Nội dung của chế định bảo vệ người tổ giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác Thứ nhất, đối tượng được bảo vệ Theo quy định tại Điều 484 Bộ luật Tố tụng
Trang 1way dựny pháp luật số 4 (361) - 2022
CHẾ BỊNH BẢO VỆ NGltil TÓ GIẤC TÔI PHAM, NGltìl LÀM CHÕNG, BỊ HẠI VÀ NGltil THAM GIA rí TỤNG KHÁC
TRONG BÔ LUẬT Tố TỤNG HÌNH sự NĂM 2015
■ TS BÙI Đức HỨA *
Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia to tụng khác, từ đó, nêu ra những khó khăn, vướng
mắc và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về những vấn đề này.
Abstract: Within the scope of this article, the author focuses on researching regulations on the
protection of crime whistleblowers, witnesses, victims and other participants in legal proceedings, thereby
highlighting difficulties, obstacles and makes proposals to improve the Criminal Procedure Code of 2015
on these issues.
1 Dẩn nhập
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
(VAHS), bị hại, người làm chứng, người tố giác tội
phạm là những người tham gia tố tụng đóng vai trò
quan trọng trong quá trình chứng minh sự thật
khách quan của VAHS, vì lời khai của họ chính là
nguồn chứng cứ quan trọng trong vụ án, nhiều vụ
án nhanh chóng được điều tra làm rõ chính là nhờ
nguồn chứng cứ này Chính vì vậy, họ là những
người dễ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản
trong quá trình tham gia tố tụng Hiện nay, một số
nhóm tội danh xâm hại về tính mạng, sức khỏe, về
ma túy, tham nhũng, những đối tượng thực hiện
loại tội phạm này rất tinh vi, manh động, sẵn sàng
xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người tố giác
tội phạm, người bị hại, người làm chứng khi họ
cung cấp thông tin cho cơ quan tố tụng
Hiến pháp năm 2013 dành riêng Chương II quy
định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân “ở nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công
dân về chế độ chính trị được công nhận, tôn
trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14); “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai
bị tước đoạt tính mạng trái luật” (Điều 19); “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm ” (khoản 1 Điều 20)’ “Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo ” (khoản 3 Điều 30) Việc quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Chương II ngay sau chương chế độ chính trị cho thấy quan điểm của Đảng, Nhà nước đánh giá tầm quan trọng về quyền con người cần được pháp luật bảo vệ
Trên cơ sở đánh giá thực tiễn thực hiện Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 về cơ chế bảo vệ người tham gia tố tụng và bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013, để bảo vệ người tham gia tố tụng khỏi sự xâm hại hoặc đe dọa xâm hại do họ tham gia tố tụng, Bộ luật Tố tụng hình sự nãm
2015 đã chính thức ghi nhận chế định bảo vệ người
tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người
Trang 2Qbâụ, (iựníỊ phtíp luật Số 4 (361) -2022
tham gia tố tụng khác
2 Nội dung của chế định bảo vệ người tổ giác
tội phạm, người làm chứng, bị hại và người
tham gia tố tụng khác
Thứ nhất, đối tượng được bảo vệ
Theo quy định tại Điều 484 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015, chủ thể sau được áp dụng biện
pháp bảo vệ: Người tố giác tội phạm; người làm
chứng; bị hại; người thân thích của người tố giác
tội phạm, người làm chứng, bị hại
Thứ hai, căn cứ đề nghị, yêu cầu áp dụng các
biện pháp bảo vệ
Khi tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân
phẩm của người tố giác tội phạm; người làm
chứng; bị hại; người thân thích của người tố giác
tội phạm, người làm chứng, bị hại bị xâm hại hoặc
bị đe dọa xâm hại thì họ có quyền yêu cầu cơ quan,
người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo
vệ
Hình thức có thể làm văn bản đề nghị hoặc
trường hợp khẩn cấp, người được bảo vệ đề nghị
cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp
bảo vệ hoặc thông qua phương tiện liên lạc nhưng
sau đó phải thể hiện bằng văn bản đề nghị theo quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự1
Khi nhận được yêu cầu bảo vệ, cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải đánh giá,
xem xét yêu cầu của họ có tính xác thực và có căn
cứ hay không, nếu xét thấy yêu cầu của họ không
cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ thì phải giải
thích rõ lý do cho người đã yêu cầu, đề nghị biết
Thứ ba, biện pháp bảo vệ
Các biện pháp bảo vệ được quy định tại Điều
486 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bao gồm: (i)
Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp
vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hồ trợ và các phương
tiện khác để canh gác, bảo vệ; (ii) Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ; (iii) Giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ; (iv) Di chuyển, giữ bí mật chồ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lý lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ, nếu được họ đồng ý; (v) Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành
vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật; (vi) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật
Thứ tư, cơ quan, người có thấm quyền quyết định áp dụng biện pháp báo vệ
- Cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ gồm: Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân
biện pháp bảo vệ gồm:
+ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra của Công an nhân dân có thẩm quyền ra quyết định
áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo
vệ trong các vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cùng cấp; đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; + Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ trong các vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự cùng cấp; đề nghị của Viện kiêm sát quân sự trung ương
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ của Viện kiểm sát và Tòa án Viện kiểm sát và Tòa án
Trang 3fâăg dựng fduifL luật Số 4 (361) -2022
xét thấy cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ thì có
văn bản đề nghị cơ quan điều tra trực tiếp thụ lý vụ
án trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân
ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ2
Thứ năm, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ
Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ gồm các
nội dung chính như: số, ngày, tháng, năm; địa
điểm ra quyết định; chức vụ của người ra quyết
định; căn cứ ra quyết định; họ tên, ngày, tháng,
năm sinh, nơi cư trú của người được bảo vệ; biện
pháp bảo vệ và thời gian bắt đầu thực hiện biện
pháp bảo vệ
Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có
thể thay đổi, bổ sung biện pháp bảo vệ trong quá
trinh bảo vệ nếu xét thấy cần thiết3
Thứ sáu, chấm dứt việc bảo vệ
Khi xét thấy căn cứ xâm hại hoặc đe dọa xâm
hại tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân
phẩm của người được bảo vệ không còn, Thủ
trưởng Cơ quan điều tra đã quyết định áp dụng
biện pháp bảo vệ phải ra quyết định chấm dứt áp
dụng biện pháp bảo vệ
Quyết định chấm dứt áp dụng các biện pháp bảo
vệ phải được gửi cho người được bảo vệ, cơ quan
đã đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và cơ quan, tổ
chức, đơn vị liên quan đến việc bảo vệ4
Thứ bảy, hồ sơ bảo vệ
Khi cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng
biện pháp bảo vệ thì phải lập hồ sơ bảo vệ riêng thể
hiện quá trình áp dụng biện pháp bảo vệ Điều 490
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định hồ sơ
bảo vệ gồm: (i) Văn bản đề nghị, yêu cầu áp dụng
biện pháp bảo vệ; biên bản về việc đề nghị, yêu cầu
áp dụng biện pháp bảo vệ; (ii) Kết quả xác minh về
hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng,
sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người
được bảo vệ; (iii) Tài liệu về hậu quả thiệt hại đã xảy ra (nếu có) và việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền; (iv) Văn bản yêu cầu, đề nghị thay đối, bố sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ; (v) Quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ; (vi) Tài liệu phản ánh diễn biến quá trình áp dụng biện pháp bảo vệ; (vii) Văn bản yêu cầu, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp bảo vệ; (viii) Báo cáo kết quả thực hiện biện pháp bảo vệ; (ix) Quyết định chấm dứt biện pháp bảo vệ; (x) Các vãn bản, tài liệu khác có liên quan đến việc bảo vệ
3 Một số khó khăn, vướng mắc
Một là, về kỳ thuật lập pháp: Theo quy định tại Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác
có chủ thể được bảo vệ là người tham gia tố tụng nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 484 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015 thì chủ thể được bảo vệ bao gồm cả người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại Trong khi đó, theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015 thì người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại không phải là người tham gia tố tụng, chính điều này không bảo đảm sự đồng bộ giữa tên Chương với đối tượng bảo vệ trong Điều 484
Hai là, Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015 giới hạn các chủ thể được áp dụng biện pháp bảo vệ bao gồm: Người tố giác tội phạm; người làm chứng; bị hại; người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại Việc thực thi quy định này có một số khó khăn, vướng mắc sau:
hình sự năm 2015 thì: “Bị hại là cá nhân trực tiếp
Trang 4Qbfig dựng pháp luật Số 4 (361) -2022
bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ
quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội
phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra” Như vậy, bị hại
không chỉ là người mà còn có cả pháp nhân, do đó,
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị
thiệt hại khi bị đe dọa xâm hại đến tính mạng yêu
cầu được bảo vệ thì không áp dụng được vì căn cứ
áp dụng biện pháp bảo vệ được quy định tại khoản
1 Điều 486: “Khi có căn cứ xác định tính mạng,
sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người
được bảo vệ bị xâm hại ”
(ii) Theo quy định tại khoản 3 Điều 67, khoản 2
Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về
quyền của người chứng kiến và người phiên dịch,
người dịch thuật thì những chủ thể này cũng có
quyền được đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp
khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe
dọa nhưng theo nội dung Điều 484 thì họ lại không
nằm trong nhóm chủ thể được áp dụng các biện
pháp bảo vệ, trong khi đó, tên Chương XXXIV Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015 xác định phạm vi áp
dụng bao gồm người tham gia tố tụng khác5
Ba là, về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp
bảo vệ, Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015 mới chỉ quy định chung nhất về thẩm
quyền, biện pháp áp dụng biện pháp bảo vệ mà
chưa có những hướng dẫn cụ thể về quy trình áp
dụng như thế nào dẫn đến khó khăn khi áp dụng,
cụ thể, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chi quy
định về thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ là
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra Vậy
vấn đề đặt ra là, Thủ trưởng, Phó Thù trưởng Cơ
quan điều tra sẽ huy động lực lượng nào để áp
dụng các biện pháp bảo vệ, vì rõ ràng, điều tra viên
và cán bộ điều tra hiện nay rất thiếu không thể huy động để áp dụng biện pháp bảo vệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Bốn là, về phạm vi chủ thể có thẩm quyền đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ, theo quy định tại Điều 487 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì chỉ người được bảo vệ mới có quyền làm văn bản đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ, vậy trường hợp người dưới 18 tuổi thì người đại diện theo pháp luật của họ có quyền đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ hay không? Trong khi đó, vai trò của họ trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự cũng quan trọng trong việc bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ trong quá trình tiến hành lấy lời khai hoặc đề nghị khởi tố hay không khởi tố
vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
Năm là, một số nội dung khác trong Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn vướng mắc khi áp dụng như: Một số từ ngừ chưa
có giải thích như các biện pháp bảo vệ khác được quy định tại điểm e Điều 486 Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015 là những biện pháp nào hoặc khoản 4 Điều 488 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có thể thay đổi, bổ sung biện pháp bảo vệ trong quá trình bảo vệ nếu xét thấy “cần thiết” hoặc thời hạn đánh giá căn cứ để có quyết định bảo vệ là bao lâu hiện nay chưa có quy định
4 Kiến nghị, đề xuất
Thứ nhất, bổ sung diện những người cần được
áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để bảo đảm tính logic, chặt chẽ về hình thức và nội dung trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể như sau:
“Điều 484 Người được bảo vệ
Trang 5Qbâụ dựnạ pháp luật Số 4 (361) -2022
Những người được bảo vệ gồm:
b) Người làm chứng;
c) Bị hại;
d) Người thân thích của người tố giác, báo tin
về tội phạm, người làm chứng, bị hại, người chứng
kiến, người phiên dịch, người dịch thuật;
đ) Người chứng kiến;
Thứ hai, liên Ngành Tư pháp Trung ương cần
nghiên cứu xây dựng thông tư hướng dẫn áp dụng
chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm
chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác
Theo đó, thông tư cần tập trung hướng dẫn những
vấn đề cụ thể về các biện pháp bảo vệ như: Trình
tự, thủ tục áp dụng, chủ thể có trách nhiệm thực
hiện các biện pháp bảo vệ và mối quan hệ giữa các
chủ thế này khi áp dụng các biện pháp bảo vệ như
thế nào Ngoài ra, trong thông tư cần quy định
thống nhất về thời hạn gừi quyết định áp dụng
biện pháp bảo vệ cho người được bảo vệ và hướng
dần cụ thể các cụm từ mang tính tùy nghi, trừu
tượng như “cần thiết” tại Điều 488 Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015
Thứ ba, trước khi có văn bản hướng dần áp
dụng chế định bảo vệ người tố giác tội phạm,
người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng
khác, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra
cần chủ động nghiên cứu và phối hợp với Viện
kiểm sát trong việc áp dụng một số biện pháp bảo
vệ cụ thể như: Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ; giữ
bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ; răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật
Thứ tư, bổ sung một số chủ thể theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được hưởng các biện pháp bảo vệ như người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật và người thân thích của
họ để đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như tính phù hợp của các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác đã thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ quyền con người trong quá trình tham gia tố tụng, quy định này làm cho nhân dân tin tưởng, tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả hơn Đồng thời, xác định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng là phải bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử □
1 Khoản 1 Điều 487 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
2. Điều 485 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
3. Điều 488 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
4. Điều 489 Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2015.
5. Phùng Văn Hoàng, Kiến nghị hoàn thiện quỵ định về bào vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại
và người tham gia tố tụng khác, https://tapchitoaan.vn > bai-viet > xay-dung-phat-luat, truy cập ngày 01/10/2021.