1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở việt nam hiện nay

5 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 599,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÁP LUẬT VỀ• PHAN THỊ THU THỦY TÓM TẮT: Bàiviết tập trung phân tích,chỉ ra một số điểm bất cập, hạn chế của phápluậthiện hành vềbảo vệ môi trường không khíBVMTKKở Việt Nam, từ đó đềxuất

Trang 1

PHÁP LUẬT VỀ

• PHAN THỊ THU THỦY

TÓM TẮT:

Bàiviết tập trung phân tích,chỉ ra một số điểm bất cập, hạn chế của phápluậthiện hành vềbảo

vệ môi trường không khí(BVMTKK)ở Việt Nam, từ đó đềxuấtmột sốkiến nghịnhằmhoàn thiện quy định về vân đề này cho phù hợp với thựctiễn

Từ khóa: bảo vệ môi trường, ô nhiễm môitrường,khôngkhí

1 Đặt vấn đề

Môi trường (MT) nói chung và môi trường

không khí (MTKK) nói riêng được xem là một

trong những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến mọi

mặt đời sôngxã hội, quyết định đến sự tồn tại và

pháttriển của con người Trong thời gian qua, với

những chủ trương, chính sách của Đảng về phát

triển kinh tế đã đem lạinhữnglợiíchnhát định Tuy

nhiên, mặt trái của phát triển kinh tế là vấn đề ô

nhiễm môi trường (ONMT) đặc biệt là ONMTKK

đang ngày càng nghiêm trọng và đáng báo động,

việc B VMTKK trởnêncấp thiết hơn bao giờhết

2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ

môi trường không khí hiện nay

Pháp luật BVMTKK là tổng thể các quy phạm

phápluật docơ quannhà nước cóthẩm quyềnban

hành hoặc thừa nhận điềuchỉnhcác quan hệ xã hội

phát sinh giữa các chủ thể, nhằm đảm bảo chất

lượng MTKK Pháp luật BVMTKK ở nước ta

không Tigừng được sửa đổi, bổ sung, thay thế và

hoàn thiện

Hiện nay, hành lang pháp lý về BVMTKK

được quy định chủ yếu trong các văn bản quy

phạm pháp luật nhưLuật BVMTnăm 2020, Nghị

định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10 tháng 01 năm

2022 của Chính phủ quyđịnh chi tiết một số điều của Luật BVMT, Thông tư số 02/2022/TT- BTNMT ngày 10tháng 01 năm 2022 của Bộ Tài

nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành

một số điều củaLuật BVMT, các quy chuẩn,tiêu

chuẩn kỹ thuật về BVMTKKvà các văn bản liên quan Theo đó, pháp luật BVMT bao gồm nhiều chế định liên quan đến phòng ngừa, khắc phục, ứng phó và xử lý hành vi vi phạm pháp luật

BVMT, Mỗi chếđịnh bao gồm nhiều quy phạm

pháp luậtkhác nhau cùng điềuchỉnh

Thứ nhất, quy định về giấy phép MTKK.

Giấy phép môi trường (GPMT) là một trong những quy định nhằm phòng ngừa ônhiễm Đây là một trong những nội dung mới, mang tính thời sự, đột phá trong Luật BVMT năm 2020 so với Luật

BVMT năm 2014, đápứngnhucầu thực tiễntrong công tác BVMT Liên quan đến vấn đề GPMT,

Luật BVMT năm 2020 quy định thành một mục

riêng biệt(Mục 4- GPMT) về nội dung cấpphép MTKK gồm: Nguồn phát sinh khí thải; lưu lượng

xảkhí thảitối đa; dòng khí thải; các chất ô nhiễm

và giá trị giới hạn củacácchấtônhiễmtheo dòng

khíthải; vị trí, phươngthứcxảkhí thải [K2, Đ.40,

11],về thời hạn, GPMT có thể 7 năm hoặc 10 năm

18 SỐ9-Tháng 5/2022

Trang 2

tùythuộc và dự án hoặc nhóm đối tượng Theo quy

định hiện nay, việc quy định thời hạn của GPMT

tối đacòn dài so với cácquốc gia trên thế giới và

thiếu quy định loại công nghệ phát sinh khí thải

trong nội dung cấp phép, mặc dù đây cũng là một

trong những quy định rất cần thiết khi điều chỉnh

vân đề này

Thứ hai, quy định về QCKT quốc gia về MTKK.

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về MTKK là quy

định mang tính bắt buộc áp dụng mức giớihạn của

thông số về chất lượng MYKK, hàmlượngcủachất

ô nhiễm có trong MTKK được cơ quan nhà nướccó

thẩm quyềnban hànhtheo quy địnhcủa pháp luật

về tiêuchuẩn và QCKT

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về MTKK bao

gồm: Các QCKTquốcgia về chất lượng không khí

xung quanh; khíthải côngnghiệp (KTCN)đối với

bụivà cácchất vô cơ; KTCN nhiệt điện; khí thảilò

đốt chất thải công nghiệp, đã được ban hành

Chẳng hạn: QCKT quốc gia về chát lượng không

khí xung quanh QCVN 05: 2009/BTNMT; QCKT

quốc gia về một số chất độc hại trong không khí

xung quanh QCVN06: 2009/BTNMT; QCKTquốc

gia vềKTCN đối với bụi và các chất vôcơ QCVN

19: 2009/BTNMT; QCKT quốc gia về KTCN đối

với một số chất hữu cơ QCVN 20:2009/BTNMT,

Như vậy,đến nay, ViệtNam đãban hành nhiều

QCKT quôc gia liên quan đến khí thải nhằm

BVMTKK Tuy nhiên, thực tế cho thấy, các quy

chuẩn này đã được ban hành đã lâu và chưa được

bổ sung, thay thế bởi những QCKT mới cho phù

hợp với thực tiễn Điều này đã được nhiều nhà

khoa học, học giả nghiên cứu và đánh giá: Đa số

quy chuẩn được banhành cách đây khoảng 8 đến

10năm,nênnhiều yêucầu vềMT không còn phù

hợp với thực tế hiện nay[13],đa sốcác quy chuẩn

về khí thải đốì với nguồn thải cố định được ban

hành cáchđây 7 đến 8 nămcần rà soátđánh giáđể

thay thế chophù hợp.Đồngthời bổ sung thêm một

số QCKT vớinguồnthảicố địnhcho đầy đủ vàphù

hợp hơn với thực tiễn [6], Bên cạnh đó,các QCKT

MT về khí thải còn nhiềuvấnđề chưa được đề cập,

thiếu sót cần bổ sung,hoàn thiện, như: Pháp luật

hiện hành mới chỉquy định các QCKT quốc gia về

chất lượng không khí; khí KTCNđốivớibụi và các

chát vô cơ; KTCN nhiệtđiện; khí thải lò đốtchát

thải công nghiệp, nhưng lại chưa cóquy định về

QCKT MTKK đô'i với mùi, mặc dù đây cũng là một trongnhững vấn đề nan giảiđang trởnên cấp thiết,ảnh hưởng nghiêm trọng đếnchát lượng MT

sông Thêm vào đó, ViệtNam mới chỉ ban hành quy định nồng độ giá trị tối đa cho phép của một sô chất độc hại có trong MTKK xung quanh, hoặc nồng độtốiđa cho phép củabụi vàcácchất vô cơ trong KTCN khi phát thải vào MTKK nhưng lại

chưa có quy định về tổng lượng phát thải tại một vùng, địa phương, khu vực Xét nghĩ, đây cũng là mộttrong nhữngnội dung mà Nhà nước cần quan

tâm và điều chỉnh cho phùhợp Bởi mỗi vùng, địa phương, khu vực có mứcđộ ONMTKK khác nhau

phụ thuộc vào sự phát triển kinh tếhay yếu tốtự

nhiên, và cũng là cơsở để thực hiệncác công cụ kinhtếchophù hợp

Thứ ba, các quy định về xử lý hành vi vi phạm

pháp luật bảo vệ MTKK.

Tùy từng loại viphạm vàhậuquả của hành vi

mà việc áp dụng hình thức xử lý hành vi vi phạm

pháp luật BVMTKK cũngkhác nhau Luật BVMT năm 2020 quy định: “Tổ chức, cá nhân vi phạm

pháp luật vềBVMT, gây ônhiễm, suy thoái, sựcố

môi trường, gâythiệt hại cho Nhà nước,tổ chức và

cá nhânphải có trách nhiệm khắc phục ô nhiễm, phục hồi MT, bồi thường thiệt hại và bị xửlý theo

quy địnhcủa Luật này và quyđịnh khác của pháp luật có liên quan” [Kl, Đ.161, 11], Như vậy, chủ

thể vi phạm pháp luật về BVMT nói chung và

BVMTKK nói riêng gâythiệt hại chochủ thể khác phải có trách nhiệm nhiệm khắc phục ô nhiễm,

phụchồi MT và bị xử lý tùy theo mức độ vi phạm

mà bịxử lýhình sự,xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại

Một là, về xửlý hình sự: xử lý hình sựlà biện

pháp pháp lý nghiêmkhắc nhất của Nhà nước đối

với người có hành vi phạmtội được quy địnhtrong

BLHS.Để truy cứutrách nhiệm hình sự đôivới chủ

thểcó hành vi vi phạm pháp luật BVMTKK,cáccơ

quan nhà nước có thẩmquyền căn cứvào các tội

phạm MT được quyđịnh tại cácđiều như: Điều235 (Tội gây ONMT) và Điều 237 (Tội vi phạm quy

định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cốMT)

SỐ9-Tháng 5/2022 19

Trang 3

được quy định tại Chương XIX của BLHS năm

2015 Phân tích về các quy định tại các điều này

cho thấy mức khung hình phạt cao nhất cũng chỉ

đến 10 năm tù, tức là đốivớinhóm tội phạmvề MT

không có loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Trong khiđó,hậu quảcủa tội phạm nàygây racho

MT, cho tính mạng, cho sức khỏe, cho tàisản của

con người có thể là rấtlớn.Với khung hìnhphạt này

thì chưa đủ sức ren đe đối vớicácchủ thểcố tình vi

phạm pháp luậtvề BVMT So với pháp luật của

mộtsốquốc gia, quy định về khung hình phạt đô'i

với nhómtội liên quan đến BVMT ở nước ta vẫn

còn nhẹ Ngoài ra, quy định trong cấu thành tội

phạm về MT còn chưa có sự thống nhát, cụ thể là

tạiđiểm c, d, h Khoản 1; điểm b, c, đ, e Khoản 2;

điểm b, c, đ, e Khoản 3 Điều 235 BLHS 2015

Chẳng hạn, quy định tại điểm e Khoản2 Điều 235

“Gây hậu quả nghiêm trọng” và điểm e Khoản 3

Điều 235 “Gâyhậu quả rấtnghiêmtrọng hoặc đặc

biệt nghiêm trọng” hoặctại điểm b Khoản 1 Điều

237 “Vi phạmquy định về ứng phó,khắcphục sự

cố MT làm MTbị ô nhiễm nghiêmtrọng ” Pháp

luật hiện hànhkhông định nghĩa cụ thểthế nào là

gâyhậuquả nghiêm trọng, rât nghiêmtrọng hoặc

đặcbiệt nghiêm trọng Vì vậy, việcxem xét hành

vi nếu căn cứ vào dấu hiệu này, các chủ thể có

thẩm quyền khôngcócơ sở, căn cứrõ ràngđể phân

định, truy cứu vàápdụng khunghìnhphạtchophù

hợp Đâycũng đượcxem là quy định còngây khó

khănchocácchủ thể có thẩm quyền áp dụng

Hai lù, về xửphạt vi phạmhành chính;Đổ xử lý

vi phạm hành chính do vi phạm pháp luật

BVMTKK, pháp luật quy định các hình thức xử

phạt gồm hình thức xử phạt chính, hình thứcxử phạt

bổ sung và còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều

biện pháp khắc phục hậu quả Hình thức xử phạt

chính gồm: cảnhcáo, phạttiền tối đa đối với một

hànhvi vi phạmhành chính trong lĩnh vực BVMT

là 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân và

2.000.000.000 đồng đối với tổ chức [Đ.4, 4], Tuy

nhiên, một số biện pháp khắc phục hậu quả quy

địnhchungchocáchànhvichưa cụ thể, nên đã gây

lúng túng khi áp dụng trênthực tế; một số hành vi

vi phạmdiễn ra nhưng chưa được điều chỉnh Ngoài

ra, Nghị định số55/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổsung

Nghị định số 155/2016/NĐ-CP đãcơ bảnkhắcphục

được những bất cập giữa các nghị định xử phạt vi

phạm hành chính, tạo khuôn khổ pháplý khá đồng

bộ trong xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT Tuy nhiên, theo Nghị định về biện pháp khắc phụchậu quả “buộc chi trả kinhphí trưngcầu giám định, kiểm định, đo đạctrong trường hợp gây ONMT theo định mức, đơn giá hiện hành” [K4,

Đ.l, 4] chưaphù hợp với các văn bảnpháp luậtcó liên quan Cụ thể,Điều 59 Luậtxử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Trong quá trình xem

xét, ra quyết định xử phạt, người có thẩmquyềnxử

phạt có thể trưng cầu giám định Việc trưng cầu giámđịnh được thực hiện theo quy định củapháp luật về giámđịnh” Chính vì vậy, không thể xem

“buộc chi trả kinh phítrưngcầu giámđịnh” làmột

biệnphápkhắc phục hậu quả [13]

Ba là, về bồi thường thiệt hại: Bên cạnh các

biện phápxử lý hình sự, xửphạt hànhchính, pháp luậtViệt Nam cũng nhưnhiều quốc gia trên thế

giớicòn quy định việcbồi thường thiệt hại do hành

vi làm ONMT gây thiệthại cho các chủ thể khác

Việc xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái MT

đượcLuậtB VMT năm 2020 quy định tại Điều 132 Nhìn chung,LuậtBVMT năm 2020 cũng như Luật

BVMT trước đây không quy định thời hiệu bồi thường thiệt hại về MT làbao lâu, chỉ quy định thời điểm bắt đầu có quyền khởi kiện nhưng khôngquy

địnhthời điểmkết thúc quyền Tuynhiên,tạiĐiều

588BLDS 2015 quyđịnh:Thời hiệu khởikiện yêu

cầu bồi thường thiệt hại là 03 nam, kể tư ngày

người có quyền yêu cầu biết hoặc phảibiếtquyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Thực tế trong lĩnhvựcMT, ngàyquyền vàlợi ích hợp pháp

bị xâm hạikhông hoàn toàn trùng khớp với ngày

phát sinh thiệt hại.Thiệt hại đốivới người bị nhiễm

chất phóng xạ, nhiễm hóa chát độc hạilànhững ví

dụ điểnhình Nên chăng pháp luật MT cần hướng tới việc quy định thời hiệu khởi kiện gắn với ngày

mà thiệt hạithực tếxảyra và cần quy địnhthời hiệu khởi kiệnphùhợp hơn tronglĩnh vực này [12]

3 Một số’ kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo

vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay

Để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và giảm thiểu ô nhiễm, tạo bước chuyển biếncăn bản trong

20 SỐ9-Tháng 5/2022

Trang 4

công tác BVMTKK, các quy định về BVMTKK

cầnhoàn thiện theocáchướngsau:

Một là, quy định về thời hạn GPMT Mặc dù,

LuậtBVMT năm 2020 mới được thông quavàbắt

đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2022 có nhiều điểm

tiến bộ hơn so với Luật BVMT năm 2014 trong

việc quy địnhthờihạn GPMT.Theođó, việc quy

địnhthời hạncủaGPMTcăn cứvào dự án đầu tư,

căn cứ từng loại ngành, nghề khác, nhóm đôi

tượng có rủi ro môi trườngkhác nhau mà thời hạn

của GPMT cũng khác nhau Tuy nhiên, về thời

hạn của GPMT như quy định trong Luật BVMT

năm 2020 nên rút ngắn hơn cho phù hợp với thực

tiễn và pháp luật của một số quốc gia trên thế

giới.Theo tác giả, cần sửa đổi nộidung tại Điểm

a, b, c Khoản 4 Điều 40 Luật BVMT năm 2020

theo hướng gộp điểm a và b thành: “05 năm đối

với dự án đầu tư nhómI; đôi với cơ sởsản xuất,

kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh,

dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp hoạt động

trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành có tiêu

chí về môitrường như dự án đầu tư nhóm I”; Điểm

c sửa đổi lại theo hướng: “07 năm đối với đối

tượng khôngthuộchaitrường hợp trên”

Hai là, quyđịnh về QCKT quốc giavề MTKK

Cần phải tiên hành rà soát, sửa đổi,bổsungcác quy

chuẩn đãban hành cho thống nhất vàphù hợp với

tình hình thực tiễn Một số QCKT quốc gia về

MTKK đã được ban hành khá lâu, không còn phù

hợp vớithực tiễn cầnthaythế Bêncạnh đó, cần bổ

sung một sốQCKT về MTKKmộtsốngành, lĩnh

vực còn thiếu như: QCKT MTKK đối với lĩnhvực

nông nghiệp, dịchvụ, đặc biệt là phải nghiêncứu

xây dựng quy chuẩn MTKK trongnhàtại các nhà

máy, xí nghiệp, các siêuthị, các khuvui chơi, giải

trícông cộng, Đồng thời bổ sungcác quy định liên

quan đến tổng lượng thải, thời điểm xả thải, để

đảm bảo chấtlượng cho MTKK,đảm bảo nguyên

tắc quyền con người được sống trong môi trường

trong lành

Ba là, về xử lý hành vi vi phạm BLHS năm

2015 phân định nhómtội phạm MT không thuộc

nhóm tội đặc biệt nghiêm trọng bởi khung hình

phạt cao nhất đôivới nhómtội này là 10 năm tù,

như: Tội gây ONMT (Đ.235), Tội vi phạm quy

định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cô môitrường(Đ.237) Tuy nhiên, tính chất, mứcđộ

và hậu quả để lại của nhóm tội này đô'i với môi

trường, với tính mạng, sức khỏe và tàisản của con người vô cùng lớn Vì vậy, tùy loại vi phạm và

hậu quả của hành vi, cần bổ sung và nâng mức khung hình phạt đối với nhóm tội phạm MT cho phù hợp

Đối với xử phạthành chính cần có hướng dẫn cụ thểmộtsô'biệnpháp khắc phục hậu quảdo hànhvi

vi phạm pháp luật BVMTKK trên thực tế Đồng

thời, nâng mứcxử phạt hành chính đối với các hành

vi viphạm pháp luật BVMTKK So sánh giữa mức

phạt tiền đối đađối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMTlà 1.000.000.000đồng

đối với cá nhânvà 2.000.000.000 đồng đối vớitổ

chức và những hình thức xử phạt bổ sung, những biệnpháp khắc phục hậu quả thìkhông thếso sánh

Vì vậy, việc áp dụng các loại trách nhiệm hành

chínhmột cách nghiêm khắc là cần thiết cho đủ sức răn đe, từ đó góp phần hạnchế các vi phạm pháp luật về vấn đề này Nênsửa đổi mức phạttiềntheo hướng không quy định mức trần nhưhiện nay mà nênquy định mức phạt theo tỉ lệ gâythiệt hại cho

MT Đồng thời cần nâng mức phạt tiền đối với vi

phạm các quy định về BVMTKKcao hơn phù hợp

với quy định về mức phạt tiền tối đa đối với một

hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực

BVMTKK

Nhìn chung, các quy định về xác địnhthiệthại

đô'i với hành vi làm ONMT được quy định trong

LBVMT năm 2020 còn quy định kháchung chung

và gặp nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng

Chẳng hạn, các quy định về xác định thiệt hại do

suygiảm chức năng, tính hữu íchcủa MTđược quy

định tại Điều 132 Luật BVMT năm2020: “a) Xác định phạm vi, diện tích, khu vực MT bị ô nhiễm,

suythoái; b) Xác định số lượng thành phần MTbị suy giảm,cácloạihình hệ sinh thái,các loài bị thiệt

hại; c) Xác định mức độ thiệt hại của từng thành phần MT, hệ sinhthái, các loài” Quy địnhnày còn

rất chung, chưa cụ thể.Vì vậy,cầncó hướng dẫncụ

thể về vấn đề này, chẳng hạn: Phạm vi về không

gian, thời gian như thếnào? Diện tích là baonhiêu?

Sốlượng cụ thể cácloàibịthiệthại, ■

SỐ 9 - Tháng 5/2022 21

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008 - 2013), Quy chuẩn quốc gia về môi trường không khí, Hà Nội.

2 Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022), Thông tư sô 02/2022/TT-'-BTNMT ngày 10 tháng 01 năm 2022 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật BVMT, Hà Nội.

3 Chính phủ (2016), Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, Hà Nội.

4 Chính phủ (2021), Nghị định số55/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số ỉ55/2016/NĐ-CP,

Hà Nội.

5 Chính phủ (2022), Nghị định 08/2022/NĐ-CP ngày ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BVMT, Hà Nội.

6 Bùi Đức Hiển (2016), Pháp luật kiểm soát ONMTkhông khí ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội.

7 Quốc hội (2012), Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020, Hà Nội.

8 Quốc hội (2014), Luật BVMT, Hà Nội.

9 Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.

10 Quốc hội (2015), Bộ luật Hình sự, Hà Nội.

11 Quốc hội (2020), Luật BVMT, Hà Nội.

12 Viện Khoa học pháp lý (2017), Pháp luật môi trường phục vụ phát triển bền vững ỗ Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội.

13 Lê Văn Hợp (2022), Tội phạm môi trường và các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/toi-pham-moi-truong-va-cac-hanh-vi-vi-pham-hanh-chinh-trong- Iinh-vuc-bao-ve-moi-truongl647615170.html

Ngày nhận bài: 25/3/2022

Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 5/4/2022

Ngày chấp nhận đăng bài: 15/4/2022

Thông tin tác giả:

PHAN THỊ THU THỦY

Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Tài chính - Kế toán

VIETNAM’S CURRENT REGULATIONS

ON AIR ENVIRONMENT PROTECTION

• PHAN THITHUTHUY

Faculty of Economic Law University of Finance and Accounting

ABSTRACT:

This paper focuses on analyzing and pointing out some inadequacies and shortcomings of Vietnam’s regulations on air environment protection.The paper alsoproposessome recommendations

to make these regulations more feasible

Keywords: environmental protection, air pollution, air

22 SỐ 9 - Tháng 5/2022

Ngày đăng: 29/10/2022, 14:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w