Bài viết Quản trị địa phương – bài học về quản lý thực phẩm thông minh của Singapore trình bày bối cảnh phát triển lương thực của Singapore; Công tác quản lý Thực phẩm thông minh của Singapore; Đảm bảo lương thực an toàn của Singapore; Công tác quản lý thực phẩm ở Việt Nam; Một số giải pháp trong công tác quản lý thực phẩm.
Trang 1379
QUẢN TRỊ ĐỊA PHƯƠNG – BÀI HỌC VỀ QUẢN LÝ THỰC PHẨM
THÔNG MINH CỦA SINGAPORE
Nguyễn Xuân Trang
Khoa Khoa Học Quản Lý- Đại Học Thủ Dầu Một
Tóm tắt
Quản trị địa phương đã và đang là chủ đề quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế
xã hội của các quốc gia đã và đang phát triển để hiện thực hóa giấc mơ phát triển bền vững cho tương lai lâu dài của bất cứ một quốc gia nào trên thế giới hiện nay Có rất nhiều các bài biết nghiên cứu về các hệ thống quản trị địa phương trên thế giới, ở những quốc gia đang phát triển trong khu vực Châu Á, đại diện cho khu vực này chình
là quốc gia Singapore, nơi có hệ thống chính trị, hành chính, cải cách khu vực công vô cùng hiệu quả Một trong nhưng vấn đề được quan tâm ở quốc gia này chính là đảm bảo nguồn thực phẩm đạt chất lượng tốt nhất để cung cấp dân cư đang sinh sống ở đây,
do đó thông qua những bài học từ quốc gia được mệnh danh là Con rồng Châu Á này,
sẽ là cơ hội để học hỏi và chọn lọc những giải pháp tối ưu nhất vào quá trình phát triển kinh tế, quản trị địa phương trong vấn đề quản lý thực phẩm một cách hiệu quả nhất
Từ khóa: quản trị địa phương,Singapore’s governance, phát triển bền vững, tỉnh Bình Dương, thực phẩm sạch
Đặt vấn đề
Thực phẩm sạch luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của những quốc gia đang phát triển, đặt biệt là những quốc gia khan hiếm nguồn tài nguyên về đất nói chung và đất nông nghiệp như Singapore Quốc gia này hiện tại đang tiêu thụ lượng thực phẩm chủ yếu bằng con đường nhập khẩu, vì vậy là cần có một hệ thống quản lý lượng thực phẩm được nhập khẩu này để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng một cách tối ưu nhất Chính vì quản lý tốt được nguồn thực phẩm sạch thông quá qua trình nhập khẩu,
mà Singapore đã đứng vị trí thứ 2 trong bảng thống kê chỉ số an toàn thực phẩm toàn cầu năm 2015 (the Economist Intelligence Unit's 2015 Global Food Security Index)1
Người dân Singapore rất thích thú với sự đa dạng, chất lượng của nguồn thực phẩm mà
họ đang sử dụng hằng ngày Họ gần như sẵn sàng chi trả cho sự an toàn trong thực phẩm được tiêu thụ cho mỗi bữa ăn tại nhà hay các cửa hàng thức ăn Trong tập san xuất bản năm 2015 về chỉ số an toàn thực phẩm toàn cầu của Econimist Intelligence Unit, Singapore đã xếp hạng thứ 2 về an toàn thực phẩm trên thế giới, chỉ đứng sau
Mỹ Mặc dù không tự sản xuất được các mặt hàng thực phẩm nông nghiệp, nhưng sự
1 Diane Alarcon, J.G., Tom Felix Joehnk, Brendan Koch, Joseph Lake, Jack Luft, Jamie Morgan and Robert
Powell , An annual measure of the state of global food security, in Global food security index 2015, T.E.I Unit,
Editor 2015
Trang 2380
tin tưởng cũng như ủy thác nguồn thực phẩm nhập từ các nước với chất lượng tốt nhất luôn khiến các quốc gia khác phải học hỏi
Singpore là một quốc gia với diện tích nhỏ, hơn 90% lượng thực phẩm được nhập khẩu, bởi vì chích sách của quốc gia họ là tập trung vào công nghiệp và đô thị hóa, vì vậy mà diện tích dành cho lĩnh vực nông nghiệp khá thấp2 Tuy nhiên, họ đã tạo ra ngành chế tạo thực phẩm tích cực với nhãn‖ Made in Singpore‖ cho riêng họ để đề cao chất lượng và sự an toàn trong thực phẩm3
Sự thành công của Singapore trong chươn trình thực phẩm chủ yếu là nhờ hệ thống quản lý thực phẩm thông minh, được dẫn đầu vối Cơ quan thực phẩm và thú y Singapore (The Agri-food and Veterinary Authority of Singapore AVA) Hệ thống quản trị này là bài học cho những quốc gia khác trong vấn đề tự cung cấp nguồn thực phẩm
Nội dung
1 Bối cảnh phát triển lương thực của Singapore
Singapore - The city state
Không như những quốc gia khác trên thế giới, Singapore là một thành phố nhỏ với diện tích cho vùng nông thôn và vùng nội địa nhỏ Trong diện tích 718.3km2, nhỏ hơn thành phố Newyork (789km2) và Hồng Kông (1104km2), hầu hết diện tích đất được phân bổ cho quốc phòng, dự trữ nước, đường xá, công nghiệp, nhà ở và một phần cho nông nghiệp.4
Tuy nhiên, Singapore lại nằm dọc theo tuyến vận chuyển thương mại đông đúc, điều này cho phép quốc gia này khởi đầu khiêm tốn như một thị trấn thương mại đến trung tâm vận chuyển quốc tế lớn Đây chính là nguyên nhân tạo ra nguồn cung cấp thực phẩm đến Singapore từ các nguồn quốc tế khác Những hoàn cảnh trên làm cho mô hình thực phẩm Singapore trở nên độc đáo Giữ thức ăn tiếp cận tốt nguồn nhu cầu với giá cả phù hợp và đạt mức độ an toàn cao trong một thị trường nhỏ như Singapore, điều này đòi hỏi sự tham gia của lãnh đạo và chính phủ rất nhiều
Những năm đầu của sự phát triển thực phẩm ở Singapore
Khi Singapore giành độc lập vào năm 1965, gần như họ đã tự cung cấp đầy đủ lượng thực phẩm cho chính họ Khoảng 20000 trang trại với hơn 25% diện tích đất trên lãnh thổ phục vụ cho lĩnh vực nông nghiệp, cung cấp đến 60% nhu cầu rau cho người dân
2 Osman, M., 2015 Speech by MOS Maliki Osman at the G20 Agriculture Ministers Meeting [Speech](8 May
2015)
3
Osman, M M., 2015 Food Safety Awards keynote [Speech] (30 July 2015)
4 ASEAN UP, n.d ASEAN UP [Online]
Trang 3381
Singapore lúc bấy giờ.5 Đất lúc bấy giờ thuộc quyền sở hữu của các trang trại quy mô nhỏ, các chủ sở hữu gia đình với mục đích trồng trọt và thực phẩm Bên cạnh đó, các loại rau, gia súc, các loại cây công nghiệp như cây cao su, dừa và cây hoa cúc cũng được trồng Dân số lúc đó của Singapore là 1.6 triệu người
Chính phủ Singapore với nỗ lực của chính mình để tạo điều kiện cho chất lượng cuộc sống của dân cư tốt nhất, hỗ trợ nâng cao năng suất trong nông nghiệp thông qua việc thành lập Vụ sản xuất (the Primary Production Department PPD) vào năm 1959 Nhiệm vụ chính của đơn vị này là quản lý nông thôn và nông nghiệp, giới thiệu các phương thức trồng trọt hiện đại, cải tiến giống và công nghệ để cải tiến canh tác PPD
đã nhận được sự giúp đỡ từ Chương trình phát triển Liên hợp quốc (United Nations Development Programme) và các quốc gia khác, đặc biệt là cải thiện chăn nuôi và kiểm soát dịch bệnh Đạt được sự thành công từ chương trình, năm 1975, Singapore
đã có thể tự cung cấp tương đối trong lĩnh vực sản xuất gia cầm (80%), trứng (100%)
và thịt lợn (104%) 6
Sự suy giảm sản xuất lương thực trong nước
Từ cuối những năm 1970, chính phủ Singapore đã chỉ đạo nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa để tạo việc làm và góp phần tăng trưởng kinh tế Các trang trại nhỏ bị
di dời để làm được cho các khu đô thị, công nghiệp Trong những năm 1980-1990, các trang trại được tái định cư sang các trang trại hoặc các khu công nghệ nông nghiệp ở miền Bắc và Đông Bắc Singapore Các khu vực này được trang bị hệ thống thoát nước, đường ống, vệ sinh và xử lý chất thải phù hợp, tuy nhiên sản xuất lương thực đã dần giảm xuống (Hình 1)
Hình 1: Sản xuất nông nghiệp địa phương, Singapore, 1970-2013 7 , 8
5
Koninck, R D., Drolet, J & Girard, M., 2008 Singapore: An Atlas of Perpetual Territorial Transformation
s.l.:NUS Press
6 AVA, 2015a History [Online] Available at: http://www.ava.gov.sg/about-ava [Accessed 08 August 2017]
7 AVA, 2014 Think Fresh: AVA annual report 2013/2014, s.l.: AVA
8
Ngiam, T T & Cheong, L., 2006 Southeast Asian Agriculture and Primer Series: Singapore Los Banos,
Laguna, Philippines: SEARCA
Năm
Gà Heo
Cá Rau
Trang 4382
Ngành chăn nuôi heo cũng chịu ảnh hưởng, bởi vì ảnh hưởng đáng kể đến môi trường
và chi phí chăn nuôi không tiết kiệm, vì vậy mà tất cả các trang tại chăn nuôi heo đã được loại bỏ dần vào năm 1989 Đất nông nghiệp bị thu hẹp dần và đến năm 2014, chỉ còn 1% diên tích đất (khoảng 700ha) được sử dụng cho canh tác (Hình 2, Hình 3, Hình 4) Có 117 trang trại nuôi cá ven biển, 5 trang trại chăn nuôi gia cầm, 56 trang trại thực vật và 9 trang trại nuôi các trên đất liền9
Hình 2: Đất nông nghiệp ở Singapore, năm 1960
Hình 3: Đất nông nghiệp ở Singapore, năm 1984
9
Koninck, R D., Drolet, J & Girard, M., 2008 Singapore: An Atlas of Perpetual Territorial Transformation
s.l.:NUS Press
Đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp
Trang 5383
Hình 4: Đất nông nghiệp ở Singapore, 2005
An ninh lương thực cho Singapore
Cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu vào tháng 8 năm 2007 đã dẫn tới việc tăng giá 12.1% lương thực nhập khẩu 10
, việc này đã đẩy chính phủ Singapore xem xét lại những chính sách để phục hồi nguồn lương thực tự chủ cho Singapore Chính phủ đã bắt đầu nghiên cứu để phân tích khả năng phục hồi của ngành cung cấp lương thực của Singapore Sau khi tham khảo ý kiến từ các bên liên quan, một lộ trình an ninh lương thực ( Food Security Roadmap) đã được tạo ra, xác định một bộ chiến lược mà Singapore có thể thực hiện để cải thiện an ninh lương thực tự chủ
2 Công tác quản lý Thực phẩm thông minh của Singapore
Chính phủ Singapore đã sớm nhận ra nhu cầu phát triển bền vững trong việc tạo ra một cộng đồng sống động nghĩa là không thể tạo ra một Singapore thứ hai bằng khái niệm‖ phát triển đầu tiên, làm sạch sau‖ mà cần hướng tới sự cân bằng về chất lượng cuộc sống, nền kinh tế cạnh tranh và môi trường bềnh vững Với tiềm năng đất đai hạn chế
và sự cạnh tranh từ các nước khác với lợi thế sản xuất lương thực chi phí cạnh tranh, Singapore đã chọn con đường quy hoạch vùng đất dựa trên công nghiệp hóa thông qua chương trình thực phẩm phù hợp với các khía cạnh của sự phát triển quốc gia thông qua cách áp dụng quản lý năng động và những kế hoạch lâu dài
Thực hiện hiệu quả
Cuộc khủng hoản lương thực toàn cầu năm 2008 đã thức đẩy chính phủ Singapore xem xét lại các chính sách phục hồi lương thực, dựa vào kết quả các cuộc tham vấn rộng rãi với các nhà sản xuất trong ngành, bao gồm các nhà sản xuất, các nhà chế biến, các nhà bán lẻ, các nhà nhập khẩu và hậu cần cùng các cơ quan chính phủ, Cơ quan Thực phẩm và thú y Singapore đã xây dựng lộ trình An ninh lương thực của Singapore (Bảng 1) để giải quyết mối quan tâm an ninh lương thực một cách hiệu quả và toàn hiện
Sự đa dạng nguồn thực phẩm vẫn tiếp tục là chiến lược cốt lõi của Singappore để đảm bảo an ninh lương thực Trong chiến lược cốt lõi, không chỉ tích cực mở các nguồn thực phẩm ở nước ngoài để bảo vệ sự gián đoạn nguồn cung, mà họ còn tích cực bổ
10
Ramesh, S & Perry, M., 2008 Singapore Inflation remains low by international standards Channel News
Asia , 3 February
Trang 6384
sung hàng nhập khẩu thực phẩm thông qua việc sản xuất ba mặt hàng chủ yếu (trứng,
cá, rau) Các chiến lược khác để hỗ trợ năng suất nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp cũng được nghiên cứu và phát triển cũng như giảm tổn thất thực phẩm và lãng phí thực phẩm
Bảng 1: Lộ trình an ninh lương thực của Singapore 11
Phân hóa nguồn nhập khẩu Nghiên cứu và phát triển
Đầu tư nước ngoài Phát triển công
nghiệp
Giảm lãng phí thực phẩm
Chiến lược bù đắp những hạn chế
trong đa dạng hóa
Tăng cường cơ sở hạ tầng
Sản xuất địa
phương
Phúc lợi
Chiến lược cho phép
Sự phối hợp giữa các chính phủ Lập kế hoạch khẩn cấp
Giao tiếp Giám sát thị trường Khuôn khổ tài chính, luật pháp, quy định
Lộ trình bao gồm các chiến lược trung hạn và dài hạn đối với an ninh lương thực của Singapore, bao gồm:
Các chiến lược chính: Khu vực trọng tâm của kế hoạch an ninh lương thực của Singapore, các chiến lược bao gồm:
đa dạng nguồn thức ăn để giảm nhẹ sự gián đoạn cung cấp;
tối ưu hóa sản xuất ở địa phương để cung cấp đệm cho các mặt hàng thực phẩm chủ chốt trong thời gian gián đoạn;
dự trữ để ổn định giá cả và cung cấp ổn định trong thời gian thiếu hụt ngắn hạn
Chiến lược hỗ trợ: quan trọng trong trung và dài hạn để hỗ trợ các chiến lược cốt lõi, bao gồm:
Nghiên cứu và phát triển để tăng năng suất và cải tiến cơ chế quản lý dây chuyền, đóng gói và sau thu hoạch để kéo dài thời hạn sử dụng;
Giảm chất thải thực phẩm dọc theo chuỗi cung cấp thực phẩm toàn bộ
Chiến lược cho phép: đảm bảo rằng cốt lõi và chiến lược hỗ trợ trong Lộ trình An ninh lương thực được thực hiện có hiệu quả thông qua hợp tác giữa các cơ quan Các chiến lược bao gồm:
11 AVA, 2013a AVA's Food Security Roadmap for Singapore AVA vision, Issue 3-4
Trang 7385
Sự cần thiết phối hợp nhiều cơ quan để xây dựng chính sách và thực hiện các biện pháp an ninh lương thực;
Thực hiện kế hoạch khẩn cấp hoặc lập kế hoạch kịch bản cho quản lý rủi
ro an ninh lương thực;
Cải thiện truyền thông về các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm hoặc rủi ro;
Giám sát thị trường toàn cầu về giá cả hàng hóa và thay đổi cung cấp
Vì các chiến lược trong Lộ trình an ninh lương thực được xem xét và đòi hỏi sự phối hợp với nhiều cơ quan, vì vậy mà Ủy ban liên ngành về an ninh lương thực (Inter-Ministry Committee on Food Security IMCFS) được thành lập vào năm 2012 IMCFS thuộc Ủy ban Điều phối an ninh quốc gia (National Security Coordinating Committee) nằm trong khuôn khổ của Thủ tưởng văn phòng Chính phủ ( Prime Minister‘s Office), xây dựng các chính sách và chiến lược để giảm thiểu rủi ro anh ninh lương thực
Làm việc với thị trường và khu vực tư nhân
Để đảm bảo thực phẩm Singapore không bị ảnh hưởng bởi bất cứ sự gián đoạn hoặc tác động từ các nguồn cung cấp, các cơ quan chính phủ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý các ngành công nghiệp và thị trường để đa dạng hóa các nguồn thực phẩm cho nhu cầu trong nước
Singapore được xem như một trung tâm thương mại góp phần đáng kể vào sự đa dạng nguồn thực phẩm cho nhu cầu quốc gia Tại quốc gia này, thực phẩm được cung cấp từ hơn 160 quốc gia trong năm 2014 với giá trị 15,57 tỷ đô la Singapore (10,9 tỷ đô la Mỹ) 12 Hơn 80% gà ở Singapore có nguồn gốc từ Malaysia và Brazil; Khoảng 75 phần trăm cá Singapore là từ Indonesia, Malaysia và Thái Lan13
Singapore đã nhập khẩu
575 triệu đô la Mỹ các sản phẩm thực phẩm bán lẻ từ Mỹ vào năm 2013 và trị giá 1,1
tỷ đô la Mỹ (760 triệu đô la Mỹ) Vấn đề về dịch bệnh, tăng giá, căng thẳng chính trị
và gián đoạn vận chuyển có thể dễ dàng ảnh hưởng đến việc cung cấp các sản phẩm thực phẩm chủ yếu này, do đó đa dạng hóa là điều quan trọng trong chiến lược quản lý sản phẩm ở Singapore
3 Đảm bảo lương thực an toàn của Singapore
Sự quản lý chặt chẽ và hợp tác của các cơ quan Singapore với các ngành công nghiệp, các viện nghiên cứu và các bên liên quan đã tăng cường an ninh lương thực cho chính quốc gia của họ Tuy nhiên, Singapore cần tiếp tục theo kịp các sự phát triển toàn cầu
và cập nhật cách tiếp cận để tự động thích ứng với sự phức tạp của thách thức lương thực Dân số Singapore dự kiến sẽ tăng từ 5,4 triệu đến 6,9 triệu vào năm 2030 và nhu
12 Tortajada, C & Paramasilvam, T K., 2015 Singapore‘s Impressive Food Security: How has Singapore
become the second-most food secure country in the world? The Diplomat, 6 Sept
13
AVA, 2013 www.ava.gov.sg [Online]
Trang 8386
cầu lương thực sẽ tiếp tục phát triển.[ Tham số lập kế hoạch của Singapore dựa trên Sách trắng Dân số được công bố vào năm 2012]
Trên bình diện quốc tế, ảnh hưởng của tăng dân số, thay đổi chế độ ăn, thay đổi khí hậu, khan hiếm về nguồn tài nguyên và sự mất ổn định về địa chính trị tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất lương thực và thương mại của Singapore nói riêng và các quốc gia khác nói chung Vấn đề bảo đảm lương thực của Singapore dễ bị ảnh hưởng bởi sự biến đổi lương thực toàn cầu, biến động về giá cả và sự gián đoạn nguồn cung cấp, vì vậy cần có sự kiểm soát hạn chế khi cần thiết Đồng thời, họ còn đối mặt với thách thức của việc tạo ra sản xuất bền vững trong vùng, giữa những khó khăn về đất đai và lao động, tận dụng công nghệ và đổi mới trong sản xuất
Singapore có thể kết hợp các sáng kiến canh tác với chuyên môn trong xây dựng xanh, bảo trì công viên, đa dạng sinh học và hậu cần để hòa nhập vào việc sản xuất thực vật
và cây xanh Việc canh tác thâm canh trong không gian nội thành - chẳng hạn như giữa nhà ở, đường xá và không gian thương mại, có thể cung cấp "không gian" cần thiết để tăng sản xuất trong nước
Một nghiên cứu được tiến hành bởi Đại học Quốc gia Singapore đã xác định rằng có thể có 1000 hecta các khu vực trên mái nhà trong các khu nhà ở công cộng phổ biến ở Singapore, có thể được trang bị cho nông trại trên mái 14.Các trang trại truyền thống cũng có thể được thiết kế lại để cùng xác định nhiều chức năng, bao gồm sản xuất, đóng gói, chế biến và hậu cần, để nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh Bên cạnh những điều trên, chính phủ cũng có thể tạo điều kiện cho đầu tư nông nghiệp của các công ty Singapore ở nước ngoài tăng cường sản xuất tại địa phương
4 Công tác quản lý thực phẩm ở Việt Nam
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, tình hình quản lý an toàn thực phẩm ở Việt Nam đang là một trong những vấn đề đang lo ngại trong sự phát triển chung của xã hội Vấn đề an toàn thực phẩm trong việc cung cấp thực phẩm tại hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được nghiên cứu thông qua qui trình cung cấp thịt và rau ăn lá được bán tại các chợ truyền thống cho thấy: 76% thịt lợn được giết mổ trong các cơ sở nhỏ có điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm chưa tốt Báo cáo của World Bank cũng cho thấy, nguy cơ ô nhiễm thực phẩm ở Việt Nam còn tương đối phổ biến: mức độ nhiễm vi sinh vật như salmonella trong thực phẩm nói chung và thịt lợn nói riêng vẫn ở mức tương đối cao, khoảng 30-69% Thực trạng của tồn dư kháng sinh và các báo cáo kháng kháng sinh đang có xu hướng ngày càng tăng theo thời gian
14
Lee, M Y & Tan, H T., 2010 Growing your own food: the need for urban agriculture in Singapore
Innovation: the Singapore Magazine of Research, Technology and Education, 10(1)
Trang 9387
Bên cạnh đó, việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm cho các cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm được thực hiện theo hướng dẫn và quy định của từng
bộ15 Trong giai đoạn 2011-2016, các cơ quan chức năng của ngành y tế và nông nghiệp đã cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm cho 232.735 cơ
sở chế biến, kinh doanh thực phẩm trong tổng số 289.192 cơ sở thuộc đối tượng phải cấp (80,5%)16
Đối với các cơ sở thuộc diện không phải cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, các bộ đã có văn bản hướng dẫn để quản lý các đối tượng này, theo đó chủ cơ sở phải cam kết bảo đảm an toàn thực phẩm với cơ quan quản lý có thẩm quyền17
Đối với thực phẩm chức năng và thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, là sản phẩm mới, giao thoa giữa thuốc và thực phẩm thông thường Bộ Y tế đã ban hành 7 Thông tư về quản lý thực phẩm chức năng (đặc biệt là Thông tư số 43/2014/TT-BYT
đã hài hòa với quy định của quốc tế (ASEAN) đã trở thành một công cụ hữu hiệu trong quản lý thực phẩm chức năng) và một số văn bản liên quan như ghi nhãn, quảng cáo18 Tuy nhiên do lợi nhuận cao trong việc kinh doanh các mặt hàng sản phẩm thực phẩm chức năng nên vẫn còn nhiều đối tượng bất chấp pháp luật sản xuất, nhập khẩu sản phẩm không bảo đảm làm hàng giả, quảng cáo sai sự thật lừa dối người tiêu dùng gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng
5 Một số giải pháp trong công tác quản lý thực phẩm
15 Bộ Y tế ban hành Thông tư số 26/2012/TT-BYT ngày 30/11/2012 quy định cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai; dụng
cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế; Thông tư số số 47/2014/TT-BYT ngày 11/12/2014 hướng dẫn quản lý ATTP đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống Bộ NN & PTNT ban hành Thông tư số 14/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/03/2011 quy định việc kiểm tra, đánh giá cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản (nay được thay thế bằng Thông tư số 45/2014/TT-BNNPTNT ngày 03/12/2014 quy định việc kiểm tra cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và kiểm tra, chứng nhận cơ sở sản xuất kinh doanh nông lâm thủy sản đủ điều kiện ATTP)
16 Ngành y tế cấp 212.575/253.896 cơ sở (83,7%), ngành nông nghiệp cấp giấy chứng nhận cho 20.160/35.096
cơ sở (57%) Ngành công thương không có số liệu cụ thể các cơ sở được cấp, theo báo cáo, tỉ lệ được cấp ở các địa phương khoảng 60%, trừ Hà Nội và TPHCM là trên 90%
17 Bộ Y tế ban hành Thông tư số 47/2014/TT-BYT ngày 11/12/2014 hướng dẫn quản lý an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống; Cục ATTP-BYT đã có văn bản số 1745/ATTP-NĐ ngày
28/7/2015 và văn bản số 6093/ATTP-NĐ ngày 19/9/2016 hướng dẫn quản lý điều kiện ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm bao gói sẵn đối với các cơ sở không thuộc diện phải cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ
điều kiện ATTP Bộ NN&PTNT ban hành Thông tư 51/2014/TT-BNNPTNT ngày 27/12/2014 quy định điều
kiện bảo đảm ATTP và phương thức quản lý đối với các cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 57/2015/TT-BCT ngày 31/12/2015 quy định về điều kiện bảo đảm ATTP trong sản xuất thực phẩm nhỏ lẻ thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP của Bộ Công Thương
18 Thông tư số 17/2000/TT-BYT ngày 27/9/2000 hướng dẫn đăng ký các sản phẩm dưới dạng thuốc – thực phẩm, Thông tư số 20/2001/TT-BYT ngày 11/9/2001 hướng dẫn quản lý các sản phẩm thuốc – thực phẩm, Thông tư số 08/2004/TT-BYT ngày 23/8/ 2004 hướng dẫn việc quản lý các sản phẩm thực phẩm chức năng, Thông tư số 15/2012/TT – BYT ngày 12/9/2012 quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với
cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, Thông tư số 16/2012/TT – BYT ngày 22/10/2012 quy định về điều kiện đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế, Thông tư số 19/2012/TT - BYT ngày 09/ 11/2012 hướng dẫn việc công bố hợp quy và công
bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm và Thông tư số 43/2014/TT - BYT ngày 24/11/ 2014 quy định về quản
lý thực phẩm chức năng
Trang 10388
5.1 Nâng cao kiến thức về an toàn thực phẩm
Nâng cao kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm kết hợp với công tác giáo dục truyền thông được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đi trước một bước trong các hoạt động bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm Các hoạt động tuyên truyền giáo dục trên các phương tiện thông tin và truyền thông cần được triển khai một cách đồng bộ, bài bản, đặc biệt tập trung vào dịp lễ lớn như Tết Nguyên đán, Tháng hành động vì an toàn thực phẩm và Tết Trung thu và tuân theo hướng dẫn của Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về Vệ Sinh an toàn thực phẩm Thông qua đó góp phần nâng cao vai trò của các cán bộ quản trị địa phương, UBND các cấp, vai trò quản lý của các cơ quan chức năng, trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống, trách nhiệm của cộng đồng
Nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng và toàn xã hội thông qua các hình thức như: nói chuyện, hội thảo, tọa đàm, phát thanh, truyền hình, báo chí, các cuộc thi, các sản phẩm truyền thông như tờ gấp, poster,… cần được phát triển phù hợp với xu hướng hiện nay Ngoài ra, các thông điệp về vệ sinh an toàn thực phẩm cần được phổ biến rộng rãi cho các nhóm đối tượng khác nhau, như: trường học, bệnh viện, công sở, Kết hợp với các bài phóng sự, tọa đàm và chương trình phổ biến kiến thức, phim tiểu phẩm tình huống về vệ sinh an toàn thực phẩm… để góp phần tuyên truyền có hiệu quả, nhẹ nhàng và thuyết phục hơn
5.2 Quản lý nguồn thực phẩm nhập khẩu tốt hơn
Nguồn thực phẩm được nhập khẩu vào Việt Nam hiện nay thông qua nhiều kênh phân phối khác nhau, từ tư nhân đến các công ty xuất nhập khẩu, do đó vẫn chưa có một hệ thống quản lý hay các cơ quan quản lý trong việc đảm bảo chất lượng nhập khẩu thực phẩm từ nhiều kênh phân phối Từ tình hình đó, các cơ quan quản lý tại địa phương nói riêng cũng như các cơ quan quản lý xuất nhập khẩu nói chung cần qui định rõ những qui định cũng như ràng buộc trong vấn đề nhập khẩu thực phẩm từ nước ngoài như: giấy phép đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, xuất xứ thực phẩm rõ ràng, được cấp giấy an toàn vệ sinh thực phẩm từ quốc gia xuất khẩu,… để đảm bảo chất lượng cũng như uy tín của chính quốc gia xuất khẩu đó Bên cạnh đó, cũng góp phần nâng cao chất lượng và sự tin tưởng của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm, thực phẩm
đó
5.3 Quản lý nguồn cung cấp thực phẩm tại các chợ truyền thống
Chợ truyền thống là một trong những hình thức buôn bán lâu đời tồn tại ở Việt Nam, chính vì vậy để đảm bảo công tác quản lý nguồn thực phẩm cung cấp tại các chợ này cần sự hỗ trợ rất nhiều từ chính quyền địa phương, và các tiểu thương tham gia buôn bán trong khu vực chợ Thực phẩm từ các loại rau củ quả đến các loại thịt gia súc gia cầm được tiêu thụ tại các chợ truyền thống này đến từ rất nhiều nguồn khác nhau, từ các gia đình chăn nuôi đến các công ty, hay việc buôn bán vận chuyển từ các tỉnh