tác động để gây thiệt hại cho quan hệ xã hội đó7 Hiện nay, chính sách hình sự nước ta đối với trường hợp này được phân định rõ - có trường họp hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự và trường hợp chuẩn bị phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự Lưu ý, Bộ luật Hình sự năm

2015 đã bổ sung hành vi “thành lập, tham

gia nhóm tội phạm ” được hiểu là hành vi thành lập nhóm tội phạm như lôi kéo, kích động, tập họp, phân công trách nhiệm cho từng người trong nhóm tội phạm; tham gia nhóm tội phạm như gia nhập nhóm tội phạm, thực hiện những hành vi mà nhóm tội phạm phân công Tuy nhiên, đối với hành vi thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm chỉ

là hành vi chuẩn bị phạm tội nếu việc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm không thuộc những trường hợp được quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113, điểm a khoản 2 Điều 299 Bộ luật Hình sự năm 2015

vì đây là các trường hợp tội phạm hoàn thành của các tội phạm cụ thể đó

Ngoài ra, trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội được quy định trong Phần chung và Phần các

Trang 4

NGHIÊN cứu - TRA o ĐỚI

tội phạm Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự

năm 2015 quy định các nguyên tắc chung tại

Điều 57 (Phần chung), còn ở Phần các tội

phạm quy định thêm mức hình phạt cụ thể

tại điều luật tương ứng mà người có hành vi

chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm

hình sự, Theo đó, Bộ luật Hình sự năm 2015

quy định truy cứu trách nhiệm hình sự hành

vi chuẩn bị phạm tội đối với 25/314 tội danh

tại các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113,

114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123,

124, 134, 168, 207, 299, 300, 301, 302, 303

và 324 Bộ luật Hình sự8 Lưu ý, người từ đủ

14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội

quy định tại Điều 123 (tội giết người), Điều

168 (tội cướp tài sản) thì phải chịu trách

nhiệm hình sự

8 Tuy nhiên, đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội

đôi với Tội cô ý gây thương tích hoặc gây tôn hại

cho sức khoẻ của người khác tại khoản 6 Điều 134

Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn còn quan điêm

chưa thống nhất vì về mặt lí luận, tội danh này

được coi là có cấu thành tội phạm vật chất có

nghĩa phải có hậu quả xảy ra mới bị truy cứu trách

nhiệm hình sự, trong khi lại quy định chuẩn bị vũ

khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy

hiểm, hoá chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc

tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích

hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì

bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc

phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm Do đó, các nhà

làm luật cần có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

9 Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chinh, Bộ Tư pháp,

Bình luận Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đôi, bỏ

sung năm 2017), Phần Những quy định chung,

Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2018, tr 66.

10 Xem cụ thể hơn: Nguyễn Ngọc Hoà, Bình luận

Chương 3, ưong sách: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bo sung nám 2017 (Phần chung), Nguyễn Ngọc Hoà (chù biên), Nxb.

Nói chung, các tội danh phải chịu trách

nhiệm hình sự ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội

thường là “những tội xâm phạm đến các

quan hệ xã hội quan trọng, có ỷ nghĩa quyết

định đến sự tồn vong của dân tộc, chế độ;

xâm phạm đến các quyền cơ bản của con

người cần thiết phải có biện pháp ngăn

chặn, xử lí sớm ”9 *

2.2 Phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là một giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý trực tiếp, là trường hợp chủ thể đã bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được Bộ luật Hình sự hiện hành bảo vệ nhưng không thực hiện được hành vi đó đến cùng vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của chủ thể này Phạm tội chưa đạt là giai đoạn thứ hai của quá trình thực hiện tội phạm do cố ý sau giai đoạn thứ nhất - chuẩn bị phạm tội Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt

Nghiên cứu Bộ luật Hình sự năm 2015 cho thấy, quy định về phạm tội chưa đạt trong Điều 15 không có nội dung mới so với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 Khác với chuẩn bị phạm tội, trong giai đoạn phạm tội chưa đạt, chủ thể đã bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong cấu thành tội phạm của điều luật tại Phần các tội phạm đã xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Tuy nhiên, việc chủ thể không thực hiện được tội phạm đến cùng là do nguyên nhân khách quan Nguyên nhân ngoài ý muốn có thế là

do bị người khác phát hiện và ngăn cản, bị người bị hại chống cự quyết liệt, sai lầm do

sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội Ngoài ra, căn cứ vào mức độ thực hiện ý định phạm tội, khoa học luật hình sự chia phạm tội chưa đạt thành hai loại chính sau10:

Trang 5

NGHIÊN cíì - TRAO ĐÒ!

Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm

tội chưa đạt đã hoàn thành Mặc dù vậy, trong

Bộ luật Hình sự hiện hành vẫn chưa phân hoá

mức độ trách nhiệm hình sự giữa phạm tội

chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa

đạt đã hoàn thành, trong khi phạm tội chưa

đạt đã hoàn thành nguy hiểm hơn phạm tội

chưa đạt chưa hoàn thành, hơn nữa người

phạm tội đã thực hiện hết các hành vi khách

quan nhưng vì những lí do khách quan khác

nhau nên chưa đạt được mục đích Hơn nữa,

việc phân tách rõ hai trường họp này còn liên

quan đến việc áp dụng một trường hợp đặc

biệt trong các giai đoạn phạm tội - tự ý nửa

chừng chấm dứt việc phạm tội

Như vậy, người phạm tội chưa đạt phải

chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa

đạt Căn cứ vào các điều 15, 57, 102 và một

số điều luật có liên quan trong Bộ luật Hình

sự năm 2015, vấn đề trách nhiệm hình sự

của người phạm tội chưa đạt được xác định

như sau như sau1112:

Tư pháp, Hà Nội, 2017, tr 95; Lê Văn Cảm, Những

vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự - Phần

chung (Giáo trình sau đại học), sđd, tr 416; Vụ

Pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ Tư pháp, sđd, ư 70.

11 Trịnh Tiến Việt (chủ biên), Trách nhiệm hình sự và

hình phạt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2022, tr 147.

12 Trịnh Tiến Việt (chủ biên), Trách nhiệm hình sự và

hình phạt, sđd, tr 148 13 Xem thêm: Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và cấu

- Người từ đủ 18 tuổi trở lên:

Trường hợp điều luật được áp dụng quy

định hình phạt cao nhất là tù chung thân

hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không

quá 20 năm Còn nếu là tù có thời hạn thì

mức hình phạt không quá 3/4 mức phạt tù

mà điều luật được áp dụng quy định

- Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi:

+ Trường hợp phạt tiền hoặc phạt cải tạo

không giam giữ: không quá 1/4 mức phạt mà

điều luật được áp dụng quy định

+ Trường hợp phạt tù có thời hạn: Neu điều luật áp dụng tù chung thân hoặc tử hình thì hình phạt cao nhất không quá 09 năm tù Nếu điều luật áp dụng tù có thời hạn thì hình phạt cao nhất không quá 3/8 mức phạt mà điều luật áp dụng quy định

- Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi: + Trường hợp phạt cải tạo không giam giữ: không quá 1/6 mức phạt mà điều luật được áp dụng quy định

+ Trường hợp phạt tù có thời hạn: Neu điều luật áp dụng tù chung thân hoặc tử hình thì hình phạt cao nhất không quá 04 năm tù Nếu điều luật áp dụng tù có thời hạn thì hình phạt cao nhất không quá 1/6 mức phạt mà điều luật quy định

2.3 Tội phạm hoàn thành

Tội phạm hoàn thành là trường hợp trong hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể thực hiện đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm nào đó (tội danh cụ thể) tại Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự

Hiện nay, khái niệm “chuẩn bị phạm tội”,

“phạm tội chưa đạt”, “tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” đã được thể hiện rõ trong Bộ luật Hình sự hiện hành, nhưng khái niệm “tội phạm hoàn thành” chưa được quy định trực tiếp mà gián tiếp “mặc định” tại Phần các tội phạm với 314 tội danh đều ở thời điểm hoàn thành Vi vậy, khi nào thực tiễn xảy ra “trường hợp đó” thì lúc này mới tồn tại cấu thành tội phạm cụ thể (có sự kết hợp Phần chung và Phần các tội phạm), mà theo tác giả Nguyễn Ngọc Hòa, gọi đó là “cấu thành tội phạm bố sung”13

Trang 6

NGHIÊN CÚI - IRAQ ĐO!

Tội phạm hoàn thành cần được phân biệt

với trường hợp phạm tội chưa đạt, đã hoàn

thành và trường hợp tội phạm kết thúc bao

gồm cả chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa

đạt có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định

tội, xác định mức độ trách nhiệm hình sự,

xác định phòng vệ chính đáng, có đồng

phạm hay không, hoặc để tính thời hiệu truy

cứu trách nhiệm hình sự

- Phân biệt với trường hợp phạm tội chưa

đạt, đã hoàn thành: Trường hợp này có điểm

giống với tội phạm hoàn thành vì hành vi do

người phạm tội thực hiện đã thỏa mãn đầy

đủ các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của

cấu thành tội phạm tưong ứng hậu quả có

xảy ra nhưng chưa phù họp trong cấu thành

tội phạm đó; còn tội phạm hoàn thành là

trường họp chủ thể đã thực hiện hành vi nguy

hiểm cho xã hội thỏa mãn đầy đủ các dấu

hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm nào

đó tại Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự (cả

về hậu quả) Ví dụ: A đâm B nhiều nhát dao

nên B chết, đây là trường họp tội phạm hoàn

thành Trường họp khác, A cũng đâm B nhiều

nhát dao, B nằm bất động, A nghĩ và tin B

chết nên bỏ đi nhưng sau B không chết mà

chỉ bị thưorng tích nặng, nên tội phạm ở giai

đoạn phạm tội chưa đạt, đã hoàn thành)

- Phân biệt với tội phạm kết thúc: Tội

phạm kết thúc là trường hợp hành vi phạm

tội của chủ thể đã chấm dứt hoàn toàn trên

thực tế do một sổ nguyên nhân khác nhau và

thời điếm hành vi phạm tội chấm dứt cũng

chính là thời điểm tội phạm kết thúc14 Ở

thành tội phạm, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2015, tr

156 - 157.

14 Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học

luật hình sự - Phần chung (Giáo trình sau đại học),

sđd, tr 417.

15 Xem thêm: Trịnh Tiến Việt, Tổng quan luật hình

sự Việt Nam, sđd, tr 213.

đây, hành vi đã chấm dứt hoàn toàn có thể do

ý muốn chủ quan của chủ thể hoặc có thể không - bị một số nguyên nhân khách quan ngăn cản, mặc dù họ không quan tâm đến việc hành vi đó đã đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm hay chưa Vì thế, thời điểm hoàn thành của tội phạm và thời điểm tội phạm kết thúc

có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau nhưng thực tế thông thường tội phạm hoàn thành thường sớm hon tội phạm kết thúc15

Ví dụ: A đâm dao vào tim B để giết B làm B chết ngay, tội phạm hoàn thành trùng với tội phạm kết thúc Tuy nhiên, A đâm dao vào người B để giết B nhưng đâm trượt, B chỉ bị thưong, A tiếp tục lao vào đâm tiếp nhưng B tránh được và mọi người can ngăn, tội phạm hoàn thành trước tội phạm kết thúc)

2.4 Tự ỷ nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

là trường họp chủ thể đã từ bỏ dứt khoát, hoàn toàn ý định thực hiện tội phạm đến cùng, không gây ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mặc dù điều kiện khách quan không có gì ngăn cản vấn đề này được đặt

ra trong quá trình thực hiện tội phạm của chủ thể, qua đó làm rõ mức độ trách nhiệm hình

sự và thể hiện nguyên tắc nhân đạo nếu hành

vi đó không xảy ra Quy định này cùa Bộ luật Hình sự năm 2015 được giữa nguyên từ quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999

Do chưa có văn bản hướng dẫn mới nên

đe xác định các điều kiện tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội dưới góc độ khoa học vẫn tham khảo một số điểm hợp lí của Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dần áp dụng một số quy định

Trang 7

NGHIÊN (ít - TRA o ĐÒI

của Bộ luật Hình sự năm 1985; Nghị quyết

số 01/HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đồng

Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng

dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định

của Bộ luật Hình sự (trước đây và đã hết

hiệu lực) và căn cứ quy định của Bộ luật

Hình sự năm 2015 (Điều 16) Tuy vậy, việc

chấm dứt thực hiện ý định hoặc hành vi

phạm tội của người phạm tội phải tự nguyện

và rõ ràng dứt khoát, cũng như việc này chỉ

xảy ra trong trường hợp tội phạm được thực

hiện ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội

chưa đạt chưa hoàn thành16 17 và điều kiện

khách quan không có gì ngăn cản việc thực

hiện tội phạm Cũng lưu ý, trường hợp “nếu

một người nào đó quyết định ngừng thực hiện

tội phạm sau khi thay rõ ràng điều kiện khách

quan không cho phép thực hiện được tội

phạm thì không được thừa nhận là tự ỷ nửa

chừng chẩm dứt việc phạm tội”11 Do đó, nếu

đáp ứng các điều kiện đã nêu thì người tự ý

nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được

miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm

Nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đầy đủ

yếu tố cấu thành của một tội khác thì người

đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này

(ví dụ A đã mua lựu đạn để giết người, mặc

dù A đã tự ý chấm dứt việc giết người nhưng

A vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành

vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng)

16 Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dần tối cao,

Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 “Hướng

đẫn một số quy định của Bộ luật Hình sự” (năm

1985), mục IV.

17 Kiều Đình Thụ, Tìm hiểu luật hình sự Việt Nam,

Nxb Đồng Nai, 1998, tr 172.

3 Một số kiến nghị tiếp tục hoàn thiện

quy định về các giai đoạn phạm tội trong

Bộ luật Hình sự năm 2015

Từ việc nghiên cứu lí luận và thực trạng

quy định về các giai đoạn phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015, nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, hạn chế tới mức thấp nhất các hậu quả

mà tội phạm gây ra và phân hoá hon nữa trách nhiệm hình sự, tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:

Một là, nghiên cứu bỏ quy định về chuẩn

bị phạm tội đối với Tội cố ý gây thưong tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho phù hợp với thực tiễn, vì về

lí luận, tội danh này đặc thù được coi là có cấu thành tội phạm vật chất có nghĩa phải

có hậu quả xảy ra mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự Hơn nữa, tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về xử phạt hành chính về lĩnh vực an toàn xã hội, an ninh trật tự; phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình có quy định như sau:

“Điều 5 Vi phạm quy định về trật tự công cộng

2 Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vỉ sau đây: a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đảnh nhau ”.

Điều này có nghĩa, nếu vi phạm quy định

về trật tự công cộng mà đánh nhau thì mới bị

xử phạt vi phạm hành chính, trong khi lại quy định chuẩn bị vũ khí chưa gây ra thương tích hoặc tôn hại sức khỏe, mới chuân

bị đã bị xử lí hình sự là quá nghiêm khắc và dẫn đến chưa thống nhất với khoản 1 Điều 134

Bộ luật Hình sự năm 2015

Hai là, căn cứ vào mức độ thực hiện ý định phạm tội, khoa học luật hình sự đã chia phạm tội chưa đạt thành phạm tội chưa đạt

Trang 8

NGHIÊN cứu - TRA o ĐÕI

chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt đã

hoàn thành Nghị quyết số 01/HĐTP ngày

19/4/1989 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án

nhân dân tối cao hướng dần bổ sung việc áp

dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự

năm 1985 trước đây đã gián tiếp phân loại

khi đề cập tự ý nửa chừng chấm dứt việc

phạm tội18 song trong Bộ luật Hình sự hiện

hành chưa phân hoá mức độ trách nhiệm

hình sự giữa phạm tội chưa đạt chưa hoàn

thành và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành

(khác nhau về mức độ nguy hiểm cho xã hội,

về việc người phạm tội đã thực hiện hết các

hành vi thỏa mãn ở điều luật tương ứng

chưa), qua đó bảo đảm công bằng trong xử lí

người phạm tội, cũng như phân hoá trách

nhiệm hình sự rõ hơn19 Vì vậy, cần ghi nhận

điều kiện và phân tách rõ hon giữa phạm tội

chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa

đạt đã hoàn thành tại Điều 15 Bộ luật này

với nội dung sửa đổi như sau:

18 Chỉ coi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chưa

hoàn thành là một điều kiện của tự ý nửa chừng

chấm dứt việc phạm tội mà không coi phạm tội

chưa đạt đã hoàn thành, trong khi phạm tội chưa

đạt đã hoàn thành nguy hiểm hon.

19 Cao Thị Oanh, sđd, tr 13.

20 Xem thêm: Lê Cảm, “Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Luật hình sự Việt Nam”, trong sách:

Nhà nước và pháp luật Việt Nam trước thềm thế ki XXI, Nxb Công an nhân dần, Hà Nội, 2002, tr 224; Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bàn trong khoa học luật hình sự - Phần chung (Giáo trình

“Điều 15 Phạm tội chưa đạt

1 Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội

phạm nhưng không thực hiện được đến cùng

vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của

người phạm tội

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách

nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt

2 Phạm tội chưa đạt bao gồm phạm tội

chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa

đạt đã hoàn thành:

a) Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là

trường hợp phạm tội chưa đạt, trong đó

hành vi do ngưòí phạm tội thực hiện chưa thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm tương ứng và hậu quả chưa xảy ra b) Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp phạm tội chưa đạt, trong đó hành

vi do người phạm tội thực hiện đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm tương ứng và hậu quả có thế chưa xảy ra hoặc có xảy ra nhưng chưa phù hợp trong cấu thành tội phạm đó.

3 Người phạm tội chưa đạt đã hoàn thành phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn trường hợp chưa đạt chưa hoàn thành

Ba là, tương tự, càn ghi nhận khái niệm

“tội phạm hoàn thành” và quy định thành một điều luật độc lập sau Điều 15 về phạm tội chưa đạt, làm căn cứ phân biệt giữa tội phạm hoàn thành với tội phạm chưa hoàn thành (chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt)

và với tội phạm kết thúc, cụ thể:

“Điều 15a Tội phạm hoàn thành Tội phạm hoàn thành là trường hợp trong hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thê thực hiện đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cẩu thành tội phạm nào đó (tội danh cụ thể) tại Phần các tội phạm Bộ luật Hĩnh sự”.

Bốn là, Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015 đều chưa ghi nhận vấn

đề miễn trách nhiệm hình sự do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đổi với cả ba người đồng phạm khác bao gồm20: Người tổ

Trang 9

\ GHIÊ\ ci L - TR í o ĐÒI

chức, người xúi giục và người giúp sức nhằm

áp dụng thống nhất pháp luật hoặc phải có

văn bản hướng dẫn Trước đây, vấn đề này đã

được hướng dần tại Nghị quyết số 01/HĐTP

ngày 19/4/1989 của Hội đồng thẩm phán Toà

án nhân dân tối cao và văn bản này đã có hết

hiệu lực từ ngày 01/7/2016

Do đó, có thể bổ sung vào Điều 16 Bộ

luật Hình sự năm 2015 như sau:

“Điều 16 Tự ý nửa chừng chấm dứt việc

phạm tội

1 Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm

tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến

cùng, tuy không có gì ngăn cản

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc

phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về

tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực

hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội

khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm

hình sự về tội này

2 Người tố chức, người xúi giục hay

người giúp sức được miền trách nhiệm hình

sự nếu họ từ bỏ ý định phạm tội, chủ động

tiến hành các biện pháp ngăn chặn người

thực hành tiếp tục phạm tội (báo chính quyền

sở tại, bảo nạn nhản hoặc gia đình họ,

khuyên can người thực hành cùng với gia

đình, vợ con, giành giật, cất giấu công cụ,

phương tiện phạm tội ) và hậu quả (thiệt

hại) đã không xảy ra

Năm là, để động viên, khuyến khích

người phạm tội tự ý ngăn chặn tội phạm, tác

giả hoàn toàn tán thành quan điểm của tác

giả Nguyễn Ngọc Hoà khi nêu một trường

hợp khác có tính chất tương tự như trường

hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

song chưa được Bộ luật Hình sự Việt Nam

sau đại học), sđd, tr 418 - 419

quy định là “trường hợp tự ỷ ngăn chặn tội phạm” \ ví dụ: A đặt mìn để huỷ hoại ô tô

đỗ ban đêm ngoài đường của B và bật công tắc hẹn giờ của quả mìn thì tội phạm mà A thực hiện đã là tội phạm chưa đạt đã hoàn thành, A không cần làm gì thì quả mìn vẫn

sẽ nổ theo hẹn giờ và trong trường hợp này, vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không còn đặt ra Tuy nhiên, nếu A tự nguyện và ngăn chặn nổ mìn qua tắt công tắc

để vô hiệu hoá quả mìn thì hành động “tích cực” này của A cũng nên xem là tự nguyện ngăn chặn tội phạm và nên coi là miễn trách nhiệm hình sự nếu thực tiền xảy ra21 22

21 Nguyền Ngọc Hoà (chủ biên), Bình luận khoa học

Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đôi hô sung năm 2017 (Phần chung), sđd, tr 100.

22 Nguyễn Ngọc Hoà, Bình luận Chương 3, Điều 16,

Trong sách: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đối, bố sung năm 2017 (Phần chung), GS.TS Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên), sđd,

tr 100.

23 Hiện nay, có ba ý kiến về vấn đề này Ý kiến thứ nhất khi dựa vào học thuyết truyền thống cho rằng pháp nhân chĩ có thế liên đới chịu trách nhiệm hình

sự do không phải thực thể sinh học nên không thể suy nghĩ, quyết định thực hiện được hành vi phạm tội Xem: Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản khoa học trong luật hình sự - Phản chung (Giáo trình sau đại học), sđd, tr 710 Ý kiến thứ hai quan niệm pháp nhân chi là chú thể của trách nhiệm hình sự Xem: Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên), Sửa đoi Bộ

luật Hình sự - Những nhận thức cần thay đôi, Nxb.

Sáu là, một điểm mới mang tính đột phá trong chính sách hình sự thể hiện trong Bộ luật Hình sự năm 2015 là quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại Mặc dù còn có các quan điểm chưa thống nhất trong khoa học, pháp nhân là chủ thể của tội phạm hay là chủ thể liên đới chịu trách nhiệm hình sự hay là chủ thể của trách nhiệm hình sự 23 Tuy nhiên, căn cứ vào

Trang 10

NGHIÊN cứư - TRA o ĐÔI

khái niệm tội phạm tại Điều 8 Bộ luật Hình

sự năm 2015 thì rõ ràng, quan điểm của các

nhà làm luật nước ta đang hiểu pháp nhân

thương mại là chủ thể của tội phạm Ngoài

ra, Điều 74 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã

quy định: “Pháp nhân thương mại phạm tội

phải chịu trách nhiệm hình sự theo những

quy định của Chương này (Chương XI -

Những quy định đối với pháp nhân thương

mại phạm tội); theo các quy định khác của

Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái

với quy định của Chương nàý\ Điều này có

nghĩa, các quy định chuấn bị phạm tội, phạm

tội chưa đạt hay tự ý nửa chừng chấm dứt

việc phạm tội đối với pháp nhân thương

mại phạm tội chưa được quy định rõ tại các

điều luật tương ứng như đối với người phạm

tội mà mới chỉ quy định về vấn đề đồng

phạm, vấn đề miễn hình phạt Thực tế pháp

nhân thương mại hoàn toàn có thể chuẩn bị

phạm tội, phạm tội chưa đạt hoặc tự ý nửa

chừng chấm dứt việc phạm tội, ví dụ: Pháp

nhân thương mại chuẩn bị phạm tội rửa tiền

hoặc có thể tự ý nửa chừng chấm dứt việc

phạm tội về tội tài trợ cho khủng bố Vì

vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần hướng

dẫn áp dụng thống nhất vấn đề này, bảo đảm

xử lí trong thực tiễn được thống nhất, chặt

chẽ và có căn cứ pháp luật Theo quan điểm

của tác giả bài viết, những vấn đề này hoàn toàn áp dụng được đối với pháp nhân thương mại phạm tội trên các cơ sở chung./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự - Phần chung (Giáo trình sau đại học), Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội, 2019

2 Lê Văn Cảm (chủ biên), Giảo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2021

3 Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà nước và

pháp luật Việt Nam trước thềm thế kỉ XXI,

Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002

4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại

hội đại biếu toàn quổc lần thứ XIII, tập I,

Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2021

5 Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần chung), Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2017

6 Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên), Sửa đổi Bộ

luật Hình sự - Những nhận thức cần thay đổi, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2015

7 Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và cấu thành

tội phạm, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2015.

8 Cao Thị Oanh, Nguyên tắc phân hoả trách nhiệm hình sự, Nxb Công an nhân dân,

Hà Nội, 2008

9 Đào Lệ Thu, “Xu hướng quốc tế hoá của luật hình sự Việt Nam và vấn đề đặt ra cho lập pháp hình sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12(6)/2020.

10 Trịnh Quốc Toàn, Trách nhiệm hình sự cùa pháp nhản trong pháp luật hình sự,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011

(Xem tiếp trang 113)

Tư pháp, Hà Nội, 2015, tr 81 Ý kiến thứ ba cho

rằng, pháp nhân là chủ thể cùa tội phạm - sử dụng

học thuyết đồng nhất hoá hành vi cùa pháp nhân

với hành vi của những người trong pháp nhân đó

Xem: Trịnh Quốc Toản, Trách nhiệm hình sự của

pháp nhản trong pháp luật hình sự, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr 231 Tuy vậy, Điều 8

Bộ luật Hình sự ghi nhận rõ tội phạm “là hành vi

nguy hiểm cho xã hội do pháp nhân thương mại

thực hiện ” thì có nghĩa đã thừa nhận pháp nhân là

chủ thể của tội phạm và đang áp dụng theo luồng ý

kiến thứ ba.

Ngày đăng: 29/10/2022, 16:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự - Phần chung (Giáo trình sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhữngvấn đề cơ bản trongkhoa học luậthình sự -Phần chung (Giáo trình sau đại học)
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc giaHàNội
2. Lê Văn Cảm (chủ biên), Giảo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
Nhà XB: Nxb. Đại họcQuốc gia Hà Nội
3. Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà nước và pháp luật Việt Nam trước thềm thế kỉ XXI,Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước vàpháp luật Việt Nam trước thềm thế kỉ XXI
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biếu toàn quổc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đạibiếu toàn quổclần thứXIII
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia-Sựthật
5. Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần chung), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phầnchung)
Nhà XB: Nxb. Tưpháp
6. Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên), Sửa đổi Bộ luật Hình sự - Những nhận thức cần thay đổi, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổiBộluật Hình sự - Những nhận thức cần thay đổi
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
7. Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và cấu thành tội phạm
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
8. Cao Thị Oanh, Nguyên tắc phân hoả trách nhiệm hình sự, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc phân hoả trách nhiệm hình sự
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
9. Đào Lệ Thu, “Xu hướng quốc tế hoá của luật hình sự Việt Nam và vấn đề đặt ra cho lập pháp hình sự ” , Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12(6)/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng quốc tế hoá củaluật hình sự Việt Nam và vấn đề đặt racho lập pháp hìnhsự”, "Tạp chíNghiên cứu lập pháp

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w