Thực tiễn áp dụng các quy định của Luật tô tụng hành chính năm 2015 để giải quyết các vụ án hành chính đã chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong các điều khoản về nhiệm vụ, quyền hạn củ
Trang 1NGHIÊN CỨU - TRAO DỔI
NHÚNG VUÔNG MẮC, BẤT CẬP CÙA UIẬT TÓ TỤNG
HÀNH CHÍNH NĂM 2015 VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
MAI VÀN SINH *
LÊ MINH TRUYÈN **
*Thạc sĩ, Phó Hiệu trưởng Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại Thành phố
Hồ Chí Minh.
**Thạc sĩ, Phó Trưởng khoa kiểm sát dân sự, Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thực tiễn áp dụng các quy định của Luật tô tụng hành chính năm
2015 để giải quyết các vụ án hành chính đã chỉ ra những vướng mắc,
bất cập trong các điều khoản về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát
viên; thủ tục ủy quyền tham gia tô tụng; căn cứ hoãn phiên tòa cần
được sửa đổi, bô sung để hoàn thiện.
Từ khóa: Luật tô tụng hành chỉnh năm 2015; kiểm sát việc giải quyêt các
vụ án hành chỉnh.
Nhận bài: 29/11/2021; biên tập xong: 15/12/2022; duyệt bài: 22/12/2022.
1 Một số vướng mắc, bất cập của
Luật tố tụng hành chính năm 2015
- về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên:
Điều 43 Luật tố tụng hành chính
(TTHC) năm 2015 quy định về nhiệm vụ
và quyền hạn của Kiểm sát viên khi được
Viện trưởng phân công thực hiện kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong hoạt động
TTHC Cụ thể là: Kiểm sát việc trả lại đon
khởi kiện; kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ
án; nghiên cứu hồ sơ vụ án; xác minh, thu
thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại
khoản 6 Điều 84 Luật này; tham gia phiên
tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của
Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án
theo quy định của Luật TTHC năm 2015; kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; yêu cầu, kiến nghị Tòa án thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định; đề nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án
có vi phạm pháp luật; kiểm sát hoạt động
tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm
Tạp chí
Sô 04/2022 \_KIẺM SÁT 43
Trang 2NGHIÊN cró - TRAO Đối
quyền xử lý nghiêm minh người tham gia
tố tụng vi phạm pháp luật; thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định
của Luật TTHC năm 2015 Chúng tôi cho
rằng, việc không quy định Kiểm sát viên
được quyền yêu cầu thay đổi người tiến
hành tố tụng và người tham gia tố tụng là
một bất cập làm cho vai trò của Kiểm sát
viên trong TTHC không được đề cao,
thậm chí là mờ nhạt
- về thủ tục ủy quyền tham gia tổ tụng:
Luật TTHC năm 2015 quy định Tòa án
tổ chức các phiên họp, đối thoại, phiên tòa
cho các bên đương sự tham gia đối thoại,
tạo điều kiện cho người có thẩm quyền của
cơ quan quản lý hành chính được trực tiếp
đổi thoại với người khởi kiện để giải quyết
những khiếu kiện phát sinh liên quan đến
quyết định hành chính, hành vi hành chính
bị kiện
Trong các vụ án hành chính thì người
bị kiện chủ yếu là ủy ban nhân dân
(UBND), Chủ tịch UBND các cấp Theo
khoản 3 Điều 60 Luật TTHC năm 2015 thì
người tham gia tố tụng phải là Chủ tịch
UBND hoặc chỉ được ủy quyền cho cấp
phó là Phó Chủ tịch UBND Tuy nhiên,
thực tế có nhiều vụ án hành chính mà
người bị kiện hoặc cấp phó được ủy quyền
của người bị kiện có văn bản xin vắng mặt
các buổi làm việc và xin xét xử vắng mặt
vì lý do bận công tác Việc đại diện của
người bị kiện xin vắng mặt tại các buổi
làm việc và xin xét xử vắng mặt không
trái quy định của pháp luật nhưng gây khó
khăn cho việc giải quyết vụ án Điều này
khiến nguyên tắc đối thoại không thực
hiện được, không làm rõ được các nội dung liên quan đến việc khởi kiện khi các tài liệu, chứng cứ do các bên xuất trình có mâu thuẫn; trình tự, thủ tục tranh tụng tại phiên tòa như việc hỏi, đối đáp, trả lời, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ
án, quan hệ pháp luật tranh chấp, pháp luật áp dụng để làm rõ sự thật khách quan của vụ án không thể thực hiện đối với người khởi kiện, nên chất lượng của phần tranh tụng rất hạn chế, chưa bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử
- về việc tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản, đổi thoại và yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ:
Việc xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản và đối thoại là những biện pháp, hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ, là thủ tục tố tụng quan trọng trong quá trình giải quyết vụ
án hành chính Tuy nhiên, Luật TTHC năm 2015 không quy định Viện kiểm sát được tham gia trực tiếp mà chỉ kiểm sát gián tiếp trên cơ sở kết quả nghiên cứu hồ
sơ vụ án (đặc biệt là những vụ án phức tạp) nên việc thực hiện chức năng của Viện kiểm sát còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng kiểm sát việc giải quyết
vụ án hành chính
Điều 10 Luật TTHC năm 2015 quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát theo quy định của Luật này khi có yêu cầu và
Tạp chí
KIỂM SÁT^/ Số 04/2022
44
Trang 3NGHIÊN cró - TRAO DỔI
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về
việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó;
trường hợp không cung cấp được thì phải
thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do
cho đưomg sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết
Trong thời hạn 15 ngày, nếu không cung
cấp mà không có lý do chính đáng thì tùy
theo tính chất, mức độ có thể bị xử phạt
hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật (Điều
93 Luật TTHC năm 2015) Trên thực tế,
việc cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ
quan, tổ chức, cá nhân còn chậm và chưa
đầy đủ, gây khó khăn, ảnh hưởng đển tiến
độ giải quyết vụ án Đây là một trong
những nguyên nhân làm cho nhiều bản án
bị hủy, sửa, nhiều vụ án phải xét xử nhiều
lần, kéo dài
Điều 325 Luật TTHC năm 2015 quy
định cơ quan, tổ chức, cá nhân không thi
hành quyết định của Tòa án về việc cung
cấp tài liệu, chứng cứ thì bị xử phạt vi
phạm hành chính; nhưng không quy định
hình thức xử lý cụ thể đối với cơ quan, tổ
chức, cá nhân không thực hiện nghĩa vụ
này theo yêu cầu của Viện kiểm sát Bên
cạnh đó, Luật xừ lý vi phạm hành chính
năm 2012, sửa đổi, bồ sung năm 2020
cũng không quy định về thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính của Viện kiểm sát
đối với hành vi không cung cấp tài liệu,
chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong vụ án hành chính Do đó, thực tiễn
có trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu cung
cấp tài liệu nhưng cơ quan, tổ chức, cá
nhân chậm hoặc không cung cấp không có
lý do chính đáng mà Viện kiểm sát không
thể xử lý được, dẫn đến việc thực hiện quyền của Viện kiểm sát không được nghiêm minh, kịp thời
- về căn cứ hoãn phiên tòa:
Điều 162 Luật TTHC năm 2015 quy định các trường hợp phải hoãn phiên tòa Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, Luật quy định căn cứ để hoãn phiên tòa vẫn còn bỏ sót một số trường hợp Cụ thể: Các điều
156, 200, 224 Luật TTHC năm 2015 quy định Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa, nếu vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử mà không ra quyết định hoãn; trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa khi Kiểm sát viên vắng mặt Quy định trên gây khó khăn cho Viện kiểm sát, vì hiện nay, tại một số Viện kiểm sát địa phương, đa số Kiểm sát viên kiêm nhiệm nhiều công tác khác nhau (đặc biệt là Viện kiểm sát cấp huyện), hơn nữa thời gian ra quyết định đưa vụ án ra xét xử là do Thẩm phán chủ động quyết định nên trong thực tế xảy ra nhiều trường hợp Kiểm sát viên bị động trong việc tham gia phiên tòa
2 Một số đề xuất, kiến nghị
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả cho công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, tăng cường cơ chế bảo đảm cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác, chúng tôi đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật TTHC năm 2015 Cụ thể:
Một là, bổ sung “quyền yêu cầu thay đối người tiến hành tố tụng và người tham
Tạp chí
Sô 04/2022 VkIẾMsát 45
Trang 4NGHIÊN cưu - TRAO DỔI
gia tố tụng” cho Kiểm sát viên tại Điều 43
Hai là, sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều
60 theo hướng trường hợp người bị kiện là
UBND, Chủ tịch UBND hoặc người ủy
quyền tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên
tòa thì bắt buộc những người đó phải có
quan điểm bằng văn bản gửi cho cơ quan
tiến hành tố tụng trước khi phiên họp,
phiên tòa diễn ra
Ba là, bổ sung cho Viện kiểm sát quyền
tham gia trực tiếp xem xét, thẩm định tại
chỗ; định giá tài sản, thẩm định giá tài sản,
đối thoại tại các điều 88, 91, 137
Bốn là, bổ sung quy định hình thức xử
lý cụ thể đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện nghĩa vụ cung cấp các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án hành chính theo yêu cầu của Viện kiểm sát tại Điều 93
Năm là, bổ sung căn cứ hoãn phiên tòa như sau: “Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công
có nhiệm vụ tham gia phiên toà, nếu vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và thông báo cho Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp” tại khoản
1 Điều 162.□
QUYỀN TỤ ĐỊNH ĐOẠT
mép theo trang 42)
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được
chấp nhận khi có các điều kiện theo khoản
1 Điều 201 của Bộ luật này”; sửa đổi, bổ
sung khoản 3 Điều này như sau: “Bị đơn có
quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc
lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và hòa giải lần cuối cùng”; (iii) Sửa đổi, bổ
sung khoản 2 Điều 201 BLTTDS năm 2015
như sau: “2 Người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc
lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và hòa giải lần cuối cùng”
Năm là, theo khoản 1 Điều 200
BLTTDS năm 2015 thì bị đơn không chỉ
có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, mà còn có quyền đó đối với người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Tuy nhiên, Điều 72 BLTTDS năm 2015 quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn lại chưa đề cập đến nội dung này Đe có sự thống nhất giữa các quy định pháp luật, bảo đảm quyền tự định đoạt của bị đơn, cần bổ sung nội dung này vào điều luật Do vậy, tác giả đề nghị
bổ sung khoản 4 Điều 72 BLTTDS 2015 theo hướng như sau: “4 Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Đổi với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này”.n
Tạp chí
KIỂM SÁ I Số 04/2022
46