1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Thực trạng áp dụng mô hình chính quyền thân thiện, công sở thân thiện tại tỉnh Bình Dương

18 5 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 581,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Thực trạng áp dụng mô hình chính quyền thân thiện, công sở thân thiện tại tỉnh Bình Dương tập trung làm rõ thực trạng áp dụng mô hình chính quyền thân thiện, công sở thân thiện tại Bình Dương, từ đó đánh giá tính hiệu quả của mô hình và đưa ra những khuyến nghị chính sách từ cơ sở lý thuyết về mô hình quản trị hướng về người dân (citizen-centered governance) của Anwar Shah.

Trang 1

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN THÂN THIỆN,

CÔNG SỞ THÂN THIỆN TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG

Phan Nhân Trung

Vũ Thị Cúc

Trường Đại học Thủ Dầu Một

TÓM TẮT

Nhằm mục đích xây dựng nền hành chính thân thiện phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn, chính quyền tỉnh Bình Dương đã triển khai xây dựng thí điểm mô hình

―Chính quyền thân thiện của dân, do dân và vì dân‖ và thí điểm mô hình ―Công sở thân thiện vì nhân dân phục vụ‖ ở một số đơn vị từ năm 2014 và hiện đang nhân rộng

mô hình này với quy mô và chất lượng ngày càng được cải thiện Bên cạnh những ưu điểm của mô hình này, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế mà chính quyền tỉnh Bình Dương cần phài khắc phục Từ những nghiên cứu về lý thuyết quản trị hướng về người dân (citizen-centered governance), tác giả đề ra những khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình trên theo hướng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thúc đẩy cải cách hành chính và phục vụ người dân được tốt hơn

Từ khóa: chính quyền thân thiện, công sở thân thiện, quản trị hướng về người dân

1 Đặt vấn đề

Trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, Việt Nam đã có quá trình nỗ lực không ngừng, đạt được nhiều thành tựu trong hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội Từ thực trạng hội nhập, nhiều vấn đề đã phát sinh, trở thành thách thức không nhỏ đối với tiến trình phát triển của nước ta như: hệ thống thể chế còn thiếu sót, yếu kém, cải cách hành chính chưa triệt để, chưa thật sự linh hoạt ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư nước ngoài, khiến Việt Nam mất điểm trong mắt các nhà đầu tư

Trong tiến trình này, Bình Dương, với nhiều lợi thế vốn có, đồng thời là một tỉnh năng động, linh hoạt trong việc cải cách hành chính, chú trọng phát triển kinh

tế-xã hội ổn định, bền vững, đã tiên phong tiến hành áp dụng mô hình ―chính quyền thân thiện, công sở thân thiện‖ nhằm mục tiêu phục vụ người dân được tốt hơn, cải thiện hình ảnh nền hành chính Việt Nam nói chung và Bình Dương nói riêng trong mắt nhà đầu tư trong và ngoài nước Mô hình này đã mang lại nhiều kết quả tích cực, cho thấy được sự chú trọng cải cách hành chính, thay đổi thái độ, cách thức phục vụ người dân của đội ngũ cán bộ, công chức, chuyển từ nhà nước điều hành sang nhà nước phục vụ người dân Tuy nhiên, bên cạnh đó, nhiều vấn đề, hạn chế của mô hình đã bộc lộ rõ, khiến việc áp dụng vào thực tế chưa đạt được kết quả đề ra, nói cách khác, chưa đạt được yêu cầu của một nhà nước kiến tạo, phục vụ thật sự, vẫn còn nặng tính hình thức, bệnh thành tích

Vì vậy, bài viết này tập trung làm rõ thực trạng áp dụng mô hình ―chính quyền thân thiện, công sở thân thiện tại Bình Dương‖, từ đó đánh giá tính hiệu quả của mô

Trang 2

hình và đưa ra những khuyến nghị chính sách từ cơ sở lý thuyết về mô hình ―quản trị hướng về người dân‖ (citizen-centered governance) của Anwar Shah

2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1 Tổng quan mô hình quản trị hướng về người dân

a) Sự ra đời và cơ sở lý thuyết của mô hình

Mô hình quản trị hướng về người dân là lý thuyết được đề xuất bởi tác giả Anwar Shah cùng với các cộng sự của ông, được trình bài trong các bài viết ―The new vision of local governance and the evolving roles of local governance‖(tạm dịch: Quan điểm mới về quản trị địa phương và những vai trò của nó) và ―Citizen-centered governance: A new approach to public sector reform‖ (tạm dịch: Quản trị hướng về người dân: Một cách tiếp cận đến cải cách khu vực công) Anwar Shah là một chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu quản trị địa phương, đặc biệt là thực trạng quản trị địa phương ở các nước đang phát triển, ông khẳng định rằng việc cải cách khu vực công ở các nước đang phát triển là vô cùng quan trọng bởi vì tồn tại quá nhiều điểm yếu và

―những căn bệnh‖ của các chính phủ trong giai đoạn hiện tại [Shah, 2003] Những căn bệnh đó bao gồm:

Thứ nhất, năng lực của công chức yếu kém, bên cạnh đó là cơ chế khuyến khích

nội bộ không cho thấy được sự khách quan, dẫn đến tình trạng công chức không có động cơ thay đổi thái độ làm việc và phục vụ;

Thứ hai, bộ máy tập trung, mang tính áp đặt từ trên xuống, quy trình cứng nhắc,

thiếu sự tác động theo chiều ngược lại (từ dưới lên), thiếu tính linh hoạt, chậm đổi mới;

Thứ ba, độc quyền trong việc cung cấp dịch vụ công, dẫn đến tình trạng thiếu

minh bạch, trách nhiệm giải trình và là nguyên nhân của tham nhũng, hàng loạt các biểu hiện tiêu cực khác

Thứ tư, tầm nhìn hẹp, không minh bạch, thiếu cơ chế tham gia, giám sát của

người dân Thiếu sự giám sát của người dân đã khiến cho những ―căn bệnh‖ ngày càng nặng hơn và khó ―điều trị‖ hơn

Những ―căn bệnh‖ này đã khiến cho bộ máy trong khu vực công ở các nước đang phát triển trở nên cồng kềnh, cứng nhắc và không hiệu quả Shah nhấn mạnh nguyên nhân chủ yếu là do không chú trọng sự tham gia của người dân trong quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước

Nguyên nhân chủ yếu của những căn bệnh trên là do:

Thứ nhất, hầu hết chính phủ ở các nước đang phát triển xây dựng bộ máy nhà

nước quan liêu theo lý thuyết của M Weber, tập trung quá mức vào quy trình kiểm soát nghiêm ngặt quản lý đầu vào [Shah, 2000] Điều này tạo nên sự khác biệt với nhu cầu quan tâm đến kết quả đầu ra và những tác động mà chính sách, dịch vụ của chính phủ mang lại (xem Hình 1)

Hình 1 Xu hướng chung về quy trình ban hành chính sách

Trang 3

Đầu vào hành động đầu ra Phạm vi Kết quả Tác động

Dự án, chính sách

Nguồn: Shah 2000

Thay vì đưa ra cơ chế nhằm thay đổi động lực thúc đẩy trọng tâm của chính phủ

từ bên trái sang phải nhưng thực tế các chính phủ lại làm điều ngược lại Desai và Imrie (1998) kết luận việc làm này đặc trưng bởi khuynh hướng phi dân chủ hóa và sự

áp đặt với các quy trình thủ tục và nghiệp vụ chuyên môn

Thứ hai, cơ chế bộ máy hoạt động theo hướng từ trên xuống Những chính sách

có ảnh hưởng lớn (liên quan đến nền kinh tế vĩ mô, năng lực của bộ máy) đều nằm trong kế hoạch và sự điều hành của chính quyền trung ương Ngay cả việc ban hành cải cách quy trình, thủ tục đều mang tính áp đặt từ trung ương Công dân và các cơ quan đại diện trực tiếp của họ chỉ góp phần hỗ trợ, đóng góp ý tưởng hoặc thậm chí nhiều nước không được can thiệp vào nội dung hoạt động của chính quyền trung ương Điều này hạn chế cơ hội quản trị hướng về người dân và theo kết quả [Shah, 2003]

Thứ ba, việc tiến hành đánh giá về hiệu quả, sự phát triển của các chính phủ còn

mới [Feinstein và Picciotto, 2000] Thúc đẩy, tăng cường sự đánh giá sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các thay đổi về thể chế và cơ chế cần thiết cho việc cải cách bộ máy theo hướng từ dưới lên, tăng cường sự tham gia của người dân, hoàn thiện mô hình quản trị hướng về người dân

Thứ tư, các nguyên nhân xuất phát từ bối cảnh lịch sử thế giới: khủng hoảng tài

chính công ở các nước phát triển, sự tác động của cách mạng khoa học công nghệ, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế [3] đòi hỏi một mô hình quản lý hiệu quả, linh hoạt và phù hợp với tình hình hiện tại

Các lý thuyết khoa học về kinh tế và chính trị nhấn mạnh tầm quan trọng về sự tham gia của người dân vào quy trình quản trị, cụ thể: Tiebout (1956), Hirschman (1970) cho rằng khi sự tham gia của người dân vào các quy trình của chính phủ được cho phép (thông qua cơ chế ―kiến nghị‖ và ―từ bỏ‖) đã giúp cho các chính phủ hoạt động ngày càng hiệu quả, linh hoạt và tăng cường trách nhiệm giải trình

Lý thuyết khoa học Hành chính công, tiêu biểu là mô hình Quản lý công mới (New Public Management) là cụm từ của nhóm các xu hướng cải cách hành chính thuộc chương trình cải cách của các nước OECD những năm 1970 Người đưa ra ý tưởng này là bà Magaret Thatcher – Thủ tướng Anh và Tổng thống Mỹ Ronald Reagan Những nội dung cơ bản của mô hình quản lý công mới bao gồm: Xã hội hóa dịch vụ công; điều chỉnh mối quan hệ giữa trung ương và địa phương; phi tập trung hóa, phi quy chế hóa trong quản lý; tổ chức bộ máy hành chính hoạt động theo nhu cầu; cải cách chế độ công vụ, công chức; vận dụng các nguyên tắc và phương pháp

quản lý doanh nghiệp vào quản lý khu vực công; cải cách tài chính công và tăng cường sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước [3]

Trang 4

Bên cạnh đó là hàng loạt các lý thuyết khác về tầm quan trọng của người dân đối với hoạt động quản trị như: ―tham gia là giải pháp cho sự phát triển‖ (Kaufmann, 2000), (Jackson, 2000); Satorius (2000) nhận thấy những lợi ích tiềm năng về sự tham gia của người dân vào các quy trình đánh giá và các quyết định quản trị có sự tham gia của xã hội sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn; Oates (1972) đưa ra quan điểm rằng sự tham gia hiệu quả do người dân thực hiện rất khó hiệu quả ở các chính phủ tập trung hóa, vì

vậy, Oates khuyến khích mô hình hướng về người dân nên được khái niệm hóa ở cấp địa phương, tức là chú trọng việc ban hành cơ sở pháp lý theo hướng phân quyền cho địa phương[1], [2]

b) Khái quát nội dung chính của mô hình quản trị hướng về người dân

Nội dung mô hình này được Shah (2003) trình bày và mô tả:

Thứ nhất, cải cách hướng về người dân phải theo hướng từ dưới lên, nhấn mạnh

vai trò của chính quyền địa phương (nơi thỏa thuận kết quả)

Thứ hai, việc phân quyền tham gia của người dân phải đảm bảo sự tương tác

trực tiếp giữa người dân và các cơ quan lập pháp thông qua việc bầu chọn người đại diện của mình Phân quyền tham gia của người dân, đánh giá theo kết quả và quản lý theo kết quả tuy nhìn trên mô hình là trùng lặp nhau nhưng điều này cho thấy các yếu

tố này liên quan đến bộ phận cấu thành phân quyền tham gia

Thứ ba, quản lý theo kết quả nảy sinh từ cải cách hướng về người dân bởi vì

yêu cầu tham gia của người dân chủ yếu lấy kết quả từ những chủ thể đại diện chính trị của họ và khi người dân có những phương pháp hoặc văn bản thỏa thuận liên quan đến trách nhiệm của những nhà chính trịđược giao nhiệm vụ điều hành và quản lý (quyền hành pháp) và những người đại diện này sẽ bị tạo áp lực đối với kết quả của hoạt động quản lý Ở các nước đang phát triển thì áp lực rất khó được xem xét giải quyết, tuy nhiên, như các quy trình quản lý tập trung yếu tố đầu vào hơn là kết quả (như đã trình bày ở trên) thì mô hình quản lý theo kết quả gia nhập vào cải cách hướng về người dân

để giải quyết vấn đề này

Thứ tư, đánh giá theo định hướng kết quả, đóng vai trò quan trọng trong việc

tăng cường các biện pháp khuyến khích theo định hướng đối với các nhà chính trị và nhà quản lý trong quá trình quản trị Yếu tố này gắn liền với sự phân quyền tham gia

và liên quan trực tiếp đến quản lý theo kết quả cùng với cơ cấu của chính phủ Việc đánh giá là rất quan trọng đối với việc phân tích liên tục các thỏa thuận dựa trên kết quả, giữa công dân và các nhà lãnh đạo chính trị (nơi có sự tập trung vào kết quả đầu ra) và giữa các nhà lãnh đạo chính trị và các nhà quản lý (nơi tập trung đầu ra) Những đánh giá này tạo thành các công cụ giải trình trách nhiệm và minh bạch đối với các hành vi trong hệ thống cải cách hướng về người dân, đồng thời tạo động lực làm việc tốt hơn đối với đội ngũ công chức

Hình 2 Mô hình hướng về người dân – Cách nhìn tổng quan

Trang 5

Quản lý theo kết quả

Sự quản lý liên quan đến đầu ra sử dụng các công cụ quản lý để

làm ra các dịch vụ hiệu quả, trong thời hạn thỏa thuận về đầu ra

Thỏa thuận đầu ra

Quyền hành pháp, thể hiện rõ nét

từ

cơ quan lập pháp và liên quan đến

kết quả làm cho nhà quản lý phải chịu

trách nhiệm cho các yếu tố đầu ra liên quan

Phân quyền tham gia

Cơ quan lập pháp

(2) (3) Thỏa thuận

kết quả ở cấp địa phương

(1)

Sự đánh giá của công dânvề yếu tố

đầu ra và kết quả (về thỏa thuận

rõ ràng và tiềm ẩn) tạo nên

áp lực xã hội cho những nhà chính trị và nhà quản lý để tạo ra kết quả

(Nguồn: Shah, 2003) Một ví dụ cho mô hình trên (hình 2) có thể là thị trưởng được bầu, được đề nghị bởi luật, để làm cho lời hứa với cử tri trở thành ―thỏa thuận về hiệu suất làm việc và quản lý‖ – giải thích rõ điều mà công dân có thể ―mong đợi‖ nhằm giải quyết các vấn

đề về nguồn nước, giáo dục, đường sá, cung cấp điện năng và đẩy mạnh sự tham gia của công dân trong việc đánh giá hiệu suất công việc trên

Các công cụ cần thiết cho quản lý theo kết quả: lập kế hoạch ngân sách (Ammons, 2002), các bộ tiêu chuẩn (Foltin, 1999), chi phí (Rodriguez, 1995)

Từ nội dung mô hình, Shah đưa ra những kết quả đạt được khi áp dụng mô hình vào hoạt động quản trị của bộ máy nhà nước:

Công dân ảnh hưởng đến quản trị bằng cách yêu cầu các dịch vụ và bắt các nhà đại diện được phân quyền chịu trách nhiệm về kết quả

Sự đánh giá từ bên trong được liên kết với

các thỏa thuận quản lý và hình thành nền

tảng thúc đẩy cho việc tạo nên yếu tố đầu

ra hiệu quả

Đánh giá dựa theo kết quả

Trang 6

Thứ nhất, người dân tham gia vào hoạt động quản trị của bộ máy nhà nước ở

cấp địa phương, thay đổi cơ chế quản trị từ trên xuống, làm cho hoạt động của bộ máy tập trung đáp ứng yêu cầu của người dân – những người đóng vai trò ―lãnh đạo‖ chủ chốt và khách hàng

Thứ hai, việc tham gia của người dân tập trung vào kết quả đầu ra của sản

phẩm, dịch vụ mà các cơ quan nhà nước tạo ra, đồng thời tạo ra cơ chế giám sát khách quan, đối với hoạt động công vụ của công chức; giám sát quá trình đánh giá kết quả hoạt động bên trong của bộ máy, tránh tình trạng đánh giá chủ quan, mang tính chất khuyến khích nội bộ

Thứ ba, hình thành cơ chế đánh giá hiệu quả quản trị thường xuyên, liên tục của

người dân đối với bộ máy nhà nước; cơ chế thỏa thuận theo kết quả giữa nhà nước và người dân; cơ chế giải trình của nhà nước đối với người dân

Thứ tư, công chức có động cơ để tối ưu hóa hiệu quả hoạt động thông qua cơ

chế chính sách và công cụ

Thứ năm, việc quản lý và điều hành của bộ máy nhà nước sẽ dần dần tự động

phát triển theo định hướng kết quả đầu ra (sản phẩm, dịch vụ mà nhà nước cung cấp), đáp ứng yêu cầu của người dân

Thứ sáu, hoạt động của bộ máy nhà nước sẽ mang tính ―cạnh tranh‖ hơn và

hiệu quả hơn

Thứ bảy, việc cung cấp dịch vụ công mang tính độc lập (tự quản địa phương),

không phụ thuộc theo cơ chế từ trên xuống và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả của dịch

vụ công

Thứ tám, tạo động lực để công chức không ngừng phát triển năng lực bản thân

để đáp ứng việc quản trị theo kết quả đầu ra và năng lực sáng kiến, hòa nhập với cộng đồng

Thứ chín, đánh giá theo kết quả và làm tăng tính công khai, minh bạch đối với

hoạt động của bộ máy nhà nước

Theo những kết quả nghiên cứu mà Shah đã trình bày ở trên, tác giả nhận thấy hoàn toàn có thể áp dụng một số tiêu chí cho mô hình ―chính quyền thân thiện, công sở thân thiện‖ tại tỉnh Bình Dương, theo đó cần chú trọng xây dựng một mô hình chính quyền thật sự linh hoạt, chú trọng sự tham gia của người dân, phát huy vai trò của các

cơ quan quyền lực nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương, bên cạnh

đó xây dựng hệ thống đánh giá theo kết quả đối với thái độ phục vụ và hiệu quả công việc mà đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện thật sự khách quan, không tạo cơ chế khuyến khích nội bộ như Shah đã nhấn mạnh

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong bài viết tác giả tập trung sử dụng các phương pháp sau:

Thứ nhất, phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh:

sử dụng phương pháp luận dựa trên những nội dung biện chứng và hệ tư tưởng khoa học để làm rõ những vấn đề lý luận, đảm bảo mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn Phương pháp này phục vụ cho các nội dung cơ sở lý thuyết và phần đánh giá, kết luận

Trang 7

Thứ hai, phương pháp phân tích, tổng hợp: tổng hợp những số liệu, tài liệu liên

quan đến mô hình chính quyền thân thiện, công sở thân thiện tại tỉnh Bình Dương và

mô hình quản trị hướng về người dân của Anwar Shah, từ đó tạo nên hệ thống cơ sở lý thuyết, số liệu, tài liệu chứng minh cho những luận cứ của bài viết Phương pháp này phục vụ cho phần kết quả và thảo luận

Thứ ba, phương pháp thống kê: thống kê, xử lý những số liệu liên quan đến thực

trạng mô hình chính quyền thân thiện, công sở thân thiện, từ đó hình thành hệ thống các số liệu, biểu đồ làm rõ những luận điểm của tác giả Phương pháp phục vụ cho phần kết quả và thảo luận

Thứ tư, phương pháp so sánh là phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu có sẵn hoặc

chưa qua xử lý để phục vụ việc đối chiếu, làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt

về những vấn đề xoay quanh đối tượng nghiên cứu là mô hình chính quyền thân thiện, công sở thân thiện tại tỉnh Bình Dương với những tiêu chí so sánh nhất định, đồng thời phân tích và đưa ra quan điểm đánh giá của tác giả Phương pháp này phục vụ cho phần kết quả và thảo luận

Thứ năm, phương pháp sử dụng biểu đồ số liệu: là phương pháp xử lý số liệu

hoặc sử dụng số liệu chưa qua xử lý để trình bày thành những biểu đồ, bảng biểu nhằm làm rõ thực trạng mô hình chính quyền thân thiện, công sở thân thiện tại tỉnh Bình Dương Phương pháp này phục vụ cho phần kết quả và thảo luận

3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1 Thực trạng chính quyền thân thiện tại tỉnh Bình Dương

Ở các nước Đông Nam Á, quyền tham gia của người dân vào hoạt động chính trị và bộ máy nhà nước luôn được chú trọng và ngày càng cải thiện theo xu hướng tiến

bộ, cụ thể:

Quyền tham gia chủ động vào chính trị được quy định trong Hiến pháp

Campuchia và Thái Lan Hiến pháp Campuchia quy định về quyền này một cách khá tổng quát và mang tính ghi nhận về mặt nguyên tắc rằng công dân Campuchia không phân biệt giới tính có quyền tham gia một cách chủ động vào đời sống chính trị, kinh

tế, văn hóa của quốc gia Bất kỳ đề xuất nào từ phía người dân đều phải được nhà nước quan tâm xem xét đầy đủ Khác với Hiến pháp Campuchia, Hiến pháp Thái Lan tuy không quy định một cách rõ ràng về quyền tham gia chủ động vào chính trị của người dân song lại quy định một cách khá chi tiết một số quyền cụ thể nhằm tới mục đích cho phép người dân tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước: ―cá nhân có quyền tham gia vào quá trình ra quyết định của các quan chức nhà nước trong việc thực hiện các chức năng quản lý hành chính mà ảnh hưởng hoặc có thể ảnh hưởng tới các quyền và quyền tự do của cá nhân Cá nhân có quyền gửi khiếu nại và được phúc đáp về kết quả xem xét kiến nghị một cách không chậm trễ Cá nhân có quyền nộp đơn kiện cơ quan chính phủ, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có tư cách pháp nhân để buộc trách nhiệm đối với hành vi (hành động hoặc không hành động) do công chức chính phủ, nhân viên hoặc người làm công của các cơ quan đó thực hiện‖ Rõ ràng tuy không

đề cập trực tiếp tới quyền tham gia chủ động vào chính trị của người dân Thái nhưng

Trang 8

với một số quyền cụ thể trên đây, khả năng người dân Thái Lan được tham gia một cách chủ động vào hoạt động của các cơ quan nhà nước được bảo đảm về mặt hiến định một cách khá hiệu quả và toàn diện [7]

Quyền bình đẳng trong việc tham gia chính quyền là một quyền cơ bản khá

mới trong lĩnh vực chính trị Nó cũng ít được nhắc tới trong các bản hiến pháp khác ở trên thế giới Cũng có thể có những quan điểm cho rằng quyền này thực ra nằm trong ngoại diên của quyền và cũng là nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật Quan điểm này cũng không hẳn là sai Tuy nhiên, trong duy nhất một bản hiến pháp của một quốc gia ASEAN, Indonesia, quyền này được quy định một cách rõ ràng ―mỗi công dân có quyền nắm được các cơ hội bình đẳng trong chính quyền‖ Trong tất cả các bản hiến pháp còn lại đều không quy định quyền này Hiến pháp Indonesia cũng không có quy định chi tiết hơn về quyền bình đẳng trong việc tham gia chính quyền chính vì vậy vẫn chưa rõ nội hàm của quyền này là như thế nào và việc quy định về quyền này trong Hiến pháp Indonesia vẫn chỉ mang tính nguyên tắc [7]

Ở Việt Nam, vai trò tham gia của người dân luôn được chú trọng và đảm bảo nguyên tắc ―dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra‖ và được quy định rõ trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cụ thể: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: ―Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo"; "Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân" Điều 2, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: ―Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức‖

Như vậy, người dân có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý và điều hành của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương Tất cả mọi hoạt động của bộ máy đều phải chịu sự giám sát của người dân Đó chính là đặc điểm quan trọng hướng đến một mô hình quản trị mà ở đó người dân là trung tâm và sự hài lòng của người dân

là tiêu chí để đánh giá hiệu quả của hoạt động quản lý và điều hành Hiện nay, các tỉnh thành đã và đang ngày càng thích ứng với xu thế tiến bộ của thế giới, đó là cải cách thủ tục hành chính gọn nhẹ, tiết kiệm thời gian, công sức và tiền bạc, bên cạnh đó, cải thiện chất lượng cung ứng dịch vụ công và đáp ứng nhu cầu của người dân, tiêu biểu là việc tiên phong xây dựng chính quyền thân thiện, công sở thân thiện theo chủ trương Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về ―Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới‖ của chính quyền tỉnh Bình Dương – một trong những tỉnh có nền kinh tế phát triển mạnh ở Đông Nam Bộ và Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam

Việc thí điểm mô hình chính quyền thân thiện, công sở thân thiện được tỉnh Bình Dương thí điểm từ năm 2014 tại một số đơn vị: Ủy ban nhân dân (UBND)

Trang 9

phường Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một; Ủy ban nhân dân xã Bình Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên; Phòng Quản lý đô thị thị xã Thuận An; Phòng Lao động - Thương binh

và Xã hội thị xã Bến Cát; Kho bạc Nhà nước huyện Dầu Tiếng Qua quá trình thực hiện thí điểm nhận thấy hiệu quả tích cực từ mô hình, chính quyền tỉnh tiếp tục đưa ra chủ trương nâng cao hiệu quả công tác dân vận chính quyền, xây dựng ―Chính quyền thân thiện của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân‖ và ―Công sở thân thiện vì Nhân dân phục vụ‖ trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016 – 2020

a) Những kết quả đạt được

Những nội dung của mô hình ―chính quyền thân thiện, công sở thân thiện‖ tại tỉnh Bình Dương như: xây dựng các bảng khẩu hiệu, các mẫu thư và phiếu khảo sát; cải cách thủ tục hành chính; xây dựng, thực hiện dân chủ cơ sở; thực hiện văn minh, văn hóa công sở và Quy tắc ứng xử; thực hiện tiếp công dân, đối thoại và giải quyết khiếu nại, tố cáo, đã cho thấy được sự vận dụng phù hợp với những cơ sở lý thuyết nghiên cứu của Shah Việc thay đổi cách thức tiếp dân, thay đổi thái độ phục vụ, giảm bớt khối lượng giấy tờ, văn bản, thủ tục hành chính, tạo sự hòa đồng, gần gũi với người dân, thực hiện văn hóa công sở, quy chế dân chủ trong hoạt động đã tạo một hình ảnh của một nền hành chính linh hoạt, thích ứng nhanh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân Bên cạnh đó là hệ thống khảo sát, thực hiện đánh giá hiệu quả công việc của đội ngũ công chức Mô hình ―chính quyền thân thiện, công sở thân thiện‖ tại tỉnh Bình Dương đã cho thấy được tầm nhìn của Đảng, sự sáng tạo trong việc vận dụng của chính quyền tình Bình Dương trong các văn kiện các kỳ Đại hội là phù hợp và khoa học, bắt kịp xu thế hội nhập quốc tế Kết quả cụ thể như sau:

Về xây dựng các bảng khẩu hiệu, các mẫu thư và phiếu khảo sát

Theo báo cáo số 426/BC-SNV ngày 23/6/2017 về kết quả kiểm tra thực hiện công vụ theo chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương thì công tác triển khai, phổ biến học tập, quán triệt công tác dân vận và xây dựng ―chính quyền thân thiện‖ được các cơ quan triển khai thực hiện nghiêm túc Ở hầu hết các cơ quan, đơn vị, địa phương đều đã xây dựng khẩu hiệu 5 biết (biết nghe dân nói, biết nói dân hiểu, biết làm dân tin, biết xin lỗi và biết cảm ơn) và 3 thể hiện: tôn trọng (trong quan hệ giao tiếp), văn minh (lịch sự, văn hóa trong giao tiếp, giải quyết công việc), gần gũi (trong quan hệ, giải quyết công việc nhanh chóng, không quan cách, trịch thượng, xa cách)

Các mẫu thư Thư xin lỗi, Thư cám ơn, Thư chúc mừng, Thư chia buồn cũng đã được triển khai áp dụng; riêng đối với các cơ quan và đơn vị chỉ thực hiện hai mẫu thư

là Thư xin lỗi và Thư cám ơn tùy vào tình hình thực tế, các địa phương, đơn vị cũng đã

áp dụng các hình thức thư phù hợp Qua triển khai đã được người dân tiếp nhận với tâm trạng phấn khởi, bất ngờ khi được sự quan tâm từ các cấp chính quyền đến các sự kiện trọng đại trong gia đình họ như việc có thêm thành viên mới, đăng ký kết hôn hay

có tin buồn…Điển hình là ở UBND phường Phú Cường, Thành phố Thủ Dầu Một đã ban hành các mẫu thư xin lỗi, thư cảm ơn, thư chúc mừng; UBND thị xã Thuận An bổ sung vào phương châm hành động: 4 phong cách (Trọng dân, gần dân; Học dân; Hiểu dân; Có trách nhiệm với dân và 6 phương châm (Chân thành, Tích cực, Thận trọng, Kiên trì, Tế nhị, Hiệu quả)…

Trang 10

Ở một số cơ quan, đơn vị đã tiến hành khảo sát lấy ý kiến của nhân dân đánh giá nhận xét đối với cách thức giải quyết công việc của đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC)… Qua đó, CBCC cũng đã có những chuyển biến tích cực trong tư duy về trách nhiệm và nghĩa vụ phục vụ nhân dân, chuyển dần bộ máy chính quyền từ quản lý sang phục vụ

Về thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính

Thực hiện chương trình Tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020, tỉnh Bình Dương đã ban hành kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2016-2020 nhấn mạnh cải cách hành chính trong đó có cải cách về thủ tục hành chính là trọng tâm của công tác xây dựng chính quyền thân thiện, công sở thân thiện Qua đó, các cơ quan đơn vị đã thực hiện tốt công tác kiểm soát văn bản quy phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính trước khi ban hành và kiểm tra việc thực hiện thủ tục hành chính sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành

Thực hiện nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một của liên thông nhằm giảm hành vi nhũng nhiễu, phiền hà trong tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính Một số địa phương đã phát huy tính sáng tạo trong cải cách thủ tục hành chính như UBND thị xã Bến Cát đã triển khai thực hiện thí điểm

mô hình ―Đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn lưu động‖ cho người dân, nhất là người lao động không có thời gian đến UBND xã để đăng ký, UBND phường Thuận Giao thực hiện ―Chứng thực chữ ký tại nhà đối với những trường hợp người dân thuộc diện già yếu, khuyết tật‖…

Bên cạnh đó là ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính giúp người dân thuận tiện trong tra cứu các thủ tục hành chính, thực hiện các giao dịch hành chính nhằm tiết kiệm thời gian Một ví dụ điển hình ở cục thuế tỉnh Bình Dương ngoài thực hiện cải cách hành chính theo chỉ đạo chung của Chính phủ còn thực hiện cải cách, hiện đại hóa ngành thuế, năm 2016 có 93% người nộp thuế

sử dụng kê khai thuế qua mạng và 95,63% doanh nghiệp đăng ký thành công ngân hàng về nộp thuế điện tử [5] Đa số các ủy ban đều bố trí các bảng thông báo, dán các quy trình giải quyết các thủ tục hành chính cho người dân dễ dàng tra cứu Một số thủ tục hành chính đã giảm bớt kể cả về giấy tờ thủ tục, thời gian xử lý, các cơ quan đơn vị

đã cải tiến chất lượng phục vụ giải quyết kịp thời các công việc hành chính của nhân dân, tổ chức và cá nhân Ví dụ Bảo hiểm xã hội tỉnh từ năm 2014 đến cuối năm 2016

đã cắt giảm các thủ tục hành chính xuống còn 32 thủ tục, giảm 38% thành phần hồ sơ, giảm 42% tiêu thức trên tờ khai biểu mẫu, giảm 54% quy trình, thao tác thực hiện, UBND thị xã Thuận An đã tiến hành rà soát và giải quyết 6 thủ tục hành chính của Phòng Quản lý đô thị từ 15 ngày xuống còn 12 ngày [5], riêng thị xã Dĩ An trong năm

2016 đã giải quyết 28.033/29.211 hồ sơ đúng hẹn, đạt trên 96% [6]

Việc triển khai áp dụng ISO 9001:2008 giúp chuẩn hóa các thủ tục hành chính theo quy trình ISO để kịp thời quản lý và đánh giá hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ của CBCC Các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, UBND cấp huyện hiện nay đã và đang

áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001:2008 hoặc TCVN ISO 9001:2015.UBND tỉnh cũng

Ngày đăng: 29/10/2022, 09:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anwar Shah, Handbook on public sector performance reviews (in six volumes), Vol Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook on Public Sector Performance Reviews
Tác giả: Anwar Shah
2. Anwar Shah and Sanar Shah,The new vision of local governance and the evolving roles of local governance, trong sách Local governance in Developing countries, edited by Anwar Shah, WB, Washington D.C, 2006, p.22-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Local governance in Developing countries
Tác giả: Anwar Shah, Sanar Shah
Nhà XB: World Bank
Năm: 2006
3. Học viện Hành chính, Quản lý công (sách chuyên khảo), TS. Bùi Huy Khiên (chủ biên), NXB Chính trị- Hành chính, Hà Nội 2013, tr.294-308 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý công
Tác giả: Bùi Huy Khiên
Nhà XB: NXB Chính trị- Hành chính, Hà Nội
Năm: 2013
7. Trang thông tin điện tử Khoa học pháp lý: http://khpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=4 Link
4. Sở Nội vụ, Báo cáo số 426/BC-SNV ngày 23/6/2017 về ―Kết quả kiểm tra thực hiện công vụ theo chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương‖ Khác
5. Sở Nội vụ, Báo cáo số 286/BC-SNV ngày 20/4/2015 về ―Kết quả triển khai thí điểm đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Bình Dương năm 2015‖ Khác
6. Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương, Báo cáo số 23/BC-UBND ngày 03/3/2016 về ―Kết quả thực hiện công tác dân vận của chính quyền và xây dựng chính quyền thân thiện, công sở thân thiện năm 2016. Một số định hướng năm 2017‖ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w