NGHIÊN cút - TRA o ĐỚINGUYỄN NGỌC HOĂ ’ Tóm tắt: Trên cơ sở khái quát lí luận về nguồn của pháp luật hình sự, bài viết phân tích cơ sở lí luận - sự cho phép, cơ sở thực tiễn
Trang 1NGHIÊN cút - TRA o ĐỚI
NGUYỄN NGỌC HOĂ ’ Tóm tắt: Trên cơ sở khái quát lí luận về nguồn của pháp luật hình sự, bài viết phân tích cơ sở lí luận - sự cho phép, cơ sở thực tiễn - sự cần thiết, tính khả thi và tính hiệu quả của việc mở rộng nguồn của pháp luật hình sự Việt Nam theo hướng cho phép các luật khác cũng được quy định tội phạm và khung hình phạt cụ thê trên cơ sở các quy định chung của Bộ luật Hình sự cũng như phù hợp với kĩ thuật văn bản của Bộ luật này Theo đó, ngoài Bộ luật Hình sự giữ vị trí trung tâm còn có Luật hình
sự đơn lẻ và Luật hình sự phụ là những văn bản quy phạm pháp luật cùng có nội dung quy định tội phạm và hình phạt.
Từ khoá: Nguồn của pháp luật hình sự; luật hình sự đơn lè; luật hình sự phụ; mở rộng nguồn của pháp luật hình sự
Nhận bài: 21/11/2021 Hoàn thành biên tập: 26/4/2022 Duyệt đăng: 26/4/2022
SOURCES OF CRIMINAL LAW AND THE ISSUE OF EXTENDING THE SOURCE OF CRIMINALLAWIN VIETNAM
Abstract: On the basis of generalizing the theory on sources of criminal law, the paper analyses the theoretical foundation - the possibility and the practical foundation - the need, the feasibility and the efficacy of extending sources of Vietnamese criminal law by allowing Laws other than the Criminal Code to prescribe specific crimes and punishments, so long as those Laws are consistent with general provisions and drafting techniques of the Criminal Code Accordingly, apart from the Criminal Code as the centre of the criminal law, there are separate Criminal Laws and auxiliary Criminal Laws which also prescribe crimes and punishments.
Keywords: Sources of criminal law; separate criminal laws; auxiliary criminal laws; extending the sources of criminal law
Received: Nov 21th, 2021; Editing completed: Apr 2ff, 2022; Acceptedfor publication: Apr 2ốh , 2022
1 Nguồn của pháp luật hình sự - Nghĩa
hẹp và nghĩa rộng
Pháp luật hình sự là một ngành luật trong
hệ thống pháp luật nên vấn đề nguồn của
pháp luật hình sự cũng như của các ngành
luật khác đều phải xuất phát từ vấn đề nguồn
của pháp luật nói chung
“Nguồn của pháp luật là tất cả các yếu
tố chứa đựng hoặc cung cấp căn cứ pháp lí cho hoạt động của cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thâm quyển cũng như các chủ thể khác trong xã hội ’4 Theo đó, nguồn của pháp luật gồm: văn bản quy phạm pháp luật, tập quán pháp, tiền lệ pháp (án lệ) và các
* Giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội
E-mail: hoa.nguyen@hlu.edu.vn
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Li luận
chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà
Nội, 2019, tr 285.
TẠPCHÍLUẬT HỌC SỐ 4/2022 11
Trang 2NGHỈÊN CỨU - TRA o ĐỎÌ
loại nguồn khác (điều ước quốc tế, các quan
niệm, chuẩn mực đạo đức xã hội, đường lối,
chính sách của lực lượng cầm quyền, các
quan điểm, tư tưởng, học thuyết khoa học
pháp lí, v.v )2
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, sđd, tr 291 và các
trang tiếp theo.
3 về vấn đề này, xem: Nguyễn Anh Tuấn, “Bàn về
khái niệm nguồn của luật hình sự”, Tạp chí Khoa
học pháp lí, số 07(110)/2017, tr 74 và các trang
tiếp theo.
4 Đào Trí Úc, Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1 -
Những vẩn để chung, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2000, tr 293 và các ttang tiếp theo.
5 Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học
luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2005, tr 154 và các trang tiếp theo.
6 Đào Trí Úc, sđd, tr 293.
7 Đào Trí Úc, sđd, tr 306.
8 Đào Trí Úc, sđd, tr 293.
9 Xem thêm: Đào Trí úc, sđd, tr 297.
10 “Từ trước đến nay, các giáo trình, bài giảng, đa sổ các công trình nghiên cứu đểu mặc nhiên quan niệm như vậy (quan niệm nguồn của pháp luật hình sự chi có thể là BLHS)”, Đao Trí úc, sđd, tr 294.
Theo đó, nguồn của pháp luật hình sự là
nguồn của pháp luật liên quan đến hoạt động
truy cứu trách nhiệm hình sự của các cơ
quan tiến hành tố tụng hình sự Đó là văn
bản quy phạm pháp luật hình sự, án lệ và các
loại nguồn khác
Hiện nay, ở Việt Nam, nguồn của pháp
luật hình sự có thể được hiểu theo các nghĩa
khác nhau3 Nguồn của pháp luật hình sự có
thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp4;
theo nghĩa nguồn trực tiếp và nguồn gián
tiếp5 Cụ thể, “theo nghĩa hẹp, nguồn của
(pháp) luật hình sự chi bao gồm những căn
cứ trực tiếp quy định về những gì liên quan
đến tội phạm và hình phạt chỉ có thế là
những văn bản pháp luật hình sự”6 7 Trong
đó, văn bản pháp luật hình sự “ là văn bản
pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước
ban hành nhằm quy định cơ sở của trách
nhiệm hình sự, các nguyên tằc của việc áp
dụng trách nhiệm hình sự, quy định các tội
phạm và hình phạt đối với người phạm
tội ”1 Còn “theo nghĩa rộng, nguồn của luật hình sự là những căn cứ có giả trị áp dụng trực tiếp đổi với tẩt cả các phạm vi của việc thiết kế và thực hiện chính sách hình sự, cho việc lập pháp hình sự, cho hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan và
cá nhãn khác nhau trong quá trình điều tra, truy tổ và xét xử, cho việc xây dựng và củng
cố ỷ thức pháp luật ”8.
Như vậy, theo nghĩa hẹp, nguồn của pháp luật hình sự chỉ gồm những văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy định
về tội phạm, về trách nhiệm hình sự và hình phạt Đó là các văn bản quy phạm pháp luật hình sự Theo nghĩa rộng, nguồn của pháp luật hình sự không chỉ là các văn bản quy phạm pháp luật hình sự mà còn là án lệ, Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật khác, các văn bản hướng dẫn cũng như các văn bản có liên quan khác9
Đây là hai phạm vi hiểu khác nhau về nguồn của pháp luật hình sự về nguyên tắc, khi nói đến nguồn của pháp luật nói chung cũng như của ngành pháp luật cụ thế nói riêng, trong đó có pháp luật hình sự đều cần phải hiểu theo nghĩa rộng Tuy nhiên, vì lí
do nhất định có thể giới hạn vấn đề theo nghĩa hẹp khi bàn về nguồn của pháp luật hình sự nhưng không được mặc nhiên coi nguồn của pháp luật hình sự chỉ là văn bản quy phạm pháp luật hình sự và ở Việt Nam chỉ la Bộ luật Hình sự (BLHS)10
12 TẠP CHÍLUẬT HỌC SỐ 4/2022
Trang 3NGHIÊM CL I - TRA o ĐÓI
Trong phạm vi bài viết này và để phù
hợp với mục đích của bài viết, nguồn của
pháp luật hình sự được hiểu là các văn bản
quy phạm pháp luật có nội dung quy định về
tội phạm, về trách nhiệm hình sự và hình phạt,
bao gồm các quy định chung về tội phạm, về
trách nhiệm hình sự và hình phạt cũng như
các quy định về hành vi phạm tội cụ thể và
khung hình phạt có thể áp dụng cho các hành
vi phạm tội cụ thể11 Trong đó, quy định về
hành vi phạm tội cụ thể được hiểu là sự xác
định cũng như mô tả hành vi bị coi là tội
phạm và có thể đặt tên cho hành vi phạm tội
(tội danh)11 12; quy định về khung hình phạt
được hiểu là sự ấn định mức tối thiểu và
mức tối đa của các khung hình phạt có thể áp
dụng cho hành vi phạm tội đã được xác định
Tổng hợp các quy định chung cũng như quy
định về tội phạm và hình phạt cụ thể tạo
thành hệ thống quy phạm pháp luật hình sự
Với các quy phạm pháp luật này, các cơ quan
tiến hành tố tụng hình sự có đủ cơ sở pháp lí
để có thể tiến hành việc truy cứu trách nhiệm
11 Cách hiểu này quy định cách hiểu nội dung thứ hai
của bài viết Neu hiểu theo nghĩa này thì mở rộng
nguồn của pháp luật hình sự Việt Nam chỉ là mở
rộng nguồn chứa đựng quy phạm pháp luật hình sự
mà không phải là mở rộng nguồn nói chung Theo
nghĩa mở rộng nguồn nói chung, từ năm 2014, theo
Luật Tổ chức tòa án nhân dân Việt Nam đã mở
rộng nguồn của pháp luật hình sự khi thừa nhận án
lệ (Xem: Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày
18/10/2015 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân
dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp
dụng án lệ).
12 Việc đặt tội danh không phải là bắt buộc Ví dụ:
Trong BLHS Trung Quốc, các hành vi phạm tội chỉ
được mô tả mà không được đặt tên Xem: Đinh
Bích Hà (Dịch và giới thiệu), Bộ luật Hình sự của
nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nxb Tư
pháp, Hà Nội, 2007.
hình sự người phạm tội theo trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng hình sự
Cách hiểu trên đây về nguồn của pháp luật hình sự có thể được coi là tương đương với cách hiểu về nguồn của pháp luật hình sự theo nghĩa hẹp cũng như với cách hiểu về nguồn trực tiếp của pháp luật hình sự Theo cách hiểu này thì những văn bản quy phạm pháp luật có tính giải thích, hướng dẫn cũng như án lệ đều không phải là nguồn (trực tiếp) của pháp luật hình sự Các thông tư liên tịch hay các nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một hoặc một số điều luật của BLHS chỉ có
ý nghĩa làm rõ, giúp cơ quan áp dụng hiểu và
áp dụng thống nhất một số điều của BLHS
Ớ đây, các điều luật của BLHS mới là căn cứ pháp lí của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự còn các thông tư liên tịch cũng như các nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao không phải là căn cứ pháp lí độc lập với các điều luật của BLHS
mà chỉ có ý nghĩa “đi cùng” các điều luật này Tương tự như vậy, các án lệ cũng không phải là căn cứ pháp lí độc lập với các điều luật của BLHS mà chỉ có ý nghĩa giải thích, hướng dẫn áp dụng điều luật cụ thể qua vụ
án cụ thể Như vậy, nguồn chứa đựng các quy phạm pháp luật hình sự và nguồn chứa đựng các quy định giải thích (giải thích chung hay giải thích qua vụ án cụ thể) thuộc hai loại khác nhau nên cần có sự phân biệt Ngoài ra, các luật thuộc các lĩnh vực khác nhau mà trong đó có các điều luật có thể được viện dẫn đến khi áp dụng điều luật
cụ thể của BLHS cũng không phải là nguồn
(trực tiếp) của pháp luật hình sự Ví dụ: Khi
xét xử các tội thuộc nhóm các tội xâm phạm
an toàn giao thông đường bộ theo BLHS,
TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ4/2022 13
Trang 4NGHIỀN CÚI - TRA o DÕI
Cần phải viện dẫn các điều luật có liên quan
của Luật Giao thông đường bộ hoặc khi xét
xử các tội thuộc nhóm các tội phạm về môi
trường, cần phải viện dẫn các điều luật có
liên quan của Luật Bảo vệ môi trường V.V
Các quy định này không phải là quy phạm
pháp luật hình sự mà vẫn là quy phạm pháp
luật của ngành luật tương ứng và có chức
năng điều chỉnh hoạt động của các chủ thể
trong lĩnh vực cụ thể
Tóm lại, nguồn của pháp luật hình sự
được hiểu trong bài viết này là nguồn của
pháp luật hình sự theo nghĩa hẹp Đó là các
văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các
quy phạm pháp luật hình sự - quy phạm xác
định tội phạm, quy định trách nhiệm hình sự
và hình phạt đối với tội phạm được xác định
2 Quy phạm pháp luật hình sự và
nguồn của pháp luật hình sự
Đe cập nguồn của pháp luật hình sự đòi
hỏi trước hết phải nói đến nội dung của quy
phạm pháp luật được chứa đựng trong đó
Nội dung của quy phạm pháp luật và hình
thức thể hiện quy phạm (nguồn của pháp
luật) là hai mặt của cùng vấn đề
về nội dung, quy phạm pháp luật được
chứa đựng trong nguồn của pháp luật hình sự
như trình bày trên là các quy phạm pháp luật
xác định hành vi bị coi là tội phạm, quy định
trách nhiệm hình sự và hình phạt cũng như
biện pháp hình sự phi hình phạt được áp
dụng đối với tội phạm đã được xác định Tập
hợp các quy phạm pháp luật có nội dung như
vậy tạo thành ngành luật hình sự hay được
gọi tắt là pháp luật hình sự Các quy phạm
pháp luật thuộc ngành luật hình sự hay có
thể được gọi tắt là các quy phạm pháp luật
hình sự gồm các quy định chung về tội phạm,
về trách nhiệm hình sự và hình phạt và các
quy định về từng tội cụ thể, về trách nhiệm hình sự và khung hình phạt đối với từng tội
cụ thể Trong đó, quy định chung là những quy định có tính chất là cơ sở cho việc quy định và áp dụng các quy định về các tội cụ thể cùng các khung hình phạt cụ thể, như khái niệm tội phạm, hệ thống hình phạt, nguyên tắc xử lí hình sự, hiệu lực của luật hình sự cũng như các chế định khác liên quan đến tội phạm và hình phạt như chế định đồng phạm, chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự, chế định miễn trách nhiệm hình sự V.V Quy định về từng tội phạm cụ thể được hiểu
là sự xác định cũng như mô tả hành vi bị coi
là tội phạm và có thể đặt tên cho hành vi phạm tội (tội danh)13; quy định về khung hình phạt được hiểu là sự xác định mức tối thiểu
và mức tối đa của các khung hình phạt có thể
áp dụng cho hành vi phạm tội cụ thể
13 Việc đặt tội danh không phải là bắt buộc Vỉ dụ: Trong BLHS Trung Quốc, các hành vi phạm tội chỉ được mô tà mà không được đặt tên Xem: Đinh Bích Hà (Dịch và giới thiệu), Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nxb Tư pháp,
Hà Nội, 2007.
về hình thức, các quy phạm pháp luật hình sự được thể hiện và chỉ có thể tồn tại trên văn bản cụ thể Đó là các văn bản quy phạm pháp luật hình sự và được gọi là nguồn của pháp luật hình sự, là cơ sở pháp lí của việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể cá nhân thực hiện tội phạm cũng như đối với chủ thể pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự
Như vậy, có thể nói một cách ngắn gọn, tội phạm và hình phạt phải được quy phạm pháp luật hình sự điều chỉnh và nội dung điều chỉnh được thể hiện trên văn bản pháp luật cụ thể là nguồn của pháp luật hình sự
Trang 5NGHIÊN cú t - TRA o ĐÒI
Việc tội phạm và hình phạt được điều chỉnh
bởi pháp luật xuất phát từ 02 nguyên tắc
chung đã được thừa nhận là:
- Nguyên tắc “Nullum crimen sine lege”
(không có luật thì không có tội phạm); và
- Nguyên tắc “Nulla poena sine lege”
(không có luật thì không có hình phạt)
Các nguyên tắc trên đây đòi hỏi tội phạm
và hình phạt phải được pháp luật điều chỉnh
nhưng không đòi hỏi hình thức văn bản thực
hiện nhiệm vụ điều chỉnh này “Luật” được
nói trong hai nguyên tắc trên không đồng nhất
với “luật” là một hình thức văn bản quy phạm
pháp luật14 (mà trước đây, Việt Nam gọi là
đạo luật) mà chỉ có nghĩa là pháp luật hay quy
định của pháp luật nói chung15 Theo đó,
không chỉ luật mà văn bản quy phạm pháp
luật dưới luật cũng có thể là nguồn của pháp
luật hình sự khi trong đó chứa đựng các quy
phạm pháp luật hình sự - quy phạm có nội
dung xác định tội phạm và quy định hình
phạt16 Bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng,
14 Xem: Hans-Heinrich Jescheck Thomas Weigend,
Giáo trình Luật hình sự - Phần chung, Nxb Duncker
& Humblot, Berlin, 1995, tr 115.
15 Trong cuốn “Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1 -
Những vấn đề chung” của Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, 2000, tác giả Đào Trí úc viết: “Việc xác
nhận và khăng định nguyên tắc pháp chế: “không
có tội phạm và không có hình phạt, nếu không có
luật” hoặc, nói cách khác “tội phạm và hình phạt
phải do luật hình sự quy định ”, khăng định căn cứ
duy nhất của việc xác định trách nhiệm hình sự là
pháp luật - pháp luật quy định hành vi tội phạm và
hình thức trách nhiệm hình sự đối với tội phạm
Ngoài pháp luật hình sự, không có gì có thể đóng
được vai trò đó ’’ (tr 294).
16 Thực tiễn lập pháp của Việt Nam trước đầy, cũng
như cùa một số quốc gia khác như Thụy Điển đều
thể hiện theo quan niệm này (xem: mục tiếp theo;
Điều 1 BLHS Thụy Điển) Xem: Trường Đại học Luật
Hà Nội, Bộ luật hình sự Thụy Điển, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, 2010.
17 Trước đây, để phân biệt văn bản luật không phải là
bộ luật với bộ luật chúng ta có khái niệm đạo luật Hiện nay, khái niệm này không còn được dùng vì theo Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thi trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chi có khái niệm luật mà không có khái niệm đạo luật Trong đó, luật được hiểu bao gồm cà bộ luật.
18 Lê Văn Cảm, sđd, tr 180.
19 Nguồn bổ sung cùa pháp luật hình sự được nói ở đây không bao gồm Hiến pháp mặc dù trong Hiến
do tính chất nghiêm khắc đặc biệt của chế tài hình sự nên các quy phạm pháp luật hình sự cần được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành Do vậy, nguồn của pháp luật hình sự phải là văn bản luật (bộ luật hoặc luật17) Theo đó, khi xác định nguồn của pháp luật hình sự theo nghĩa hẹp, một số tác giả thường mặc định là (đạo) luật hình sự và khang định: “Đạo luật hình sự là văn bản quy phạm pháp luật hình sự do cơ quan cao nhất thuộc nhóm quyền lập pháp của nhà nước ban hành, xác định những hành vi nào nguy hiểm cho xã hội là các tội phạm, cũng như cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự, các hình phạt ”18 Như vậy,
theo quan điểm này, các quy phạm pháp luật hình sự không thể được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật
Tuy khác nhau trong xác định hình thức văn bản có thể là nguồn thể hiện các quy phạm pháp luật hình sự nhưng tất cả đều thống nhất về sự cần thiết phải pháp điển hoá
để có nguồn chính của pháp luật hình sự là BLHS Điều đó có nghĩa, BLHS là mục tiêu
và cũng là kết quả của quá trình phát triển của ngành luật hình sự nhưng nguồn của pháp luật hình sự không đồng nhất với BLHS BLHS chỉ được coi là nguồn chính và là cơ
sở thống nhất cho các nguồn bổ sung khác19
Trang 6NGHIÊN CÚ L - TRA o ĐÔỈ
Theo đó, mô hình nguồn của pháp luật hình
sự gồm trung tâm là BLHS và hồ trợ “trung
tâm” là luật hình sự đơn lẻ và luật hình sự
phụ với vai trò là hai nguồn bổ sung2
pháp của một số quốc gia có một số quy phạm pháp
luật hình sự như quy định về việc Tổng thống
không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 68 Hiến
pháp Cộng hoà Pháp) hoặc quy định về việc bãi bỏ
hình phạt tử hình (Điều 102 Hiến pháp Cộng hoà
Liên bang Đức) V.V về vấn đề này xem: Hồ Sỹ
Son, “Nguồn của pháp luật hình sự nhìn từ góc độ
so sánh pháp luật hình sự một số nước trên thế giới”,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6(326)/2015.
20 Khái niệm luật hình sự đơn lẻ hay luật hình sự đơn
hành hay luật hình sự riêng lẻ là khái niệm đã được
nói đến nhiều và khá quen thuộc ở Việt Nam
Trong khi đó, khái niệm luật hình sự phụ là khái
niệm mới được nói đến ở Việt Nam Khái niệm này
lần đầu tiên được đề cập tại Hội thảo quốc tế: Pháp
luật hình sự cùa Việt Nam và Trung Quốc trong bối
cảnh hội nhập quốc tế, được tổ chức tháng 01/2013
tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
21 Đào Trí Úc, sđd, tr 308.
22 Reinhart Maurach & Heinz Zipf, Luật hình sự - Phần Chung, Nxb C.F Muller Juristischer Verlag, Heidelberg, 1992 (Bản tiếng Đức), tr 102.
23 về tính ổn định của BLHS, xem: Nguyễn Văn Cương (chủ biên), Tinh ôn định của pháp luật - Nhận thức, thực tiễn và giải pháp đối mới, Nxb Chính trị quốc
gia-Sự thật, Hà Nội, 2021, tr 28 và các trang tiếp theo; tr 99 và các trang tiếp theo.
24 Trước năm 1985, nguồn của pháp luật hình sự Việt Nam là các luật hình sự đơn lẻ như sắc luật, pháp lệnh V.V
Trước hết, về BLHS, đây là văn bản luật
mà trong đó tập hợp đầy đủ hoặc tương
đối đầy đủ các quy phạm pháp luật hình sự,
" là hình thức pháp điển hoả cao nhất của
pháp luật hình sự, tập trung trong đó toàn
bộ (hoặc hầu hết) các quy định về tội phạm
và về trách nhiệm hình sự và hình phạt ”2 Ớ
mức tối đa lí tưởng, BLHS cần chứa đựng
toàn bộ các quy phạm pháp luật hình sự Tuy
nhiên, đây là điều quá khó để có thể đạt
được một cách có hiệu quả Do vậy, yêu cầu
được đặt ra cho BLHS chỉ là tập hợp đầy đủ
ở mức tối đa các quy định chung về tội
phạm, về trách nhiệm hình sự và hình phạt;
còn đối với các quy định về tội cụ thể và
khung hình phạt cụ thể, BLHS chỉ cần thể
hiện cấu thành tội phạm và khung hình phạt
của các nhóm tội thông thường - Các nhóm
tội không thuộc các lĩnh vực chuyên biệt
Theo đó, ‘‘việc kết hợp vào BLHS tẩt cả các
cấu thành tội phạm cần thiết phát sinh trước hoặc sau khi có BLHS là không khả thi và không có ỷ nghĩa”20 21 22. Việc kết hợp này không chỉ ảnh hưởng đến tính ổn định của BLHS23 vì phải thường xuyên bổ sung, sửa đổi các điều luật cho phù hợp với tình hình tội phạm bị thay đổi do sự phát triển của các lĩnh vực chuyên biệt mà có thể còn ảnh hưởng đến tính đáp ứng kịp thời của pháp luật hình sự do sự chậm trễ bổ sung, sửa đổi các quy định về các tội thuộc lĩnh vực chuyên biệt mới phát sinh hoặc có sự thay đổi do sự phát triển của xã hội nói chung Khác với BLHS, mỗi luật hình sự đơn lẻ chỉ có một số quy phạm pháp luật hình sự về một tội, một nhóm tội hay về vấn đề chung nào đó của pháp luật hình sự Mỗi luật hình
sự đơn lẻ như vậy có thể giữ vai trò bổ sung cho BLHS trong trường hợp có BLHS; còn trong trường hợp không có BLHS thì mỗi luật hình sự đơn lẻ là một bộ phận và cùng với các luật hình sự đơn lẻ khác hợp thành nguồn của ngành luật hình sự24 Trong trường hợp bổ sung cho BLHS, các quy phạm pháp luật hình sự trong các luật hình sự đơn lẻ có the có nội dung thuộc Phần chung của ngành luật hình sự nhưng cũng có thể có nội dung
về tội cụ thể (mô tả cấu thành tội phạm và xác định các khung hình phạt) Vỉ dụ: Ở Cộng
Trang 7NGHIÊN CL V - TRAO Đõ I
hoà Liên bang Đức, bổ sung cho BLHS (năm
1871) có Luật Tòa án người chưa thành niên
(năm 1974) và Luật Hình sự quân sự (năm
1974) Hai luật này có nội dung tương tự
như nội dung của Chương XII (Những quy
định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội) và
Chương XXV (Các tội xâm phạm nghĩa vụ,
trách nhiệm của quân nhân ) trong BLHS
Việt Nam năm 2015 Tương tự như vậy, ở
Cộng hoà Áo, bổ sung cho BLHS (năm 1974)
có Luật liên bang về trách nhiệm của đơn vị
về các tội phạm (năm 2005) được gọi tắt là
Luật Trách nhiệm của đơn vị25 Luật này có
nội dung tương tự như nội dung Chương XI
(Những quy định đối với pháp nhân thương
mại phạm tội) trong BLHS Việt Nam năm 2015
Tóm lại, luật hình sự đơn lẻ là văn bản
quy phạm pháp luật quy định một hoặc một
số vấn đề chung của pháp luật hình sự hoặc
một hoặc một số tội cụ thế và các khung
hình phạt cụ thể
Khác với luật hình sự đơn lẻ, luật hình sự
phụ không tồn tại là một văn bản quy phạm
pháp luật hình sự cụ thể mà là tổng hợp các
quy phạm phạm pháp luật hình sự được thể
hiện ở các văn bản quy phạm pháp luật khác
nhau mà các văn bản quy phạm pháp luật
này có nội dung chính là điều chỉnh các lĩnh
vực khác nhau của đời sống xã hội và
thường được gọi là các văn bản quy phạm
pháp luật chuyên ngành hay là các luật
chuyên ngành26 Các luật chuyên ngành chứa
25 về nội dung của Luật này, xem: Nguyễn Ngọc Hòa
(chù biên), Trách nhiệm hình sự của pháp nhân
thương mại - Nhận thức cần thong nhất?, Nxb Tu
pháp, Hà Nội, 2020, tr 239 và các trang tiếp theo.
20 Các luật chuyên ngành ở đây được hiểu là các văn
bản quy phạm pháp luật thuộc các ngành luật như
ngành luật dân sự, ngành luật môi trường, ngành
luật đất đai V.V Trong các luật của một ngành luật
đựng trước hết các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chuyên ngành và bên cạnh đó còn có quy phạm pháp luật hình sự là các quy phạm xác định các hành vi vi phạm quy định của quy phạm pháp luật chuyên ngành là tội phạm và quy định các khung hình phạt có thể áp dụng cho các vi phạm bị coi là tội phạm này Như vậy, trong các luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Môi trường hay Luật Ngân hàng v.v có thể có hai loại quy phạm pháp luật khác nhau - quy phạm pháp luật chuyên ngành và quy phạm pháp luật hình sự Do vậy, có tác giả coi các luật chuyên ngành có quy phạm pháp luật hình sự là các văn bản có tính “hỗn họp” Đó là hồn họp giữa nội dung điều chỉnh lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực kinh tế-xã hội nhất định với nội dung " quy định
các biện pháp trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt trên cơ sở xác định các mức
độ trách nhiệm pháp lí khác nhau Các nội dung chứa đựng quy phạm pháp luật hình sự này còn được gọi là các điều luật hình sự’’21
Do việc quy định tội phạm và hình phạt chỉ
là một nội dung kèm theo trong các luật chuyên ngành nên các luật thuộc loại này có thể được gọi là luật có quy phạm pháp luật hình sự Các quy phạm pháp luật hình sự trong các luật này là các quy phạm quy định tội phạm cụ thể và khung hình phạt cụ thể
có thể có luật chung và luật chuyên biệt V.V Hiện nay, có nhiều cách hiêu khác nhau về luật chuyên ngành Tuy nhiên, ranh giới giữa luật chung, luật chuyên ngành hay luật chuyên biệt chi có tính tương đối Xem: Lê Bình, Dự thảo Luật Báo vệ môi trường (sừa đôi): Là luật chung hay luật chuyên ngành?, Báo điện tử Đại biểu nhân dân, https://www.daibieunhandan.vn/la-luat-chung-hay- luat-chuyen-nganh-pydqguyaOa-33897, truy cập 25/4/2022.
27 Đào Trí Úc, sđd, tr 306, 307.
Trang 8NGHIÊN CỦI - TRAO ĐỎI
Đây là điểm khác thứ hai của luật hình sự
phụ so với luật hình sự đơn lẻ
Tóm lại, luật hình sự phụ là tổng hợp các
quy phạm pháp luật hình sự được thể hiện ở
các luật chuyên ngành và có nội dung xác
định tội phạm cụ thể và quy định các khung
hình phạt cụ thể
Trong thực tiễn lập pháp của các quốc
gia, luật hình sự phụ là tương đối phổ biến
hơn so với luật hình sự đơn lẻ Khi quốc gia
đã có BLHS thì luật hình sự đơn lẻ chỉ có
tính cá biệt, trong khi luật hình sự phụ lại rất
phát triển cùng với sự phát triển của các luật
chuyên ngành đáp ứng nhu cầu cần được
điều chỉnh kịp thời và phù hợp bằng pháp
luật của các lĩnh vực khác nhau đang trong
sự phát triển không ngừng O đây, có thế lấy
một số ví dụ cụ thể: Theo các nhà khoa học
của Cộng hoà Liên bang Đức, ở quốc gia này
có số lượng lớn các luật thuộc các lĩnh vực
chuyên ngành chứa đựng các quy phạm pháp
luật hình sự - quy phạm quy định hành vi vi
phạm các luật này mà có thể bị xử lí bằng
hình phạt28 Trong số các luật này có một số
luật như Luật Công nghệ gen (năm 1990),
Bộ luật về Lương thực, thực phẩm (năm
2005), Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi
năm 2020), V.V Các luật này có nội dung
chính là điều chỉnh các vấn đề thuộc lĩnh vực
chuyên ngành nhung trong đó có một hoặc
một số điều luật xác định những hành vi bị
coi là tội phạm cũng như quy định các biện
pháp trách nhiệm hình sự kèm theo, trong đó
có hình phạt Những điều luật quy định về
tội phạm trong các luật chuyên ngành này là
bộ phận của các luật chuyên ngành nhưng lại
có ý nghĩa góp phần đảm bảo cho các luật
28 w Gropp, Luật hình sự Phần chung, Nxb springer,
2005, in lần thứ 3, tr 81 và trang tiếp theo.
29 Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên), Trách nhiệm hình sự
của pháp nhân thương mại - Nhận thức cần thông nhất?, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2020, tr 241.
30 về Luật hình sự phụ ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, xem: Hạ Dũng (chủ biên), Nghiên cứu so sảnh lập pháp hình sự Trung Việt, Nxb Pháp luật
(Trung Quốc), 2014, (song ngữ Trung Việt), tr 151
và các trang tiếp theo.
31 Điều 8 BLHS Nhật Bản quy định: “Các quy định
chung của phần này cũng có thế được áp dụng đối với các tội phạm mà hình phạt được ghi nhận bởi các luật hoặc quy định khác, Xem: BLHS Nhật
Bản (bản tiếng Anh) tại https://www.japaneselaw translation.go.jp/en/laws/view/3 5 81 /en#j e_pt 1, truy cập 25/4/2022.
32 Xem: Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên), Trách nhiệm hình sự của pháp nhăn thương mại - Nhận thức cần thống nhất?, sđd, tr 262 và các trang tiếp theo.
chuyên ngành được tuân thủ trong thực tế Ở Cộng hoà Áo, " Phần riêng của BLHS Ao quy định về 25 nhóm hành vi bị xử phạt (Ngoài ra), còn có một số nhóm tội phạm khác và những nhóm tội phạm này được quy định trong các luật hình sự phụ, như Luật Thông tin, Luật Thực phấm, Luật Hình sự tài chỉnh ”29 Tương tự như vậy, ở Cộng hoà nhân dân Trung Hoa cũng có số lượng luật hình sự phụ tương đối lớn30; Nhật Bản cũng xác định nguồn của pháp luật hình sự gồm cả Luật hình sự phụ31 Điều đặc biệt là trách nhiệm hình sự của pháp nhân về các tội cụ thể đều được thể hiện ở Luật hình sự phụ32 Tóm lại, nguồn của ngành luật hình sự
có thể là bộ luật hình sự, các luật hình sự đơn lẻ (chỉ có quy phạm pháp luật hình sự)
và các luật chuyên ngành có quy phạm pháp luật hình sự (quy phạm pháp luật hình sự như
là quy phạm kèm theo các quy phạm pháp luật chuyên ngành để đảm bảo tính khả thi của các quy phạm này) Nhiều quốc gia trên thế giới xây dựng ngành luật hình sự theo hướng có BLHS và các luật có quy phạm
18 TẠPCHÍ LUẬT HỌC SỐ 4/2022
Trang 9NGHIÊN cứư - TRAO ĐỠI
pháp luật hình sự33 Trong đó, BLHS quy
định những vấn đề chung về tội phạm, về
trách nhiệm hình sự và hình phạt cũng như
quy định những tội danh thông thường, còn
các luật có quy phạm pháp luật hình sự quy
định tội thuộc những lĩnh vực chuyên biệt
33 Quan điểm này có thể được thể hiện rõ trong điều
luật định nghĩa khái niệm tội phạm cùa BLHS Vi
dụ: Điều 1 BLHS Thuỵ Điển quy định: “Tội phạm
là hành vi được quy định trong Bộ luật này hoặc luật
hoặc các văn bản pháp luật khác ” (Xem: BLHS
Thuỵ Điển, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010);
Điều 3 BLHS Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy
định: “Chi những hành vi mà pháp luật quy định rõ
ràng là hành vi phạm tội thì người có hành vi đó mới
bị kết án hoặc bị xử phạt ” (Xem: BLHS Cộng hoà
nhân dân Trung Hoa, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2007;
Điều 1 BLHS Cộng hoà Liên bang Đức quy định:
Một hành vi chỉ có thể bị xử phạt nếu việc xử phạt
đã được luật quy định trước khi hành vi được thực
hiện (Xem: BLHS Cộng hoà Liên bang Đức, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội, 2010); V.V
34 Xem: Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ; Chi thị số 772-TATC ngày 10/7/1959 của Toà án nhân dân tối cao.
3 Nguồn của pháp luật hình sự Việt
Nam từ năm 1945 đến nay
- Trước năm 1986 - thời điểm BLHS năm
1985 có hiệu lực, Việt Nam không có cả bộ
luật hình sự lần (đạo) luật hình sự Văn bản
quy phạm pháp luật chứa đựng các quy
phạm pháp luật hình sự và được coi là nguồn
của ngành luật hình sự trong giai đoạn này
chỉ bao gồm những văn bản dưới luật, trong
đó chủ yếu là các pháp lệnh Trong giai đoạn
này, các pháp lệnh được áp dụng là Pháp lệnh
Trừng trị các tội phản cách mạng (năm 1967),
Pháp lệnh Trừng trị các tội xâm phạm tài sản
xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh Trừng trị các
tội xâm phạm tài sản riêng của công dân (năm
1970), Pháp lệnh Trừng trị tội hối lộ (năm
1981), Pháp lệnh Trừng trị các tội đầu cơ,
buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép
(năm 1982) V.V Văn bản quy phạm pháp luật
quy định được nhiều nhóm tội phạm trong
giai đoạn này là sắc luật số 03 năm 1976 Trong đó, các nhóm tội phạm được quy định một cách đơn giản gồm: Các tội phản cách mạng, các tội xâm phạm tài sản công cộng, các tội xâm phạm thân thể, nhân phẩm, sức khoẻ, tài sản riêng của công dân, các tội kinh
tế, các tội chức vụ, hối lộ và các tội xâm phạm trật tự, an toàn công công Ngoài các pháp lệnh và sắc luật kể trên, thông tư cũng được coi là nguồn của ngành luật hình sự34 Tóm lại, trong giai đoạn này, nguồn của pháp luật hình sự Việt Nam không bó gọn trong một văn bản quy phạm pháp luật mà gồm nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các hình thức văn bản khác nhau và tất
cả đều thuộc Luật hình sự đơn lẻ
- Từ năm 1986, Việt Nam xác định văn bản quy phạm pháp luật duy nhất được phép quy định tội phạm, trách nhiệm hình sự và hình phạt là BLHS Điều này được thể hiện rất rõ tại quy định về khái niệm tội phạm trong cả ba bộ luật - BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 Cả ba bộ luật này, khi định nghĩa khái niệm tội phạm tại Điều 8 đều khẳng định tội phạm là hành vi nguy hiếm cho xã hội “được quy định trong
bộ luật Tương tự như vậy, trong ba bộ luật này, điều luật quy định về cơ sở cũa trách nhiệm hình sự đều khẳng định: “Chì
người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”
(khoản 1 Điều 2 BLHS năm 2015) Như vậy, theo các BLHS của Việt Nam, nguồn của pháp luật hình sự Việt Nam là BLHS và không có các nguồn khác, không có văn bản quy phạm pháp luật nào được phép có quy
Trang 10NGHIÊN cứt - TRA o ĐỜI
phạm pháp luật hình sự, không có luật hình
sự đơn lẻ cũng như luật hình sự phụ
Do bị ràng buộc bởi quy định này mà tất
cả các luật khác chỉ có thể chỉ dẫn đến BLHS
trong trường hợp muốn xác định trách nhiệm
hình sự cho những hành vi vi phạm quy định
của luật ở mức phải bị coi là tội phạm Đó là
các luật phòng chống các nhóm hành vi nguy
hiểm cho xã hội nhất định (sau đây được gọi
tắt là các luật phòng, chống) như: Luật Phòng,
chống ma tuý; Luật Phòng, chống bạo lực
gia đình; Luật Phòng, chống tham nhũng;
Luật Phòng, chống buôn bán người V.V
cũng như là các luật chuyên ngành như Luật
Bảo hiểm xã hội; Luật Bảo vệ môi trường;
Luật Đất đai V.V Theo đó, các luật phòng,
chống và các luật chuyên ngành khi được
ban hành cũng như khi được sửa đổi luôn đặt
ra yêu cầu tội phạm hoá cũng như phi tội
phạm hoá những hành vi vi phạm nhất định
cho BLHS và yêu cầu này ngày càng phát
triển về tốc độ và phạm vi cùng với sự phát
triển của xã hội nói chung Tuy nhiên, khả
năng của BLHS đáp ứng các yêu cầu này là
có giới hạn Từ đó, phát sinh nhu cầu cần
phải mở rộng nguồn của pháp luật hình sự
Khi tiến hành soạn thảo BLHS năm 1999
thay thế cho BLHS năm 1985, vấn đề giữ
nguyên không cho phép hay cho phép các
luật khác cũng có quy phạm pháp luật hình sự
đã được đặt ra Tuy nhiên, ngay từ đầu, vấn
đề này đã được đưa ra ngoài phạm vi sửa đổi
Vấn đề mở rộng nguồn của pháp luật hình
sự tiếp tục được đưa ra khi soạn thảo BLHS
năm 2015 thay thế cho BLHS năm 1999
Theo đó, cần “nghiên cứu khả năng mở rộng
nguồn của luật hình sự theo hướng tội phạm
và hình phạt không chỉ được quy định trong
BLHS mà còn cỏ thế được quy định trong các
luật chuyên ngành ”35 Trong lần sửa đổi này,
đã có bước tiến xa hơn trong việc xem xét mở rộng nguồn của pháp luật hình sự khi ban soạn thảo đã có sự nhất trí với việc cho phép các luật khác cũng được quy định tội phạm
và hình phạt36 Tuy nhiên, kết quả cuối cùng vẫn không như mong đợi37 BLHS năm 2015 vẫn khẳng định sự “độc quyền” của mình trong quy định tội phạm và hình phạt
35 Bộ Tư pháp, Báo cáo kết quả tổng kết thực tiền thi hanh BLHS, thấngO2/2OÌ5,tr.33.
36 về hoạt động nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề này, có thể nêu một số ví dụ: Nguyễn Ngọc Hoà, “Nguồn của pháp luật hình sự - những yêu cầu được đặt ra cho pháp luật hình sự Việt Nam”,
Tạp chí Luật học, số 7/2011; Nguyễn Ngọc Hoà,
“Các định hướng sửa đổi, bổ sung BLHS Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 4/2013; Bộ Tư pháp,
Khả năng mở rộng nguồn của luật hình sự, Tọa
đàm của Hội đồng khoa học Bộ (4/2014); Hồ Sỹ Sơn, “Nguồn của luật hình sự nhìn từ góc độ so sánh pháp luật hình sự một số nước trên thế giới”,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6(326)/2015.
37 Bộ Tư pháp, Báo cáo về việc tiếp thu và giải trình ỷ
kiến của Hội đồng thấm định đối với dự án BLHS (sửa đổi), tháng 02/2015.
4 Mở rộng nguồn của pháp luật hình
sự - cơ sở lí luận và thực tiễn
Bó hẹp nguồn của pháp luật hình sự chỉ
là BLHS là quan niệm không đúng về mặt lí luận nhưng có thể phù hợp với thực tế khi ban hành BLHS đầu tiên năm 1985 Khi đó, BLHS này có thể đáp ứng được yêu cầu chống và phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội và song hành với
nó là diễn biến ngày càng phức tạp của tình hình tội phạm, BLHS với vị trí là nguồn duy nhất của pháp luật hình sự ngày càng không đáp ứng được kịp thời và đầy đủ yêu cầu chống và phòng ngừa tội phạm BLHS năm
1985 là kết quả của việc pháp điển hoá, đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử lập pháp hình
20 TẠPCHÍLUẬT HỌC SỐ 4/2022