1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định thẩm quyền giải quyết việc công nhận thuận tình ly hôn có yếu tố nước ngoài

4 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 322,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tình hình dịch bệnh Covid - 19 hiện nay, việc giải quyết một số vụ việc ly hôn bị chậm trễ do pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với trường họ

Trang 1

THỰC TIỀN - KINH NGHIỆM

CÓ YẾU TỔ NUóic NGOÀI

LÊ THỊ HỒNG HẠNH *

*Thạc sĩ, Phòng 9, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội.

Trong tình hình dịch bệnh Covid - 19 hiện nay, việc giải quyết một

số vụ việc ly hôn bị chậm trễ do pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể

về thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với trường họp đương sự cư trú

tại nước ngoài, không thể có mặt tại Việt Nam để tham gia tố tụng

Bài viết nêu vụ việc thực tế và đề xuất hướng giải quyết khó khăn,

vướng mắc trên.

Từ khóa: Công nhận thuận tình ly hôn; ly hôn có yếu tổ nước ngoài.

Nhận bài: 06/12/2021; biên tập xong: 08/12/2021; duyệt bài: 14/12/2021 J

Lyly hôn là việc Tòa án ra quyết hôn và công nhận thuận tình

định nhằm gỡ bỏ những ràng

buộc pháp lý giữa các bên trong quan hệ

hôn nhân và gia đình Tại Việt Nam, cơ

quan có thẩm quyền duy nhất giải quyết

việc ly hôn là Tòa án nhân dân (TAND)

các cấp và giải quyết ly hôn có yếu tố

nước ngoài thuộc thẩm quyền của TAND

cấp tỉnh, trừ trường họp tại khoản 3 Điều

123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình

năm 2014 quy định:

“1 Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam

với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này

2 Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam

Tạp chí

Sô 03/2022 KIEV! SÁT 55

Trang 2

THỰC TIỄN - KINH NGHIỆM

3 Việc giải quyết tài sản là bất động

sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo

pháp luật của nước nơi có bất động sản đó”

Qua thực tiễn công tác kiểm sát việc

giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia

đình có yếu tố nước ngoài, tác giả nhận

thấy có một số khó khăn, vướng mắc

trong việc xác định thẩm quyền giải quyết

việc công nhận thuận tình ly hôn Nội

dung vụ việc cụ thể như sau:

Anh Nguyễn Minh T và chị Khuất Hà

M có hộ khẩu thường trú tại tập thề Đ,

phường D, quận c, thành phố H Ngày

24/4/2017, anh T, chị M đăng ký kết hôn

ở Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa

liên bang Đức Hiện anh chị đang cư trú

tại Berlin, Cộng hòa liên bang Đức Sau

khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh

phúc được một thời gian thì phát sinh

mâu thuần

Ngày 17/5/2021, anh T, chị M gửi đơn

yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn đến

TAND thành phố H yêu cầu:

về tình cảm: Anh T, chị M xác định

tình trạng hôn nhân không thể hàn gắn

được, đời sống chung không thể kéo dài,

mục đích hôn nhân không đạt được nên

làm đơn đề nghị TAND thành phố H giải

quyết cho thuận tình ly hôn

về con chung: Anh chị không có

con chung

về tài sản chung: Anh T, chị M tự thỏa

thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

về nợ chung: Anh T, chị M không nợ

ai, không cho ai vay nợ, không yêu cầu

Tòa án giải quyết

Do tình hình dịch bệnh Covid-19 nên anh T, chị M không thể về Việt Nam Anh, chị đã ủy quyền cho anh Lương Văn Đ thay mặt giao, nhận toàn bộ các tài liệu, văn bản, chứng cứ; nhận văn bản tố tụng của Tòa án cho đến khi giải quyết xong vụ việc Anh T, chị M đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt

Các tài liệu kèm theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh T, chị M gồm có: Bản tự khai, giấy ủy quyền, bản sao hộ chiếu, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa liên bang Đức)

Hiện nay, có hai quan điểm về thẩm quyền giải quyết vụ án như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Anh T,

chị M gửi đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn đến TAND thành phố H là không đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án Bởi lẽ, tại thời điểm gửi đơn yêu cầu thì anh T, chị M đang sống và làm việc tại nước ngoài, mà không phải tại Việt Nam Cơ sở cho quan điểm này là các điều 11, 14 Luật cư trú năm 2020; điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015

Điều 11 (Nơi cư trú của công dân) Luật

cư trú năm 2020:

“1 Nơi cư trú của công dân bao gồm nơi thường trú, nơi tạm trú

2 Trường hợp không xác định được nơi thường trú, nơi tạm trú thì nơi cư trú của công dân là nơi ở hiện tại được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này”

Tạp chí

KIẾM SẤT Số 03/2022

56

Trang 3

Điều 14 (Nơi cư trú của vợ, chồng)

Luật cư trú năm 2020:

“1 Nơi cư trú của vợ, chồng là nơi vợ,

chồng thường xuyên chung sống ”

Điểm h khoản 2 Điều 39 BLTTDS năm

2015: “Tòa án nơi một trong các bên

thuận tình ly hôn cư trú, làm việc có

thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận

thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con,

chia tài sản khi ly hôn”

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên

thì TAND thành phố H chỉ có thẩm quyền

thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu công nhận

thuận tình ly hôn của anh T, chị M trong

trường hợp một trong hai người có mặt tại

Việt Nam

Quan điểm thứ hai, cũng là quan điểm

của tác giả cho rằng: Mặc dù thời điểm

anh T, chị M gửi đơn yêu cầu công nhận

thuận tình ly hôn thì cả hai người không

có mặt tại Việt Nam, nhưng tài liệu gửi

kèm theo đơn yêu cầu thể hiện anh T, chị

M có hộ khẩu thường trú tại tập thể Đ,

phường D, quận c, thành phố H Vì anh T,

chị M đang sống và làm việc tại nước

ngoài nên việc gửi đơn yêu cầu công nhận

thuận tình ly hôn là theo khoản 2 Điều 29,

điểm b khoản 1 Điều 37, các điều 469,

470 BLTTDS năm 2015; khoản 3 Điều 3

Luật quốc tịch năm 2008, sửa đổi, bổ sung

năm 2014 Cụ thể:

Khoản 3 Điều 3 Luật quốc tịch năm

2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy

định: “Người Việt Nam định cư ở nước

ngoài là công dân Việt Nam và người

gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở

nước ngoài”

THỰC TIỀN - KINH NGHIỆM

Điểm d khoản 1 Điều 469 BLTTDS năm 2015 quy định: “1 Tòa án Việt Nam

có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân

sự có yếu tố nước ngoài trong những trường họp sau đây: d) Vụ việc ly hôn

mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam”

Điểm b khoản 1 Điều 470 BLTTDS năm

2015 quy định: “1 Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam: b) Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm

ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam”

Theo đó, anh T, chị M được xem là người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt khác, hiện nay giữa Việt Nam và Cộng hòa liên bang Đức chưa có hiệp định tương trợ

tư pháp về giải quyết các vụ việc hôn nhân

và gia đình Vì vậy, đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh T, chị M đã được Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa liên bang Đức xác nhận Đe được xác nhận các văn bản, giấy tờ và đơn yêu cầu thuận tình

ly hôn, anh T, chị M phải đảm bảo đã nộp đầy đủ tài liệu do Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa liên bang Đức yêu cầu Đây là bằng chứng pháp lý công nhận về nhân thân và ghi nhận về ý chí tự nguyện của anh T, chị M cùng thuận tình ly hôn Do đó, TAND thành phố H giải quyết là đúng thẩm quyền

Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, do tình hình đại dịch Covid - 19 diễn biến phức tạp, việc đi lại khó khăn nên anh T,

Tạp chí

Sô 03/2022 VkIÊM sát 57

Trang 4

THỰC TIỀN - KINH NGHIỆM

chị M không thể về Việt Nam để tham gia

tố tụng Việc buộc anh T hoặc chị M phải

có mặt tại Việt Nam là gây khó khăn cho

các đương sự Các đương sự đề nghị giải

quyết vắng mặt và có văn bản ủy quyền

cho ông Lương Văn Đ là phù hợp với

khoản 4 Điều 85 BLTTDS năm 2015

Vụ việc điển hình trên cho thấy thực

trạng Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu thuận

tình ly hôn có yếu tố nước ngoài nhưng

không giải quyết được do cơ quan có

thẩm quyền chưa hướng dẫn cụ thể đã

làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính

đáng của đương sự Do đó, đề tháo gỡ

khó khăn, vướng mắc trên, tác giả kiến

nghị liên ngành tư pháp cần thống nhất

và ban hành hướng dần theo hướng: Trường hợp người Việt Nam sinh sống

và học tập tại nước ngoài gửi đơn yêu cầu thuận tình ly hôn về TAND cấp tỉnh (nơi các đương sự đăng ký hộ khẩu thường trú) thì thuộc thẩm quyền TAND cấp tỉnh thụ lý, giải quyết Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết đế vụ việc công nhận thuận tình ly hôn của anh T, chị M nói riêng và các vụ việc công nhận thuận tình ly hôn có yếu tố nước ngoài nói chung sớm được giải quyết, đảm bảo quyền lợi cho đương sự □

mép theo trang 54)

Khoản 4 Điều 218 Luật TTHC năm

2015 quy định: “Tòa án cấp phúc thẩm

phải thông báo cho các đương sự về việc

thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng

nghị” Đây là quy định cần thiết để các

đương sự của vụ án biết được nội dung

thay đổi, bổ sung trong quyết định kháng

nghị của Viện kiểm sát; kịp thời, chủ động

tìm các lập luận, chứng cứ, luận chứng để

bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của

mình tại phiên tòa Tuy nhiên, Luật TTHC

năm 2015 lại chưa ấn định cụ thể thời gian

bao nhiêu ngày kể từ ngày Viện kiểm sát

có thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị thì

Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho

các đương sự Điều này dễ dẫn đến vận

dụng pháp luật thiếu thống nhất, bởi mỗi

Tòa án sẽ gửi thông báo về việc thay đổi,

bổ sung, rút kháng nghị cho đương sự ở những mốc thời gian khác nhau và có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương

sự Do vậy, Luật TTHC năm 2015 cần bổ sung cụ thể về khoảng thời gian mà Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi thông báo về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị của Viện kiểm sát cho các đương sự trong vụ án tại khoản 4 Điều 218 Luật TTHC năm 2015 theo hướng: “Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được lập thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị; thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo của đương sự trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày đương sự thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, Viện kiểm sát thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị”.n

Tạp chí

KIÊM SÁT_/ Sô 03/2022

58

Ngày đăng: 29/10/2022, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w