Do bà H ủy quyền lại cho bà Hà Ngọc Mai L thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính TTHC thay cho ông Đ là không đúng quy định nên Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án là vi
Trang 1THỰC TIỀN - KINH NGHIỆM
LÊ SONG LÊ *
LÊ THỊ THANH NGA **
Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định rõ “người đại diện theo ủy quyền không được ủy quyền lại cho người thứ ba” nhưng quá
trình giải quyết vụ án, việc nhận thức và áp dụng của các cơ quan tiến
hành tố tụng còn chưa thống nhất Tác giả nêu vụ việc cụ thể và quan
điểm giải quyết đối với tình huống này.
Từ khóa: Người đại diện trong tổ tụng hành chỉnh; ủy quyền tham gia tố
tụng hành chinh.
Nhận bài: 13/01/2022; biên tập xong: 08/02/2022; duyệt bài: 13/02/2022.
Nội dung vụ án:
Ngày 20/3/2019, ông Nguyễn Văn Đ
khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân
(TAND) tỉnh T hủy Quyết định cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 86, tờ bản đồ 15, diện tích
314 m2 và thửa đất số 88, tờ bản đồ 15,
diện tích 246,7m2 tại xã H, huyện K, tỉnh
T do ủy ban nhân dân huyện K cấp cho
ông Nguyễn Văn L và bà Tạ Thị T ngày
17/11/2015 Vụ án được TAND tỉnh T
thụ lý ngày 06/6/2019
Ngày 08/7/2019, ông Nguyễn Văn Đ lập giấy ủy quyền tại Văn phòng công chứng N với nội dung ủy quyền cho bà
Tô Thanh H, sinh năm 1983 ở tỉnh T được thay mặt và nhân danh ông Đ làm việc với Tòa án các cấp và các cơ quan
có thấm quyền giải quyết toàn bộ các
*, ** Viện kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính (Viện 3), Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Tạp chí
KIÊM SẤT Số 05/2022
52
Trang 2THỰC TIỀN - KINH NGHIỆM
việc phát sinh liên quan đến vụ án
Ngày 27/8/2019, bà Tô Thanh H đã lập
giấy ủy quyền lại tại Phòng công chứng số
4 thành phố H, ủy quyền lại cho bà Hà
Ngọc Mai L, sinh năm 1991, tỉnh B thực
hiện các nội dung bà H đã được ông Đ ủy
quyền trước đó mà không có sự tham gia
của ông Đ Ke từ ngày được ủy quyền lại,
bà L đã trực tiếp tham gia quá trình giải
quyết vụ án với tư cách người đại diện
theo ủy quyền của người khởi kiện
Ngày 30/9/2020, TAND tỉnh T xét xử
sơ thẩm vụ án và quyết định bác toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông Đ
Ngày 15/10/2020, bà Hà Ngọc Mai L
có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của ông Đ
Tòa án cấp phúc thẩm đã thụ lý vụ án theo
thủ tục phúc thẩm và quyết định đưa vụ án
ra xét xử
Liên quan đến việc giải quyết vụ án này,
đã có các quan điểm khác nhau về việc xử
lý tình huống người tham gia tố tụng trong
vụ án hành chính không có ủy quyền hợp
pháp của người khởi kiện Cụ thể:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, người
đại diện cho ông Nguyễn Văn Đ tham gia
tố tụng theo ủy quyền là bà Tô Thanh H
Do bà H ủy quyền lại cho bà Hà Ngọc Mai
L thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng
hành chính (TTHC) thay cho ông Đ là
không đúng quy định nên Tòa án cấp sơ
thẩm thụ lý, giải quyết vụ án là vi phạm
nghiêm trọng pháp luật TTHC Bởi lẽ:
Khoản 5 Điều 60 Luật TTHC năm
2015 quy định: “Người đại diện theo
pháp luật trong TTHC thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTHC của đương sự mà mình là đại diện
Người đại diện theo ủy quyền trong TTHC thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTHC của người ủy quyền Người được
ủy quyền không được ủy quyền lại cho người thứ ba”
Việc bà Tô Thanh H là người nhận ủy quyền đã ủy quyền lại cho bà Hà Ngọc Mai L là vi phạm nghiêm trọng quy định nêu trên
Sau khi xét xử, bà Hà Ngọc Mai L lại
ký đơn kháng cáo là vi phạm khoản 3 Điều 205 Luật TTHC năm 2015, cụ thể:
“Người kháng cáo quy định tại khoản 2 Điều này nếu không tự mình kháng cáo thì
có thể ủy quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi
họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền có kháng cáo; họ, tên, địa chỉ của đương sự ủy quyền kháng cáo và văn bản
ủy quyền; đồng thời ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ”
Đồng thời, khoản 6 Điều 205 Luật TTHC năm 2015 quy định: “Việc ủy quyền quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc người được Chánh án Tòa án phân công Trong văn bản ủy quyền phải
có nội dung đương sự ủy quyền cho người
Tạp chí
Số 05/2022 VkIÉMsát 53
Trang 3THỰC TIẾN - KINH NGHIỆM
đại diện theo ủy quyền kháng cáo bản án,
quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết
vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm”
Như vậy, nếu không trực tiếp kháng
cáo thì ông Đ có thể ủy quyền cho người
khác đại diện cho mình kháng cáo Tuy
nhiên, ông Đ chưa có ủy quyền hợp pháp
cho bà Hà Ngọc Mai L, nên về hình thức,
đơn kháng cáo của bà L là không hợp
pháp Việc Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý
đơn kháng cáo do bà L ký là không đúng
quy định của pháp luật
Theo Điều 207 Luật TTHC năm 2015 thì:
“1 Sau khi nhận được đơn kháng cáo,
Tòa án cấp sơ thẩm phải kiểm tra tính hợp
lệ của đơn kháng cáo theo quy định tại
Điều 205 của Luật này
3 Trường hợp đơn kháng cáo chưa
đúng quy định tại Điều 205 của Luật này
thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người
kháng cáo làm lại đơn kháng cáo hoặc sửa
đổi, bổ sung trong thời hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của
Tòa án”
Theo đó, khi nhận được đơn kháng cáo
của bà L, lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm phải có
trách nhiệm hướng dẫn đương sự làm lại
đơn kháng cáo theo đúng quy định pháp
luật Trong trường hợp ông Đ không thực
hiện việc làm lại đơn kháng cáo hoặc ủy
quyền hợp pháp cho bà L thực hiện quyền
kháng cáo theo quy định thì Tòa án phải
căn cứ khoản 4 Điều 207 Luật TTHC năm
2015 để trả lại đơn kháng cáo cho bà Hà
Ngọc Mai L Cụ thể:
“4 Tòa án trả lại đơn kháng cáo trong các trường hợp sau đây:
a) Người kháng cáo không có quyền kháng cáo;
b) Người kháng cáo không làm lại đơn kháng cáo hoặc không sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo mặc dù đã có yêu cầu của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều này”
Quan điếm thứ hai cho rằng, do ông Đ
không kháng cáo, mà người kháng cáo là
bà Hà Ngọc Mai L lại không có quyền kháng cáo, nên Tòa án cấp phúc thẩm khi thụ lý giải quyết đon kháng cáo phải căn
cứ điểm a khoản 4 Điều 207 và điểm b khoản 1 Điều 229 Luật TTHC năm 2015,
cụ thể:
“1 Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án trong các trường hợp sau đây:
b) Trường hợp trả lại đơn kháng cáo theo quy định của Luật này mà Tòa án cấp phúc thẩm đã thụ lý hồ sơ vụ án”
Qua đó, Tòa án cấp phúc thẩm ban hành quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án Sau đó, thông báo tới cấp có thẩm quyền xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án sơ thẩm do có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, dần đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông Đ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật Căn cứ, điều kiện kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 255 Luật TTHC năm 2015 Cụ thể:
Tạp chí
KIÊM SÁI Số 05/2022
54
Trang 4THỰC TIỀN - KINH NGHIỆM
“Điều 255 Căn cứ, điều kiện để kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
1 Bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm khi có một trong những
căn cử sau đây:
b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng làm cho đưcmg sự không thực hiện
được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình,
dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ
không được bảo vệ theo đúng quy định
của pháp luật”
Quan điểm thứ ba cho rằng, việc bà Hà
Ngọc Mai L ký đơn kháng cáo là không
hợp pháp nhưng được coi là vi phạm pháp
luật không nghiêm trọng, bởi lẽ, mặc dù
việc bà Tô Thanh H ủy quyền lại cho bà
Hà Ngọc Mai L tham gia tố tụng là không
đúng quy định; tuy nhiên, thực tế Tòa án
cấp sơ thẩm đã thụ lý, giải quyết vụ án
Việc ủy quyền lại này không làm mất đi
hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền
và lợi ích của ông Đ trong vụ án Tòa án
cấp phúc thẩm cần chấp nhận kháng cáo
của bà L để xem xét lại vụ án theo trình tự
phúc thẩm nhằm giải quyết triệt để vụ án
Nếu Tòa án căn cứ khoản 4 Điều 207
Luật TTHC năm 2015 để trả lại đơn kháng
cáo và không xét xử lại vụ án theo thủ tục
phúc thẩm thì bản án sơ thẩm sẽ có hiệu
lực pháp luật, trong khi bản án đang có vi
phạm nghiêm trọng về áp dụng pháp luật
tố tụng và đang bị kháng cáo về nội dung
Mặt khác, hiện Tòa án cấp phúc thẩm
đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, nên
theo Điều 221 Luật TTHC năm 2015, trong giai đoạn chuẩn bị xét xừ phúc thẩm không có quy định Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án Căn cứ vào khoản 5 Điều
241 Luật TTHC năm 2015, tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử không có thẩm quyền đình chỉ xét xử vụ án với lý do: Người kháng cáo không có quyền kháng cáo
Với quan điểm này, theo tác giả, căn
cứ khoản 3 Điều 241 Luật TTHC năm
2015 quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm: “Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại trong trường hợp
có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc phải thu thập chứng cứ mới quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được”, Tòa án cấp phúc thẩm có thể chấp nhận đơn kháng cáo, xét xử vụ án theo hướng hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại
do có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng Quá trình thụ lý, giải quyết lại vụ
án, Thẩm phán có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn cho người khởi kiện thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự Từ sự phân tích trên, tác giả cho rằng, quan điểm thứ ba phù hợp với thực tế giải quyết vụ án, sẽ rút ngắn được thời gian và giải quyết dứt điểm vụ án
Rất mong nhận được ý kiến trao đối của các đồng nghiệp và độc giả.n
Tạp chí
Sô 05/2022 VkIÈM SÁT 55