1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

[CHƯƠNG 2 - KINH TẾ MÔI TRƯỜNG]NGUYỄN NGỌC LAN

47 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là “toàn bộ hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động

Trang 1

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ MÔI TRƯỜNG

GVC Nguyễn Ngọc Lan Học viện Tài chính

“Không khí sạch, nước sạch, đất đai không bị hủy hoại - tất cả chúng ta đều đồng ý rằng đó là những mục tiêu mong muốn Nhưng chúng ta sẵn sàng trả bao nhiêu để đạt được điều đó? Và sự đe dọa đối với loài người là gì nếu chúng ta không coi trọng những giới hạn của môi trường tự nhiên?” (Paul.A.Samuelson)

Mở đầu cho các chương lý luận về Kinh tế môi trường, chương này sẽ giới

thiệu những vấn đề mang tính khái quát chung, bao gồm: Khái niệm, phân loại,

đặc trưng và chức năng cơ bản của môi trường Tiếp theo đó là khái niệm, thước

đo trình độ phát triển và tác động cơ bản của phát triển đến môi trường Cuối cùng

là khái niệm, chỉ số phát triển bền vững, những nguyên tắc và các phương thức

thực hiện phát triển bền vững trong bối cảnh hiện nay

2.1 Nhận thức chung về môi trường

2.1.1 Khái niệm và phân loại môi trường

2.1.1.1 Khái niệm môi trường

Cho đến nay, hai chữ “môi trường” đã quá quen thuộc với chúng ta Tuy nhiên,

để hiểu biết một cách đầy đủ về môi trường cũng không phải dễ dàng vì phạm vi của môi trường rất khác nhau

Môi trường, theo nghĩa chung nhất, là tổng hợp các yếu tố, điều kiện bên ngoài

có ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của một sự vật hoặc một hiện tượng Những yếu tố, điều kiện bên ngoài đó bao gồm các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, không gian, thời gian, Ví dụ hoạt động đi học của một sinh viên chịu tác động bởi các yếu tố tự nhiên (mưa, nắng, bão, lụt), yếu tố kinh tế (học phí, cơ sở vật chất phục vụ học tập như bàn ghế, máy tính, máy chiếu, micro, loa, điều hòa), yếu tố xã hội (quan hệ bạn bè, nội qui của nhà trường, các tổ chức xã hội như Đoàn, Hội sinh viên, câu lạc bộ) và cả yếu tố không gian, thời gian nữa Tất cả các yếu tố này tạo thành môi trường học tập của một sinh viên Ví dụ trên cho

Trang 2

thấy bất cứ một sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại và phát triển trong một môi trường Khi nói đến môi trường thì phải nói đến môi trường của một sự vật, hiện tượng nhất định Khái niệm chung về môi trường như vậy được cụ thể hóa đối với từng đối tượng và mục đích nghiên cứu

Trong nghiên cứu Kinh tế môi trường, cho đến nay có nhiều khái niệm môi trường khác nhau đã được sử dụng Theo tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là “toàn bộ hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình

đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người” Do đó, môi trường không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là con người mà còn là “khung cảnh của cuộc

sống, của lao động và sự vui chơi giải trí của con người”

Còn theo Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020 của Việt Nam: “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên” Đây được xem là khái niệm hoàn chỉnh

về môi trường

Từ khái niệm trên cho thấy môi trường bao gồm hai hệ thống là:

Hệ thống môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên được

hình thành, tồn tại và phát triển theo các qui luật tự nhiên khách quan, ngoài ý muốn của con người, không hoặc rất ít chịu sự chi phối của con người, đó là: ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, đất, nước, động thực vật,… Với trình

độ phát triển hiện nay, con người chỉ có thể khai thác các qui luật tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống của mình chứ không thể can thiệp sâu vào các qui luật tự nhiên để thay đổi chúng

Hệ thống môi trường nhân tạo: Bao gồm các yếu tố vật chất nhân tạo do con

người tạo ra, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống và chịu sự chi phối của con người, đó là: nhà cửa, đường sá, thành phố, làng mạc, đồng ruộng, khu công nghiệp, khu vui chơi giải trí, Những yếu tố này do con người tạo ra nên con

Trang 3

người có thể tác động để thay đổi theo ý muốn của mình Nếu không có bàn tay chăm sóc của con người thì các yếu tố của môi trường nhân tạo sẽ bị hủy hoại Như vậy, môi trường bao gồm hai hệ thống cơ bản đan xen nhau là hệ thống môi trường tự nhiên và hệ thống môi trường nhân tạo Trong quá trình sống, tồn tại và phát triển, con người khai thác các yếu tố trong môi trường tự nhiên và vật chất nhân tạo để thỏa mãn các nhu cầu của mình Tuy nhiên, khi xem xét mối quan hệ tương tác giữa môi trường và phát triển, người ta thường ngầm hiểu môi trường trên khía cạnh là hệ thống môi trường tự nhiên

2.1.1.2 Phân loại môi trường

Tùy theo mục đích nghiên cứu và sử dụng môi trường của con người, hiện có

nhiều cách phân loại môi trường khác nhau Một số cách phân loại môi trường thường được sử dụng trong nghiên cứu Kinh tế môi trường như sau:

Phân loại theo sự sống: Môi trường được chia ra thành môi trường vật lý và môi trường sinh học

- Môi trường vật lý: Bao gồm các thành phần vô sinh của môi trường tự nhiên

như thạch quyển, thủy quyển, khí quyển Hay nói một cách khác, môi trường vật

lý là môi trường không có sự sống

- Môi trường sinh học: Bao gồm các thành phần hữu sinh của môi trường tự

nhiên Đó là môi trường mà ở đó diễn ra sự sống như các hệ sinh thái, các quần thể thực vật, động vật, vi sinh vật và cả con người cùng tồn tại và phát triển trên

cơ sở sự thay đổi của môi trường vật lý

Phân loại theo thành phần tự nhiên: Môi trường được chia ra thành môi trường

không khí, môi trường đất và môi trường nước

- Môi trường không khí: Với ranh giới dưới là bề mặt thủy quyển, thạch quyển

và ranh giới trên là khoảng không giữa các hành tinh Môi trường không khí được hình thành do sự thoát hơi nước, các chất khí từ thủy quyển và thạch quyển Thành phần của môi trường không khí chủ yếu là N2 , O2, hơi nước, CO2, O3, NH4 và các khí trơ Môi trường không khí duy trì sự sống bằng việc cung cấp O2 và CO2cho quá trình hô hấp, quang hợp của con người và sinh vật Tham gia vào việc

Trang 4

giữ cân bằng nhiệt lượng của Trái đất thông qua quá trình hấp thụ tia tử ngoại từ mặt trời và phản xạ tia nhiệt từ mặt đất Bên cạnh đó, môi trường không khí còn ngăn chặn các tia tử ngoại, tia hồng ngoại và các tia nhìn thấy khác có những tác động nguy hại với con người và hệ sinh thái

- Môi trường đất: Là lớp ngoài cùng của thạch quyển bị biến đổi tự nhiên dưới tác động tổng hợp của nước, không khí và sinh vật Thành phần chính của môi trường đất là chất khoáng, mùn, nước, không khí và các loại sinh vật từ vi sinh vật đến côn trùng, chân đốt, Môi trường đất là cơ sở cho sự sống trên Trái đất

- Môi trường nước: Bao gồm các nguồn nước có trên Trái đất như đại dương, biển, sông suối, ao hồ, nước ngầm và băng tuyết Ranh giới dưới của môi trường nước khá phức tạp, từ đáy các đại dương có độ sâu hàng chục km, vài chục mét

ở các thấu kính nước ngầm cho đến vài chục cm ở các vùng đất ngập nước Môi trường nước đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì cuộc sống của con người và sinh vật trên Trái đất

Phân loại theo qui mô: Môi trường được chia ra thành môi trường toàn cầu,

môi trường khu vực, môi trường quốc gia, môi trường vùng và môi trường địa phương Tùy thuộc vào vấn đề môi trường được đặt ra sẽ nghiên cứu ở qui mô môi trường tương ứng

2.1.2 Đặc trưng cơ bản của môi trường

Sau khi “Học thuyết chung về hệ thống” của Bertalanffy ra đời vào năm 1956,

lý thuyết hệ thống đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học, trong

đó có khoa học Kinh tế môi trường Lý thuyết hệ thống được nhìn nhận như một hướng tiếp cận khoa học để giải quyết mâu thuẫn mang tính sống còn giữa hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của con người với môi trường Theo tư duy hệ thống, môi trường được hiểu như là một hệ thống và mang đầy đủ các đặc trưng

cơ bản của hệ thống, đó là:

2.1.2.1 Môi trường có cấu trúc phức tạp

Hệ thống môi trường (gọi tắt là hệ môi trường) bao gồm nhiều phần tử (thành phần) hợp thành được liên kết với nhau bằng các mối quan hệ tương hỗ

Trang 5

Các phần tử trong hệ môi trường có bản chất khác nhau (tự nhiên, kinh tế - xã hội) và chịu sự chi phối bởi các quy luật khác nhau Chẳng hạn đất, nước, không khí, núi, rừng, biển, sông, hồ, thực vật, động vật, có bản chất tự nhiên và vận động, phát triển theo các quy luật tự nhiên; còn làng mạc, đồng ruộng, thành phố, nhà máy, khu công nghiệp, khu vui chơi giải trí, có bản chất nhân tạo và vận động, phát triển theo các quy luật kinh tế - xã hội Tuy nhiên, hệ môi trường không phải là con cộng của các phần tử của nó, mà là các phần tử được sắp xếp có tổ chức và cùng hoạt động trong các mối quan hệ cực kỳ phức tạp giữa các phần tử với nhau, từ đó tạo nên tính thống nhất của hệ môi trường, giúp hệ tồn tại và phát triển Nói cách khác, sự duy trì mối liên kết giữa các phần tử chính là điều kiện

để hệ môi trường tồn tại và phát triển Ví dụ hệ môi trường rừng được cấu thành

từ rất nhiều phần tử khác nhau như cây rừng, động vật rừng, không khí, đất, nước, và chúng cùng hoạt động trong các mối quan hệ tương tác vô cùng phức tạp Cây rừng lấy dinh dưỡng từ đất tổng hợp thành chất hữu cơ; chất hữu cơ này

đủ để một phần nuôi dưỡng phát triển cây, một phần nuôi động vật ăn thực vật trong rừng, một phần rơi rụng trả lại màu cho đất; phân, xác động vật và lá rụng, cành rơi trên mặt đất được vi sinh vật phân hủy hết để trả lại cho đất chất dinh dưỡng nuôi cây; do vậy đất rừng luôn màu mỡ, giàu chất hữu cơ, nhiều vi sinh vật và côn trùng, cây rừng đa dạng và tươi tốt, động vật rừng phong phú Cây rừng làm trong sạch không khí nhờ quá trình quang hợp hấp thụ khí CO2 và nhả khí O2 Cây rừng điều hòa dòng chảy trong sông suối và dưới đất do nước mưa được giữ lại nhiều hơn trong tán cây và trong đất, nhờ đó sẽ giảm bớt được thiên tai, hạn hán, lũ lụt Chính các mối liên hệ lẫn nhau của các phần tử cơ cấu này

đã giúp cho hệ môi trường rừng duy trì và phát triển

Việc nghiên cứu tính cấu trúc phức tạp của hệ môi trường mang lại nhiều ý nghĩa cho con người Thứ nhất, cho con người thấy được môi trường có sự phân hóa sâu sắc theo thời gian và không gian Mỗi hệ môi trường có một cấu trúc chức năng riêng biệt, bởi các phần tử cấu thành nên hệ được sắp xếp và liên hệ với nhau theo thời gian và không gian là hoàn toàn khác nhau Bên cạnh đó, hệ môi

Trang 6

trường còn được cấu trúc theo thứ bậc Nếu xem xét một tập hợp các hệ thống môi trường mà chúng tương tác với nhau thì tập hợp các hệ thống môi trường đó

có thể lại được xem là một hệ thống quy mô lớn hơn Do đó, muốn khai thác, sử dụng môi trường một cách chủ động và hiệu quả thì con người phải xuất phát từ chính đặc điểm (cấu trúc) của từng hệ môi trường Thứ hai, cho thấy biểu hiện bên ngoài của tính cấu trúc chính là phản ứng dây chuyền Chỉ cần xảy ra một sự

cố nhỏ trong mối quan hệ là có thể phá vỡ toàn bộ hệ thống môi trường Vì vậy, khi khai thác, sử dụng môi trường, con người cần phải đảm bảo duy trì được mối liên kết giữa các phần tử của hệ môi trường

2.1.2.2 Môi trường có tính động

Hệ môi trường không phải là hệ thống tĩnh hay hệ thống bất biến, mà ngược lại các phần tử trong hệ môi trường luôn tự vận động và tương tác với nhau để thiết lập một trạng thái cân bằng động Nhờ vào quá trình trao đổi vật chất và năng lượng liên tục diễn ra trong ranh giới của hệ môi trường (được gọi là nội lực) làm cho không chỉ bản thân các phần tử môi trường mà toàn bộ cấu trúc của

hệ môi trường luôn chịu sự vận động (biến đổi) theo thời gian Mặc dù hệ môi trường chịu sự vận động nhưng toàn bộ hệ thống vẫn ổn định về số lượng và cấu trúc, luôn có sự cân bằng giữa các phần tử cơ cấu cũng như các quá trình trao đổi vật chất, năng lượng diễn ra trong hệ môi trường Có thể nói, hệ môi trường là một hệ thống ổn định tương đối theo thời gian

Khi một trong các phần tử bên trong hệ môi trường thay đổi sẽ phá vỡ sự cân bằng, hệ lại có xu hướng xác lập thế cân bằng mới Đây chính là bản chất vận động và phát triển của hệ môi trường Ví dụ núi lửa phun trào làm cho hệ môi trường bị phá hủy, nhưng sau một thời gian dung nham núi lửa đông đặc và nguội

đi, hệ môi trường “mới” ra đời với trạng thái cân bằng mới Tuy nhiên, nếu sự thay đổi của hệ môi trường là quá lớn (trong trường hợp con người tác động quá mức), trạng thái cân bằng động của hệ không thể được thiết lập thì sẽ ảnh hưởng xấu đến hệ môi trường

Trang 7

Ý nghĩa của việc nghiên cứu tính động của hệ môi trường là giúp con người

có thể ứng phó, giải quyết các vấn đề môi trường một cách nhanh chóng, kịp thời trước khi vấn đề đó biến đổi sang trạng thái khác; đồng thời giúp con người dự báo được xu hướng vận động của hệ môi trường để có thể “điều khiển” hệ môi trường phát triển theo chiều hướng tốt, vừa đạt được hiệu quả môi trường vừa mang lại hiệu quả kinh tế

Do đặc trưng các dòng vật chất và năng lượng liên tục “chảy” trong không gian

và theo thời gian từ hệ môi trường này sang hệ môi trường khác và ngược lại, từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ thế hệ hiện tại sang thế hệ tương lai nên hệ môi trường rất nhạy cảm với những thay đổi từ bên ngoài Chẳng hạn, cứ hàng năm vào mùa khô từ tháng 5 - 9, khói mù do cháy rừng tại Indonesia lại bay sang hai nước láng giềng là Singapore và Malaysia gây nên tình trạng ô nhiễm không khí nặng nề ở những nước này Theo Cơ quan Môi trường quốc gia Singapore (2020), chỉ số ô nhiễm không khí ở Singapore lên tới mức 371, tức cao hơn ngưỡng báo động là mức 300 Tình trạng ô nhiễm không khí nặng nề đến mức

Bộ Nhân lực Singapore đã khuyên các chủ doanh nghiệp phân phát khẩu trang bảo hộ cho những nhân viên gặp vấn đề về tim mạch và đường thở, cũng như cho những người làm việc ngoài trời Người già và trẻ em được khuyên chỉ ra đường khi thật cần thiết Nguyên nhân của ô nhiễm khói mù xuyên biên giới này là do tính mở của hệ môi trường gây ra

Việc nghiên cứu tính mở của hệ môi trường giúp cho con người hiểu rõ được các vấn đề môi trường mang tính vùng, tính toàn cầu và tính lâu dài, vì thế cần được giải quyết bằng sự nỗ lực của toàn thể cộng đồng, bằng sự hợp tác giữa các

Trang 8

quốc gia, giữa các khu vực trên thế giới với một tầm nhìn xa trông rộng vì lợi ích của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau

2.1.2.4 Môi trường có khả năng tự tổ chức và điều chỉnh

Trong hệ môi trường, nhiều phần tử môi trường (như các cơ thể sống) có khả

năng tự tổ chức lại hoạt động của mình và tự điều chỉnh để thích nghi với những thay đổi bên ngoài theo quy luật tiến hoá, nhằm hướng tới trạng thái ổn định Tuy nhiên, khả năng tự tổ chức, điều chỉnh của hệ môi trường là có hạn Khi

có một tác nhân của môi trường bên ngoài tác động vào hệ môi trường ở mức độ vừa phải, trong hệ môi trường sẽ xuất hiện cơ chế tự tổ chức và điều chỉnh để đối phó với tác nhân đó, giúp hệ lập lại trạng thái cân bằng Ví dụ con người có thể khai thác hợp lý mà không làm cạn kiệt cá ngừ đại dương Mỗi năm, con người đánh bắt một số lượng cá ngừ và để lại một số lượng nhất định cho chúng phát triển, trưởng thành và sinh sản; năm sau có thể đánh bắt phần tăng thêm của sản lượng còn lại trong năm nay và để lại một lượng như cũ để chúng lại phát triển; nhờ đó con người có thể đánh bắt cá ngừ lâu dài mà hệ môi trường đại dương không bị phá vỡ Ngược lại, nếu tác động quá mạnh thì hệ môi trường sẽ không khôi phục lại được, tức là hệ mất khả năng tự tổ chức và điều chỉnh, làm cho hệ mất cân bằng, suy thoái

Việc nghiên cứu khả năng tự tổ chức và điều chỉnh của hệ môi trường mang lại ý nghĩa lớn cho con người Trước hết, mở ra cơ hội can thiệp, khai thác của con người đối với môi trường với mức độ và phạm vi thích hợp nhằm duy trì khả năng tự phục hồi của tài nguyên tái tạo, duy trì khả năng tự làm sạch của môi trường,… Sau đó, mở ra khả năng tận dụng thiên nhiên trong việc giải quyết các vấn đề môi trường hiện nay như tạo khả năng tự phục hồi của các tài nguyên sinh

vật đã suy kiệt, xây dựng hồ chứa và vành đai cây xanh, nuôi trồng thủy sản,

Như vậy, môi trường là một hệ thống đa thành phần, động, mở và có khả năng thiết lập trạng thái cân bằng Phát triển hay suy thoái là xu thế biến động của hệ thống môi trường Tiếp cận hệ thống là phương pháp toàn diện giúp cho con

Trang 9

người hiểu được xu thế phát triển bền vững của hệ môi trường, từ đó đưa ra các

giải pháp khai thác, sử dụng môi trường hiệu quả

2.1.3 Chức năng cơ bản của môi trường

Môi trường có nhiều chức năng quan trọng gắn liền với sự tồn tại và phát triển của loài người trên Trái đất Song, có thể khái quát lại thành ba chức năng cơ bản như sau:

2.1.3.1 Môi trường là không gian sinh sống

Mỗi người đều cần phải có một không gian để sinh tồn Không gian này giúp

con người đáp ứng dược các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống như ăn, ở, học tập, làm việc, vui chơi giải trí, … cũng như tái tạo lại chất lượng của môi trường sống (rừng, hồ chứa, vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển) Tất cả các nhu cầu này của con người đều do môi trường cung cấp Tuy nhiên, để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu đó, con người cần phải có một không gian sống với các đặc trưng về qui

mô và chất lượng cho phép Trước hết, không gian sống phải đảm bảo qui mô thích hợp cho mọi hoạt động sống của con người Chẳng hạn để đáp ứng nhu cầu

về ở, theo qui định luật pháp Việt Nam, mỗi căn hộ phải có diện tích tối thiểu từ

45 m2 trở lên mới được cấp sổ đỏ Sau đó, không gian sống phải đạt được những tiêu chuẩn nhất định về các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, cảnh quan Ví dụ nơi nóng quá như ở sa mạc hoặc nơi lạnh quá như ở vùng cực sẽ gây ra bất lợi cho

cuộc sống của con người

Chức năng là không gian sống của môi trường đóng vai trò quan trọng đối với con người Có thể khẳng định rằng không có không gian sống, con người không thể tồn tại và phát triển được Thế nhưng chức năng này của môi trường có giới hạn Trái đất, bộ phận môi trường gần gũi nhất của loài người trong hàng tỉ năm qua không thay dổi về độ lớn (diện tích bề mặt Trái đất là 510 triệu km2), trong khi đó dân số thế giới lại không ngừng tăng lên (dự kiến sẽ đạt 8 tỉ người vào ngày 15/11/2022, theo Vụ Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp Quốc), dẫn đến chức năng thứ nhất của môi trường đang bị suy giảm nghiêm trọng Cụ thể là diện tích không gian sống bình quân trên Trái đất của con người đang giảm sút nhanh

Trang 10

chóng: Vào năm thứ 1 triệu trước Công nguyên, dân số thế giới là 0,125 triệu người, mỗi người có tới 120.000 ha đất để sinh sống; đến năm thứ 0 (đầu Công nguyên), dân số thế giới là 200 triệu người, diện tích đất bình quân đầu người giảm xuống còn 75 ha; tiếp đó đến năm 2010, khi dân số thế giới tăng lên 7 tỉ người, mỗi người chỉ còn 1,88 ha đất để sinh sống (Lê Thạc Cán, 2004) Khi không gian sống bị thu hẹp tất yếu sẽ kéo theo sự suy giảm về chất lượng Cho đến nay, Trái đất vẫn là nơi duy nhất cho con người sinh sống Vì vậy, con người cần phải bảo vệ ngôi nhà chung duy nhất này

2.1.3.2 Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên

Môi trường cung cấp cho con người rất nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên

như năng lượng, khoáng sản, đất, nước, không khí, sinh vật,… “Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống” (Lê

Văn Khoa, 2010) Hiện có nhiều cách phân loại tài nguyên thiên nhiên khác nhau, trong nghiên cứu Kinh tế môi trường sử dụng cách phân loại theo khả năng tái tạo bao gồm: Tài nguyên tái tạo (năng lượng tái tạo, đất, nước, không khí, sinh vật) và tài nguyên không tái tạo (khoáng sản, gen di truyền)

Tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng đối với con người Có thể nói rằng, không có tài nguyên thiên nhiên thì không có bất cứ quá trình sản xuất nào

và cũng không có sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Trước hết, tài nguyên thiên nhiên đảm bảo các nhu cầu trực tiếp của con người (ăn, uống, thở) Sau đó, tài nguyên thiên nhiên là yếu tố đầu vào cho mọi quá trình sản xuất và là một trong những nguồn lực cơ bản để phát triển kinh tế Mọi hoạt động sản xuất công nghiệp, nông, lâm, ngư nghiệp, văn hóa, du lịch của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật chất tồn tại trên Trái đất và không gian bao quanh Trái đất

Ví dụ tài nguyên nước, mỗi ngày mỗi người chỉ cần 2,5 đến 4 lít nước uống, nhưng con người dùng nước sạch một cách gián tiếp rất nhiều, đó là “nước ảo” -

là lượng nước cần để sản xuất ra lương thực, thực phẩm và hàng hóa hoặc lượng

Trang 11

nước gắn vào sản phẩm (để sản xuất 1 tấn giấy cần 250 lít nước, 1kg thịt bò cần

15000 lít nước, 1kg khoai tây cần 1000 lít nước,…)

Mặc dù các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên Trái đất rất đa dạng, phong phú nhưng khả năng cung cấp tài nguyên thiên nhiên của môi trường có giới hạn Cùng với mức độ khai thác, sử dụng như hiện nay của con người, các nguồn tài nguyên thiên nhiên (bao gồm tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo) đang

có xu hướng cạn kiệt nhanh chóng, đe dọa nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên

và sự sống của các thế hệ tương lai Nói cách khác, việc con người khai thác, sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang làm suy giảm chức năng thứ hai này của môi trường Vì vậy, con người cần phải khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên

2.1.3.3 Môi trường là nơi chứa đựng và phân hủy các chất thải

Tài nguyên thiên nhiên sau khi được con người khai thác, sử dụng trong hoạt

động sống và sản xuất sẽ bị thải vào môi trường dưới dạng các chất thải “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” (Luật Bảo vệ môi

trường 2020) Tại đây, nhờ hoạt động của các vi sinh vật và các thành phần môi trường khác, chất thải sẽ bị biến đổi trở thành các dạng ban đầu trong một chu trình sinh địa hóa phức tạp Ví dụ cây xanh, trong quá trình quang hợp, hấp thụ khí CO2 và nhả ra khí O2 cần thiết cho sự sống Trung bình 1 hecta rừng lá rộng

có thể hấp thụ được 1 tấn khí CO2 và nhả ra 730 kg khí O2 mỗi ngày (Quỹ quốc

tế bảo vệ thiên nhiên thế giới WWF, 2022), do đó con người có thể giảm phát thải khí CO2 bằng cách tăng cường trồng rừng và bảo vệ rừng

Khả năng chứa đựng và phân hủy chất thải của môi trường (còn gọi là khả năng tự đồng hóa) đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì chất lượng môi trường Tuy nhiên, khả năng chứa đựng và phân hủy chất thải của môi trường có giới hạn Khi chất thải với số lượng và chất lượng nhất định được thải ra môi trường, các quá trình phân hủy tự nhiên làm cho chất thải sau một thời gian biến đổi trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên Ngược lại, khi lượng chất thải lớn

Trang 12

hơn khả năng tự đồng hóa, hoặc thành phần chất thải có nhiều chất độc, vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân hủy thì chất lượng môi trường sẽ giảm và môi trường có thể bị ô nhiễm

Đi kèm với quá trình cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên là nạn ô nhiễm môi trường sống đang ngày càng trầm trọng hơn Bởi vì tài nguyên thiên nhiên càng cạn kiệt, có nghĩa là số lượng tài nguyên thiên nhiên được khai thác để đưa vào sản xuất càng lớn - trong khi trình độ khoa học công nghệ chưa hoàn thiện - thì càng có nhiều chất thải độc hại đi vào môi trường, gây ô nhiễm môi trường, làm cho chất lượng môi trường sống ngày càng xấu hơn Nói cách khác, việc con người thải quá nhiều chất thải vượt quá khả năng chứa đựng và phân hủy của môi trường, thêm vào đó là các chất thải độc hại và khó phân hủy đang làm suy giảm chức năng thứ ba này của môi trường Vì vậy, con người cần phải kiểm soát chất thải một cách hiệu quả

Như vậy, các chức năng của môi trường đều có vai trò quan trọng như nhau đối với con người, chỉ cần thiếu một trong ba chức năng trên thì con người không thể sống và phát triển được Một cách hình tượng hóa thì môi trường được xem vừa là nhà ở, vừa là công xưởng, vừa là cái thùng khổng lồ chứa chất thải của con người Bên cạnh đó, các chức năng của môi trường đều có giới hạn và có điều kiện, do đó cần phải khai thác một cách thận trọng và có cơ sở khoa học, bởi vì nếu con người khai thác vượt quá khả năng của môi trường thì sẽ gây ra các vấn

đề môi trường nghiêm trọng như cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, quá tải dân số,… Cuối cùng, các chức năng của môi trường có liên hệ trực tiếp với nhau, khai thác một chức năng có thể làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác các chức năng khác Sự cạnh tranh giữa các chức năng cũng thường gây

ra các vấn đề môi trường phức tạp, vì vậy cần phải khai thác thận trọng và khoa học để phục vụ tốt nhất cho con người Bảo vệ môi trường thực chất là bảo vệ ba chức năng cơ bản của môi trường; cụ thể là bảo vệ độ tinh khiết của không khí

mà con người thở, bảo vệ chất lượng nước mà con người uống và bảo vệ thực

phẩm mà con người ăn Đây đang là nhiệm vụ sống còn của loài người

Trang 13

2.2 Nhận thức chung về phát triển kinh tế - xã hội

2.2.1 Khái niệm phát triển kinh tế - xã hội

Khi nói về một xã hội phát triển, chúng ta thường hình dung ra một xã hội, ở

đó mọi người được ăn ngon mặc đẹp, có khả năng chủ động trong việc tiếp cận các loại tài sản vật chất, có những hoạt động vui chơi giải trí sang trọng, được sống trong môi trường sạch, lành mạnh và an toàn Chúng ta cũng nghĩ tới một

xã hội không có sự phân biệt đối xử, với các mức độ công bằng cần thiết Một yêu cầu tối thiểu của một quốc gia phát triển đó là chất lượng cuộc sống vật chất của quốc gia đó phải cao và được phân phối một cách đồng đều thay vì chỉ giới hạn một cách bất hợp lý cho một bộ phận tối thiểu giàu có trong xã hội Cao hơn yêu cầu tối thiểu đó, một quốc gia phát triển còn đề cập đến các quyền và sự tự

do của con người về mặt chính trị, sự phát triển về văn hóa và tri thức, sự bền vững của gia đình, Những phân tích đó đã đi đến một khái niệm tổng quát về

phát triển kinh tế - xã hội như sau: “Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người bằng phát triển sản xuất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa Phát triển

là xu thế chung của từng cá nhân cũng như của cả loài người trong quá trình sống”(Lê Thạc Cán, 2004)

Theo khái niệm trên, nếu xét theo khía cạnh các bộ phận cấu thành, phát triển kinh tế - xã hội là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình phát triển của hai lĩnh vực kinh tế và xã hội Trong đó, phát triển lĩnh vực kinh tế gồm hai quá trình, đó

là sự lớn lên của nền kinh tế (tăng trưởng kinh tế) và quá trình thay đổi cấu trúc của nền kinh tế (chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế) Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế, xét trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện ở sự thay đổi về quy mô, tỷ trọng các bộ phận cấu thành nền kinh tế, vị trí và mối quan hệ giữa các bộ phận này với

Trang 14

nhau trong quá trình phát triển kinh tế Còn phát triển lĩnh vực xã hội là một bộ phận cấu thành trong phát triển kinh tế - xã hội, song hành với phát triển lĩnh vực kinh tế, thậm chí còn phải đặt ra những mục tiêu cao hơn so với phát triển lĩnh vực kinh tế Phát triển lĩnh vực xã hội cần phải thể hiện trên nhiều phương diện, nhưng nhìn tổng quát, đó là việc phải đảm bảo tiến bộ xã hội cho con người Nội hàm của việc đảm bảo tiến bộ xã hội cho con người bao gồm: Nâng cao mức sống dân cư (nâng cao thu nhập dân cư, phân phối nguồn thu nhập đó một cách hợp lý); nâng cao trình độ phát triển con người (năng lực về tài chính, năng lực trí lực, năng lực thể lực và cách thức con người sử dụng các năng lực đó để khai thác các

cơ hội của cuộc sống như nghỉ ngơi, làm việc hay tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội, chính trị)

Con người vừa là động lực vừa là đối tượng của phát triển Do vậy mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế - xã hội trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là sự tiến bộ xã hội cho con người và tựu trung lại là vấn đề phát triển con người Tháng 9 năm 2000, 189 quốc gia đã thông qua bản Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc Đây là một tài liệu

có phạm vi bao quát rộng, khẳng định cam kết “ biến quyền được phát triển trở thành hiện thực cho tất cả mọi người và quyền tự do mà loài người mong muốn” Tuyên bố nêu rõ 8 mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội như sau:

Mục tiêu 1: Xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực

Mục tiêu 2: Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học

Mục tiêu 3: Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ Mục tiêu 4: Giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em

Mục tiêu 5: Cải thiện sức khỏe bà mẹ

Mục tiêu 6: Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các dịch bệnh khác

Mục tiêu 7: Đảm bảo bền vững về môi trường

Mục tiêu 8: Tạo lập quan hệ đối tác toàn cầu vì sự phát triển

Trang 15

2.2.2 Thước đo đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội

Để đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới cần phải có thước đo Thực tế cho thấy, thước đo đánh giá trình độ phát triển thay đổi cùng với nhận thức của con người về phát triển kinh tế - xã hội

Trong một thời gian khá dài, vào những năm 50, 60 của thế kỷ XX trở về trước, con người đặt mục tiêu kinh tế lên quá cao, xem tăng trưởng kinh tế là độ

đo duy nhất của sự phát triển Như đã nêu ở trên, tăng trưởng kinh tế nói đến một

sự tăng lên trong thu nhập (có thể là tổng thu nhập, có thể là thu nhập bình quân đầu người), đó là sự gia tăng giá trị hàng hóa và dịch vụ mà một nền kinh tế sản xuất ra Các thước đo tăng trưởng kinh tế thường sử dụng nhất là: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross domestic product); Tổng thu nhập quốc dân (GNI - Gross national income); Thu nhập bình quân đầu người GDP/người hoặc GNI/người

Để phân loại trình độ phát triển, theo Báo cáo phát triển thế giới năm 2010 của World Bank, các quốc gia trên thế giới được chia ra 4 nhóm: Các quốc gia thu nhập thấp có GNI/đầu người là 935$ trở xuống; trung bình thấp từ 936 đến 3.705$; trung bình cao từ 3.706 đến 11.455$ và nhóm thu nhập cao từ 11.456$ trở lên Theo ngưỡng này, trong số 195 quốc gia tham gia xếp loại, có 33 quốc gia thu nhập thấp (LIC), 53 quốc gia thuộc thu nhập trung bình thấp (LMC), 41 quốc gia thu nhập trung bình cao (UMC) và 68 quốc gia thu nhập cao (HIC)

Từ sau những năm 50, 60 của thế kỷ XX, con người đã nhận thức được rằng

độ đo kinh tế không phản ánh đầy đủ quan niệm về phát triển Mục tiêu của phát triển là vì sự tiến bộ xã hội cho con người mà nòng cốt là đảm bảo phát triển toàn diện con người Tăng trưởng kinh tế là quá trình tạo thu nhập, trở thành điều kiện hàng đầu cho việc nâng cao mức sống dân cư Tuy vậy, điều đó chỉ mang tính một chiều, một mũi tên ngược lại sẽ không phải luôn luôn đúng Nhiều quốc gia

có mức thu nhập bình quân đầu người khá cao, nhưng tỉ lệ nghèo đói vẫn cao hơn nhiều so với các quốc gia có mức thu nhập thấp hơn, tỉ lệ tiếp cận các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục cũng thấp hơn, Năm 1990, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) lần đầu tiên đưa ra một phương pháp mới để đánh giá tổng

Trang 16

hợp trình độ phát triển con người, đó là Chỉ số phát triển con người (HDI) Trên thực tế, HDI chứa đựng ba yếu tố phản ánh tương ứng ba khía cạnh thuộc về năng lực phát triển của con người, đó là: Năng lực tài chính (thu nhập), năng lực trí lực (giáo dục) và năng lực thể lực (y tế và chăm sóc sức khỏe) Ba yếu tố cấu thành HDI đã được thống nhất sử dụng từ năm 1990, bao gồm: Y tế, chăm sóc sức khỏe (tính bằng tuổi thọ bình quân); giáo dục (tính theo hai tiêu chí là tỉ lệ người lớn biết chữ và số năm đi học trung bình); GNI/người tính theo ngang giá sức mua (PPP) được đưa vào HDI phản ánh thu nhập HDI tính theo phương pháp chỉ số

và được xác định bằng những con số trong khoảng từ 0 đến 1 HDI càng gần giá trị của 1 chứng tỏ trình độ phát triển con người càng cao và ngược lại Theo Báo cáo phát triển con người năm 2010 của Liên Hợp Quốc, trình độ HDI trên thế giới được chia thành 4 nhóm: Nhóm nước có HDI thấp (HDI nhận giá trị từ 0,47 đến 0,3); nhóm nước có HDI trung bình (HDI từ 0,488 đến 0,669); nhóm nước có HDI cao (HDI từ 0,677 đến 0,784); và nhóm nước có HDI rất cao (HDI từ 0,788 đến 0,938)

Bên cạnh đó, do ưu tiên tăng trưởng kinh tế và dân số thế giới gia tăng nhanh chóng, con người khai thác ngày càng nhiều tài nguyên thiên nhiên hơn, làm cho tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt nhanh và ô nhiễm môi trường gia tăng Cùng với những nhận thức dần dần về giới hạn của sự tăng trưởng, mà chủ yếu là giới hạn

về nguồn tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu đựng của môi trường, dẫn đến

sự ra đời của chỉ tiêu GDP xanh GDP xanh là phần còn lại của GDP thuần sau khi đã trừ các chi phí do tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế GDP xanh không chỉ phản ánh sự tăng trưởng kinh tế mà còn phản ánh sự tăng trưởng của quốc gia đó có bền vững hay không Nói cách khác, GDP xanh phản ánh sự tăng trưởng của một quốc gia một cách toàn diện về kinh

tế, xã hội và môi trường

2.2.3 Tác động cơ bản của phát triển kinh tế - xã hội đến môi trường

Môi trường là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng và cần thiết với mỗi con người và mỗi quốc gia Nó là nền tảng của sự tồn tại và phát triển bền

Trang 17

vững của xã hội, bất cứ hoạt động nào của con người cũng diễn ra trong môi trường và vì thế có những tác động nhất định tới môi trường Những tác động của hoạt động phát triển kinh tế - xã hội đến môi trường bao gồm:

2.2.3.1 Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Quá trình phát triển là mối quan hệ tương tác giữa con người, xã hội và tự

nhiên, thường xuyên và xuyên suốt mọi thời đại, biểu hiện cụ thể thông qua mối quan hệ tương tác giữa kinh tế và môi trường - phần cốt lõi nhất của mối quan hệ tương tác rộng lớn và phức tạp đó

Hình 2.1 Cân bằng vật chất và quan hệ giữa kinh tế và môi trường

Trong hệ thống kinh tế luôn luôn diễn ra quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên, chế biến nguyên liệu và phân phối tiêu dùng Đầu tiên trong chu trình hoạt động của hệ thống kinh tế là khai thác tài nguyên thiên nhiên từ môi trường để cung cấp các nguyên vật liệu, năng lượng cho quá trình sản xuất (ví dụ khoáng sản, gỗ, dầu mỏ,…) Từ đó dẫn đến tác động thứ nhất của hoạt động phát triển

kinh tế - xã hội đến môi trường

Với vai trò là yếu tố đầu vào quan trọng của hoạt động kinh tế, các nguồn tài nguyên thiên nhiên rất có giá trị đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Do đặc

Trang 18

điểm của tài nguyên thiên nhiên là có hạn và sự phân bố không đồng đều trên Trái đất nên một số quốc gia có dự trữ về tài nguyên thiên nhiên phong phú tất yếu sẽ

có lợi thế to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội Chẳng hạn, dự trữ đất đai nông nghiệp, các nguồn lợi thủy sản sẽ tạo ra nguồn ổn định về lương thực, thực phẩm cho con người, tạo ổn định xã hội và sẽ hỗ trợ việc khai thác, chế biến với quy

mô lớn phục vụ xuất khẩu; các bờ biển hoặc những dãy núi có thể là cơ sở phát triển các loại hình du lịch, tạo việc làm và thu nhập; diện tích rừng và trữ lượng các mỏ khoáng sản, năng lượng là nguồn nguyên, nhiên liệu quý giá cho đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp; Khi các nguồn tài nguyên thiên nhiên được khai thác, sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm, gắn khai thác, sử dụng với bảo vệ

và tái tạo sẽ là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững Trong quá trình phát triển, để đạt được tăng trưởng cao, với sự giúp đỡ của tiến

bộ khoa học và công nghệ, tư tưởng chinh phục, thống trị thiên nhiên nổi lên, chỉ sau hơn hai thế kỷ khai thác kể từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên Trái đất đã và đang cạn kiệt nhanh chóng Theo Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên thế giới (WWF) năm 2022, con người hiện đang tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên nhanh gấp 1,75 lần so với khả năng phục hồi của Trái đất, tương đương với việc cần phải có “1,75 Trái đất” mới có thể đáp ứng nhu cầu của con người Hậu quả là con người đang phải đối mặt với nhiều vấn đề như thiếu nước ngọt trầm trọng, diện tích đất nông nghiệp trên đầu người giảm dần, nghề cá bị suy thoái, rừng bị thu hẹp nhanh chóng, tốc độ tuyệt chủng các loài ngày càng cao,… Theo Nền tảng chính sách khoa học liên chính phủ của Liên Hợp Quốc về dịch vụ hệ sinh thái và đa dạng sinh học năm 2022 cho biết, Trái đất đang tuyệt chủng ở một cấp độ cao gấp 1000 lần so với tốc độ tuyệt chủng

tự nhiên; chỉ trong vòng 10 năm qua có 467 loài sinh vật đã bị tuyệt chủng được ghi nhận; khoảng 1 triệu loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, trong đó 40% loài lưỡng cư, 33% san hô và khoảng 10% côn trùng; mà nguyên nhân chính là do hoạt động khai thác quá mức, sự xâm lấn của con người vào môi trường sống của chúng, nạn ô nhiễm môi trường,… Nếu con người không dừng ngay các hoạt

Trang 19

động khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên lãng phí, kém hiệu quả thì tương lai của loài người rất ít sáng sủa

Để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, con người cần phải thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

- Đối với tài nguyên tái tạo: Duy trì mức khai thác, sử dụng tài nguyên (h) nhỏ

hơn mức tái tạo của tài nguyên (y), tức là h<y Đồng thời, làm gia tăng mức tái tạo của tài nguyên bằng sự tái tạo nhân tạo (ví dụ trồng rừng, thụ tinh nhân tạo các loài động vật, bón giun cho đất, )

- Đối với tài nguyên không tái tạo: Cần khai thác tiết kiệm, hợp lý tài nguyên; tìm tài nguyên khác có thể thay thế hoặc tìm công nghệ sử dụng các loại năng lượng được coi là vĩnh cửu (ví dụ năng lượng mặt trời, gió, dòng chảy, sinh khối, địa nhiệt, thủy triều,…); tái sử dụng, tái chế chất thải

2.2.3.2 Thải các loại chất thải vào môi trường

Tiếp theo trong chu trình hoạt động của hệ thống kinh tế là chế biến nguyên vật liệu và năng lượng thành những sản phẩm tiêu dùng được, và cuối cùng chúng

sẽ quay trở lại môi trường dưới dạng các chất thải Từ đó gây ra tác động thứ hai của hoạt động phát triển kinh tế - xã hội đến môi trường

Theo định luật nhiệt học thứ nhất, hoạt động kinh tế là một quá trình chuyển đổi vật chất và năng lượng Nghĩa là, tất cả các hoạt động khai thác, sản xuất hay tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên cuối cùng đều đưa đến các sản phẩm chất thải bằng với lượng tài nguyên thiên nhiên đưa vào các hoạt động này Do đó, nạn cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nạn ô nhiễm nặng nề môi trường sống luôn gắn bó hữu cơ với nhau, bởi lẽ chúng có chung một cội nguồn - đó là sự phát triển kinh tế - xã hội của con người Cho đến nay, con người đã thải các chất thải nhiều đến mức thiên nhiên không thể phân hủy kịp (tức là vượt quá khả năng chứa đựng

và phân hủy chất thải của môi trường), đã và đang gây ô nhiễm đất, nước, không khí nghiêm trọng Ô nhiễm môi trường đang diễn ra ở khắp mọi nơi và không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà đang trở thành vấn đề toàn cầu Thế giới đang phải đối mặt với nhiều hiểm họa sinh thái như biến đổi khí hậu, suy thoái tầng

Trang 20

ozone, mưa axit,… mà hậu quả của chúng có thể đưa nhân loại đến thảm họa diệt vong Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc năm 2022, rác thải nhựa là vấn đề nhức nhối trên toàn cầu, mỗi năm lượng rác thải nhựa do con người thải ra đủ để phủ kín 4 lần diện tích bề mặt Trái đất, trong đó 13 tấn rác thải nhựa trôi nổi, đổ ra đại dương; dự kiến đến năm 2050, khối lượng rác thải nhựa ở các đại dương sẽ nặng hơn khối lượng cá Bên cạnh đó, rác thải nhựa không có khả năng tự phân hủy sinh học, chúng chỉ có thể vỡ thành những mảnh nhỏ và trôi nổi khắp nơi; nếu có tác động của ánh sáng mặt trời thì cũng phải nhiều thế kỷ nhựa mới phân hủy được, chẳng hạn thời gian phân hủy của vỏ chai nước là 450 năm, ống hút là

200 năm, bàn chải đánh răng là 500 năm, Ô nhiễm rác thải nhựa cùng với nhiều loại hình ô nhiễm môi trường khác đang hàng ngày, hàng giờ tác động tiêu cực đến hệ sinh thái, môi trường sống, sức khỏe con người và sự phát triển bền vững của mối quốc gia

Để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, con người cần phải thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

- Duy trì lượng chất thải vào môi trường (W) nhỏ hơn khả năng chứa đựng và phân hủy của môi trường (A), tức là W<A

- Đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ hiện đại để kiểm soát chất thải tại nguồn, xử lý chất thải, tái chế chất thải

2.2.3.3 Tác động trực tiếp đến không gian sinh tồn

Trong quá trình phát triển, con người không chỉ sử dụng và thích nghi với các điều kiên tự nhiên mà còn cải tạo thiên nhiên, biến đổi các cảnh quan thiên nhiên thành các cảnh quan văn hóa, các hệ sinh thái tự nhiên thành các hệ sinh thái nhân tạo, tạo dựng những điều kiện mới nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mình Từ đó dẫn tới tác động thứ ba của hoạt động phát triển kinh tế - xã hội đến môi trường

Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực thực phẩm và hàng hóa, cho tái tạo chất lượng môi trường Cùng với sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số trên thế giới, con người đã gia tăng không gian

Trang 21

sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển dổi chức năng sử sụng của các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, lấn biển, cải tạo các vùng đất

và vùng nước mới Có thể nói, tác động của con người là một nhân tố mạnh mẽ nhất làm thay đổi bộ mặt Trái đất Chẳng hạn, con người chuyển đất rừng thành đất nông nghiệp làm mất đi nhiều loài động thực vật quý hiếm, tăng xói mòn đất, thay đổi khả năng điều hòa nước và biến đổi khí hậu; chuyển đất rừng, đất nông nghiệp thành các khu công nghiệp, khu đô thị gây ra sự mất cân bằng sinh thái khu vực và ô nhiễm cục bộ; Theo một nghiên cứu trên Nature Communications (2022), từ năm 1960 đến nay, 1/5 diện tích đất tự nhiên trên Trái đất, tương đương khoảng 43 triệu km2 đã bị biến đổi Còn theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022), cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ, mỗi năm Việt Nam mất trên 100 nghìn hecta đất nông nghiệp, chủ yếu là đất trồng lúa ở các tỉnh đồng bằng Cho đến nay, việc khai thác quá mức không gian sống đang làm cho chất lượng không gian sống trên Trái đất không thể phục hồi được Vì vậy, con người cần phải nỗ lực tìm kiếm phương thức khai thác, sử dụng không gian sống hợp lý và bền vững hơn

Để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, con người cần phải thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

- Cần phát huy các tác động tích cực đến môi trường như xây dựng các thành phố xanh, khu công nghiệp sinh thái, vùng nông nghiệp sinh thái, phát triển du lịch sinh thái, trồng nên những cánh rừng tươi tốt, những hồ nước trong xanh,

- Phải ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường như xây dựng các khu “nhà ổ chuột”, khu công nghiệp “đen”,…

Như vậy, con người đang tác động đến môi trường tự nhiên ở mức độ nghiêm trọng Đến nay, cuộc chạy đua phát triển của các quốc gia, giữa các khu vực kinh

tế trên thế giới vẫn ngày càng gay gắt, khốc liệt; khuynh hướng phát triển bằng mọi giá vẫn được các nước có nền kinh tế kém phát triển áp dụng, theo đó là sự đánh đổi môi trường và các yếu tố khác cho phát triển kinh tế Mặt trái của sự phát triển kinh tế nhanh chóng là sự suy thoái môi trường, thu hẹp cơ sở của sự

Trang 22

phát triển, suy giảm tài nguyên thiên nhiên cả về chất và lượng Mặt khác, dân số của các nước kém phát triển tăng nhanh là nguyên nhân của sự nghèo đói, phá vỡ cân bằng sinh thái, suy thoái môi trường và cạn kiệt tài nguyên Ở các nước phát triển, khuynh hướng bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường đã và đang được ưu tiên trong quá trình phát triển, chủ trương không can thiệp vào các nguồn tài nguyên sinh học, đầu tư vào công tác bảo tồn, khôi phục lại các hệ sinh thái Tuy nhiên, như đã đề cập, tài nguyên thiên nhiên là cơ sở, là đầu vào của hệ thống kinh tế đối với các quốc gia, là nguồn vốn cơ bản cho mọi hoạt động phát triển của con người, do vậy, các quan điểm trên khó lòng thực hiện Theo đó, các quốc gia này tìm đến các khu vực giàu có tài nguyên để đầu tư và tìm kiếm lợi nhuận, rõ ràng càng tạo ra nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường tại các nước nghèo, kém phát triển Có lẽ nào, cho đến khi tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, môi trường suy thoái đến mức không còn nơi ở an toàn, không còn nước sạch để uống, không còn không khí sạch để thở, không còn nguyên liệu cho sản xuất thì con người mới ngộ ra là “tiền không ăn được”

2.3 Phát triển bền vững

Qua nghiên cứu về môi trường và phát triển kinh tế - xã hội cho thấy giữa môi

trường và phát triển có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mối quan hệ này được thể hiện ở hai khía cạnh cơ bản như sau: Về hình thức, môi trường và phát triển có mối quan hệ qua lại, chặt chẽ, thường xuyên và lâu dài Con người là một sinh vật, một bộ phận cấu thành của môi trường và phụ thuộc rất chặt chẽ vào môi trường Môi trường là nơi cung cấp mọi tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho hoạt động sống và sản xuất của con người; ngược lại, để tồn tại, con người phải sản xuất, tức là phải khai thác tài nguyên thiên thiên, điều đó đồng nghĩa với việc làm thay đổi tự nhiên, thay đổi môi trường sống của chính con người Về nội dung, mối quan hệ giữa môi trường và phát triển ngày càng phát triển mạnh mẽ, phức tạp, sâu sắc và mở rộng Cùng với quá trình phát triển, môi trường ngày càng có

ý nghĩa nhiều hơn trong đời sống và hoạt động kinh tế - xã hội của con người; mặt khác, con người đã không ngừng tạo ra những công cụ và phương thức hiệu

Trang 23

quả để khai thác ngày càng nhiều tài nguyên thiên nhiên hơn, làm cho tài nguyên thiên nhiên ngày càng nghèo kiệt đi, chất lượng môi trường ngày càng giảm sút, khiến cho xung đột giữa con người và thế giới tự nhiên ngày càng gia tăng và trở nên gay gắt Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ phát triển Nhưng con người cũng như mọi sinh vật khác không thể dừng tiến hoá và ngừng sự phát triển Con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát triển nhưng giữ sao cho phát triển không tác động tiêu cực tới môi trường Đó chính là phát triển bền vững

2.3.1 Khái niệm phát triển bền vững

Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển (WCED) lần đầu tiên đưa ra một khái niệm tương đối

đầy đủ về phát triển bền vững là: “Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của chính họ” Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng

định ở Hội nghị Rio năm 1992 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị

Johannesburg năm 2002: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba trụ cột của sự phát triển Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Ngoài ba mặt chủ yếu này,

có nhiều người còn đề cập những khía cạnh khác của phát triển bền vững như chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc,…và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho từng

quốc gia, từng địa phương cụ thể

Tại Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014 cũng ghi rõ: “Phát

triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi

trường” Đây là khái niệm hoàn chỉnh về phát triển bền vững

Theo khái niệm này, nội dung của phát triển bền vững được xác định bao gồm

ba trụ cột, đó là:

Ngày đăng: 29/10/2022, 16:09

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm