1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Về thẩm quyền kiến nghị của viện kiểm sát trong công tác kiểm sát hoạt động tư pháp và thẩm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm

5 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Về thẩm quyền kiến nghị của viện kiểm sát trong công tác kiểm sát hoạt động tư pháp và thẩm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm
Tác giả Nhưng tác giả không rõ danh tính
Trường học Học Viện Tư Pháp
Chuyên ngành Luật tố tụng hình sự và dân sự
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 383,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường hợp hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này

Trang 1

CÔNG TÁC KIỂM SÁT

VÉ THẨM QUYỀN KIÊN NGHỊ CÙA VIỆN KIỂM SÁT

TRONG CÔNG TÁC KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TV PHÁP VÀ

THẨM QUYẾN ĐỂ NGHỊ KHÁNG NGHỊ GIÁM Đốc THẨM

DƯƠNG THANH QUANG *

*Phó Trường phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tình Tiền Giang.

Kiến nghị là một trong những quyền năng pháp lý của Viện kiềm sát

nhân dân trong thực hiện chức năng thực hành quyền công tổ và

kiểm sát hoạt động tư pháp Thẩm quyền kiến nghị của Viện kiểm sát

được quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014,

Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản

hướng dẫn Tuy nhiên, thực tiễn việc thực hiện thẩm quyền kiến

nghị vẫn còn bất cập.

Từ khỏa: Thẩm quyền kiến nghị; thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm

Nhận bài: 07/10/2021; biên tập xong: 19/10/2021; duyệt bài: 25/10/2021.

Khoản 2 Điều 5 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

(VKSND) năm 2014 quy

định: “2 Trường hợp hành vi, quyết

định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong

hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít

nghiêm trọng không thuộc trường hợp

kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này

thì VKSND kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá

nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và

xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp

luật; nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong

hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan,

tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của VKSND theo quy định của pháp luật”

Như vậy, ngoài kiến nghị yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư

Tạp chí

Sô 09/2022VkIÉM sát 11

Trang 2

CÔNG TÁC KIẾM SÁT

pháp khắc phục vi phạm thì Viện kiểm sát

còn kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan

khắc phục và áp dụng các biện pháp

phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội

phạm Ngoài ra, tại Chương II Luật tổ

chức VKSND năm 2014 quy định các

công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ

của VKSND và trong từng khâu công tác

quy định cụ thể thẩm quyền kiến nghị của

Viện kiểm sát Trong phạm vi bài viết này,

tác giả phân tích về thẩm quyền kiến nghị

của VKSND cấp tỉnh và cấp huyện

Thứ nhất, về thẩm quyền kiến nghị

yêu cầu khắc phục vi phạm trong hoạt

động tư pháp

Tại khoản 3 Điều 41 Luật tổ chức

VKSND năm 2014 quy định: “3 Viện

kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, VKSND cấp

huyện thực hành quyền công tố, kiểm sát

hoạt động tư pháp trong phạm vi địa

phương mình”

Như vậy, có thể khẳng định, thẩm

quyền kiến nghị đối với cơ quan, tổ chức,

cá nhân trong hoạt động tư pháp là những

cơ quan ngang cấp và cấp dưới của

VKSND Hoạt động tư pháp ở đây được

hiểu bao gồm cả hoạt động bổ trợ tư pháp

Vì vậy, VKSND cấp tỉnh có thể kiến nghị

đối với những vi phạm của cơ quan, tổ

chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp cấp

tỉnh, cấp huyện, cấp xã VKSND cấp

huyện kiến nghị đối với những vi phạm

trong hoạt động tư pháp của cấp huyện,

cấp xã Đối với các cơ quan tư pháp thì

phân cấp theo cấp hành chính thì đã rõ

Tuy nhiên, một số cơ quan có chức năng

bổ trợ tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý

I Tạp chí

12 KIỂM SÁ I Sô 09X2022

của cấp tỉnh đóng tại địa phương như: Các Văn phòng công chứng, Văn phòng thừa phát lại trực thuộc Sở tư pháp, Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên

và Môi trường thì các cơ quan này có được xem là cơ quan ngang cấp huyện không, và VKSND cấp huyện có thẩm quyền kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm trong công tác bổ trợ tư pháp đối với các cơ quan này không Hiện nay, các địa phương cấp huyện vẫn thực hiện kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm đối với các cơ quan này, một số đơn vị thì không thực hiện nên chưa thống nhất, cần có hướng dẫn cụ thể

Thứ hai, về thẩm quyền kiến nghị cơ

quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm (kiến nghị phòng ngừa) Khoản 2 Điều 5 Luật tổ chức VKSND năm 2014 nêu rõ: “Nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục

và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm.”, về thẩm quyền kiến nghị phòng ngừa có một số vấn đề đặt ra như sau:

- về thấm quyền kiến nghị theo cấp có được hiểu như thẩm quyền kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm trong hoạt động tư pháp không

Ỷ kiến thứ nhẩt cho rằng, khoản 3

Điều 41 Luật tổ chức VKSND năm 2014 chỉ quy định chung về chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp mà không quy định rõ thẩm quyền kiến nghị phòng ngừa nên VKSND

Trang 3

CÔNG TÁC KIỂM SÁT

cấp huyện qua kiểm sát hoạt động tư

pháp phát hiện vi phạm trong hoạt động

tư pháp, và nhất là công tác bổ trợ tư

pháp mà do sơ hở thiếu sót trong hoạt

động quản lý của cấp tỉnh nên có thể kiến

nghị đến cơ quan quản lý nhà nước cấp

tỉnh đề nghị chỉ đạo khắc phục, phòng

ngừa chung, và thực chất đã có đơn vị

cấp huyện thực hiện kiến nghị đến đơn vị

cấp sở và được chấp nhận, có văn bản chỉ

đạo khắc phục, nhất là vi phạm của các

Văn phòng công chứng, Văn phòng thừa

phát lại

Ỷ kiến thứ hai cho rằng, VKSND cấp

huyện không có thẩm quyền kiến nghị

phòng ngừa đối với các cơ quan quản lý

cấp trên, việc kiến nghị các cơ quan quản

lý nhà nước cấp tỉnh phải do VKSND cấp

tỉnh thực hiện

Theo tác giả, trong khi chưa có hướng

dẫn thực hiện thống nhất thẩm quyền kiến

nghị phòng ngừa thì VKSND cấp huyện

nên tập hợp những vi phạm của các cơ

quan tư pháp, bổ trợ tư pháp báo cáo, đề

nghị VKSND tỉnh tổng hợp vi phạm trong

toàn tỉnh để kiến nghị phòng ngừa chung

vừa đảm bảo nguyên tắc thẩm quyền theo

cấp hành chính và mang lại hiệu quả kiến

nghị cao

- về kiến nghị phòng ngừa trong thực

hành quyền công tố và kiểm sát giải quyết

án hình sự

Luật tổ chức VKSND năm 2014 chỉ

quy định về kiến nghị phòng ngừa thông

qua hoạt động thực hành quyền công tố

và kiểm sát điều tra, hoạt động thực hành

quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư

pháp trong giai đoạn truy tố Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, chúng ta đều ban hành kiến nghị phòng ngừa trong cả 4 giai đoạn: Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra; thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố; thực hành quyền công tố và kiếm sát xét xử vụ án hình sự Đồng thời các hệ thống chỉ tiêu nghiệp vụ ngành và tiêu chí thống kê cũng có yêu cầu thống

kê kiến nghị phòng ngừa của các giai đoạn trên Trong khi đó, Điều 13, Điều

19 Luật tổ chức VKSND năm 2014, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi,

bổ sung năm 2021 (gọi tắt là BLTTHS năm 2015) cũng không quy định rõ thẩm quyền này Như vậy, khi ban hành kiến nghị phòng ngừa, thì báo cáo, thống kê là kiến nghị phòng ngừa thông qua kiểm sát tin báo, kiểm sát điều tra, hoạt động truy

tố hay kiểm sát xét xử Thực tế, thực hiện nội dung này là không thống nhất

Qua công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, kiểm sát điều tra, truy

tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự thì chúng ta mới có cơ sở xác định là có sơ

hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý và kiến nghị phòng ngừa vi phạm, tội phạm Tuy nhiên, việc xác định là có sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý để ban hành kiến nghị phòng ngừa cũng là vấn

đe đặt ra Hiện nay, nhiều đơn vị ban hành kiến nghị phòng ngừa cũng không chỉ ra

Tạp chí SỐ09/2022\_KIẺM SÁT 13

Trang 4

CÔNG TÁC KIỂM SÁT

là có sơ hở, thiếu sót trong hoạt động

quản lý Điển hình là nhiều đơn vị cấp

huyện nhận thấy tình trạng ly hôn trên địa

bàn huyện ngày càng tăng nên ban hành

kiến nghị đến Chủ tịch UBND cấp huyện

đề nghị có biện pháp để hạn chế tình

trạng ly hôn trên địa bàn Theo tác giả, để

kiến nghị phòng ngừa cần xác định được

vi phạm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân

trong hoạt động tư pháp, qua đó xác định

là có sơ hở, thiếu sót trong hoạt động

quản lý đê ban hành kiên nghị phòng

ngừa Ví dụ như: Phòng Tư pháp thiếu

kiểm tra, giám sát để xảy ra vi phạm

trong công tác công chứng, chứng thực

của UBND cấp xã dẫn đến việc giải quyết

vụ án dân sự tại Tòa án không đúng pháp

luật; Sở Tài Nguyên và Môi trường thiếu

kiểm tra, quản lý để Văn phòng đăng ký

đất đai chậm cung cấp thông tin về đất đai

theo yêu cầu của Tòa án, dẫn đến vụ án bị

kéo dài

- về nội dung kiến nghị phòng ngừa,

nhiều đơn vị hiện nay ban hành kiến nghị

phòng ngừa thường yêu cầu các cơ quan

được kiến nghị áp dụng các biện pháp

theo chức năng, nhiệm vụ chuyên môn

của các cơ quan đó đế phòng ngừa vi

phạm như: Tăng cường công tác tuyên

truyền, giáo dục, tăng cường công tác

kiểm tra, giám sát, tổ chức tập huấn

chuyên môn Theo tác giả, kiến nghị

phòng ngừa cần chỉ ra các vi phạm của

cơ quan, tố chức và đề nghị cơ quan quản

lý chỉ đạo các cơ quan trực thuộc có biện

pháp chấn chỉnh, khắc phục, không để

xảy ra vi phạm như kiến nghị của Viện

kiềm sát, còn biện pháp thực hiện thế nào

là trách nhiệm của cơ quan bị kiến nghị Tuy nhiên,mếu cấp ủy, chính quyền địa phương có yêu cầu, đề nghị thì có thể tham mưu một số biện pháp để chỉ đạo thực hiện, nhưng không đi quá sâu vào chuyên môn của các cơ quan khác

về thẩm quyền đề nghị kháng nghị vụ

án hình sự, dân sự, hành chính theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án dân dân cấp huyện đã có hiệu lực pháp luật Hiện nay, có quan điểm cho rằng, thẩm quyền đề nghị Viện trưởng VKSND cấp cao kháng nghị theo thủ tục giám thẩm đối với bản án, quyết định về hình sự, dân sự, hành chính của TAND cấp huyện đã có hiệu lực pháp luật

là của VKSND cấp tỉnh; VKSND cấp huyện không có thẩm quyền này, khi phát hiện vi phạm cần kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, VKSND cấp huyện báo cáo VKSND tỉnh để VKSND tỉnh xem xét, quyết định ban hành thông báo đề nghị Viện trưởng VKSND cấp cao kháng nghị theo thủ tục giám thẩm

Thực tế hiện nay, khi kiểm sát bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện phát hiện có vi phạm cần phải kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì VKSND cấp huyện thường không trực tiếp thông báo đến VKSND cấp cao đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, mà báo cáo đến VKSND cấp tỉnh Viện kiểm sát nhân dân tỉnh xem xét thấy

có căn cứ thì ban hành thông báo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm gửi đến VKSND cấp cao Do đó có thể xảy ra

Tạp chí

14 KIỂM SÁ I Sô 09/2022

Trang 5

trường hợp, VKSND cấp huyện báo cáo

VKSND tỉnh đề nghị kháng nghị giám

đốc thẩm, VKSND cấp tỉnh không thống

nhất với đề nghị kháng nghị, nhưng sau đó

VKSND cấp cao kháng nghị theo yêu cầu

của đương sự

Theo tác giả, VKSND cấp huyện có

quyền trực tiếp đề nghị kháng nghị giám

đốc thẩm khi kiểm sát bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp

huyện phát hiện có vi phạm theo các căn

cứ sau:

Điều 327 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 quy định: “2 Trường họp Tòa án,

Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức, cá

nhân khác phát hiện có vi phạm pháp luật

trong bản án, quyết định của Tòa án đã có

hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng

văn bản cho người có thẩm quyền kháng

nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật

này” Theo Chỉ thị số 07/CT-VKSTC ngày

06/8/2021 của Viện trưởng VKSND tối cao

thì: “5.1 Viện kiểm sát nhân dân các cấp

kiểm sát bản án, quyết định dân sự, hành

chính của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật,

nếu phát hiện có căn cứ để kháng nghị

giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì thông báo

đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm

quyền xem xét kháng nghị giám đốc thẩm,

tái thẩm theo quy định của pháp luật”

Khoản 1 Điều 374 BLTTHS năm 2015

quy định: “Khi phát hiện vi phạm pháp

luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật thì người bị kết án,

cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo bằng

văn bản hoặc trình bày trực tiếp với người

có thẩm quyền kháng nghị hoặc với Tòa

CÔNG TÁC KIỀM SÁT

án, Viện kiểm sát nơi gần nhất kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) Theo khoản 1 Điều 52 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xừ vụ án hình sự, ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao thì: “1 Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện việc kiểm sát bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng cấp và cấp dưới để phát hiện vi phạm pháp luật và kiến nghị hoặc thông báo ngay bằng văn bản cho Viện trưởng VKSND cấp cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện nếu không đồng ý với quan điểm không kháng nghị của Viện trưởng VKSND cấp cao thi có văn bản đề nghị VKSND tối cao xem xét”

Các quy định trên không hạn chế quyền

đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm của VKSND cấp huyện Tuy nhiên, để đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành, đảm bảo thông báo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm có căn cứ, đúng quy định, theo tôi khi phát hiện bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp có vi phạm pháp luật, VKSND cấp huyện báo cáo VKSND tỉnh để xem xét, quyết định ban hành thông báo đề nghị Viện trưởng VKSND cấp cao kháng nghị theo thủ tục giám thẩm Trường hợp VKSND cấp tỉnh không thống nhất với quan điểm đề nghị kháng nghị của VKSND cấp huyện thì VKSND cấp huyện có thể trực tiếp ban hành thông báo đề nghị Viện trưởng VKSND cấp cao kháng nghị theo thủ tục giám thẩm theo thẩm quyền.□

Tạp chí SỐO9/2O22\_KIẺM SÁT

15

Ngày đăng: 29/10/2022, 13:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm