Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳn
Trang 1NGHIÊN CỨU - TRAO ĐÓI LUẬT sư VIỆT NAM
V E T N AM L A Y ER JOURNAL
SỐ 4 THÁNG 4-2022
QUY ĐỊNH VÀ THựC TIEN THựC HIỆN
LS ĐẶNG VĂN VƯƠNG * XUÂN THOẠI - VĂN PHÒNG LUẬT SƯPHONG & PARTNERS
Tóm tắt: Tranh tụng là hoạt động tô'tụng được thực hiện bời các bên tham gia tô'tụng (bên buộc tội và bên gỡ tội) có quỳên bình đẳng với nhau trong việc đưa ra chứng cứ đểbảo vệ quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại quan điểm và lợi ích của phía đối lập "Tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động tô'tụng được tiến hành tại phiên tòa bởi hai bên tham gia tô' tụng, nhằm bảo vệ ý kiên, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của bên kia dưới sự điêu khiêh, quyết định của chù tọa phiên tòa với vai trò trung gian, trọng tài"<v.
Từ khóa: Nguyên tắc tranh tụng, tô'tụng hình sự, xét xử.
Abstract: Litigation is a procedure activity carried out by the parties to the procedure (the accuser and the acquittal) having equal rights with each other in presenting evidence to protect the views and interests of the parties, opposing views and interests of the opposing side "Litigation in court is a procedural activity conducted at a court by two parties to the procedure, in order to protect the opinions and arguments of the parties and reject the other party's opinions and arguments under the control and decision of the presiding judge in the role of mediator and arbitrator.
Keywords: Principles of litigation, criminal procedure, trial.
Luật sư Đặng Văn Vương - Phó Trưởng VPLS Phong & Partners.
Bản chất của tranh tụng là quá
trình xác minh, làm rõ công khai
và tranh luận giữa các bên dưới
sự điều khiển của tòa án đê’ phân
tích, thẩm định, đánh giá chứng cứ
nhằm mục đích xác định sự thật
khách quan của vụ án, tạo cơ sở
đê’ tòa án giải quyết vụ án khách
quan, công bằng, đúng pháp luật,
bảo đảm các quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên tham gia tố tụng
Vì vậy, nguyên tắc bảo đảm
tranh tụng là một trong những
nguyên tắc quan trọng trong tố
tụng nói chung và xét xử nói riêng,
là dấu hiệu đặc trưng của nền tư
pháp dân chủ, bình đẳng, công
bằng và minh bạch
Với tầm quan trọng đó, việc bảo đảm và nâng cao chất lượng tranh tụng trong xét xử là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong hoạt động cải cách tư pháp thời gian qua Điều này được thê hiện rõ nét qua Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm
vụ trọng tâm trong công tác tư pháp thời gian tới, theo đó yêu cầu việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa,
bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn,
bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp đê’ ra những bản
án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn quy định; Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược đẩy mạnh tư pháp đến năm 2020 nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử là khâu đột phá của hoạt động tư pháp
Các điểm mới tiến bộ của
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tranh tụng trong xét xử
Theo xu hướng phát triển tiến
bộ của pháp luật tố tụng và trên tinh thân cải cách tư pháp của Nhà nước, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, "Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm" được
quy định rõ trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 20131 (2) Đây là vấn đề chưa từng được nhắc đến
rõ ràng hoặc không được quy định trong Hiến pháp từ 1946 đến Hiến pháp 1992
(1) Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Từ điển Luật học, 2006, tr 807-809.
(2) Khoản 5 Đĩêu 103 Hiên pháp 2013.
Cụ thể hóa nguyên tắc này, Điều
26 BLTTHS Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định như sau: "Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, điều tra viên, kiêm sát viên, người khác có thâm
o
Trang 2NGHIÊN CỨU - TRAO Đổi LUẬT sư VIỆT NAM
VIE TN AM LAWYER JOURNAL
SỔ 4 • THẢNG 4-2022
quyền tiến hành tố tụng, người bị
buộc tội, người bào chữa và người
tham gia tố tụng khác đều có quyền
bình đẳng trong việc đưa ra chứng
cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu
cầu để làm rõ sự thật khách quan
của vụ án
Tài liệu, chứng cứ trong hồ so
vụ án do viện kiểm sát chuyển đến
tòa án để xét xử phải đầy đủ và
hợp pháp Phiên tòa xét xử vụ án
hình sự phải có mặt đầy đủ những
người theo quy định của Bộ luật
này, trường hợp vắng mặt phải vì
lý do bất khả kháng hoặc do trở
ngại khách quan hoặc trường họp
khác do Bộ luật này quy định Tòa
án có trách nhiệm tạo điều kiện
cho kiểm sát viên, bị cáo, người
bào chữa, những người tham gia tố
tụng khác thực hiện đầy đủ quyền,
nghĩa vụ của mình và tranh tụng
dân chủ, bình đẳng trước tòa án
Mọi chứng cứ xác định có tội,
chứng cứ xác định vô tội, tình tiết
tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự, áp dụng điểm,
khoản, điều của Bộ luật Hình sự để
xác định tội danh, quyết định hình
phạt, mức bồi thường thiệt hại đối
với bị cáo, xử lý vật chứng và những
tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết
vụ án đều phải được trình bày,
tranh luận, làm rõ tại phiên tòa
Bản án, quyết định của tòa án
phải căn cứ vào kết quả kiểm tra,
đánh giá chứng cứ và kểt quả tranh
tụng tại phiên tòa"
Theo đó, nội dung nguyên tắc
không dừng lại ở xác định tranh
tụng xét xử tại phiên tòa mà còn
bao quát trong tất cả quá trình tô'
tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố cho
đến xét xử để bảo đảm bên buộc tội
và bên bào chữa được quyền bình
đẳng trong việc thu thập, đánh giá
chứng cứ, tài liệu và các tình tiết vụ
án để làm rõ sự thật khách quan
của vụ án trước khi vào cuộc tranh
tụng Chỉ như vậy thì nguyên tắc
tranh tụng trong xét xử mới thật sự
được bảo đảm và hiệu quả
Đê bảo đảm nguyên tắc này thì
phiên tòa hình sự phải có mặt đầy
đủ những người theo quy định
BLTTHS (kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, người bị hại, đương
sự, người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và những người khác) đê’ trình bày ý kiến, phục vụ quá trình xét hỏi và tranh luận trực tiếp tại phiên tòa nhằm làm sáng tỏ nội dung vụ án Đồng thời, tòa án tạo điều kiện cho những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa được thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình, các bên được tranh tụng một cách dân chú, bình đắng trước tòa án nhung không chèn ép hoặc có những hành vi gây cản trở trong việc tranh tụng Mọi chứng cứ và vấn đề có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày công khai, tranh luận đến cùng
và làm rõ trực tiếp tại phiên tòa để tránh gây oan sai người vô tội, bỏ lọt tội phạm hoặc xâm phạm quyền
và lợi ích chính đáng của bị hại
và người liên quan Khi tòa án ra bản án hoặc quyết định, phải căn
cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, từng bước xóa bỏ thực trạng "án tại hồ sơ" Các quy định này không những nhằm bào đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử
mà còn bảo đảm nguyên tắc xét xử trực tiếp; nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị
buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại
Ngoài ra, cùng với việc bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong xét
xử, BLTTHS năm 2015 có nhiều nội dung đổi mới, tiến bộ để bảo đảm nguyên tắc này được thực thi, tiêu biểu như:
(1) Quy định rõ về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa tại Mục
V Chương XXI đê bảo đảm quyền bình đẳng, dân chủ của bị cáo, người bào chữa trong quá trình xét hỏi; xem xét vật chứng; đánh giá
và trình bày ý kiến về chứng cứ, tình tiết có giá trị giải quyết vụ án tại phiên tòa; đặc biệt quy định rất
cụ thể, rõ ràng về quá trình tranh luận tại phiên tòa (người bào chữa,
bị cáo được quyền tranh luân đến cùng đối với từng vấn đề liên quan đến vụ án, kiểm sát viên có trách nhiệm đưa ra chứng cứ, lập luận
đê đối đáp đến cùng từng ý kiến bị cáo, người bào chữa; chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tô' tụng khác tranh luận trình bày hết ý kiến, yêu cầu kiêm sát viên phải đáp lại những ý kiến của người bào chữa
và người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được kiểm sát viên tranh luận);
(2) Quy định bổ sung các quyền
và cách thức thực hiện các quyền của người bào chữa nhằm tạo sự
Trang 3NGHIÊN CỨU - TRAO Đổi LUẬT sư VIỆT NAM
V E TN AM L A w Y ER JOURNAL
SỐ 4 THÁNG 4-2022
bình đẳng và các điêu kiện thuận
lợi cho người bào chữa tham gia
các hoạt động tố tụng hình sự như
gặp, hỏi người bị buộc tội (mà
không phụ thuộc vào kế hoạch
hỏi cung của điều tra viên); có mặt
trong hoạt động đối chất, nhận
dạng, nhận biết giọng nói và hoạt
động điều tra khác; được co quan
có thâm quyền tiến hành tố tụng
báo trước về thời gian, địa điểm
lấy lời khai, hỏi cung và thời gian,
địa điểm tiến hành hoạt động điều
tra khác (mà không cần đề nghị);
đề nghị triệu tập người làm chứng,
người tham gia tố tụng khác, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
quyền độc lập trong thu thập, đưa
ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu
câu hoặc đề nghị co quan có thâm
quyền tiến hành tố tụng thu thập
chứng cứ, giám định bô sung, giám
định lại, định giá lại tài sản
(3) Quy định bổ sung các quyền
và cách thức thực hiện các quyền
của người bị buộc tội nhằm bảo
đảm quyền của người bị buộc tội,
nhất là quyền tự bào chữa hoặc
nhờ người bào chữa như giải thích,
thông báo quyền nhờ người bào
chữa; trình bày ý kiến về chứng cứ,
tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu
người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng kiểm tra, đánh giá; đ'ê nghị
giám định, định giá tài sản; đọc,
ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài
liệu được số hóa liên quan đến việc
buộc tội, gõ tội hoặc bản sao tài liệu
khác liên quan đến việc bào chữa
kể từ khi kết thúc điều tra khi có
yêu cầu
(4) Quy định rõ các trách nhiệm
của tòa án, viện kiểm sát, kiểm sát
viên và các trình tự, thủ tục trong
giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử
để bảo đảm việc tranh tụng trong
xét xử
Thực tiễn thực hiện nguyên
tắc tranh tụng trong xét xử
được bảo đảm
Những điểm tích cực
Thực tiên cho thấy, việc thực
hiện nguyên tắc này đã đạt đưọc
những kết quả tích cực trong các
phiên toà hình sự Nhiều tòa án quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa trong việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa;
sao chụp hồ sơ vụ án; xem xét nghiêm túc các đ'ê nghị của người bào chữa và thực hiện tiến hành việc xác minh, thu thập, bô sung chứng
cứ theo quy định pháp luật để làm
rõ sự thật vụ án; tiếp nhận chứng
cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ
án do luật sư cung cấp, chuyển cho viện kiểm sát xem xét và có đánh giá về giá trị của chứng cứ ngay tại phiên tòa Trong quá trình xét hỏi, nhiều hội đồng xét xử tôn trọng và bảo đảm quyền được hỏi của người bào chữa để làm rõ những tình tiết liên quan đến việc bào chữa Trong quá trình kiểm tra, đánh giá chứng
cứ, nhiều hội đồng xét xử bảo đảm quyền bình đẳng của người bào chữa trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu đê’ làm rõ sự thật khách quan của
vụ án, các vật chứng, tài liệu được đưa ra xem xét, đánh giá công khai tại phiên tòa Trong giai đoạn tranh luận, nhiều hội đồng xét xử đã phổ biến những điểm quan trọng trong tranh luận tại phiên tòa theo Điều
322 BLTTHS và tạo điều kiện cho người bào chữa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến của mình mà không hạn chế thời gian tranh luận; yêu cầu kiểm sát viên phải đưa ra chứng
cứ tài liệu, lập luận từng ý kiến của
bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa đẽ làm sáng tỏ tình tiết vụ án Nhiều hội đồng xét xử đã quan tâm đến việc phản ánh trung thực diễn biến tranh tụng thông qua ghi nhận tại biên bản phiên tòa Nhiều bản án, quyết định của tòa án đã căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng
cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, bào đảm tính khách quan, công bằng, đúng pháp luật, bảo đảm các quyền của bị cáo
Bên cạnh đó, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm đã góp phần tạo thuận lợi cho người bào chữa tham gia sâu và rộng trong các giai đoạn tô’ tụng hình
sự Do đó, số lượng các vụ án hình
sự có luật sư tham gia liên tục tăng qua các năm Từ năm 2015 đến ngày 31/12/2020, số lượng người bào chữa tham gia vụ án hình sự trên cả nước là 81.072, trong đó có 37.503 vụ án hình sự chi định người bào chữa và 43.509 vụ án hình sự được khách hàng mời(3) Điều này vừa khẳng định vai trò của người bào chữa là không thể thiếu trong các phiên tòa hình sự, vừa là biểu hiện của nền tư pháp dân chủ, công bằng, minh bạch, bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân
(3) https://laodong.vn/phap-luat/ca-nuoc-co-hon-16000-luat-su-4000-to-chuc-hanh-nghe-luat-su-987234.ldo
Những bất cập
Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động xét xử vẫn tồn tại không ít những phiên tòa không bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; thực hiện tranh tụng mang tính hình thức; hạn chế, cản trở việc thực hiện quyền bình đẳng trong tranh tụng của người bào chữa, người bị buộc tội, làm ảnh hưởng đến tính khách quan và đúng đắn trong quá trình giải quyết vụ án, một số bất cập vân còn phổ biến như:
Một là, trong một số vụ án vẫn tồn tại hiện tượng cơ quan điều tra, tòa án và viện kiểm sát hoặc thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên
"họp nội bộ" đê thống nhất quan điểm giải quyết vụ án, định tội
bị cáo trước khi xét xử Đây là vi phạm đặc biệt nghiêm trọng về tố tụng, không những phá vỡ nguyên tắc tranh tụng trong xét xử mà còn
đi ngược lại nguyên tắc xét xử độc lập, xét xử trực tiếp, nguyên tắc suy đoán vô tội và các nguyên tắc tố tụng hình sự quan trọng khác
Hai là, BLTTHS không quy định
về biện pháp áp dụng trách nhiệm đối với trường hợp kiểm sát viên không thực hiện nghĩa vụ đối đáp, tranh luận đến cùng tại phiên tòa đêTàm rõ sự thật khách quan của vụ
án Việc này dẫn đến trong một số phiên tòa, kiêm sát viên tranh luận hình thức, né tránh những vấn đề
mà người bào chữa nêu ra trái vói quan điểm của kiểm sát viên hoặc trả lời không đi thẳng vào trọng tâm của vấn đ'ê đang tranh luận
©
Trang 4LUẬT Sư VIỆT NAM NGHIÊN cứu - TRAO Đổi
■ vie T *N AM L A w Y I-: R ĩ < I K N A 1
só 4 THÁNG 4-2022
hoặc không đưa quan điểm đối đáp
bằng cách "bảo lưu quan điểm luận
tội" Do đó, chất lượng và kết quả
tranh tụng trong một chừng mực bị
hạn chế
Ba là, trong một số phiên tòa,
chủ tọa phiên tòa chưa điều hành
tốt quá trình tranh tụng tại phiên
tòa; hạn chế quyền hỏi của người
bào chữa; chưa thực sự chú ý đến
những tình tiết, chứng cứ mới của
vụ án nên những vấn đề mâu thuẫn
trong vụ án chưa được làm sáng tỏ;
cắt ngang hoặc hạn chế quyền tranh
luận, đối đáp của người bào chửa,
làm cho người bào chữa không thể
trình bày một cách toàn diện các
quan điếm bào chữa cho người
bị buộc tội trong vụ án, làm mất
quyền bình đẳng trong tranh tụng,
ảnh hưởng đến quyền lợi của người
bào chữa và người bị buộc tội
Bôh là, trong một số vụ án, hội
đồng xét xử không coi trọng đúng
mực kết quả tranh tụng tại phiên
tòa Sau khi xét hỏi, tranh luận và
đối đáp đã phát sinh các chứng cứ
mới nhung bản án, quyết định của
tòa án chưa xem xét, đánh giá dẫn
đến tiềm ẩn phát sinh oan, sai trong
tố tụng Những tình tiết quan trọng
và chứng cứ gỡ tội mà người bào
chữa đưa ra có trường hợp không
được hội đồng xét xử quan tâm xem
xét, chấp nhận và chưa được đề cập
trong bản án làm ảnh hưởng đến
quyền và lợl ích hợp pháp của người
bị buộc tội Một số bản án, quyết
định của tòa án chưa xuất phát từ
kết quả tranh tụng tại phiên tòa
Năm là, một trong những nguyên
nhân dẫn đến việc tranh tụng tại
phiên tòa chưa đúng với tinh thần
tranh tụng đó là yếu tố năng lực và
đạo đức của luật sư (người bào chữa
nói chung) Bên cạnh những luật sư
giỏi về chuyên môn, phẩm chất đạo
đức tốt thì vẫn còn một bộ phận vi
phạm đạo đức nghề nghiệp, thiếu
kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm
đối đáp, tranh luận trực tiếp, dẫn
đến sự tẻ nhạt và không đi vào
trọng tâm của vấn đề khi tham gia
các phiên tòa Hon nữa, trong các
phiên tòa mời luật sư chỉ định thì
nhiều trường hợp bào chữa mang tính hình thức nên chất lượng tham gia tranh tụng thấp
Một SÔ đề xuất, kiên nghị nhằm nâng cao chất lượng
hoạt động tranh tụng tại phiên tòa
Đê’ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, chúng tôi
đề xuất, kiến nghị như sau:
Một, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần chi đạo quyết liệt đối với các cơ quan cấp dưới của mình, phải chấm dứt ngay tình trạng họp liên ngành, họp nội bộ để thống nhất quan điểm giải quyết vụ án, định tội bị cáo trước khi xét xử; đồng thời xử
lý nghiêm các trường hợp vi phạm
Hai, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho kiểm sát viên về kỹ năng xét hỏi, tranh tụng, đề cao trách nhiệm của kiểm sát viên đối với việc bảo đảm quyền bình đắng của bị cáo tại phiên tòa; quán triệt nguyên tắc suy đoán vô tội đến kiểm sát viên đê’
chấm dứt tình trạng một bộ phận kiểm sát viên có định kiến với bị cáo, coi họ đã là tội phạm khi chưa qua xét xử, làm ảnh hưởng đến việc đánh giá các chứng cứ, tình tiết vụ
án một cách khách quan, công tâm của kiểm sát viên Đồng thời, cơ quan có thấm quyền cần quy định biện pháp áp dụng trách nhiệm đối với kiểm sát viên trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ đối đáp tại phiên tòa
Ba, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho thẩm phán kỹ nấng điều hành tranh tụng tại phiên tòa; nâng cao trách nhiệm của chủ tọa phiên tòa trong điều hành phiên tòa theo hướng tranh tụng bảo đảm công bằng, dân chủ, khách quan Các
cơ quan giám sát hoạt động tòa án (Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội, đại biếu Quốc hội ) tăng cường hoạt động giám sát tòa án để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và xử lý các
sai phạm của chủ tọa phiên tòa trong nhiệm vụ điều hành phiên tòa làm ảnh hưởng đến nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, ảnh hưởng quyền bình đắng của người tham gia tô' tụng Có thê’ ghi âm, ghi hình hoặc ghi hình có âm thanh về diễn biến phiên tòa để phục vụ công tác giám sát phiên tòa
Bốn, đê’ nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm thì cần bảo đảm thực hiện các nguyên tắc
cơ bản khác trong tô' tụng hình sự, trong đó có nguyên tắc suy đoán
vô tội Với nguyên tắc này, đòi hỏi hội đồng xét xử phải coi bị cáo
là người chưa có tội cho đến khi chứng minh theo trình tự tố tụng
và bản án có hiệu lực pháp luật Như vậy, hội đồng xét xử mới coi trọng quá trình xét hỏi, tranh luận
và đối đáp giữa kiểm sát viên và người bào chữa, bị cáo; xem xét, đánh giá kỹ lưỡng, khách quan, toàn diện từng chứng cứ, cả chứng
cứ định tội và chứng cứ gỡ tội, chứng cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đê tìm ra sự thật
vụ án, phán quyết chính xác, tránh oan, sai người vô tội Nếu thông qua việc xét hỏi công khai, tranh luận và đối đáp tại phiên tòa, khi không đủ và không thê’ làm sáng
tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì hội đồng xét xử phải kết luận người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có tội theo quy định
Năm, luật sư tham gia tranh tụng cần thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn, kiến thức nghề nghiệp, giữ vững đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, rèn luyện kỹ năng xét hỏi, đối đáp, tranh luận tại phiên tòa Đồng thời, nâng cao tinh thân trách nhiệm với nghề nghiệp, với khách hàng, có ý thức bảo vệ công lý, lẽ phải Liên đoàn Luật sư Việt Nam, đoàn luật sư tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nên thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho luật sư các nghiệp vụ và kỹ năng tranh trụng tại phiên tòa
Đ.V.V-X.T
©