1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo đề tài Nghiên cứu lợi thế xuất khẩu trái cây Việt Nam sang thị trường EU

77 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do nghiên c ứ u (7)
  • 2. T ổ ng quan nghiên c ứ u (8)
  • 3. M ụ c tiêu nghiên c ứ u (13)
  • 4. Đối tượ ng, ph ạ m vi nghiên c ứ u (14)
  • 5. Phương pháp nghiên cứ u (14)
  • 6. Ý nghĩa nghiên cứu (15)
  • 7. K ế t c ấ u báo cáo nghiên c ứ u (16)
  • CHƯƠNG 1 (16)
    • 1.1. M ộ t s ố khái ni ệ m (17)
      • 1.1.1. Khái ni ệ m l ợ i th ế so sánh tuy ệt đố i c ủ a Adam Smith (17)
      • 1.1.2. Lý thuy ế t l ợ i th ế so sánh c ủ a David Ricardo (17)
      • 1.1.3. B ả ng phân lo ạ i trái cây theo EU (18)
      • 1.1.4. Đặc điể m c ủ a s ả n ph ẩ m trái cây xu ấ t kh ẩ u (20)
    • 1.2. Đo lườ ng l ợ i th ế xu ấ t kh ẩ u trái cây (21)
      • 1.2.1. Các ch ỉ s ố t ừ phía cung (21)
      • 1.2.2. Các ch ỉ s ố v ề phía c ầ u (22)
    • 1.3. Khung phân tích l ợ i th ế xu ấ t kh ẩ u (24)
  • CHƯƠNG 2 (16)
    • 2.1. T ổ ng quan v ề tình hình s ả n xu ấ t và xu ấ t kh ẩ u trái Cây Vi ệ t Nam (27)
      • 2.1.1. Tình hình s ả n xu ấ t (27)
      • 2.1.2. Tình hình xu ấ t kh ẩ u (29)
    • 2.2. Th ự c tr ạ ng xu ấ t kh ẩ u trái cây Vi ệ t Nam sang th ị trường EU giai đoạ n 2010-2019 (31)
      • 2.2.1. Nhu c ầ u nh ậ p kh ẩ u trái cây c ủ a EU (31)
      • 2.2.2. Tình hình xu ấ t kh ẩ u trái cây Vi ệ t Nam sang EU (34)
    • 2.3. M ộ t s ố khó khăn thách thức đố i v ớ i xu ấ t kh ẩ u trái cây Vi ệ t Nam sang th ị trườ ng EU (35)
      • 2.3.2. Khó khăn thách thứ c t ừ phía c ầ u (37)
    • 2.4 M ộ t s ố thu ậ n l ợi đố i v ớ i xu ấ t kh ẩ u trái cây Vi ệ t Nam sang th ị trườ ng EU (38)
      • 2.4.1. Thu ậ n l ợ i t ừ phía cung (38)
  • CHƯƠNG 3 (16)
    • 3.1. D ữ li ệu và phương pháp nghiên cứ u (42)
    • 3.2. Các ch ỉ s ố đo lườ ng l ợ i th ế xu ấ t kh ẩ u trái cây Vi ệ t Nam sang EU (43)
      • 3.2.1. Ch ỉ s ố l ợ i th ế so sánh b ộ c l ộ (RCA- revealed comparative advantage) (43)
      • 3.2.2. Ch ỉ s ố xu ấ t kh ẩ u ròng (NEI - Net Export Index) (44)
      • 3.2.3. Ch ỉ s ố tương thích thương mạ i (44)
      • 3.2.4. Phân tích t ổ ng h ợ p (44)
    • 3.3. Phân tích tính ổn định của lợi thế xuất khẩu theo thời gian (48)
      • 3.3.1. Tính ổn đị nh c ủ a các ch ỉ s ố l ợ i th ế xu ấ t kh ẩ u (48)
      • 3.3.2. Phân tích t ổ ng h ợ p (49)
  • CHƯƠNG 4 (16)
    • 4.1. M ộ t s ố k ế t lu ậ n (52)
    • 4.2. Khuyến nghị và giải pháp phát huy tiềm năng xuất khẩu trái cây Việt Nam sang EU (53)
    • 4.3. Một số hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu mở rộng (57)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (58)

Nội dung

Một số nghiên cứu trong nước gần đây của các tác giả được đăng tải trên các tạp chí và báo điện tử của Việt Nam đã tập trung phân tích thực trạng cùng những cơ hội, thách thức đối với xu

Lý do nghiên c ứ u

Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo (1772-1823) là một trong những lý thuyết thương mại quốc tếlâu đời Lý thuyết này giải thích rằng: động lực thúc đẩy thương mại quốc tế không phải là lợi thế tuyệt đối mà là lợi thế so sánh Ngay cả khi một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong tất cả các hàng hóa (nghĩa là nó có thể sản xuất tất cả hàng hóa hiệu quả hơn các quốc gia khác), thì vẫn có thể hưởng lợi từ thương mại quốc tế thông qua việc tăng chuyên môn hóa trong hàng hóa có lợi thế so sánh Nhà kinh tế học Paul Samuelson, người được giải Nobel về kinh tế năm 1970, đã viết: “Mặc dù có những hạn chế, lý thuyết lợi thế so sánh vẫn là một trong những chân lý sâu sắc nhất của mọi môn kinh tế học Các quốc gia không quan tâm đến lợi thế so sánh đều phải trả một cái giá rất đắt bằng mức sống và tăng trưởng kinh tế của chính mình”.

Việt Nam nằm trọn trong vành đai khí hậu nhiệt đới được ưu đãi về điều kiện đất đai và khí hậu, tạo lợi thế trong sản xuất nhiều loại rau quả nhiệt đới Theo báo cáo của Cục Trồng trọt, Việt Nam có tổng diện tích cây nhiệt đới và cận nhiệt đới khoảng hơn 989.000 ha Các loại trái cây chính đang được trồng phổ biến gồm: cam, quýt, chuối, dứa, xoài, vải, nhãn, đu đủ, ổi, bơ, chôm chôm, sầu riêng, măng cụt và hồng xiêm Các loại trái cây nhiệt đới được trồng tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long với diện tích canh tác khoảng 347.000 ha, tiếp đến là các tỉnh vùng Đông Nam bộ và các tỉnh miền núi phía Bắc

Các mặt hàng xuất khẩu rau quả của Việt Nam đã xuất khẩu tới hơn 170 quốc gia trên thế giới và vùng lãnh thổ Kim ngạch xuất nhập khẩu của ngành rau quả đạt hơn 3,8 tỷ USD trong năm 2018, trong đó kim ngạch xuất khẩu trái cây đạt 3,13 tỷ USD, chiếm 82,05% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả

Hiện nay, Việt Nam đang xuất khẩu chuối, xoài, chôm chôm, sầu riêng, măng cụt…chủ yếu sang Trung Quốc Tuy nhiên sự phụ thuộc quá lớn vào một thị trường đơn lẻ đã từng dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực cho ngành trái cây Việt Nam Các thương nhân Trung Quốc đã nhiều lần dừng mua hoặc giảm số lượng nhập khẩu gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà xuất khẩu Việt Nam Hơn nữa, các thương nhân Trung Quốc với ưu thế gần như độc quyền mua nên thường xuyên ép giá Do đó ngành trái cây Việt Nam đã và đang tìm cách mở rộng xuất khẩu sang các nước phát triển, giảm sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc và tăng giá trị lợi nhuận

Một trong những thị trường có tiềm năng xuất khẩu trái cây lớn nhất của Việt Nam là

EU Đây là khu vực nhập khẩu trái cây lớn nhất thế giới (chiếm 17% tổng lượng nhập khẩu trái cây thế giới năm 2015) và có nhu cầu ngày càng tăng với các loại trái cây nhiệt đới mà Việt Nam có thế mạnh Hơn nữa, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU đã được Nghị viện Châu Âu chính thức thông qua đầu năm 2020 được kỳ vọng mang lại nhiều cơ hội cho xuất khẩu hàng hóa Việt Nam nói chung và xuất khẩu trái cây Việt Nam nói riêng vào thị trường khó tính nhưng giàu tiềm năng này Để tận dụng các cơ hội nhằm nâng cao giá trị và giá trịgia tăng trong xuất khẩu trái cây tươi và trái cây qua chế biến, đòi hỏi Việt Nam phải xác định được lợi thế so sánh của các sản phẩm này, từ đó xây dựng kế hoạch và chiến lược xuất khẩu phù hợp Đề tài nhằm hướng đến mục tiêu: phân tích lợi thế so sánh của trái cây Việt Nam xuất khẩu sang EU qua một số chỉ sốđo lợi thếso sánh, đồng thời phân tích tính ổn định và xu thế của các chỉ số này trong giai đoạn 2010-2019 Kết quả nghiên cứu là cơ sở giúp các nhà quản lý và hoạch định chính sách trong việc theo dõi hiệu quả xuất khẩu, hỗ trợ ra quyết định trong thiết kế chuỗi giá trị xuất khẩu trái cây nhiệt đới, xây dựng chính sách phát triển và chiến lược xuất khẩu trái cây của Việt Nam.

T ổ ng quan nghiên c ứ u

a) Tình hình nghiên c ứ u thu ộc lĩnh vự c c ủa đề tài ở trong nướ c:

Nghiên cứu đánh giá thực trạng cũng như phân tích lợi thế xuất khẩu trái cây Việt Nam đang là chủ đề được các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách các cấp quan tâm Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp quốc (FAO), Việt Nam hiện là quốc gia có diện tích và sản lượng trồng cây ăn quả nhiệt đới khá lớn ở khu vực châu Á Năm 2018, diện tích cây ăn quả đạt xấp xỉ 1 triệu ha, với tổng sản lượng quả đạt 8 triệu tấn Trong đó, có 14 loại quả có diện tích lớn với quy mô trên 10 nghìn ha/chủng loại, bao gồm: chuối (144,7 nghìn ha), tiếp đến là xoài (99,6 nghìn ha), thanh long (55,4 nghìn ha), cam (97,4 nghìn ha), bưởi (85,2 nghìn ha), nhãn (78,8 nghìn ha), vải (58,3 nghìn ha), sầu riêng (47,3 nghìn ha), chôm chôm (24,6 nghìn ha), mít (24 nghìn ha), quýt (15 nghìn ha), bơ (14 nghìn ha), dứa (47,1 nghìn ha), na (11 nghìn ha) Đồng bằng Sông Cửu Long là vùng trồng cây ăn quả chủ lực của cả nước, chiếm 50% tổng diện tích và 60% sản lượng trái cây cả nước (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) Hiện nay, nhu cầu nhập khẩu trái cây trên thế giới vẫn tiếp tục gia tăng Theo tính toán của FAO, từ năm 2011 thị trường rau quả thế giới đã đạt mốc 200 tỷ USD/năm và nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thị trường thế giới tăng tích cực, ước khoảng 3,6%/năm, trong khi đó khả năng tăng trưởng của sản xuất chỉ đạt 2,6%/năm Điều này cho thấy việc sản xuất và tiêu thụ rau quả trên thế giới luôn trong tình trạng cung không đủ cầu. Ở nước ta, lượng trái cây chủ yếu tiêu thụ tại thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc, giá trị mang lại từtrái cây chưa tương xứng thực sự với tiềm năng của ngành này Chính vì lẽ đó mà Chính phủ cũng như Bộ Nông nghiệp và

Phát triển Nông thôn Việt Nam đang rất quan tâm đến vấn đề xây dựng chiến lược phát triển xuất khẩu cho trái cây Việt Nam

Một số nghiên cứu trong nước gần đây của các tác giảđược đăng tải trên các tạp chí và báo điện tử của Việt Nam đã tập trung phân tích thực trạng cùng những cơ hội, thách thức đối với xuất khẩu trái cây Việt Nam sang các thị trường lớn như Trung Quốc,

Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, và liên minh châu Âu (EU),… Đặc biệt, với thịtrường lớn và giàu tiềm năng như EU, nơi có nhu cầu rất cao về nhập khẩu trái cây nhiệt đới, đã có một số dự án nghiên cứu tập trung phân tích riêng về thị trường này

Báo cáo thịtrường rau quả EU (2018) đã được Cục Xúc tiến thương mại (VIETRADE)

– BộCông Thương và Dự án hỗ trợchính sách thương mại và đầu tư của Châu Âu (EU- MUTRAP) phối hợp thực hiện nhằm cung cấp thông tin hỗ trợ cho các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng rau quả Việt Nam mong muốn đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường

Châu Âu (EU) Báo cáo tập trung phân tích một số vấn đề chính, bao gồm: (i) Đánh giá tình hình sản xuất và xuất khẩu rau quả của Việt Nam, đặc biệt đánh giá tình hình xuất khẩu sang thị trường EU; (ii) Phân tích đặc điểm của thị trường rau quả EU cùng những quy định về tiêu chuẩn của EU đối với nhóm sản phẩm rau quả nhập khẩu bao gồm: các quy định thị trường như thuế suất nhập khẩu rau quả, thủ tục nhập khẩu, quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm, bao bì đóng gói, nhãn mác, các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng và các yêu cầu khác; (iii) Đánh giá cơ hội xuất khẩu rau quả Việt Nam sang EU

Theo báo cáo này, tại thịtrường EU, mặt hàng hoa quả nhiệt đới và rau quả trái vụ vẫn còn rất nhiều tiềm năng tăng trưởng, đặc biệt là bơ và xoài Đây cũng là cơ hội và lợi thế của các doanh nghiệp xuất khẩu rau quả Việt Nam cần nắm bắt Với khí hậu nhiệt đới ẩm ở miền Nam đến khí hậu ôn đới ở miền Bắc, Việt Nam có thể canh tác và cung cấp nhiều loại cây trồng theo yêu cầu của thị trường EU Trong giai đoạn 2010 - 2016, kim ngạch xuất khẩu rau quả nhiệt đới của Việt Nam sang EU tiếp tục tăng trưởng do nhu cầu tiêu thụ ngày càng nhiều Mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang EU là dứa, thanh long, cơm dừa, chôm chôm, xoài Sản phẩm dứa vẫn là mặt hàng chiếm kim ngạch cao nhất, tiếp đến là mặt hàng thanh long Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu xoài, cơm dừa, chôm chôm cũng tăng nhanh trong thời gian qua Trong đó, xoài là một trong số các loại hoa quả ngoại nhập đang có mức tăng trưởng cao nhất tại thị trường EU hiện nay Do châu Âu không sản xuất được xoài nên phải nhập khẩu quanh năm từcác nước nhiệt đới để phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong khu vực Đây cũng là mặt hàng trái cây mà Việt Nam chúng ta có thế mạnh về sản lượng cũng như chất lượng Điểm mạnh trong xuất khẩu trái cây Việt Nam là: Điều kiện tự nhiên thuận lợi, năng lực sản xuất cao, nguồn cung lao động dồi dào, chi phí thấp Một số điểm yếu được đề cập đến: (i) Các hộ chế biến rau quả đa phần là nhỏ lẻ, phân tán, không theo quy hoạch nên quản lý và đầu tư phát triển hạ tầng khó khăn; (ii) Chất lượng thấp và không đồng đều, doanh nghiệp thiếu liên kết; (iii) Phương tiện cất trữ và dịch vụ thương mại kém; (iv) Chưa có thương hiệu mạnh; (v) Thiếu kỹ năng thương mại và quảng cáo; (vi) Giá thành cao

EU là thị trường xuất khẩu trái cây lớn và yêu cầu chặt chẽ Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật rau quả nhập vào EU phải đạt năm tiêu chuẩn về chất lượng, vệ sinh thực phẩm, an toàn cho người sử dụng, bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn về lao động Hiện nay, người tiêu dùng EU ngày càng chú trọng hơn về sức khoẻ do vậy chất lượng sẽ là nhân tố chính giúp doanh nghiệp thành công tại thị trường này Mặc dù có nhiều cơ hội và tiềm năng nhưng ngành rau quả Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn, thách thức Do vậy, một hướng nghiên cứu được quan tâm là làm thế nào để Việt Nam vượt qua các rào cản thuế quan và phi thuếquan đối với xuất khẩu trái cây sang thị trường EU Một kết quả nghiên cứu đáng chú ý về chủ đề này là của Trung tâm WTO– VCCI (2019) với đề tài “Hoa quả Việt Nam vượt qua các rào cản của thịtrường

EU để tận dụng cơ hội từ EVFTA” Nghiên cứu này xem xét các biện pháp phi thuế quan mà EU áp dụng đối với hoa quả Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này Từ đó tìm hiểu một nghịch lý đang tồn tại: Việt Nam là nước có lợi thế về sản xuất nhiều loại trái cây nhiệt đới, nhưng giá trị xuất khẩu sang một trong những thị trường nhập khẩu hoa quả lớn nhất thế giới - EU vẫn còn rất khiêm tốn Qua đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị giúp Chính phủ và các doanh nghiệp trái cây của Việt Nam tăng cường tiếp cận thị trường EU

Có thể nhận thấy, các nghiên cứu trong nước về lợi thế xuất khẩu trái cây Việt Nam sang thị trường EU đang tập trung vào khía cạnh phân tích thực trạng sản xuất và xuất khẩu trái cây của Việt Nam, đồng thời tìm hiểu các yêu cầu của thị trường EU, qua đó đánh giá cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu trái cây Việt Nam sang thị trường

EU Một mảng nghiên cứu quan trọng về chủđềnày còn chưa được chú trọng trong các nghiên cứu trong nước, đó là đo lường lợi thế xuất khẩu từ đó đánh lợi thế xuất khẩu trái cây Việt Nam sang thị trường EU b) Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ởnước ngoài:

Nghiên cứu kinh điển về lợi thế so sánh (Comparative Advantage) được biết đến lần đầu tiên trong tác phẩm “Nguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế khoá” của David

Ricardo (1817) Lợi thếso sánh được xác định thông qua việc so sánh chi phí sản xuất của các loại hàng hóa khác nhau trong một nước Một quốc gia được gọi là có lợi thế so sánh trong việc sản xuất một loại hàng hóa nào đó nếu chi phí để sản xuất ra hàng hóa đó thấp hơn tương đối so với chi phí để sản xuất ra các hàng hóa khác Hơn nữa quy luật mà Ricardo rút ra là: mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa vào việc sản xuất, xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu những mặt hàng có ít lợi thế so sánh nhất [1] Nhờđó, tổng sản lượng của mỗi sản phẩm trên thế giới sẽtăng lên và tất cả các quốc gia đều có lợi Quy luật này đã tạo cảm hứng cho nhiều nhà nghiên cứu xây dựng các chỉ số đo lường lợi thế so sánh đối với sản phẩm/ngành hàng của quốc gia/ khu vực xuất khẩu sang một thị trường mục tiêu Liesner (1958) đã dựa vào lý thuyết lợi thế so sánh và đưa ra ý tưởng đánh giá sản phẩm có lợi thế so sánh của một quốc gia thông qua việc phân tích kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm đó [2] Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của một nước thường là mặt hàng mà nước đó có lợi thế so sánh Balassa

(1965) đã tiếp tục hoàn thiện cách đánh giá này và đưa ra hệ số lợi thế so sánh biểu lộ

(Revealed comparative advantage - RCA) Hệ số này thể hiện lợi thế hoặc bất lợi tương đối của một quốc gia đối với một sản phẩm nào đó thông qua việc so sánh tỷ trọng xuất khẩu của sản phẩm này trong tổng kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia với tỷ trọng xuất khẩu của sản phẩm này trong tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới (Chương 3). RCA là một trong các cách thức xác định lợi thế so sánh quốc gia, nếu RCA của một ngành hàng (mặt hàng) cao chứng tỏ nước đó có lợi thế so sánh về sản xuất ngành hàng

(mặt hàng) đó RCA của một quốc gia i với sản phẩm j lớn hơn 1 thì quốc gia đó có lợi thế so sánh với sản phẩm j, ngược lại, nếu RCA nhỏ hơn 1 thì nước đó không có lợi thế so sánh với sản phẩm đó Chỉ số RCA càng cao thì lợi thế so sánh càng cao Các nước có thể sử dụng RCA làm cơ sở định hướng cơ cấu sản xuất, đặc biệt với các hàng hóa có thể trao đổi thương mại quốc tế, ngoài ra RCA còn được dùng làm căn cứ hoạch định chính sách thương mại quốc tế Việc tính toán các chỉ số góp phẩn khảng định những lợi thế xuất khẩu về mặt định lượng Rất nhiều các tác giả đã tính toán và sử dụng chỉ số RCA cho các ngành hàng (mặt hàng) của một quốc gia cụ thể trong các giai đoạn khác nhau để xác định các nhóm sản phẩm quan trọng nhất trong xuất khẩu của quốc gia đó Các chỉ số này được tính toán từ phía cung và phía cầu Ngoài chỉ số RCA còn có một số chỉ số khác như chỉ số so sánh đối xứng bộc lộ RSCA, chỉ số thương mại bộc lộ RTA (các chỉ số về phía cung) và các chỉ số xuất khẩu ròng NEI, chỉ sốthương mại nội ngành IIT, chỉ số tương thích thương mại TCI Dưới đây là một số ví dụ cụ thể về việc nghiên cứu lợi thế xuất khẩu trái cây của các nước trong khu vực ASEAN Su Qing'E và He Shu Quan (2009) đã phân tích khả năng cạnh tranh của thương mại trái cây Trung Quốc - Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2007 bằng cách sử dụng chỉ số lợi thế so sánh hiển thị (RCA) Họ nhận thấy rằng Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh trong việc xuất khẩu chủ yếu trái cây ôn đới sang Việt Namgồm cam, táo và lê Tại thị trường ASEAN, thương mại trái cây của Trung Quốc không có khả năng cạnh tranh, trong khi thương mại trái cây của Việt Nam có sức cạnh tranh cạnh về hạt điều, và lợi thế nhỏ về trái cây khác

Li Shu Li (2013) đã sử dụng chỉ số RCA, chỉ số RTA, hệ số OBC và chỉ số TCD để tìm ra các sản phẩm trái cây có lợi thế so sánh giữa trái cây Trung Quốc và ASEAN và đo lường mức độ bổ sung của thương mại song phương Kết quả cho thấy, thương mại trái cây của Trung Quốc và các nước ASEAN có lợi thế so sánh rõ rệt, tính bổ sung mạnh mẽ, tiềm năng thị trường ASEAN rất lớn, xuất khẩu của Trung Quốc vào thị trường ASEAN cao, thể hiện khả năng tiếp cận thị trường hai chiều

Huang Ying Ying (2017) đã tính toán chỉ số RCA dựa trên dữ liệu từ năm 2010 đến năm

M ụ c tiêu nghiên c ứ u

Nghiên cứu định tính, định lượng lợi thế xuất khẩu trái cây Việt Nam sang thị trường EU chủ yếu thông qua việc tính toán các chỉ số lợi thế so sánh Từ đó đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nâng cao lợi thế xuất khẩu trái cây Việt Nam sang thị trường

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về lợi thế xuất khẩu sản phẩm

- Phân tích, đánh giá thực trạng về xuất khẩu và lợi thế xuất khẩu trái cây Việt Nam sang EU, giai đoạn 2010-2019

- Đánh giá lợi thế xuất khẩu trái cây Việt Nam sang thị trường EU thông qua việc tính toán một số chỉ số lợi thế xuất khẩu như: RCA, RTA, NEI, IIT,…

- Đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm phát huy lợi thế xuất khẩu trái cây

Việt Nam sang thị trường EU.

Đối tượ ng, ph ạ m vi nghiên c ứ u

a) Đối tượng nghiên cứu: Lợi thế xuất khẩu trái cây Việt Nam sang thị trường EU b) Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2010-2019

- Phạm vi không gian: Việt Nam và các thành viên EU

- Phạm vi nội dung: Tập trung phân tích lợi thế xuất khẩu các loại trái cây Việt Nam sang thị trường EU theo mã HS trong hệ thống hài hòa thuế quan, gồm các sản phẩm có mã bốn chữ số và sáu chữ số.

Phương pháp nghiên cứ u

Tiếp cận thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và xuất khẩu trái cây Việt

Nam sang thị trường EU, từđó tìm ra lý do tại sao Việt Nam có thế mạnh về sản xuất trái cây nhưng năng lực xuất khẩu vẫn còn hạn chế Thêm nữa, cùng với việc đánh giá thực trạng này bước đầu sẽ đưa ra được các khuyến nghị và giải pháp

Tiếp cận lý thuyết: Nghiên cứu một số lý thuyết về thương mại quốc tế, lý thuyết thương mại mới, các lý thuyết liên quan đo lường lợi thế trong xuất khẩu sản phẩm, từđó vận dụng trong nghiên cứu thực nghiệm đối với việc phân tích lợi thế xuất khẩu trái cây Việt Nam sang thị trường EU, giai đoạn 2010-2019 b) Phương pháp nghiên cứ u

- Đề tài nghiên cứu lợi thế xuất khẩu trái cây Việt Nam sang thị trường EU bằng các phương pháp định tính và định lượng

Phương pháp nghiên cứu định tính giúp có cái nhìn tổng quan nghiên cứu liên quan đến việc đánh giá các lợi thế xuất khẩu sản phẩm trái cây Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh,… giúp đánh giá và lựa chọn các chỉ số lợi thế so sánh phù hợp

Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong nghiên cứu: đánh giá các chỉ số lợi thế so sánh và độ ổn định của các chỉ sốđo lường lợi thế xuất khẩu trái cây Việt Nam sang thị trường EU

- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu về xuất khẩu trái cây của Việt Nam sang EU và thế giới giai đoạn 2010-2019 từ hai nguồn dữ liệu chính gồm: Cơ sở

Thống kê Dữ liệu Thương mại của Liên Hợp Quốc (United Nations Comtrade Database-

UN Comtrade) và Trang thông tin hỗ trợ thương mại của Ủy ban Châu Âu (European Commission’s Trade Helpdesk website) Các trang thông tin Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Cục Trồng trọt, cục Thống kê

- Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm hỗ trợ phân tích định lượng ECXEL, EVIEW; phân tích thống kê, mô tả.

Ý nghĩa nghiên cứu

a) Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Kết quả nghiên cứu của đề tài có đóng góp về mặt học thuật gồm: (1) phương pháp định lượng để đánh giá tiềm năng xuất khẩu sản phẩm và vận dụng đánh giá tiềm năng xuất khẩu trái cây Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2010-2019 (2) Các kết quả nghiên cứu đề tài đóng góp thêm vào cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý và hoạch định chính sách trong việc theo dõi hiệu quả xuất khẩu, hỗ trợ đưa ra quyết định trong thiết kế chuỗi giá trị xuất khẩu trái cây nhiệt đới, xây dựng chính sách phát triển và chiến lược xuất khẩu trái cây của Việt Nam Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho nghiên cứu tương tự cho lĩnh vực khác và các thị trường khác, mặt khác cũng có thể áp dụng giảng dạy trong các học phần như: Các mô hình toán kinh tế, Phương pháp nghiên cứu khoa học a) Đối với phát triển kinh tế- xã hội

Kết quả nghiên cứu về thực trạng xuất khẩu trái cây của Việt Nam sang thị trường

EU giai đoạn 2010-2019 giúp các doanh nghiệp cũng như các cấp quản lý có thông tin phục vụ quá trình ra quyết định đầu tư, sản xuất kinh doanh sản phẩm b) Đối với tổ chức chủtrì và các cơ sởứng dụng kết quả nghiên cứu

Báo cáo kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho giảng viên, sinh viên trường Đại học Thương mại và các tổ chức quan tâm khác.

K ế t c ấ u báo cáo nghiên c ứ u

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài nghiên cứu được chia làm 4 chương như sau:

M ộ t s ố khái ni ệ m

1.1.1 Khái niệm lợi thế so sánh tuyệt đối của Adam Smith

A Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương Mô hình kinh tế cổ điển cho rằng đất đai là giới hạn của tăng trưởng Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phải tiếp tục sản xuất trên những đất đai cằn cỗi, không đảm bảo được lợi nhuận cho các nhà tư bản thì họ sẽ không sản xuất nữa Các nhà kinh tế cổđiển gọi đây là bức tranh đen tối của tăng trưởng Trong điều kiện đó A Smith cho rằng có thể giải quyết bằng cách nhập khẩu lương thực từ nước ngoài với giá rẻ hơn Việc nhập khẩu này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước Lợi ích này được gọi là lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương.

Theo A Smith, lợi thế tuyệt đối chính là chi phí sản xuất một sản phẩm A của quốc gia này thấp hơn so với chi phí sản xuất của chính sản phẩm A ấy của một quốc gia khác Khi đó, quốc gia này sẽ tập trung vào sản xuất sản phẩm có chi phí sản xuất thấp và đem trao đổi với quốc gia khác Bằng cách đó, lao động của các quốc gia sẽ được sử dụng hiệu quảhơn và sản phẩm của cả hai quốc gia sẽtăng lên.

Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A Smith có ưu điểm là mô tả được hướng chuyên môn hóa trong trong đổi giữa các quốc gia, giải thích được một phần lý do của thương mại quốc tếđối với một số mặt hàng giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển Mặt khác nó cũng có một số hạn chế chưa giải thích được hiện tượng trao đổi thương mại vẫn diễn ra với những nước có lợi thế hơn hẳn những nước khác ở mọi sản phẩm hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối về tất cả sản phẩm

1.1.2 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo

Năm 1817, Ricardo đã cho ra đời tác phẩm “Nguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế khóa” trong đó ông đã đề cập tới lợi thế so sánh (Comparative advantage) Khải niệm này chỉ khả năng sản xuất của một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với sản xuất các sản phẩm khác Với một số giả thiết của mình, quy luật lợi thế so sánh mà Ricardo rút ra là: mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh Theo quy luật này, ngay cả một quốc gia là “kém nhất” (tức là không có lợi thế tuyệt đối để sản xuất cả hai sản phẩm) vẫn có lợi khi giao thương với một quốc gia khác được coi là “tốt nhất” (tức là có lợi thế tuyệt đối để sản xuất cả hai sản phẩm) Và quốc gia thứ hai lại càng có lợi hơn so với trước khi học giao thương Ricardo đã nhấn mạnh những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém hơn lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước đều có lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác Bằng việc chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng về sản phẩm trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại Như vậy lợi thế so sánh là cơ sởđểcác nước buôn bán với nhau và là cơ sởđể thực hiện phân công lao động quốc tế

Lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo có ưu điểm là giải thích được nguyên nhân của thương mại quốc tế giữa các quốc gia là do các quốc gia buôn bán với nhau vì họ khác nhau; các cuốc gia buôn bán với nhau để đạt được lợi thế nhờ quy mô sản xuất; lợi ích của thương mại quốc tế bắt nguồn từ lợi thế so sánh Một số nhược điểm của lý; thuyết lợi thế so sánh là mới giải thích được lợi thế so sánh tồn tại là do sự khác nhau về năng suất lao động giữa các quốc gia; chưa giải thích được vì sao các nước khác nhau lại có chi phí cơ hợi khác nhau

1.1.3 Bảng phân loại trái cây theo EU

Trái cây là một loại quả, có thể ăn được ngay mà không cần chế biến Trong thực vật học, một loại trái cây là cấu trúc hạt mang trong thực vật có hoa (còn được gọi là thực vật hạt kín) hình thành từ buồng trứng (bầu hoa) sau khi ra hoa (Theo Wikipedia) Xuất khẩu trái cây xuất khẩu là việc một quốc gia bán một loại trái cây nào đó ra nước ngoài

EU đã đưa ra một bảng phân loại trái cây theo danh mục hài hòa thuế quan mã hai chữ số là HS08 và được chia 14 nhóm từ HS0801 đến HS0814 (mã 4 số) Trong các nhóm

HS bốn chữ số các mặt hàng được chia theo HS 06 chữ số Bảng phân loại trái cây dưới đây của tác giả chỉ xét các mã HS bốn chữ số và 06 chữ số Ta có bảng phân loại trái cây như sau

Bảng 1 1 Phân loại trái cây EU

Phân loại trái cây EU

08 Trái cây ăn được, các loại hạt, vỏ của trái cây họ cam quýt, các loại dưa

0801 Dừa, hạt Brazil và hạt điều, tươi hoặc khô, đã hoặc chưa bóc vỏ hoặc bỏ vỏ

0 80111 Dừa, hạt Brazil và hạt điều, tươi hoặc khô, đã hoặc chưa bóc vỏ hoặc bỏ vỏ

0 80119 Dừa cạn, tươi, có vỏ

0 80121 Quả hạch Brazil: - Không vỏ

0 80122 Quả hạch Brazil: - Có vỏ

0802 Các loại hạt khác, tươi hoặc khô, đã hoặc chưa bóc vỏ, tách vỏ

0 80211 Hạnh nhân còn vỏ, tươi hoặc khô

0 80212 Hạnh nhân, tươi hoặc khô, có vỏ

0 80222 Quả phi hoặc hạt vụn ( có vỏ)

0 80 231 Quả óc chó, còn vỏ

0 80232 Quả óc chó, tươi hoặc khô, có vỏ

0 80240 Hạt dẻ, tươi hoặc khô

0 80250 Hạt dẻ cười tươi hoặc khô

0 80290 Quả hạch ăn được, tươi hoặc khô

0 80300 Chuối kể cả tươi và khô

0804 Quả chà là, quả sung, quả dứa, quả bơ, quả ổi, tươi hoặc khô

0 80410 Quả chà là tươi hoặc khô

0 80420 Quả sung tươi hoặc khô

0 80430 Quả dứa, tươi hoặc khô

0 80450 Ổi xoài măng cụt, tươi hoặc khô

0805 Quả có múi, tươi hoặc khô

0 80520 Quất, Chanh vàng & các giống cây họ cam quýt, tươi hoặc khô

0 80530 Chanh và canh tươi hoặc khô

0 80590 Trái cây có múi, tươi hoặc khô ( loại khác)

0 807 Dưa, dưa hấu, và đu đủ tươi

0 808 Táo, lê, mộc qua tươi

0 809 Quả hạt cứng (Mơ, anh đào, mận, đào…) tươi

0 80930 Quả đào, anh đào tươi

0 81020 Quả mâm xôi, dâu đen, dâu tằm, quả nhãn

0 81030 Quả lý chua đen, trắng, đỏ tươi

0 81040 Quả nam việt quất, việt quất đen

Trái cây và quả hạch, luộc hoặc hấp, đông lạnh chưa nấu chín, có hoặc không thêm đường, chất tạo ngọt

0 81110 Dây tây, đông lạnh (hấp, hoặc luộc)

0 81120 Quả mâm xôi, dâu tằm (chưa nấu chín, hấp, luộc), đông lạnh

0 812 Trái cây quả hạch được bảo quản tạm thời chưa ăn ngay

0 81210 Anh đào được bảo quản tạm thời

0 81220 Dây tây được bảo quản tạm thời

0 81290 Loại khác, được bảo quản tạm thời

Quả sấy, trừ loại nhóm HS0801 đến nhóm HS0806, hỗn hợp các loại hạt thuộc mã HS08 này

0 8 1350 Hỗn hợp các loại hạt ăn được, trái cây sấy và bảo quản thuộc mã HS08

0 814 Vỏ trái cây họ cam quýt hoặc các loại dưa

0 81400 Vỏ trái cây họ cam quýt hoặc các loại dưa

Nguồn: UN Comtrade, 2019 (HS 08) 1.1.4 Đặc điểm của sản phẩm trái cây xuất khẩu

Trái cây là sản phẩm thiết yếu đối với cuộc sống con người bởi trái cây mang lại những lợi ích rất tốt cho sức khỏe, trái cây được xuất khẩu có những đặc điểm của trái cây như sau:

Tính thời vụ: Quá trình sản xuất và tiêu thụ trái cây mang tính thời vụ bởi cây trồng sinh trưởng và phát triển theo quy luật sinh vật nhất định Mặt khác, sự biến thiên vềđiều kiện thời tiết- khí hậu trog một năm làm cho mỗi loại cây trồng có sự thích ứng riêng, tạo nên tính mùa vụ Vào khoảng thời gian chính vụ, trái cây thường dồi dào, phong phú về chủng loại, chất lượng khá đồng đều và giá bán rẻ Ngược lại khi trái vụ thì trái cây khan hiếm, chất lượng không đồng đều và giá bán thường cao

Phụ thuộc điều kiện tự nhiên Trái cây chịu tác động lớn từ các điều kiện tự nhiên, điều kiện về thổnhưỡng, khí hậu, thời tiết Sự thay đổi vềđiều kiện tựnhiên tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt sẽ mang lại năng suất cao, chất lượng tốt Ngược lại, nếu điều kiện tự nhiên không tốt sẽ dẫn đến năng suất và chất lượng đều giảm Chất lượng trái cây có ảnh hưởng lớn đến quyết định mua hàng của người mua hàng

Tính tươi mới: Trái cây có đặc tính tươi mới và khó bảo quản trong thời gian dài Trái cây tươi mới cũng sẽ mang lại nhiều dinh dưỡng hơn, do vậy cần quan tâm đến khâu thu hoạch bảo quản

Tính đa dạng: Trái cây có đặc điểm đa dạng về chủng loại và chất lượng Với mỗi vùng miền có đặc điểm thổ nhưỡng khác nhau, khí hậu khác nhau cũng khiến trái cây có những đặc điểm khác nhau Có những trái cây trồng ở vùng này thì cho chất lượng và sản phẩm tốt nhưng chuyển sang vùng khác trồng thì sản lượng và chất lượng không được đảm bảo.

Đo lườ ng l ợ i th ế xu ấ t kh ẩ u trái cây

Trước hết ta có một số ký hiệu đối với kim ngạch xuất nhập khẩu vào một thị trường Y:

Khái niệm đo lường lợi thế so sánh (Comparative Advantage) chỉ khả năng sản xuất một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với sản xuất các sản phẩm khác

𝑋 𝑖𝑗 , 𝑀 𝑖𝑗 là kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm j của quốc gia i;

𝑋𝑖, 𝑀 là tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của quốc gia 𝑖,

𝑋 𝑤𝑗, 𝑀 𝑤𝑗 là kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm j của toàn thế giới;

𝑋 𝑤 , 𝑀 𝑤 là tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của toàn thế giới

1.2.1 Các chỉ số từ phía cung

Chỉ số lợi thế so sánh bộc lộ (RCA - revealed comparative advantage)

Chỉ số lợi thế so sánh bộc lộ (RCA) cho xuất khẩu được định nghĩa là tỉ lệ giữa tỷ trọng xuất khẩu một loại hàng hóa cụ thể của một quốc gia so với tỷ trọng của nó trong tổng xuất khẩu hàng hóa của thế giới (vùng):

Trong đó, 𝑅𝐶𝐴 𝑖𝑗 là chỉ số lợi thế so sánh bộc lộ của quốc gia i trong xuất khẩu sản phẩm j (sang thị trường Y);

Giá trị của chỉ số thay đổi trong khoảng (0, +∞), RCA gần với 0 cho thấy quốc gia không có xuất khẩu trong ngành được xem xét Nếu 𝑅𝐶𝐴 𝑖𝑗 > 1 thì nước i được coi là có lợi thếso sánh đối với sản phẩm j, hệ số này càng lớn chứng tỏ lợi thế so sánh càng cao Ngược lại nếu 𝑅𝐶𝐴𝑖𝑗 < 1 thì nước i không có lợi thế so sánh về xuất khẩu sản phẩm j Chỉ số RCA có một số điểm hạn chế nên các nhà nghiên cứu đã xây dựng thêm một số chỉ số bổ sung để đo lường lợi thế so sánh theo những tiêu chí khác nhau

Chỉ số lợi thế so sánh đối xứng bộc lộ (RSCA revealed symmetric comparative advantage) Chỉ số lợi thếso sánh đối xứng bộc lộđược xác định như sau:

𝑅𝑆𝐶𝐴 = (𝑅𝐶𝐴 − 1)/(𝑅𝐶𝐴 + 1) Giá trị của 𝑅𝑆𝐶𝐴 nằm trong đoạn [-1;1], chỉ số này lớn hơn 0 cho thấy nước đó có lợi thế so sánh xuất khẩu, và ngược lại nếu chỉ số đó nhỏ hơn 0 thì nước không có lợi thế xuất khẩu

Chỉ số lợi thếthương mại bộc lộ (RTA- revealed trade advantage)

Giá trị của 𝑅𝑇𝐴 𝑖𝑗 nằm giữa -∞ và + ∞; 𝑅𝑇𝐴 𝑖𝑗 > 0 thể hiện hàng hóa có lợi thế so sánh xuất khẩu; 𝑅𝑇𝐴𝑖𝑗 < 0 thể hiện hàng hóa có lợi thế xuất khẩu thấp hơn so với lợi thế nhập khẩu

1.2.2 Các chỉ số về phía cầu

Chỉ số xuất khẩu ròng (NEI - Net Export Index)

Chỉ số xuất khẩu ròng (NEI) được tính toán bởi công thức xuất khẩu trừ nhập khẩu chia cho tổng giá trị thương mại theo quốc gia và ngành hàng Chỉ số này xem xét vai trò của xuất khẩu và nhập khẩu trong cán cân thương mại và đánh giá lợi thế so sánh trong một mặt hàng (Banterle & Carraresi, 2007)

Giá trị của 𝑁𝐸𝐼 nằm trong khoảng -1 (khi một quốc gia chỉ nhập khẩu sản phẩm j) và 1 (khi một quốc gia chỉ xuất khẩu sản phẩm j) Trong trường hợp xuất khẩu cân bằng với nhập khẩu thì NEI nhận giá trị bằng 0 Nếu 𝑁𝐸𝐼 > 0, thì quốc gia i xuất khẩu ròng hàng hóa j, hay năng suất hàng hóa j của quốc gia i cao hơn mức trung bình của thế giới và do đó có lợi thế so sánh; mặt khác, nếu NEI < 0, năng suất của quốc gia i thấp hơn mức trung bình thế giới và cho thấy bất lợi so sánh

Chỉ sốthương mại nội ngành

Chỉ số đo thương mại nội ngành IIT (Intra - Industry Trade) đượcGrubel và Lloyd đề xuất năm 1975 Công thức tính chỉ số thương mại nội ngành như sau:

𝑋 𝑖 + 𝑀 𝑖 = 1 − (|𝑋 𝑖 − 𝑀 𝑖 |)/(𝑋 𝑖 + 𝑀 𝑖 ) Trong đó: 𝑋𝑖; 𝑀𝑖 lần lượt là giá trị xuất khẩu và nhập khẩu sản phẩm/ngành i;

𝑋 𝑖 + 𝑀 𝑖 là khảnăng xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu sản phẩm i, nguyên phụ liệu của ngành i

Chỉ số IIT thể hiện độ khớp nhau giữa xuất khẩu và nhập khẩu cùng loại sản phẩm Nếu quốc gia chỉ xuất khẩu hoặc chỉ nhập khẩu sản phẩm i thì chỉ số thương mại nội ngành bằng 0, khi đó không có thương mại nội ngành Nếu khả năng nhập khẩu sản phẩm i bằng khả năng xuất khẩu sản phẩm i thì chỉ số thương mại nội ngành bằng 1 Chỉ số này nhận giá trị trong đoạn [0,1] và khi càng gần 1 càng thể hiện thương mại nội ngành ở mức độ cao

Chỉ sốthương mại nội ngành còn được sử dụng để xem xét một sản phẩm xuất khẩu có phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu hay không Chỉ số IIT thấp thể hiện việc xuất khẩu sản phẩm ít phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu Ngược lại, chỉ số IIT càng cao cho thấy xuất khẩu sản phẩm phụ thuộc lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu

Chỉ sốtương thích thương mại

Chỉ sốtương thích thương mại (TCI - Trade Complementarity Index) là một trong các chỉ số thương mại quan trọng và thường được sử dụng để xem xét khả năng xuất khẩu sản phẩm của một quốc gia có bắt kịp với nhu cầu nhập khẩu sản phẩm đó của các quốc gia khác hoặc thế giới hay không

Công thức tính độtương thích thương mại của một sản phẩm trên thị trường thế giới như sau:

𝑇𝐶𝐼 = 1 − (|𝑥 𝑖 𝑘 − 𝑚 𝑤 𝑘 |)/2 Trong đó: 𝑥 𝑖 𝑘 là tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm k trong tổng giá trị xuất khẩu của quốc gia i;

𝑚 𝑤 𝑘 là tỷ trọng nhập khẩu sản phẩm k trong tổng giá trị nhập khẩu của thị trường thế giới

Chỉ số TCI nhận giá trị từ 0 đến 1 Chỉ số này lớn nhất bằng 1, thể hiện năng lực xuất khẩu sản phẩm k của quốc gia i hoàn toàn tương thích với nhu cầu nhập khẩu của thế giới về sản phẩm này Chỉ số này giảm dần đến 0 thể hiện sựtương thích giảm dần.

T ổ ng quan v ề tình hình s ả n xu ấ t và xu ấ t kh ẩ u trái Cây Vi ệ t Nam

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và là một trong những nền kinh tếtăng trưởng nhanh nhất thế giới Động lực chính cho tăng trưởng kinh tế là ngành công nghiệp và dịch vụ Ngược lại, ngành nông nghiệp chỉ chiếm vai trò tương đối nhỏ trong nền kinh tế, chiếm khoảng 18,1% tổng sản phẩm quốc nội (năm 2016) Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng với nền kinh tế Việt Nam với tổng 42% lao động làm việc trong ngành này (GSO, 2017) Nông nghiệp là ngành cung cấp việc làm cho một lượng lớn lao động có tay nghề thấp ở khu vực nông thôn và miền núi (MOLISA, 2013) Trong ngành nông nghiệp, ngành trái cây có tiềm năng lớn về cả sản xuất và xuất khẩu Việt Nam là nước nhiệt đới với sựưu đãi vềđiều kiện đất đai và khí hậu phù hợp cho sản xuất nhiều loại trái cây Trong vòng 15 năm, tổng diện tích trồng Trái cây Việt Nam tăng khoảng 300 nghìn ha từ 767.4 nghìn ha lên 1067.2 nghìn ha năm 2019 (Hình 2.1) Sản lượng trái cây đạt 9.3 triệu tấn năm 2019 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2019)

Hình 2 1 Diện tích trồng trái cây Việt Nam giai đoạn 2005-2019

Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam (GSO, 2019)

Hiện nay, có khoảng 40 loại trái cây đang được trồng ở Việt Nam, trong đó có 27 loại có giá trị thương mại (Nguyễn, 2015) Trái cây Việt Nam chủ yếu được sản xuất ở các tỉnh phía Nam do có các điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hậu như Đồng Bằng

Sông Cửu Long và Đông Nam Bộ Nhiều sản phẩm trái cây có thế mạnh trong sản xuất là nhóm trái cây nhiệt đới như vải thiều, chôm chôm, thanh long, xoài, nhãn, chuối, nhóm trái cây có múi gồm bưởi, cam, quýt Các loại trái cây được trồng nhiều nhất ở Việt Nam gồm Dừa (158 nghìn ha), Chuối (133 nghìn ha), Xoài (84 nghìn ha), Nhãn

(73 nghìn ha), Vải (65 nghìn ha)… ( Bộ NN và PTNN, 2015) Nhiều sản phẩm trái cây đã nổi tiếng gắn với địa danh như Vải thiều ở Bắc Giang, Hải Dương Chôm chôm được trồng nhiều ở các tính phía Nam, lớn nhất ở Đồng Nai và Bến Tre Xoài có xoài Hòa Lộc, xoài Cát Chu, xoài Tượng và được trồng chủ yếu ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu

Long Với trái cây có múi, Việt Nam có khá nhiều giống bưởi ngon như bưởi Năm roi,

Da xanh, Phúc Trạch, Diễn, Đoan Hùng và có nhiều loại cam đã có chất lượng tốt và đang được mở rộng diện tích như cam Vinh, cam Cao Phong, cam Hàm Yên

Việt Nam là một trong số ít các quốc gia trên thế giới sản xuất nhiều loại trái cây nhiệt đới với sản lượng lớn Các loại trái cây có sản lượng lớn thuộc top 10 thế giới gồm Vải, Thanh long, Nhãn, Dừa, Chanh leo và Dưa hấu (2014- Hoa quả Việt Nam vượt qua các rào cản của thị trường EU để tận dụng cơ hội từ EVFTA)

Diện tích trồng trái cây Việt Nam

Tuy nhiên sản xuất trái cây Việt Nam vẫn còn mang tính nhỏ lẻ và manh mún Chỉ

5% số nông trại trồng cây có diện tích trồng trên 2 ha trong khi có 60% nông trại diện tích trồng dưới 0,2 ha (Nguyễn, 2016) Hầu hết các nhà sản xuất trái cây là các hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ nằm rải rác ở các khu vực khác nhau Chỉ có một số ít khu vực chuyên canh trái cây và phần lớn nằm ở phía Nam Đồng bằng sông Cửu Long là nơi trồng hầu hết các loại trái cây nhiệt đới ngon nhất Việt Nam như Thanh Long, Xoài

Bên cạnh trái cây tươi, những năm gần đây Việt Nam đã phát triển ngành công nghiệp chế biến trái cây Ngành chiếm khoảng 10% tổng sản lượng trái cây toàn quốc

(Nguyễn, 2016) Để phục vụ cho tiêu thụ xuất khẩu, cùng với tính thuận tiện của sản phẩm, có nhiều nhà máy chế biến trái cây được thành lập, tuy nhiên số lượng nhà máy sử dụng công nghệ cao và có khả năng sản xuất quy mô lớn không nhiều

Giá trị xuất khẩu của ngành công nghiệp trái cây đã tăng nhanh trong 10 năm qua, từ 1310 triệu USD năm 2010 lên 5710 triệu USD năm 2019 (Gấp gần 4.5 lần) và tăng mạnh giai đoạn 2013-2017 (Hình 2.2) Trái cây vẫn được tiêu thụ chính ở nội địa, chiếm 85-90% tổng sản lượng trái cây (Thời báo tài chính, 2016) Việc này dẫn đến giá cả giảm mạnh khi mùa màng bội thu

Trái cây Việt Nam xuất khẩu sang khá nhiều quốc gia, nhưng về cơ bản vẫn phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc Hình 2.3 cho thấy giá trị xuất khẩu trái cây của

Việt Nam tăng nhanh trong giai đoạn 2010-2015 và tăng chậm ở giai đoạn sau Thị trường EU và USA thì tăng không đáng kể

Hình 2 2 Giá trị xuất khẩu trái cây Việt Nam giai đoạn 2010-2019

Hình 2.3 03 thị trường nhập khẩu trái cây Việt Nam nhiều nhất năm 2015, 2019

Trái cây nhiệt đới là mặt hàng trái cây xuất khẩu chính của Việt Nam Bảng 2.1 thể hiện các mặt hàng xuất khẩu trái cây hàng đầu Việt Nam (Mã bốn số và mã sáu số) năm 2019

Bảng 2 1 Các mã trái cây xuất khẩu nhiều nhất Việt Nam năm 2019 ( Mã bốn số và mã sáu số

Mã HS Miêu tả hàng hóa Giá trị xuất khẩu

(Triệu đô) Tỷ trọng trong tổng giá trị trái cây xuất khẩu

0801 Hạt, dừa khô và tươi 3072 53%

0810 Trái cây, các loại hạt, vỏ (thuộc mã 08) 1820 31%

Giá trị xuất khẩu trái cây Việt Nam giai đoạn

0804 Vả, sung, dứa, bơ, ổi, xoài khô và tươi 341 6%

081090 Me, mít, vải, chanh leo tươi 1549 27%

Th ự c tr ạ ng xu ấ t kh ẩ u trái cây Vi ệ t Nam sang th ị trường EU giai đoạ n 2010-2019

2.2.1 Nhu cầu nhập khẩu trái cây của EU

EU có diện tích sản xuất trái cây không lớn và chủ yếu sản xuất các loại trái cây ôn đới Diện tích sản xuất trái cây năm 2015 là 3.2tr ha Chiếm 1.8% tổng diện tích canh tác nông nghiệp, tập trung chủ yếu ở các nước Tây Ba Nha, Ý, Ba Lan, BồĐào Nha Trái cây được trồng chủ yếu là trái cây ôn đới bao gồm nho, táo, lê, các loại quả hạch (đào, mơ, mận, anh đào) Sản xuất trái cây của EU đang phát triển theo hướng tăng cường diện tích sản xuất hữu cơ Hiện nay, trái cây hữu cơ chiếm 2.8% trang trại và 10,8% diện tích trồng trái cây của EU

Do thiếu nguồn nội khối và thị hiếu tiêu dùng thay đổi, EU nhập khẩu lượng lớn trái cây đặc biệt là trái cây nhiệt đới Những năm gần đây, ngành trái cây EU luôn ở tình trạng thâm hụt thương mại lớn, Trong suốt 10 năm từ năm 2010 đến năm 2019 EU luôn là nước nhập khẩu trái cây lớn nhất thế giới, tăng từ 17 tỷUSD năm 2010 lên 24 tỷ USD năm 2019 (Hình 2.4)

Hình 2.4 Giá trị nhập khẩu trái cây của ba nước nhập khẩu trái cây lớn nhất thế giới giai đoạn 2010-2019

Những mặt hàng trái cây được nhập khẩu chính vào EU là chuối và trái cây truyền thống trái vụ như nho, cam Bên cạnh đó, các loại trái cây nhiệt đới không được trồng ở

EU cũng là mặt hàng được nhập khẩu nhiều như bơ, dứa, xoài, chanh (Bảng 2.2) Hơn nữa, EU cũng gia tăng nhập khẩu một số loại trái cây nhiệt đới không phổ biến như quả vải, chanh leo, mít, khi ngày càng nhiều người EU đi du lịch vòng quanh thế giới và thử các loại trái cây mới (Vietrade 2017) Giá trị nhập khẩu các mặt hàng này (hầu hết thuộc mã HS 081090) chiếm 1.5% tổng giá trị nhập khẩu trái cây của EU năm 2019

(Bảng 2.2) Đây cũng là những mặt hàng Việt Nam đặc biệt có lợi thế Do đó có thể khảng định rằng Việt Nam- EU có tiềm năng trong phát triển thương mại trái cây

Bảng 2 2 Mười loại trái cây nhiệt đới nhập khẩu nhiều nhất vào EU năm 2019

Mã HS Miêu tả hàng hóa Giá trị nhập khẩu của EU năm 2019

Tỷ trọng trong tổng giá trị nhập khẩu trái câu của Eu năm 2019

080390 Chuối tươi hoặc sấy khô 3684 15%

080450 Quả ổi, xoài và măng cụt 773 3%

080550 Quả chanh và lá cam 566 2,3%

081190 Loại khác trái cây đông lạnh

081090 Quả me, quả mít, quả vải, chanh leo tươi

081340 Loại khác, trái cây sấy khô

Nguồn UN Comtrade, 2019 (Đơn vị: Triệu USD)

Hình 2.6 cho ta thấy EU gia tăng nhập khẩu trái cây nhiệt đới mà Việt Nam có thế mạnh (Mã 04 chữ số và mã 06 chữ số) Tổng giá trị nhập khẩu đã tăng gấp hơn 2 lần từ

660 triệu USD năm 2010 lên 1425 triệu USD năm 2019 với mã HS 0801 và từ 797 triệu USD năm 2010 lên 1954 triệu USD năm 2019 với mã HS 0810 Mã 080190 có xu hướng tăng tương đương với xu hướng tăng nhập khẩu trái cây của EU trong cùng giai đoạn (Hình 2.5) Đối với trái cây nhiệt đới được chế biến đông lạnh (HS 081190) và sấy khô (HS081340) cũng có xu thế tăng (Hình 2.6)

Hình 2 5 Giá trị nhập khẩu trái cây tươi thuộc nhóm HS0801, HS0810,

HS081090 giai đoạn 2010-2019 của EU

HS0801: Hạt, dừa khô và tươi HS0810: Trái cây, các loại hạt, vỏ (thuộc mã HS08) HS081090: Me, mít, vải chanh leo tươi

Hình 2.6 Giá trị nhập khẩu một số loại trái cây đông lạnh và sấy khô giai đoạn

2.2.2 Tình hình xuất khẩu trái cây Việt Nam sang EU

Xuất khẩu trái cây Việt Nam sang EU tăng mạnh trong giai đoạn 2010-2019 (Hình

2.7) từ 12745 triệu USD năm 2019 lên 44734 triệu USD năm 2019 trong khi nhập khẩu trái cây của EU từ thế giới tăng nhưng không đáng kể (Hình 2.4) Hiện nay, giá trị nhập khẩu trái cây từ Việt Nam của EU chiếm 1.9% (năm 2019) tổng giá trị nhập khẩu trái cây của EU Cùng với đó, kim ngạch xuất khẩu trái cây của Việt Nam sang thị trường

EU cũng chỉ chiếm 8% (2019) tổng kim ngạch xuất khẩu trái cây Việt Nam ra toàn thế giới Đặc biệt khi xem xét trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu trái cây của EU rất lớn và tiềm năng xuất khẩu trái cây của Việt Nam khá cao thì có thể nói chúng ta có lợi thế xuất khẩu trái cây rất lớn

HS81190: Loại khác, Trái cây đông lạnh HS81340: Loại khác, trái cây sấy khô

Hình 2 7 Giá trị xuất khẩu trái cây của Việt Nam sang thịtrường EU giai đoạn

Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các nhóm trái cây nhiệt đới và chỉ có bốn mã (mã HS sáu chữ số- năm 2019) vó giá trị xuất khẩu hơn 1 triệu USD gồm mã HS081090 (Quả me, quả mít, quả vải, quảchanh leo tươi… với 31 triệu USD, mã HS081190 (Loại khác, trái cây là hạt đông lạnh) với 16 triệu USD, mã HS080111(Dừa sấy khô) với 2,3 triệu USD, mã HS080450 (Quả ổi, xoài và mãng cầu tươi hoặc sấy khô) với 1,1 triệu USD

Con số này một mặt cho thấy tình hình xuất khẩu trái cây của Việt Nam sang EU còn yếu, mặt khác cũng cho thấy Việt Nam có tiềm năng rất lớn để mở rộng thị phần tại thị trường này.

M ộ t s ố khó khăn thách thức đố i v ớ i xu ấ t kh ẩ u trái cây Vi ệ t Nam sang th ị trườ ng EU

2.3.1 Khó khăn thách thức từ phía cung

- Cơ sở hạ tầng chưa đủnăng lực hỗ trợ xuất khẩu sang thị trường EU

Ngành trái cây không phải là một trong những ngày xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam và vì ngân sách còn hạn chế nên việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng thiết yếu cho ngành còn khiêm tốn Trái cây thường được trồng ở các vùng nông thôn và miền núi cách xa các nhà máy chế biến nên việc thu mua phân phối sẽ gặp nhiều khó khăn do khâu vận chuyển và bảo quản Việc đầu tư vào khoa học và công nghệ trong thu hoạch bảo quản còn hạn chế khiến cho trái cây chưa có chất lượng cao và thời gian sử dụng ngắn, điều này khó đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng cao của các thị trường nghiêm ngặt

Giá trị xuất khẩu trái cây Việt Nam giai đoạn

2010-2019 như EU Một mặt diện tích cho trồng trọt bị thu hẹp bởi tốc độ đô thị hóa ngày càng cao khiến cho ngành thương mại trái cây cũng bị hạn chếhơn

-Quy mô và hình thức doanh nghiệp kinh doanh trái cây nhỏ lẻ, lạc hậu, tự phát

Hiện tại ở Việt nam có nhiều hình thức doanh nghiệp như hộgia đình, thương lái, doanh nghiệp chuyên sản xuất chế biến trái cây được xây dựng tại các vùng nguyên liệu trái cây Hộ gia đình đóng vai trò chủ lực chính trong sản xuất trái cây và việc sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán Phần lớn nông dân chưa được tập huấn kỹ thuật về thu hoạch, sơ chế và bảo quản nên hình thức, chất lượng trái cây chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường Thương lái đóng vai trò quan trọng từ lúc sản xuất, thu mua đến cả tiêu thụ trái cây Các thương lái họat động tương đối độc lập tuy nhiên do nguồn gốc vốn còn hạn chế nên chưa đủ điều kiện xây dựng kho bảo quản cũng như phương tiện vận chuyển sản phẩm

Doanh nghiệp chuyên sản xuất và chế biến trái cây được xây dựng tại các vùng nguyên liệu trái cây Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp chế biến có quy mô còn nhỏ, thiếu nguyên liệu sản xuất, do thiếu vùng nguyên liệu tập trung, còn nhỏ lẻ, còn phân tán hoặc người dân lại không sản xuất theo quy hoạch của địa phương Các dây truyền doanh nghiệp cũ kỹ, lạc hậu, sản phẩm chế biến chưa được phong phú, giá thành sản xuất còn cao, nguồn vốn cho sản xuất gặp nhiều khó khăn Số đông các doanh nghiệp chưa xây dựng được thương hiệu riêng cho mình và cho ngành trái cây của Việt nam trên thị trường thế giới Họ cũng bị thiếu thông tin và hướng dẫn về các quy định của

EU, hạn chếnăng lực và nguồn lực để tuân thủ các tiêu chuẩn cao của EU

- Áp dụng công nghệ, tiêu chuẩn An toàn vệsinh còn chưa đảm bảo và được quan tâm đúng mức

Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay rất đáng lo ngại, đã được rất nhiều các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh Việc sử dụng không an toàn về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc bảo quản hiện nay còn khá phổ biến Chúng ta đã có những vùng trái cây sạch, nhưng số lượng và tỷ lệ còn thấp chỉ đạt khoảng 20%

- Hoạt động dự báo thịtrường còn hạn chế

Hoạt động dự báo thịtrường còn hạn chế trong việc dự báo nhu cầu dài hạn vì giá nông sản trên thị trường quốc tế biến đổi thất thường

- Sự liên kết giữa các công ty xuất khẩu và nhà sản xuất còn yếu

Hiện nay việc liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị xuất khẩu chưa chặt chẽ, sự gắn kết giữa các công ty xuất khẩu và nhà sản xuất còn yếu, các công ty xuất khẩu chưa xây dựng được vùng nguyên liệu riêng, chủ yếu mua qua trung gian Do vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu chưa đáp ứng được yêu cầu khách hàng với sốlượng lớn, ổn định và thường xuyên

2.3.2 Khó khăn thách thức từ phía cầu

- Khó khăn từ chính sách quản lý nhập khẩu của EU

EU tăng cường kiểm tra các sản phẩm trái cây nhập khẩu từ Việt Nam, mỗi lô hàng xuất khẩu sang EU phải có Giấy chứng nhận của các Phòng xét nghiệm được ủy quyền tại nước xuất khẩu Các lô hàng bị tái kiểm tra tại cảng đến sẽ bị tiêu hủy vềcó dư lượng chất độc hại

- Khó khăn thách thức đểvượt qua các biện pháp phi thuế quan

Các biện pháp phi thuế quan (Non- tariff measues –NTMs) theo định nghĩa của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển UNCTAD (2012) là các biện pháp không phải thuế quan nhưng có tác động kinh tế lên thương mại hàng hóa giữa các quốc gia EU nằm trong nhóm các nước thường xuyên sử dụng các biện pháp NTMs và đặc biệt với các sản phẩm trái cây Theo thông tin từ cơ sở dữ liệu UNCTAD TRAINS hiện tại EU đang áp dụng 34 biện pháp NTMs lên hoa quả nhập khẩu từ Việt Nam bao gồm 26 biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS- Sanitary and Phytosanitary measures) và 8 rào cản kỹ thuật với thương mại (TBT- Technical Barriers to Trade measures

Các biện pháp SPS của EU có tác động lớn đến các loại trái cây của Việt Nam là các yêu cầu về vệ sinh thực phẩm, quy định về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và tạp chất, kiểm định thực vật, đánh giá sự phù hợp

Các biện pháp TBT của EU có tác động lớn đến các loại trái cây của Việt Nam bao gồm các quy định về dán nhãn của EU và tiêu chuẩn tiếp thị

- Tăng sức ép cạnh tranh từ hàng hóa và dịch vụ của EU

Các doanh nghiệp EU có lợi thế hơn hẳn các doanh nghiệp Việt Nam về năng lực cạnh tranh, kinh nghiệm thị trường Bên cạnh đó việc mở cửa thị trường Việt Nam cho hàng hóa, dịch vụ từ EU cũng đồng nghĩa với việc các doanh ngiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh khó hơn ngay tại thị trường nội địa

- Nguy cơ về các biện pháp phòng vệthương mại

EU là thị trường thường xuyên sử dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp hay tự vệđể bảo vệ cho sản xuất nội địa Đây cũng là một khó khăn cho ngành xuất trái cây ở Việt Nam

Ngày đăng: 29/10/2022, 07:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Balassa, B. (1965) "Trade liberalisation and “revealed” comparative advantage", The Manchester School, Vol. 33, No. 2, pp. 99-123. DOI 10.1111/j.1467- 9957.1965. tb00050. x Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trade liberalisation and “revealed” comparative advantage
4. Banterle, A. and Carraresi, L. (2007) "Competitive performance analysis and European Union trade: The case of the prepared swine meat sector", Acta Agriculturae Scandinavica, Sec. C, Vol. 4, No. 3, pp. 159-172. ISSN 2164- 828X/2164-8298. DOI 10.1080/16507540701597048 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Competitive performance analysis and European Union trade: The case of the prepared swine meat sector
5. Benedictis, L. D. and Tamberi, M. (2004) "Overall specialization empirics: techniques and applications”, Open economies review, Vol. 15, No. 4, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Overall specialization empirics: techniques and applications
7. Cantwell, J. (1989) "Technological innovation and multinational corporations", Cambridge: B. Blackwell Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technological innovation and multinational corporations
8. Ferto, I. and Hubbard, L. J. (2003) "Revealed comparative advantage and competitiveness in Hungarian agri – food sectors", The World Economy, Vol Sách, tạp chí
Tiêu đề: Revealed comparative advantage and competitiveness in Hungarian agri–food sectors
10. Liesner, H. H. (1958) "The European common market and British industry", The Economic Journal, Vol. 68, No. 270, pp. 302-316. ISSN 1468-0297.DOI 10.2307/2227597 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The European common market and British industry
11. Proudman, J. and Redding, S. (2000) "Evolving patterns of international trade." Review of international economics, Vo. 8, No.3, pp. 373-396. ISSN 1467-9396. DOI 10.1111/1467-9396.00229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evolving patterns of international trade
12. Ricardo, D. (1817) "On the principles of political economy and taxation", London: John Murray Sách, tạp chí
Tiêu đề: On the principles of political economy and taxation
13. Vollrath, T. (1991) “A theoretical evaluation of alternative trade intensity measures of revealed comparative advantage”, Review of World Economics, Vol. 127, No. 2, pp. 265-280. ISSN 1610-2878/1610-2886 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A theoretical evaluation of alternative trade intensity measures of revealed comparative advantage
1. Ricardo, D. (1817). Principles of political economy and taxation. London, UK: John Murray Khác
2. Liesner, H. H. (1958). The European Common Market and British Industry. Economic Journal, 68, 302-16 Khác
6. Birol Erkan, Kazım Sarıcoban (2014), Comparative Analysis of the Competitiveness in the Export of Science-Based Goods Regarding Turkey and the EU+13 Countries, International Journal of Business and Social Science, Vol. 5, No. 8(1); July 2014 Khác
14. Viet Van Hoang, Khai Tien Tran, Binh Van Tu (2017), Assessing the Agricultural Competitive Advantage by the RTA index: A Case Study in Vietnam, Agris on-line Papers in Economics and Informatics, Number 3, 2017 Khác
16. Hoa qu ả Vi ệt Nam vượ t qua các rào c ả n c ủ a th ị trường EU để t ậ n d ụng cơ hộ i từ EVFTA (Nghiên cứu), Trung tâm WTO, Phòng Thương Mại và công nghi ệ p Vi ệt Nam, Tháng 3, Năm 2019 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w