Đối với bệnh nhân có thông khí phổi đạt tiêu chuẩn phẫu thuật, không có bệnhkèm theo nghiêm trọng, phẫu thuật cắt bỏ khối u là điều trị ban đầu hiệu quả nhấtcho bệnh nhân giai đoạn I hoặ
Nguyên nhân bệnh ung thư phổi
Bệnh nhân bị ung thư phổi bởi những nguyên nhân sau:
Hút thuốc lá: hiện nay, 90% bệnh nhân bị ung thư phổi bởi hút thuốc lá, 4% bệnh nhân do hít phải số lượng đáng kể khói thuốc hàng ngày.
Môi trường làm việc là yếu tố dễ gây ung thư phổi, với nhiều tác nhân từ công nghiệp có thể tăng nguy cơ cho người lao động Các yếu tố này gồm khói bụi và khí thải, đặc biệt trong các ngành như luyện thép và tiếp xúc với các kim loại như nickel và crom, khí than; amiăng (asbestos); arsenic và muối silicat; chloromethyl ether và các hydrocacbon thơm đa vòng (PAHs), cho thấy rõ mối liên hệ giữa môi trường làm việc và nguy cơ ung thư phổi.
Tiếp xúc với tia phóng xạ là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh ung thư, trong đó ung thư phổi là một trong những loại phổ biến nhất Những người làm việc tại các mỏ uranium, fluorspar và hematite có nguy cơ tiếp xúc với tia phóng xạ do hít phải không khí có chứa khí radon.
Bệnh học và bệnh sử tự nhiên 1 Ung thư phổi tế bào nhỏ
Ung thư phổi không tế bào nhỏ
UT phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) chiếm 85% các bệnh nhân UT phổi.
Carcinôm tế bào vảy chiếm 20-25% UTPKTBN.
Vị trí xuất hiện của hai loại ung thư da này được mô tả: trước đây carcinôm tuyến được cho là thường gặp ở vùng ngoại vi, trong khi carcinôm tế bào vảy lại hay gặp ở vùng trung tâm Các nghiên cứu gần đây cho thấy sự phân bố vị trí của hai loại ung thư này có xu hướng tương đồng với nhau, cho thấy nhận thức về đặc điểm vị trí của chúng đang dần thay đổi.
Diễn tiến lâm sàng: Carcinôm tế bào vảy thường vẫn khu trú trong giai đoạn đầu của bệnh và tái phát tại chỗ sau phẫu hoặc xạ trị.
Các hội chứng cận u đi kèm thường gặp là tăng canxi máu do tăng sản xuất peptide liên quan đến hormone tuyến cận giáp; đôi khi bệnh xương khớp phì đại; cũng có thể thấy tăng bạch cầu đa nhân hoặc hiện tượng tăng đông.
Carcinôm tuyến chiếm khoảng 50–60% của UTPKTBN, thường gặp ở các bệnh nhân không hút thuốc, đặc biệt là ở phụ nữ trẻ Tuy nhiên, nó cũng có thể gặp ở những người hút thuốc.
Vị trí: Bướu nguyên phát thường gặp ở vùng ngoại vi hơn carcinôm tế bào vảy.
Diễn tiến lâm sàng của carcinôm tuyến cho thấy hơn một nửa số bệnh nhân có khối bướu ở ngoại vi và di căn hạch vùng, đặc trưng cho xu hướng lan rộng của khối u và di căn ở nhóm bệnh nhân này, gồm cả carcinôm tuyến và carcinôm tế bào.
Luận văn mới nhất mô tả quá trình di căn bắt nguồn từ lồng ngực, lan rộng qua đường máu và thường đến xương, gan, thượng thận và não; bài viết tổng hợp cơ chế di căn, diễn tiến tự nhiên và các yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng Để tải xuống bản cập nhật mới nhất, liên hệ với email skknchat123@gmail.com.
Các hội chứng cận u đi kèm bao gồm : bệnh xương khớp phì đại, tình trạng tăng đông máu, tăng canxi máu và nữ hoá tuyến vú.
2.3 Ung thư phổi tế bào lớn và các loại mô học khác
Các UTPKTBN còn lại là loại tế bào lớn và các loại mô học khác.
Ung thư phổi tế bào lớn với đặc điểm thần kinh nội tiết đang được chẩn đoán ngày càng nhiều nhờ chẩn đoán hoá mô miễn dịch Việc phân tích các marker miễn dịch như chromogranin và NSE (neuron-specific enolase) bằng kỹ thuật immunohistochemistry (IHC) giúp nhận diện đặc trưng thần kinh nội tiết của khối u và hỗ trợ phân loại ung thư phổi một cách chính xác Nhờ IHC, chẩn đoán sớm và chính xác hơn các trường hợp ung thư phổi tế bào lớn có yếu tố thần kinh nội tiết, từ đó cải thiện quyết định điều trị và tiên lượng.
Triệu chứng cơ năng và thực thể của ung thư phổi
Hội chứng cận ung thư
Các phương pháp chẩn đoán bệnh ung thư phổi
Để chẩn đoán bệnh nhân có bị mắc bệnh ung thư phổi hay không, cần sử dụng các phương pháp chẩn đoán sau:
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Sinh thiết phổi dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính lồng ngực là kỹ thuật đưa kim sinh thiết vào tổn thương phổi nghi ngờ ung thư dưới sự hỗ trợ của máy CT, nhằm thu thập mẫu bệnh phẩm từ tổn thương Bệnh phẩm được chuyển cho bác sĩ giải phẫu bệnh để xử lý và đưa lên kính hiển vi đọc nhằm xác định xem tổn thương có phải là mô ung thư hay không Quá trình này đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán ung thư phổi và giúp xác định đặc điểm tế bào để lên kế hoạch điều trị phù hợp Kỹ thuật này thường được chỉ định khi vị trí và kích thước của tổn thương cho phép tiếp cận qua da từ bên ngoài ngực.
Chụp X-quang phổi thường quy có thể phát hiện các tổn thương khối u dạng nốt đơn độc với kích thước khoảng 1 cm Tuy nhiên, X-quang phổi còn có một số hạn chế: các tổn thương nhỏ ở vùng đỉnh phổi, vùng trung tâm rốn phổi, vùng trung thất, sau bóng tim và lấp sau xương sườn khó đánh giá và dễ bỏ sót tổn thương.
Chụp cắt lớp PET/CT là xét nghiệm kết hợp giữa máy PET và máy CT, sử dụng một lượng nhỏ phóng xạ Fluorodeoxyglucose (FDG), giúp xác định chính xác vị trí và phạm vi tổn thương của ung thư phổi, đồng thời hỗ trợ đánh giá đáp ứng điều trị Phương pháp này cũng có khả năng phát hiện các tổn thương di căn như di căn xương, màng phổi, hạch và các tổn thương ở các cơ quan khác, từ đó hỗ trợ xây dựng kế hoạch điều trị và theo dõi hiệu quả điều trị.
4 CT ngực: giúp đánh giá các chi tiết nhỏ hơn bên trong phổi và phát hiện các khối u có thể khó thấy khi chụp X-quang quy ước.
Nội soi phế quản là xét nghiệm được chỉ định cho hầu hết các trường hợp nghi ngờ khối u phổi, cho phép bác sĩ kiểm tra trực quan bên trong đường thở từ khí quản đến cây phế quản bằng một ống nội soi có đèn chiếu sáng, có thể là ống cứng hoặc ống mềm và được đưa vào qua đường mũi hoặc miệng.
Xét nghiệm tế bào đờm là quá trình lấy mẫu đờm (chất nhầy ho ra) và kiểm tra dưới kính hiển vi để xác định xem có tế bào bất thường hay không Xét nghiệm tìm tế bào ung thư trong mẫu đờm có thể hỗ trợ phát hiện sớm ung thư phổi và đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán.
Xếp giai đoạn ung thư phổi theo UICC 2017 1 Ung thư phổi không tế bào nhỏ
Ung thư phổi tế bào nhỏ
Ung thư phổi tế bào nhỏ ở giai đoạn khu trú khi bệnh còn ở một bên lồng ngực, trung thất và các hạch trên đòn cùng bên.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Bảng 1: Xếp loại T, N, M ung thư phổi theo UICC 2017 (phiên bản 8)
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Bảng 2: Xếp giai đoạn ung thư phổi theo UICC 2017 (phiên bản 8) và tiên lượng Giai đoạn
Giai đoạn 0 Giai đoạn IA1 Giai đoạn IA2 Giai đoạn IA3 Giai đoạn IB Giai đoạn IIA Giai đoạn IIB
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Giai đoạn IIICGiai đoạn IVAGiai đoạn IVB
Các phương pháp điều trị ung thư phổi 1 Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ
Điều trị giảm nhẹ trong ung thư phổi
– Chiếu xạ những tổn thương trong lồng ngực tiến triển hoặc các di căn (ví dụ, xương, não).
Điều trị di căn xương nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, vì di căn xương gây đau đớn và có thể dẫn đến gãy xương bệnh lý Đau xương kéo dài ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng di chuyển, sinh hoạt và tinh thần người bệnh Do đó, quản lý di căn xương cần kết hợp điều trị giảm đau, kiểm soát loãng xương và ngăn ngừa biến chứng xương Liệu pháp bisphosphonate được chỉ định cho bệnh nhân nhằm ức chế quá trình tiêu xương, giảm đau và ngăn ngừa gãy xương, từ đó cải thiện chất lượng sống và dự phòng biến chứng cho người bệnh.
Ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn xương có thể được quản lý bằng acid zoledronic, với các tên thương mại Zometa, Zomera, Aclasta và Reclast, giúp giảm đáng kể các biến chứng do di căn xương như gãy xương bệnh lý, lún cột sống và tăng calci huyết.
Zoledronate liều lượng chuẩn 4mg, truyền tĩnh mạch trong 15 phút, 1 lần/tháng.
Các tác dụng phụ phổ biến khi truyền lần đầu bisphosphonates bao gồm mệt mỏi, thiếu máu, đau cơ, sốt và sưng chân; các triệu chứng giống cúm thường xuất hiện sau lần truyền đầu tiên Zoledronate được thải trừ nhanh qua thận, do đó không nên dùng cho bệnh nhân có chức năng thận giảm hoặc bệnh thận Một biến chứng hiếm gặp ở bệnh nhân điều trị bằng bisphosphonates là hoại tử xương hàm, do đó không nên can thiệp nha khoa trước khi điều trị bằng bisphosphonates để giảm nguy cơ hoại tử xương hàm Điều trị tràn dịch màng phổi ác tính:
Các phương pháp điều trị tràn dịch màng phổi bao gồm chọc hút dịch màng phổi, bơm hoá chất gây dính màng phổi qua catheter hoặc sonde dẫn lưu, bơm bột talc hoặc chà sát màng phổi khi nội soi, và phẫu thuật cắt bỏ màng phổi Các can thiệp này nên được xem xét khi liệu pháp hoá trị hoặc liệu pháp tia không mang lại hiệu quả, nhằm giảm triệu chứng, cải thiện chức năng hô hấp và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.
– Liệu pháp tia và hoá trị liệu:
Tràn dịch màng phổi ác tính do ung thư phổi tế bào nhỏ có thể đáp ứng tốt với hoá trị liệu ở một số ít bệnh nhân.
– Điều trị tại chỗ cục bộ: có hiệu quả giảm khó thở, giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí và hạn chế biến chứng.
Chọc hút dịch màng phổi nhằm làm giảm khó thở và xác định mức độ tái phát của dịch Nếu khó thở không giảm sau chọc hút dịch màng phổi thì có thể do phổi không nở ra được hoặc do ung thư di căn bạch huyết toàn thân, huyết khối tĩnh mạch hoặc do xẹp phổi Khó thở không giảm sau chọc hút dịch có thể do tai biến của kỹ thuật như tràn khí hoặc chảy máu màng phổi Nếu dịch màng phổi nhiều lên sau khi chọc hút dịch thì nên chọc lại ngay để xác định có chảy máu màng phổi hay không Những bệnh nhân nặng, thể trạng yếu, thời gian sống thêm dự kiến ít hơn 3 tháng thì nên chọc dịch điều trị Tràn dịch màng phổi nhiều có thể đẩy trung thất sang bên đối diện thì hút nhiều dịch trong một lần có thể gây phù phổi cấp một bên Nên theo dõi áp lực màng phổi trong quá trình hút dịch.
Gây dính màng phổi là phương pháp điều trị chủ yếu dành cho những bệnh nhân không có chỉ định điều trị hoá chất toàn thân và không có tràn dịch dưỡng chấp.
Xạ trị vào trung thất thất bại, các biện pháp giảm nhẹ nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân được xem xét kỹ lưỡng Một trong những biện pháp này là pleurodesis để hạn chế tích tụ dịch và đau bằng cách gây dính giữa màng phổi và thành ngực, từ đó cải thiện khả năng thở và sự thoải mái cho người bệnh Các chất gây dính thường được sử dụng bao gồm talc, tetracycline, bleomycin, doxycycline và quinacrine Việc lựa chọn chất gây dính phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng và quyết định của bác sĩ; đây là phương án có thể giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân khi những can thiệp ban đầu không mang lại hiệu quả mong đợi.
Một nghiên cứu ở Anh (1966-1992) cho thấy tỷ lệ thành công của dính màng phổi ở bệnh nhân tràn dịch màng phổi ác tính là 64% Tác nhân gây dính hiệu quả nhất là bột talc với 93% thành công; theo sau là Corynebacterium parvum 76%, doxycycline 72% và bleomycin 54% Tỷ lệ dính cũng được ghi nhận ở mức 72% cho tổ hợp bột talc và tetracycline, trong khi các thuốc chống ung thư như bleomycin, interferon-beta, cisplatin, 5-FU và etoposide cho 44%.
Một số nghiên cứu cho thấy hai phương pháp gây dính màng phổi bằng talc, đó là gây dính bằng hỗn dịch bột talc qua đặt sonde màng phổi và dùng bột talc khô qua soi lồng ngực, có tỷ lệ thành công giống nhau khi sử dụng tới 5 g bột talc.
Hiện nay vẫn còn một số tranh luận liên quan đến phương pháp gây dính màng phổi, đặc biệt là về các yếu tố ảnh hưởng đến an toàn và hiệu quả điều trị Các vấn đề được bàn tới nhiều gồm cỡ sonde, thời gian lưu, tư thế bệnh nhân, thời gian nhỏ giọt thuốc và thời điểm rút sonde, vì những biến số này có thể tác động đến kết quả lâm sàng và thời gian hồi phục của người bệnh Do đó cần thêm bằng chứng từ nghiên cứu và so sánh giữa các phương pháp để tối ưu hóa quy trình và hướng dẫn thực hành trong lâm sàng.
Bột talc lần đầu được sử dụng để gây dính màng phổi vào năm 1935, công thức hoá học là Mg4Si4010(OH)2 Bột talc được phun vào khoang màng phổi qua nội soi hoặc bơm vào màng phổi bột talc dạng hỗn dịch Một nghiên cứu gần đây giữa bột talc dạng hỗn dịch (5g) với bleomyxin (60 Units) thấy 90% thành công sau hai tuần, nhóm dùng bleomyxin là 79% Một nghiên cứu so sánh giữa talc dạng bột và talc dạng hỗn dịch thấy rằng không có sự khác biệt về tỷ lệ thành công ở hai nhóm Các tác giả cho rằng khi sử dụng bột talc ở dạng hỗn dịch thì nên xoay trở bệnh nhân trong vòng 1 giờ vì bột talc dạng hỗn dịch không thể phát tán hoàn toàn như các thuốc hoà tan Các số liệu thực nghiệm cho thấy các tế bào trung biểu mô bị tổn thương trong vòng mấy phút sau khi tiếp xúc với thuốc Tổn thương tế bào trung biểu mô sẽ khởi đầu đáp ứng viêm dẫn tới xơ màng phổi, thời gian lưu sonde
1 giờ là đủ để hai bề mặt màng phổi chà xát vào nhau, thúc đẩy quá trình dính màng phổi.
Các tác dụng phụ phổ biến nhất của dính màng phổi bằng bột talc là đau ngực và sốt, với tỉ lệ đau ngực khoảng 7-43% và sốt 10-59%; sốt thường xuất hiện trong vòng 12 giờ sau bơm bột talc và hết sau khoảng 48 giờ Một số trường hợp có suy hô hấp cấp sau dính màng phổi ở tràn dịch màng phổi ác tính khi thực hiện bằng cách bơm bột talc Liều talc được dùng từ 2-5 g, cho tỉ lệ thành công cao và biến chứng thấp.
Ngoài ra, các nốt nhỏ ở phổi có thể được cắt bỏ qua nội soi màng phổi sau khi định vị u bằng chụp cắt lớp vi tính Đây là một phương pháp đáng tin cậy và ít biến chứng, giúp người bệnh không cần mở lồng ngực để tiến hành sinh thiết.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Theo Boutin C và cộng sự, gây dính bằng tetracyclin cho hiệu quả được 90% các trường hợp, nhưng sau 6 tháng có 50% số bệnh nhân bị tái phát
Qua tổng kết của 16 tác giả trong 30 năm (1958-1986), việc gây dính bằng bột talc để điều trị tràn dịch màng phổi ác tính cho thấy hiệu quả từ 72% đến 100% Đáng chú ý, kết quả rất tốt ở các trường hợp tràn dịch màng phổi do các loại ung thư khác nhau, kể cả u trung biểu mô ác tính.
Gây dính màng phổi trong tràn dịch màng phổi ác tính do ung thư phổi cho thấy hiệu quả đạt 96,7%, thời gian nằm điều trị trung bình của những bệnh nhân được gây dính là 1,26 tuần Biến chứng hay gặp nhất sau soi màng phổi gây dính là đau tại chỗ, chiếm 56,7%; tiếp theo là tràn khí dưới da khu trú 16,7%; sốt nhẹ và vừa 20%; các biến chứng khác ít gặp như chảy máu ít và nhiễm trùng chân dẫn lưu đều không quá 6,7%.
Điều trị quang đông
Với sự xuất hiện của các dẫn xuất hematoporphyrin tiêm, điều trị các khối u đường thở bằng phương pháp quang động học đã trở nên khả thi từ những năm 1970 Hiện nay, hỗn hợp porphyrin được sử dụng phổ biến, ví dụ porfimer (Photofrin), với liều chuẩn 2 mg/kg tiêm tĩnh mạch chậm trong 5–10 phút và được thải ra khỏi cơ thể sau khoảng 72 giờ, nhưng tích lũy lâu hơn trong mô khối u, da, gan và lách Việc tồn tại kéo dài ở tế bào khối u và nội mạc mạch máu cho phép porfimer có phản ứng độc tế bào chọn lọc ở tế bào khối u Sau một khoảng thời gian nhất định, thường là 48 giờ, khối u được tiếp xúc với năng lượng ánh sáng, khiến các tế bào chứa porphyrin gây độc tế bào chủ yếu thông qua quá trình oxy hóa khi có sự kích thích của ánh sáng Các nội mạc mạch của khối u đặc biệt dễ bị quang đông với sự tổn thương mao mạch ngay sau điều trị.
Trong ung thư phổi, phẫu thuật cắt bỏ khối u không phải lúc nào cũng được chỉ định Đối với ung thư phổi tế bào nhỏ có tắc nghẽn đường thở một phần hoặc toàn bộ, điều trị tắc nghẽn và điều trị triệu chứng đóng vai trò chính nhằm cải thiện thông khí, giảm triệu chứng và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Trong liệu pháp quang động (PDT) bằng porfimer sodium, quá trình hấp thụ đạt cực đại ở bước sóng 405 nm, nhưng ánh sáng 405 nm lại bị hấp thụ gần như hoàn toàn tại bề mặt tế bào nên phá hủy tối thiểu phần ngoại vi khối u; để phá hủy sâu hơn từ 5–10 mm cần sử dụng ánh sáng bước sóng 630 nm Nguồn sáng thường dùng là bóng argon hoặc laser KTP (kalium-titanyl-phosphate) phát laser lạnh, và ánh sáng được truyền qua hệ thống cáp quang qua ống soi phế quản tới vùng tổn thương Sợi cáp quang thường có đầu hình trụ, cho phép truyền sáng theo chiều ngang 360 độ quanh đầu sợi; một thấu kính nhỏ có thể được dùng để tập trung ánh sáng theo một hướng phía trước nhằm điều trị các khối u nhỏ trên bề mặt Đầu sợi quang này cũng khá cứng, cho phép đâm xuyên vào khối u nếu cần thiết Thủ thuật được tiến hành khoảng 48 giờ sau khi tiêm, nên chất porphyrin ở niêm mạc bình thường đã được đào thải gần như hết, từ đó giảm thiểu thiệt hại cho các mô lành.
Liều điều trị ban đầu thường là 200 J/cm^2 Liều quang đông cho các lần điều trị sau phụ thuộc vào đánh giá tổn thương sau từng phiên điều trị Thông thường, lần điều trị bổ sung được tiến hành sau khoảng 2 ngày dựa trên mức độ hồi phục của tổn thương.
Trước khi tiến hành quang đông, nên siêu âm qua nội soi nếu có trang bị, thường dùng ống soi mềm; ống soi cứng chỉ nên dùng khi bệnh nhân không ổn định hoặc thiếu oxy hoặc dự kiến cuộc soi kéo dài Gây tê tại chỗ đầy đủ để loại bỏ ho nhằm cố định dụng cụ phát quang dễ dàng và chính xác Đưa ống soi qua đường mũi là lựa chọn thuận tiện trong thủ thuật quang đông Khi ống tiếp cận tổn thương, áp sát thiết bị phát quang vào tổn thương nhằm bảo vệ niêm mạc bình thường khỏi tác động của ánh sáng và cung cấp nhiều năng lượng hơn để phá hủy khối u Sau khi đạt liều điều trị, tắt nguồn sáng, hút chất hoại tử ra, rút soi phế quản Tiến hành lần điều trị tiếp theo trong 48 giờ.
– Ho ra máu hay gặp sau thủ thuật, thường ho ra máu số lượng ít, tự hết.
– Đau ngực do phản ứng viêm.
Khó thở và suy hô hấp cấp có thể xuất hiện trong vòng 24-48 giờ sau điều trị do phù nề và tăng tiết, đặc biệt khi tổn thương ở khí quản hoặc được tiến hành với mức năng lượng cao gây tăng tiết và hoại tử nhiều, khó hút ra hết Biến chứng này cũng có thể xảy ra sau khi điều trị tổn thương ở ngoại vi nếu chức năng phổi kém Cần theo dõi sát và chỉ định thở máy kịp thời.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
– Da nhạy cảm với ánh nắng mặt trời ngay sau khi tiêm porphyrin và kéo dài 4-
Trong 6 tuần tới, cần hướng dẫn bệnh nhân về các biện pháp phòng ngừa nhạy sáng và nguy cơ cháy nắng Bệnh nhân nên sử dụng quần áo bảo hộ và kính mắt khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời để giảm thiểu tác động của tia sáng Kem chống nắng không bảo vệ hiệu quả vì nó không lọc được tất cả các bước sóng nhìn thấy được, ánh sáng mờ và ánh sáng từ nguồn sáng nhân tạo, nhất là từ TV.
Hiệu quả của điều trị quang đông thể hiện rõ trong việc điều trị các khối u phổi không tế bào nhỏ nội phế quản ở giai đoạn đầu và các trường hợp tắc nghẽn phế quản do ung thư Phương pháp này còn được sử dụng để điều trị các tổn thương trong lòng đường thở, ung thư phế quản gốc tái phát, u gây tắc nghẽn phế quản ngoại vi, di căn của khối u ác tính và ho ra máu do dị dạng động tĩnh mạch nội phế quản.
Liệu pháp quang đông được nhiều trung tâm y tế ưu tiên sử dụng vì quá trình đốt không sinh ra khói và có thể thực hiện trong môi trường giàu oxy; nhờ đó, nguy cơ biến chứng thủng phế quản ít gặp hơn và an toàn cho người bệnh được nâng cao.
Liệu pháp quang đông có thể kết hợp thành công với các phương pháp điều trị khác như xạ trị áp sát và laser.
Phương pháp cắt lạnh
Phương pháp cắt lạnh ở nhiệt độ thấp là cách phá hủy mô một cách chọn lọc bằng cách làm lạnh các mô nhanh nhất có thể để đông tế bào Kỹ thuật này nhắm mục tiêu vào các mô cần xử lý bằng cách hạ nhiệt độ nhanh chóng, khiến tế bào đóng băng và bị phá hủy theo cơ chế đông lạnh, từ đó hạn chế tối đa tác động lên các vùng mô quanh.
5.1 Cơ chế phá hủy mô, tế bào của phương pháp cắt lạnh
Phương pháp cắt lạnh là kỹ thuật làm tiêu hủy mô và tế bào thông qua quá trình đóng băng, nhằm phá hủy cấu trúc mô ở cấp tế bào Các tổn thương do đóng băng xảy ra ở cấp phân tử, khi sự hình thành tinh thể nước và sự thay đổi trạng thái nước làm hỏng mạng lưới tế bào và mô Quá trình phá hủy bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tốc độ làm lạnh, tốc độ tan băng, nhiệt độ tối thiểu đạt được, hàm lượng nước của tế bào và số lượng chu kỳ đóng băng và tan băng.
Một số mô nhạy cảm với lạnh như da, niêm mạc và mô hạt, trong khi các mô khác chịu lạnh tốt hơn như mỡ, sụn, mô sợi và các mô liên kết Đặc biệt, tế bào khối u nhạy cảm với lạnh hơn nhiều so với tế bào bình thường.
Rối loạn vi tuần hoàn ở mô bị làm lạnh phát sinh khi mô hạ nhiệt khiến co thắt các động mạch và tĩnh mạch nhỏ, gây tổn thương nội mạc mạch và làm tăng tính thấm thành mạch cũng như tăng độ nhớt máu Những biến đổi này làm cho áp lực thủy tĩnh trong vi mạch giảm, dẫn đến giảm lưu lượng máu và thúc đẩy quá trình kết dính tiểu cầu, từ đó gây ngừng lưu thông máu tại vùng bị làm lạnh.
Đăng tải TIEU LUAN MOI download với liên kết skknchat123@gmail.com cập nhật nhanh nhất về huyết khối mạch Các tổn thương mạch máu giải thích tác dụng cầm máu của phương pháp cắt lạnh không phải lúc nào cũng xuất hiện ngay lập tức, cho thấy sự phức tạp của quá trình cầm máu và cần theo dõi kỹ lưỡng sau khi thực hiện thủ thuật.
– Trong những ngày sau liệu pháp lạnh: xuất hiện quá trình hoại tử tế bào do thiếu máu cục bộ.
– Quá trình phá hủy mô do phẫu thuật cắt lạnh mạnh hơn khi hóa trị hoặc xạ trị phối hợp.
– Nitơ lỏng có thể dễ dàng đạt được nhanh chóng nhiệt độ -196 0 C trong khoảng một phút
– Nitơ oxit (N2O) thường được sử dụng cho kỹ thuật cắt lạnh qua ống soi phế quản Nó có thể tạo ra nhiệt độ -89 0 C ở áp suất khí quyển.
– Carbon dioxide (CO2) cũng hay được sử dụng bởi vì nó đạt được nhiệt độ -
Carbon dioxide được sử dụng cho phẫu thuật lạnh nhằm điều trị các tổn thương da ngoài, nhưng nó không phù hợp cho phẫu thuật lạnh qua nội soi phế quản vì sự hình thành tuyết ở áp suất khí quyển có thể cản trở quá trình nội soi phế quản.
5.3 Phẫu thuật lạnh qua nội soi phế quản (còn gọi là áp lạnh qua nội soi)
Hiện nay các thiết bị phẫu thuật cắt lạnh được sản xuất tại Đức, Pháp và Cộng hòa Séc Tuy nhiên, FDA chỉ phê duyệt các thiết bị của Đức cho thị trường Mỹ Vì vậy, lựa chọn thiết bị phẫu thuật cắt lạnh ở Mỹ sẽ phụ thuộc vào quốc gia sản xuất được FDA công nhận và tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn liên quan.
Thiết bị cắt lạnh gồm ba thành phần chính: giao diện điều khiển, dụng cụ áp lạnh và đường truyền kết nối giữa giao diện điều khiển và xi lanh khí thăm dò Dụng cụ áp lạnh được phân thành loại cứng/bán cứng dành cho ống soi phế quản cứng và loại mềm dành cho ống soi phế quản mềm; đường kính kênh dụng cụ của ống mềm thường khoảng 2,6 mm hoặc 3,2 mm Đối với dụng cụ áp lạnh cứng, giai đoạn tan băng xuất hiện ngay lập tức nhờ hệ thống hâm nóng tích hợp Ngược lại, dụng cụ áp lạnh mềm cho phép quá trình tan băng diễn ra tự phát và kéo dài.
– Xét nghiệm: Xquang ngực thường, CT-scans, xét nghiệm đông máu, khí máu và chức năng phổi.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
– Ngừng liệu pháp chống đông cho bệnh nhân trước khi tiến hành kỹ thuật 24 giờ.
Tổn thương giống san hô phù hợp nhất với phương pháp áp lạnh Đầu kim loại của dụng cụ áp lạnh (cryoprobe) được đặt trên bề mặt khối u hoặc đâm xuyên vào u để gây đông khối u tối đa Ba chu kỳ đóng băng-tan băng được thực hiện ở mỗi vị trí Các vị trí áp lạnh tiếp theo cách vị trí cũ 5-6mm Qui trình này này tiếp tục cho đến khi xác định khối u đã được đông lạnh Thể tích của vùng mô khối u bị đông lạnh trong một chu kỳ khi dùng nitơ lỏng lớn hơn so với nitơ oxit nên thời gian nội soi được rút ngắn.
Trong quá trình vận hành, nếu có thiết bị đo điện trở, quá trình hâm nóng bắt đầu khi điện trở đạt ngưỡng từ 250 đến 500 kΩ Chu kỳ đóng băng tiếp theo được kích hoạt khi điện trở giảm xuống một ngưỡng xác định bởi hệ thống, cho phép chu trình làm lạnh và đóng băng diễn ra theo đúng trình tự Việc giám sát điện trở giúp tối ưu hóa hiệu suất và đảm bảo an toàn cho quá trình xử lý.
Khi dùng nitơ oxit, thời gian đóng băng kéo dài khoảng 30 giây cho mỗi chu kỳ, và không nên kéo dài thời gian này Khi dùng nitơ lỏng, thời gian đóng băng cho chu kỳ đầu tiên khoảng một phút, nhưng các chu kỳ tiếp theo ngắn hơn.
Lần phẫu thuật lạnh tiếp theo được tiến hành sau lần đầu khoảng 8–10 ngày Trong lần thực hiện này, bác sĩ sẽ đánh giá mức độ phá hủy tổn thương, loại bỏ tổ chức hoại tử và tiến hành áp lạnh lại nếu cần thiết để đạt hiệu quả điều trị tối ưu.
Biến chứng: khó thở do phù nề Phù nề sau liệu pháp lạnh thường không nghiêm trọng, nên khó thở ít gặp hoặc nhẹ Có thể dùng corticosteroid trong trường hợp phù nề gây khó thở.
24 giờ sau liệu pháp lạnh đối với tổn thương khí quản hoặc dưới nắp thanh môn.
Xạ trị áp sát
Xạ trị áp sát là kỹ thuật đưa nguồn xạ qua ống soi phế quản để đặt sát với tổn thương ung thư nội phế quản nhằm tiêu diệt khối u ở vị trí này Quá trình chiếu xạ được nhắm trực tiếp vào khối u nhờ nguồn xạ được đặt gần tổn thương, giúp tăng hiệu quả điều trị và giảm ảnh hưởng lên các mô khỏe lân cận Nói cách khác, xạ trị áp sát chính là chiếu xạ trong (brachytherapy) - một hình thức chiếu xạ nội phế quản giúp nhắm mục tiêu chuẩn xác vào ung thư nội phế quản.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Xạ trị áp sát trong ung thư phổi đòi hỏi đưa nguồn xạ vào đường thở Trước đây nguồn năng lượng phóng xạ thấp được đưa qua ống soi phế quản cứng; nay chủ yếu dùng ống soi phế quản sợi mềm để đặt một ống polyethylene chứa nguồn xạ vào đường thở ngay cạnh khối u Vị trí nguồn xạ được xác định bằng chiếu và chụp X-quang ngực, sau đó qua catheter đưa nguồn xạ vào đường thở bằng tay hoặc bằng thiết bị điều khiển từ xa Để cố định nguồn xạ và bảo đảm liều chiếu đồng nhất, người ta dùng bóng hoặc bao vỏ quanh catheter Tỉ lệ liều xạ phụ thuộc vào năng lượng và thời gian phân rã của chất phóng xạ được dùng Xạ trị áp sát liều thấp kéo dài 30-70 giờ và đi kèm với các biện pháp bảo vệ phóng xạ cồng kềnh; xạ trị áp sát liều cao thường dùng iridi-192 cho phép rút ngắn đáng kể thời gian điều trị và có thể áp dụng cho bệnh nhân ngoại trú, đồng thời yêu cầu catheter cố định chắc chắn trong lòng đường thở và giảm chi phí điều trị Nhiều cơ sở điều trị đã sử dụng phương tiện đưa nguồn xạ vào đường thở được điều khiển từ xa để đơn giản hóa công tác bảo vệ bức xạ; xạ trị áp sát liều cao thường được phân đoạn liều để tối ưu hóa hiệu quả và giảm tác dụng phụ, với thời gian điều trị thông thường không quá 1-2 tuần để giảm khó chịu cho bệnh nhân vì phải đặt ống soi nhiều lần.
– Tắc nghẽn đường thở lớn do tổn thương ung thư nội khí phế quản.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
– Điều trị bổ trợ cho những trường hợp sau phẫu thuật khối u ngoại vi hoặc ở bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn đầu cắt phân thùy.
– Có chẩn đoán mô bệnh là ung thư phổi không tế bào nhỏ hoặc di căn ung thư vào phổi.
– Bệnh nhân chống chỉ định điều trị laser YAG hoặc các phương pháp áp lạnh.
– Bệnh nhân chống chỉ định chiếu xạ ngoài vì chức năng phổi kém.
– Bệnh nhân khó thở, viêm phổi tắc nghẽn sau, ho ra máu, hoặc ho điều trị ít kết quả.
– Có thể đưa catheter với nguồn xạ vào đúng vị trí cần thiết.
– Tiên lượng bệnh nhân có thể sống thêm trên 3 tháng.
Ở bệnh nhân ung thư phổi không thể phẫu thuật hoặc ung thư đã tái phát/di căn vào đường hô hấp, chỉ định xạ trị áp sát được xem là phương pháp điều trị chính Chỉ nên điều trị cho các tổn thương nằm tại khí quản, phế quản gốc hoặc phế quản thùy dưới Khối u có thể nằm bên ngoài đường thở, nằm trong lòng đường thở hoặc xâm nhiễm ung thư dưới niêm mạc, miễn là có thể đưa được ống thông chứa nguồn bức xạ vào đường thở để tiến hành điều trị.
Tổn thương nội khí quản gây tắc nghẽn đường thở trung tâm nên được điều trị bằng laser YAG và có thể cân nhắc đặt stent trước để mở đường thở; việc áp dụng xạ trị áp sát ngay có thể gây phù nề mô và dẫn tới tắc nghẽn đường thở hoàn toàn.
Không nên tiến hành xạ trị áp sát ở bệnh nhân không thể thực hiện nội soi phế quản và ở những bệnh nhân có tiên lượng sống thêm quá ngắn Trong các trường hợp này cần cân nhắc các phương án điều trị khác và đánh giá kỹ lợi ích–rủi ro để tối ưu hóa chăm sóc người bệnh.
– Gồm các biến chứng do soi phế quản và đặt catheter.
Viêm phế quản và hẹp phế quản có thể xuất hiện sau vài ngày đến một tuần sau khi điều trị, đi kèm với ho hoặc khó thở Nguy cơ biến chứng sớm được ghi nhận ở những trường hợp ung thư tế bào lớn, đã điều trị bằng laser trước đó hoặc khi phải kết hợp với xạ trị đồng thời bên ngoài.
Biến chứng muộn có thể gặp với tỷ lệ 0 -42%, bao gồm:
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Rò phế quản là biến chứng nghiêm trọng đòi hỏi đánh giá toàn diện trước khi tiến hành xạ trị áp sát Để giảm biến chứng muộn, cần đánh giá tổn thương động mạch, thành phế quản và trung thất bằng CT-scan, MRI hoặc chụp động mạch trước khi điều trị, đặc biệt khi thương tổn ở đường thở trung tâm được điều trị.
6.5 Hiệu quả Đối với tổn thương tắc nghẽn đường thở trung tâm: khoảng 70% bệnh nhân có cải thiện hơn 50% trong thời gian ít nhất sáu tháng Các triệu chứng thuyên giảm rõ là ho ra máu, khó thở và ho.
Một số nghiên cứu cho thấy sự kết hợp xạ trị áp sát với chiếu xạ ngoài đã kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân Kết hợp xạ trị áp sát với điều trị laser tại chỗ cho kết quả tốt hơn so với điều trị laser đơn thuần.
VIII Một số ứng dụng của y học cổ truyền trong điều trị ung thư phổi
1 Châm cứu trong chăm sóc giảm nhẹ trên những bệnh nhân ung thư phổi
Một nghiên cứu của các bác sĩ trường Y Đại học Thượng Hải năm 2017 đã chỉ định châm cứu cho 14 bệnh nhân ung thư phổi nhằm kích thích các huyệt Hợp Cốc, Túc tam lý, Thái khê, Tam âm giao và Khí hải, hai lần mỗi tuần trong một liệu trình 6 tuần, cho thấy tính khả thi và sự tuân thủ trị liệu tốt ở những bệnh nhân phù hợp Sự giảm đau đáng kể được ghi nhận sau hai tuần ở toàn bộ 14 bệnh nhân được châm cứu, và đến tuần thứ 6, các cơn đau và mệt mỏi đã được cải thiện rõ rệt với giá trị P< 0.001.
2 Thuốc y học cổ truyền trong điều trị ung thư
Theo nghiên cứu của Tổ chức nghiên cứu khoa học và kỹ thuật Hàn Quốc (KOSEF) công bố năm 2011, thuốc y học cổ truyền được công nhận như một phương án tiếp cận ung thư phổi với rất ít tác dụng phụ Cũng có nhiều bằng chứng cho thấy nhiều cây thuốc có tác dụng hữu hiệu trong việc làm nhạy cảm các tác nhân điều trị, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, đồng thời ngăn ngừa các tác dụng phụ của hóa trị liệu Những cây thuốc được sử dụng phổ biến cho các bệnh phổi, bao gồm ung thư, như Cát cánh, Dâu tằm trắng, Mơ Armenica, quả Khế, Tía tô, Bách bộ, Khoản đông hoa và Đình lịch tử Trước đây, 130 cây thuốc có tác dụng chống ung đã được chia làm 5 nhóm.
Tiểu luận mới trình bày cách phân nhóm dựa trên cơ chế tác dụng của các phương pháp, chia thành năm nhóm chính: (1) loại bỏ nhiệt và độc tố, (2) tiêu đờm, trừ đàm, (3) lưu thông khí huyết, (4) bổ khí, (5) bổ Âm Mỗi nhóm được mô tả chi tiết với cơ sở sinh lý, mục tiêu điều trị và ví dụ minh họa, giúp người đọc nắm được cách tiếp cận và tác động của từng phương pháp Phân tích dựa trên cơ chế tác dụng không chỉ tăng tính khoa học mà còn tối ưu hóa lựa chọn liệu pháp phù hợp với từng tình trạng sức khỏe, nhấn mạnh sự cân bằng giữa âm và dương và hiệu quả điều trị Để tải nội dung chi tiết hoặc liên hệ, hãy gửi yêu cầu tới địa chỉ email: skknchat123@gmail.com.
Hình 1: Cát cánh Hình 2: Dâu tằm trắng
Hình 3: Mơ Armenica Hình 4: Khế
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Hình 5: Tía tô Hình 6: Bách bộ
Hình 8: Đình lịch tử Hình 9: Khoản đông hoa
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
1 Tài liệu ung thư phổi, PGS TS Phạm Hùng Cường
2 Tổng quan về ung thư phổi, https://tamanhhospital.vn/ung-thu- phoi/#:~:text=Ung%20th%C6%B0%20ph %E1%BB%95i%20(ti%E1%BA
%BFng%20Anh,c%C3%A1c%20c %C6%A1%20quan%20xung%20quanh.
3 Nguyên nhân ung thư phổi, https://www.vinmec.com/vi/ung-buou-xa- tri/cac- loai-ung-thu-pho-bien/ung-thu-phoi/ung-thu-phoi-nguyen-nhan-trieu- chung- chan-doan-va-dieu-tri/#:~:text=M%C3%B4i%20tr%C6%B0%E1%BB
4 Các phương pháp chẩn đoán ung thư phổi, https://vinmec.com/vi/tin- tuc/thong- tin-suc-khoe/suc-khoe-tong-quat/chan-doan-ung-thu-phoi-cac-bien- phap-chan- doan-hinh-anh-co-y-nghia-nhu-nao/#:~:text=Hi%E1%BB%87n
%20nay%20c %C3%B3%20nhi%E1%BB%81u%20c%C3%A1c,si%C3%AAu
%20%C3%A2m%20n%E1%BB%99i%20ph%E1%BA%BF%20qu%E1%BA
5 Các phương pháp điều trị ung thư phổi, http://www.benhvien103.vn/dieu- tri- ung-thu-phoi/
6 Ứng dụng châm cứu để giảm đau, https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/28707168/
7 Ứng dụng thuốc y học cổ truyền trong trong tri liệu ung thư phổi, https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0378874111007562?via
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat