Vai trò của quản trị địa phương trong các dự án khởi nghiệp tại Việt Nam đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong đ sự hỗ trợ của địa phương là yếu tố được quan tâm hàng đầu vì có ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của các dự án khởi nghiệp. Bài viết trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của dự án khởi nghiệp: Trường hợp nghiên cứu tại Bình Dương.
Trang 1YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THÀNH CÔNG CỦA DỰ ÁN KHỞI NGHIỆP:
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI BÌNH DƯƠNG
ThS Nguyễn Ngọc Mai
Khoa Khoa học quản lý, Đại học Thủ Dầu Một
Tóm tắt
Vai trò của quản trị địa phương trong các dự án khởi nghiệp tại Việt Nam đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong đ sự hỗ trợ của địa phương là yếu tố được quan tâm hàng đầu vì có ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của các dự
án khởi nghiệp Nghiên cứu về sự thành công của dự án khởi nghiệp tại Việt Nam được thực hiện dựa trên mô hình S/F nhằm tìm kiếm các yếu tố thích hợp ảnh hưởng đến dự án khởi nghiệp tại Việt Nam: trường hợp nghiên cứu tại ình Dương Tác giả khảo sát 418 piếu khảo sát và kết quả có 187 khảo sát đạt yêu cầu và được đưa vào phân tích Việc phân tích để tìm ra các yếu tố được thực hiện qua hai bước: Thống kê
mô tả và hồi quy Logistic Kết quả đạt được của nghiên cứu này cho thấy đối với điều kiện của ình Dương thì c tất cả 6 nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của một dự án khởi nghiệp bao gồm: Vốn ban đầu, Kiểm soát tài chính, Kế hoạch kinh doanh, Kiến thức về chiêu thị, Tư vấn của chuyên gia và Hỗ trợ của địa phương Nghiên cứu này có thể giúp các nhà khởi nghiệp biết mình cần phải chuẩn bị gì trước khi tiến hành kinh doanh
Từ khóa: Yếu tố, dự án, khởi nghiệp, thành công, quản trị địa phương, hỗ trợ của địa phương
1 Giới thiệu
Khởi nghiệp hiện tại đang được chính phủ Việt Nam đưa lên ưu tiên hàng đầu để phát triển doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu đến năm 2020 cả nước sẽ có một triệu doanh nghiệp và biến Việt Nam thành một quốc gia có tinh thần khởi nghiệp Mặt khác, theo thống kê của phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thì cả nước hiện tại có khoảng 600.000 doanh nghiệp với 96% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Cũng theo đánh giá của VCCI thì các doanh nghiệp này tuy đã đóng góp tới 50% GDP và 62% việc làm trên toàn quốc nhưng chỉ riêng quý I/2017 thì tỷ lệ doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng hoạt động trên số doanh nghiệp thành lập mới lên tới 96,6% Điều này khiến cho môi trường đầu tư nhiều biến động, gây ảnh hưởng xấu lên khả năng thu hút đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài Sobel & King (2008) cũng cho rằng để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế thì khởi nghiệp là một chìa khóa rất quan trọng Ngoài ra, khởi nghiệp cũng giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp và từ đó làm cho
xã hội phát triển (Sesen, 2013) Chính vì vậy, việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến dự
án khởi nghiệp cho các doanh nghiệp tại Bình Dương nhằm giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp có thể trụ vững và phát triển đang là một nhu cầu cấp bách
2 Cơ sở lý luận
Trang 2Nghiên cứu này sẽ sử dụng mô hình S/F nhằm tìm kiếm các yếu tố thích hợp ảnh hưởng đến dự án khởi nghiệp tại Bình Dương Rất nhiều mô hình S/F được các nhà nghiên cứu đưa ra trong các nghiên cứu trước (Cooper et al., 1991; Pompe & Bilderbeek, 2005; ) Tuy nhiên, trong nghiên cứu này thì chúng tôi sẽ sử dụng mô hình S/F của Lussier (1995) bao gồm 15 biến vì mô hình của Lussier đã được kiểm chứng tại nhiều quốc gia như tại Mỹ (Bắc Mỹ), Croatia (Nam Âu), Chile (Nam Mỹ) và Israel (Trung Đông) Có thể thấy, các nghiên cứu trên được thực hiện tại các quốc gia
có nền kinh tế phát triển Trong khi đó, việc nghiên cứu mô hình S/F tại một quốc gia Đông Nam Á có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam lại chưa từng được thực hiện Cho nên, việc thực hiện kiểm định mô hình này tại một quốc gia có điều kiện khác (kinh tế, chính trị, vị trí địa lý, …) là điều cần thiết nhằm làm tăng tính khoa học cho các mô hình được phát hiện
Mười lăm biến trong mô hình S/F của Lussier bao gồm: Vốn ban đầu, kiểm soát
tài chính và các tài liệu, kinh nghiệm kinh doanh, kinh nghiệm quản lý, kế hoạch kinh doanh, đào tạo, bố trí nhân sự, chu kỳ sản phẩm, cộng sự, kiến thức về chiêu thị, tư vấn chuyên gia, độ tuổi của chủ sở hữu, người thân là chủ doanh nghiệp, chu kỳ của nền kinh tế và dân tộc thiểu số
Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, các biến dân tộc thiểu số (hơn 70% dân số Việt Nam là dân tộc Kinh, phân bố chủ yếu ở đồng bằng và thành thị nơi có điều kiện để khởi nghiệp), chu kỳ của nền kinh tế (do nghiên cứu tập trung vào khởi nghiệp và đặc điểm của Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đại đa số nên chu kỳ kinh tế của đất nước có tác động rất nhỏ đến hoạt động của doanh nghiệp loại này) sẽ bị loại khỏi nghiên cứu do không phù hợp với điều kiện Việt Nam
Các biến trong mô hình S/F của Lussier đã được nhiều nghiên cứu chứng minh
về tầm ảnh hưởng của nó đến sự thành công hay thất bại của một dự án khởi nghiệp
Có thể kể đến các nghiên cứu của Zamberi Ahmad (2012), Klonowski (2012) chỉ ra tầm quan trọng của các nhân tố về tài chính như vốn, kiểm soát tài chính, … tới hoạt động khởi nghiệp Các nghiên cứu khác về sự thành công của doanh nghiệp với kinh nghiệm kinh doanh trước đó và nguồn nhân sự (Saffu và ctg, 2008), kiến thức và kinh nghiệm quản lý (Lewrick và ctg, 2011), kiến thức và định hướng về tiếp thị (Lewrick
và ctg., 2011), độ tuổi khởi nghiệp hoặc chất lượng giáo dục (Zamberi Ahmad, 2012; Ndedi, 2013), ảnh hưởng của việc tiếp cận với các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp (Grimaldi và Grandi, 2005; MacAdam và McAdam, 2006), hoặc người thân là chủ doanh nghiệp có tác động tích cực đến thành công của khởi nghiệp (Chang và ctg, 2009) đã giúp cho mô hình của Lussier càng thêm tin cậy Tuy rằng, trong các nghiên cứu trước của Lussier thì ở các nước khác nhau sẽ được các yếu tổ ảnh hưởng khác nhau, nhưng các giả thuyết nghiên cứu chính của mô hình này cũng sẽ được sử dụng cho điều kiện của Việt Nam
Mặt khác, một yếu tố không nằm trong 15 nhân tố của Lussier là yếu tố hỗ trợ của địa phương cũng được rất nhiều chuyên gia đề cập đến trong các nghiên cứu của
Trang 3mình như là một yếu tố quan trọng mang lại sự thành công cho dự án khởi nghiệp (Olatomide & Omowumi, 2015) Theo Wagner & Sternberg (2004), Ľubica Lesáková (2012) cho rằng vai trò của chính sách địa phương có ảnh hưởng đến khởi nghiệp của thanh niên, doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo khảo sát chuyên gia cho rằng tại Việt Nam, nhất là chính sách của Việt Nam còn nặng về thủ tục hành chính, sự ủng hộ của chính quyền địa phương rất quan trọng khi thực hiện dự án khởi nghiệp, có được sự hỗ trợ mở cửa từ chính quyền thì dự án khởi nghiệp dễ thành công hơn Vì vậy yếu tố hỗ trợ của địa phương cần thiết đưa vào mô hình nghiên cứu đối với trường hợp ở Việt Nam
Vậy giả thuyết nghiên cứu là: Các nhân tố Vốn ban đầu, kiểm soát tài chính, kinh
nghiệm kinh doanh, kinh nghiệm quản lý, kế hoạch kinh doanh, đào tạo, bố trí nhân
sự, chu kỳ sản phẩm, cộng sự, kiến thức về chiêu thị, tư vấn chuyên gia, độ tuổi của chủ sở hữu, người thân là chủ doanh nghiệp và hỗ trợ của địa phương có ảnh hưởng
đến sự thành công hay thất bại của dự án nghiệp
3 Phương pháp nghiên cứu
Bảng khảo sát
Do đối tượng nghiên cứu là sự thành công của dự án khởi nghiệp nên đối tượng khảo sát chính trong nghiên cứu này là những cá nhân có thể đọc và hiểu tiếng Việt đã
và đang làm chủ doanh nghiệp tại Bình Dương Số liệu khảo sát được thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp hoặc gián tiếp qua Internet bằng bảng câu hỏi dựa trên nghiên cứu gốc đã được kiểm định của Lussier (1995) Tuy nhiên, do Việt Nam không
sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ giao dịch chính nên các câu hỏi đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt Sau đó, một nghiên cứu sơ bộ trên 30 doanh nhân người Việt đang làm việc tại Bình Dương được nghiên cứu thực hiện nhằm đảm bảo rằng các doanh nhân người Việt có thể hiểu được chính xác nội dung của các câu hỏi Một số điều chỉnh nhỏ về từ ngữ đã được nghiên cứu thực hiện nhằm đảm bảo kết quả thu được từ
bảng câu hỏi trên Internet có thể sử dụng được trong nghiên cứu
Thang đo
Biến phụ thuộc trong nghiên cứu này là thành công hay thất bại Stephan & ctg (2015) đã chỉ ra rằng hơn 50% doanh nghiệp thất bại trong thời gian từ 0-3 năm Vì vậy, thời gian ba năm được sử dụng làm mốc chính để xác định một doanh nghiệp có thành công hay không Việc xác định một doanh nghiệp thành công hay thất bại trong khởi nghiệp được xác định bằng ba câu hỏi định tính, bao gồm: Doanh nghiệp của bạn đang phải chịu thua lỗ trong ba năm gần đây, Doanh nghiệp của bạn đang gặp vấn đề
về thanh khoản (trả lương, trả nợ, …), Doanh nghiệp của bạn bị phá sản/ đóng cửa/ thanh lý Bất kỳ doanh nghiệp nào thuộc một trong ba trường hợp trên sẽ được tính là thất bại, ngược lại sẽ được tính là thành công
Trong 15 biến độc lập ban đầu của Lussier (1995) thì có hai biến bị loại do không
phù hợp với tình hình của Việt Nam Ngoài ra, có thêm một biến mới là Hỗ trợ của địa
Trang 4phương được đưa vào trong mô hình nhằm phù hợp với điều kiện Việt Nam Như vậy,
tổng cộng có 14 biến quan sát được đưa vào trong nghiên cứu nhằm tìm kiếm các yếu
tố ảnh hưởng đến sự thành công của dự án khởi nghiệp phù hợp với điều kiện của nền
kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam
Thu thập dữ liệu
Việc thu thập dữ liệu được thực hiện thông qua hai phương thức: phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi các doanh nhân và thông qua Internet Với phương thức Internet thì câu hỏi phân loại được sử dụng nhằm loại ra các phiếu khảo sát của các đối
tượng chưa từng khởi nghiệp
Tổng cộng có 418 phiếu khảo sát được thực hiện Trong đó, có 112 phiếu được thu thập bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp tại một số địa điểm ở Bình Dương, nơi đang sôi nổi phong trào khởi nghiệp 306 phiếu còn lại được thu thập thông qua bảng câu hỏi trên Internet Tuy nhiên, sau khi phân loại thì chỉ có 75 phiếu khảo sát trên Internet đạt yêu cầu là đúng đối tượng khảo sát thông qua các câu hỏi để lọc đối tượng
khảo sát 231 phiếu còn lại bị loại do người trả lời chưa từng khởi nghiệp
Như vậy, có 187 phiếu khảo sát hợp lệ để tiến hành phân tích Theo Tabachnick
và Fidell (1996) thì cỡ mẫu tối thiểu để phân tích hồi quy là 50 + 8*số biến độc lập
Do nghiên cứu này có 14 biến độc lập nên cỡ mẫu tối thiểu sẽ là 50+8*14 = 162 Vậy
187 phiếu khảo sát đáp ứng được yêu cầu về cỡ mẫu Trong đó, có 61 phiếu khảo sát được xác định là người trả lời khởi nghiệp thành công, 126 phiếu còn lại được cho là
không thành công do có vấn đề về tài chính, về kinh doanh hay đơn giản là đã phá sản
Để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của dự án khởi nghiệp thì nghiên cưú này sẽ thực hiện thống kê mô tả các biến trong nghiên cứu và
sau đó là thực hiện hồi quy Logistic để xác định mô hình
Bảng 1: Thống kê mô tả về mẫu khảo sát và kiểm định χ 2
Biến nghiên cứu Tần suất thành công/%(n = 61) Tần suất
thất bại/%(n = 126) Sig
Vốn ban đầu (Capitol)
0.000 a) Nhiều hơn cần thiết 22/36%
13/10%
c) Ít hơn cần thiết 7/12% 35/28%
Trang 5Kiểm soát tài chính (Financial)
0.002
Kinh nghiệm kinh doanh (BusExp)
0.001
Kinh nghiệm quản lý (ManExp)
0.013
Kế hoạch kinh doanh (Plan)
0.006
Đào tạo (Edu)
0.160
Bố trí nhân sự (Staff)
0.000
Trang 6Chu kỳ sẩn phẩm (ProStage)
0.003
Cộng sự (Partner)
0.000
Kiến thức về chiêu thị (MarKnow)
0.026
c) Có chuyên môn cao 20/33%
20/16%
Tư vấn chuyên gia (Advice)
0.011
Độ tuổi khởi nghiệp (Age)
0.477
Người thân là chủ doanh nghiệp (Family)
0.096
Trang 7Hỗ trợ của địa phương (Support)
0.042
Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2017
4 Kết quả và phân tích
Tại bảng 1 thể hiện các chỉ số thống kê về các trường hợp trong các biến gắn với
việc thành công hay thất bại của người khởi nghiệp Các nhân tố Trình độ đào tạo, Độ
tuổi khởi nghiệp và Người thân từng làm chủ doanh nghiệp không có mối liên hệ với
sự thành công hay thất bại của dự án khởi nghiệp do gíá trị Sig trong kiểm định χ 2
không đạt (Sig > 0.05) Dựa trên kết quả này, nghiên cứu sẽ được tiếp tục bằng việc
thực hiện hồi quy Logistic cho 11 nhân tố còn lại với phương thức Stepwise Forward
nhằm tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp khởi nghiệp
Tại bảng 2 ta thấy các kết quả Sig đều nhỏ hơn 0.05 nên có thể khẳng định là mô hình gồm 11 nhân tố đang nghiên cứu là phù hợp, có mối tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập
Bảng 2: Kết quả hồi quy Logistic
Các biến quan sát cuối
cùng
Mô hình
Vốn ban đầu
Kiểm soát tài chính
Kế hoạch kinh doanh
Kiến thức về Marketing
Tư vấn chuyên gia
Hỗ trợ của địa phương
Hằng số
Kết quả kiểm tra mô
hình
-2 Log likelihood
χ 2
Ý nghĩa mô hình
Nagelkerke R2
Kết quả phân loại
Tỷ lệ dự báo đúng%
Thành công
Thất bại
Trung bình dự đoán
-.874 0.004 1.168 0.005 1.868 0.000 909 0.013 -1.088 0.008 -.989 0.006 -1.905 0.242
178.251 57.914 0.000 0.371
49.2%
86.5%
74.3%
Trang 8Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2017
Với chỉ số -2LL = 178.251 (trong bảng 2) là nằm trong khoảng tốt và chỉ ra mô
hình tổng thể là khá phù hợp Chỉ số Nagelkerke R2 cũng khá cao = 0.371, chứng tỏ
mô hình nghiên cứu có thể giải thích cho 62,9% các trường hợp của tổng thể mẫu
Ngoài ra, tại bảng 2, ta có thể thấy rằng mô hình gồm 14 biến nghiên cứu có thể giúp
dự đoán chính xác 74,3% các trường hợp Đây là một tỷ lệ khá cao
Cuối cùng, tại bảng 2 thì ta có thể thấy được 6 nhân tố có ảnh hưởng đến sự
thành công của doanh nghiệp khi khởi nghiệp là Vốn ban đầu, Kiểm soát tài chính, Kế
hoạch kinh doanh, Kiến thức về chiêu thị, Tư vấn của chuyên gia và Hỗ trợ của địa
phương với các giá trị Sig tương ứng đều nhỏ hơn 0.05, đủ điều kiện để đưa vào mô
hình hồi quy
Các nhân tố khác bị loại vì không đạt được điều kiện Sig < 0.05 Có thể giải
thích cho vấn đề này là do xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập
với nhau Ví dụ như các biến Kinh nghiệm kinh doanh, Kinh nghiệm quản lý có nhiều
khả năng xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến
Mô hình hồi quy:
E(Y/X)=
– – – – – –
5 Đề xuất và giới hạn của nghiên cứu
Kết quả đạt được của nghiên cứu này cho thấy đối với điều kiện của Việt Nam
thì có tất cả 6 nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của một dự án khởi
nghiệp bao gồm: Vốn ban đầu, Kiểm soát tài chính, Kế hoạch kinh doanh, Kiến thức
về chiêu thị, Tư vấn của chuyên gia và ình Dương Trong đó, yếu tố Hỗ trợ của địa
phương là biến hoàn toàn mới được bổ sung thêm vào cho mô hình của Lussier Tuy
nhiên, do không đủ thời gian nên nghiên cứu có sử dụng một số mẫu khảo sát được
thực hiện trên Internet Mặc dù đã sử dụng những biện pháp nghiêm ngặt nhằm loại bỏ
những phiếu không thuộc các đối tượng cần khảo sát, nhưng việc thực hiện khảo sát
trên Internet cũng khiến cho độ tin cậy của mẫu giảm xuống Trong những nghiên cứu
sau về vấn đề này thì nên thu thập dữ liệu bằng các cách khác có độ tin cậy cao hơn
Một hạn chế nữa của nghiên cứu này là mô hình S/F của Lussier (1995) được xây
dựng và kiểm định tại các nước có nền kinh tế phát triển, có văn hóa coi trọng cá nhân
cao Đối với các nước Đông Á, nhất là Việt Nam, thì văn hóa gia đình, văn hóa tập thể
rất được coi trọng Do đó, các nghiên cứu sau cũng nên đưa thêm các biến về văn hóa,
chính trị, luật pháp, … nhằm có thể đưa ra các mô hình toàn diện hơn để đánh giá sự
thành công hay thất bại của một dự án khởi nghiệp
Kết quả của nghiên cứu cũng cho thấy có ba yếu tố tác động mạnh nhất đến khả
năng thành công hay thất bại Thứ nhất, cần chuẩn bị một kế hoạch kinh doanh tốt và
khả thi ngay tại thời gian đầu phát triển doanh nghiệp Thứ hai, cần kiểm soát chặt chẽ
Trang 9các nghiệp vụ tài chính và các hoạt động khác trong doanh nghiệp Cuối cùng, việc có được những tư vấn giá trị từ đội ngũ các chuyên gia sẽ giúp người khởi nghiệp gia tăng khả năng thành công cho dự án khởi nghiệp của mình
Để làm được các điều trên, một giải pháp nên được xem xét là thành lập các vườn ươm doanh nghiệp, nơi giúp cho các nhà khởi nghiệp có thể nhận được sự hỗ trợ
từ việc lập kế hoạch kinh doanh, kiểm soát tài chính đến việc đưa ra các dịch vụ tư vấn khởi nghiệp Để làm được việc này thì rất cần sự ủng hộ từ các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và cần có các khung pháp lý phù hợp để vườn ươm doanh nghiệp phát triển
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
Chang, E.P.C., Memili, E., Chrisman, J.J., Kellermanns, F.W và Chua, J.H
(2009), ―Family social capital, venture preparedness, and start-up decisions‖, Family
Business Review, Vol 22 No 3, pp 279-292
Cooper, A., Gascon, J và Woo, C (1991), ―A resource-based prediction of new
venture survival and growth‖, Academy of Management Proceedings, August, pp
113-119
Grimaldi, R và Grandi, A (2005), ―Business incubators and new venture
creation: an assessment of incubating models‖, Technovation, Vol 25 No.2, pp
111-121
Klonowski, D (2012), ―Liquidity gaps in financing the SME sector in an
emerging market: evidence from Poland‖, International Journal of Emerging Markets,
Vol 7 No 3, pp 335-355
Lewrick, M., Omar, M., Raeside, R và Sailer, K (2011), ―Education for entrepreneurship and innovation: management capabilities for sustainable growth and
success‖, World Journal of Entrepreneurship, Management and Sustainable
Development, Vol 6 Nos 1/2, pp 1-18
Ľubica Lesáková (2012), ―The Role of Business Incubators in Supporting the
SME Start-up‖, Acta Polytechnica Hungarica, Vol 9, No 3, pp 85 - 95
Lussier, R.N (1995), ―A nonfinancial business success versus failure prediction
model for young firms‖, Journal of Small Business Management, Vol 33 No 1, pp
8-20
MacAdam, M và McAdam, R (2006), ―The networked incubator: the role and operation of entrepreneurial networking with the University science park incubator
(USI)‖, Entrepreneurship and Innovation, Vol.7 No.2, pp.87-97
Ndedi, A.A (2013), ―Challenges and perspectives facing the development of
entrepreneurship education and training in South Africa‖, World Journal of
Trang 10Entrepreneurship, Management and Sustainable Development, Vol 9 Nos 2/3, pp
126-132
Olatomide Wahid Olowa và Omowumi Ayodele Olowa (2015), ―Factors Affecting Entrepreneurship Development in Agribusiness Enterprises in Lagos State,
Nigeria‖, Global Journal of Management and Business Research, Vol 15, pp 25 – 32
Pompe, P.M và Bilderbeek, S (2005), ―The prediction of bankruptcy of small-
and industrial firms‖, Journal of Business Venturing, Vol 20 No 6, pp 847-869
Saffu, K., Obeng Apori, S., Elijah-Mensah, A and Ahumatah, J (2008), ―The contribution of human capital and resource-based view to small- and medium-sized
tourism venture performance in Ghana‖, International Journal of Emerging Markets,
Vol 3 No 3, pp 268-284
Sesen, H (2013), ―Personality or environment? A comprehensive study on the
entrepreneurial intentions of university students‖, Education + Training, Vol 55(7),
pp 624–640
Sobel, R.S và King, K (2008), ―Does school choice increase the rate of youth
entrepreneurship?‖, Economics of Education Review, Vol 27(4), pp 429-438
Stephan Ute, Mark Hart, Tomasz Mickiewicz và Cord-Christian Drews (2015),
―Understanding Motivations for Entrepreneurship‖, Bis Research Paper, 212
Tabachnick, B G., & Fidell, L S (1996), Using multivariate statistics (3rd ed.),
New York: Harper Collins
Wagner, J., & Sternberg, R (2004), Start-up activities, individual characteristics, and the regional milieu: Lessons for entrepreneurship support policies from German
micro data The annals of regional science, 38(2), 219-240
Zamberi Ahmad, S (2012), ―Micro, small and medium-sized enterprises
development in the Kingdom of Saudi Arabia: problems and constraints‖, World
Journal of Entrepreneurship, Management and Sustainable Development, Vol 8 No
4, pp 217-232