1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo đề tài Áp dụng mô hình học tập Blended Learning trong giảng dạy học phần Basic IELTS 1 cho sinh viên theo chương trình đào tạo chất lượng cao năm thứ nhất trường Đại học Thương mại

88 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM LƯỢC Với mục tiêu nâng cao chất lượng giảng dạy học phần Basic IELTS 1 cho sinh viên đang theo học chương trình đào tạo chất lượng cao khoa Tài chính – Ngân hàng, trường đại học Thươ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

CS20-56

Chủ nhiệm đề tài: Th.S Dương Thị Hồng Thắm Thành viên tham gia: TS Nguyễn Thị Thanh Huyền

Hà Nội, 4/2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

HỌC THƯƠNG MẠI

CS20-56

Hà Nội, 4/2021

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Nhóm tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu nhà trường, Phòng Khoa học, lãnh đạo Khoa Tiếng Anh và Bộ môn Lý thuyết tiếng, khoa Tiếng Anh, trường đại học Thương Mại đã tạo điều kiện cho nhóm tác giả hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học này

Nhóm tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các em sinh viên năm thứ nhất đang theo học chương trình đào tạo chất lượng cao khoa Tài chính – Ngân hàng, trường đại học Thương Mại đã tích cực tham gia vào phương pháp học tập mới này,

và đã nhiệt tình trả lời phiếu khảo sát, và phỏng vấn một cách khách quan, giúp cung cấp các dữ liệu quý giá cho nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu

Cuối cùng, nhóm tác giả cũng biết ơn gia đình, bạn bè, các giáo viên trong Khoa Tiếng Anh đã luôn quan tâm động viên và giúp đỡ nhóm tác giả cả về vật chất

và tinh thần trong quá trình thực hiện nghiên cứu khoa học này

Trang 4

TÓM LƯỢC

Với mục tiêu nâng cao chất lượng giảng dạy học phần Basic IELTS 1 cho sinh viên đang theo học chương trình đào tạo chất lượng cao khoa Tài chính – Ngân

hàng, trường đại học Thương Mại, nghiên cứu với tiêu đề “Áp dụng mô hình học

t ập Blended Learning trong giảng dạy học phần Basic IELTS 1 cho sinh viên theo chương trình đào tạo chất lượng cao năm thứ nhất trường đại học

Thương Mại” đã được thực hiện Nghiên cứu này tìm hiểu hiệu quả của mô hình

học tập kết hợp (Blended Learning) trong việc nâng cao kết quả học tập bốn kỹ năng nghe, nói, đọc và viết cho sinh viên năm thứ nhất theo chương trình đào tạo

chất lượng cao đang học học phần Basic IELTS 1, trường đại học Thương Mại Nghiên cứu thực nghiệm trên hai lớp, một lớp đối chứng được học theo phương pháp giảng dạy truyền thống trên lớp và một lớp thử nghiệm được học kết hợp trên

lớp và học trực tuyến Phiếu điều tra, khảo sát, phỏng vấn và bài kiểm tra được áp

dụng để đánh giá hiệu quả của việc áp dụng mô hình học tập kết hợp đối với học phần Basic IELTS 1 Kết quả điều tra cho thấy mô hình học tập này giúp nâng cao

kết quả học tập cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc và viết Từ đó, nghiên cứu đưa ra cách thức áp dụng mô hình học tập kết hợp cho việc nâng cao kết quả học Basic IELTS 1 cho sinh viên theo học hệ chất lượng cao năm thứ nhất trường Đại học Thương mại một cách hiệu quả nhất

Trang 5

M ỤC LỤC

L ỜI CẢM ƠN i

TÓM LƯỢC ii

M ỤC LỤC iii

DANH M ỤC BẢNG BIỂU v

DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT vi

THÔNG TIN K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG vii

PH ẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan nghiên cứu của đề tài 2

2.1 Trong nước 2

2.2 Ngoài nước 6

3 Mục tiêu đề tài 8

3.1 M ục tiêu chung 8

3.2 M ục tiêu cụ thể 8

3.3 Câu h ỏi nghiên cứu 9

4 Đối tượng nghiên cứu 9

5 Phạm vi nghiên cứu 9

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Cấu trúc của bài nghiên cứu 11

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13

1.1 Định nghĩa Blended Learning 13

1.2 Cấu trúc Blended learning 15

1.3 Các mô hình của Blended Learning 16

1.3.1 Mô hình blended face - to – face 16

1.3.2 Mô hình rotation (s ự luân phiên) 16

1.3.3 Mô hình flex 17

1.3.4 Mô hình lab school 17

1.3.5 Mô hình self-blended 17

1.3.6 Mô hình online driver 17

1.4 Các xu thế thiết kế Blended learning 18

1.5 Áp dụng mô hình Blended Learning trong đào tạo đại học trên thế giới 19

1.5.1 Ưu điểm 19

Trang 6

1.5.2 H ạn chế 23

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH V ẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 24

2.1 Cách tiếp cận các mẫu khảo sát 24

2.1.1 Cách ti ếp cận: 24

2.1.2 Cách ti ếp cận các mẫu khảo sát: 24

2.2 Phương pháp nghiên cứu 24

2.2.1 Lo ại dữ liệu 26

2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp 27

2.2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 27

2.3 Kết quả khảo sát qua bảng hỏi 27

2.3.1 V ề việc sở hữu máy tính cá nhân, máy tính để bàn của sinh viên: 28

2.3.2 V ề cơ hội sử dụng mạng Internet của sinh viên 28

2.3.4 V ề một số lợi ích khác của mô hình học tập kết hợp đối với tổ chức đào tạo nói chung, nhóm nghiên c ứu thu được kết quả: 30

2.3.5 V ề nhu cầu và mức độ hài lòng của SV đối với mô hình BL 30

2.4 Kết quả nghiên cứu qua phỏng vấn 32

2.4.1 Khó khăn, bất cập sinh viên gặp phải khi áp dụng mô hình này 32

2.4.2 Đánh giá hiệu quả của mô hình với từng kỹ năng trong quá trình học tập 33

2.5 Kết quả bài kiểm tra trước và sau thử nghiệm 35

CHƯƠNG III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 37

3.1 Hiệu quả của mô hình học tập Blended Learning 37

3.2 Đề xuất cách thức áp dụng mô hình học tập Blended Learning 38

3.2.1 Đối với sinh viên 38

3.2.2 Đối với giáo viên 40

3.2.3 V ận dụng mô hình 40

3.2.4 Các h ọc phần nên áp dụng mô hình học tập BL 41

3.3 Đề xuất cho nghiên cứu khác 42

K ẾT LUẬN 43

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 44

PH Ụ LỤC 47

Trang 7

DANH M ỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Kết quả kiểm tra lớp thử nghiệm 20751 35

Bảng 2 Kết quả kiểm tra lớp đối chứng 20747 35

Hình 1 Sơ đồ mô hình học tập kết hợp 14

Hình 2 Tỉ lệ SV sở hữu máy tính cá nhân, máy tính để bàn 28

Hình 3 Cơ hội sử dụng mạng Internet 28

Hình 4 Lợi ích của mô hình học tập kết hợp đối với sinh viên 29

Hình 5 Một số lợi ích khác của mô hình đào tạo kết hợp nói chung 30

Hình 6 Mức độ hài lòng của sinh viên với mô hình BL 31

Hình 7 Mức độ tiến bộ của các kỹ năng của SV 31

Hình 8 So sánh sự tiến bộ giữa lớp thử nghiệm và lớp đối chứng 36

Trang 8

DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

BL : Blended Learning B-learning : Blended learning

SV : Sinh viên

Trang 9

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Áp dụng mô hình học tập Blended Learning trong giảng dạy

h ọc phần Basic IELTS 1 cho sinh viên theo chương trình đào tạo chất lượng cao năm thứ nhất trường đại học Thương Mại

- Mã số: CS20-56

- Chủ nhiệm: ThS Dương Thị Hồng Thắm

- Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Thương Mại

- Thời gian thực hiện: 8 tháng (1/8/2020 đến 30/3/2021)

2 M ục tiêu:

Nghiên cứu này được thực hiện để thực hiện một số mục tiêu chung như sau: (1) hệ thống cơ sở lý luận về mô hình học tập kết hợp (Blended Learning) (2) đánh giá hiệu quả của mô hình học tập kết hợp

(3) đề xuất định hướng phát triển phương thức học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và đề xuất cách thức triển khai mô hình học tập phù hợp áp dụng Blended Learning cho học phần Basic IELTS 1

Với những mục tiêu chung như trên, nghiên cứu này được thực hiện thực

Trang 10

- Tìm ra cách thức triển khai mô hình học tập kết hợp phù hợp nhất cho các

em sinh viên năm nhất theo chương trình đào tạo chất lượng cao với học phần Basic IELTS 1

3 Tính m ới và sáng tạo:

Sự phát triển của hình thức dạy học trực tuyến đã giúp cho việc “Học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi thứ, học mềm dẻo, học một cách mở và học suốt đời” của con người trở thành hiện thực và là một xu hướng tất yếu có tính cách mạng đối với

hoạt động dạy học Hình thức dạy học kết hợp (Blended learning) có thể được coi là

sự kết hợp giữa hình thức dạy học trực tuyến với hình thức dạy học giáp mặt khi triển khai dạy học một mộn học, một học phần hoặc một một chủ đề cụ thể, đây là hình thức dạy học đã và đang khá phổ biến trên thế giới Tại Việt Nam, các nghiên cứu và sử dụng hình thức dạy học kết hợp đã hình thành và từng bước phát triển từ đầu thế kỷ 21 đến nay Tuy nhiên, do các điều kiện về chính sách, nguồn lực chính

phủ và địa phương, cơ hội của giáo viên và sinh viên tiếp cận mô hình học tập này còn hạn chế Để có thêm những cơ sở lí luận và thực tiễn giúp cho việc triển khai đại trà hình thức dạy học Blended learning thì cần tiếp tục có thêm những nghiên

cứu sâu, rộng liên quan đến hình thức dạy học này Về việc áp dụng mô hình học

tập kết hợp trong giảng dạy tiếng Anh, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong

và ngoài nước nhưng các nghiên cứu này không bao quát được cả bốn kỹ năng mà

chỉ tập trung vào một kỹ năng cụ thể như nói hoặc viết và cũng chưa có nghiên cứu nào về giảng dạy các kỹ năng định hướng thi chứng chỉ quốc tế IELTS Nhận thức được những khoảng trống trong các nghiên cứu trên, nhóm tác giả quyết định tiến hành nghiên cứu việc áp dụng mô hình Blended Learning để nâng cao kết quả học

tập học phần Basic IESLTS 1 cho sinh viên năm nhất đang theo học hệ chất lượng cao trường Đại học Thương mại

4 K ết quả nghiên cứu:

4.1 Th ực trạng về điều kiện trang thiết bị, thái độ và nhu cầu áp dụng mô hình

Trang 11

dụng mạng Internet, với tỉ lệ SV luôn thường trực có kết nối mạng là 60% Như

vậy, những yêu cầu cơ bản để áp dụng mô hình học tập kết hợp đã được đáp ứng

V ề một số lợi ích của mô hình học tập kết hợp đối với sinh viên, nhóm nghiên

cứu thu được kết quả: Ba chức năng được đánh giá cao nhất (điểm trung bình >4.4) liên quan đến việc dễ dàng xem lại bài giảng, tạo áp lực học tập thường xuyên và nâng cao kết quả học tập Mô hình học tập này cũng giúp sinh viên có thể học tập

mọi lúc, mọi nơi và phát huy cao tính chủ động học tập (4.16 điểm trung bình) Tuy nhiên, sinh viên chưa tận dụng tốt mô hình này để làm kênh trao đổi với giáo viên

và các bạn cùng lớp (với mức điểm trung bình lần lượt là 3.6 và 3) Nguồn tài nguyên tham khảo được sinh viên đánh giá là chưa nhiều về mặt số lượng, điều này hoàn toàn có thể được giải thích do thời gian và nguồn nhân lực còn hạn chế Ngoài

ra, mô hình BL còn một số lợi ích như sự thuận tiện trong quản lý tình hình học tập được sinh viên đánh giá cao nhất (4.6/5) thể hiện tính ưu việt và thuận tiện của hình

thức học tập kết hợp Tài liệu tham khảo cũng như các bài luyện tập, bài kiểm tra được sắp xếp rất logic, được phân vào các mục rất rõ ràng và được sinh viên đánh giá rất cao ở mức 4.5 điểm trung bình Hơn thế nữa, mô hình này giúp sinh viên cũng như giáo viên đánh giá kết quả học tập dễ dàng hơn (4.1/5) và hiệu quả truyền đạt kiến thức được đánh giá thấp nhất ở mức 3.6 điểm

V ề nhu cầu và mức độ hài lòng của SV đối với mô hình BL, 100% các em sinh

viên đồng ý về việc nên áp dụng mô hình học tập kết hợp này và mức độ hài lòng và rất hài lòng của sinh viên với mô hình BL là rất cao (96%) và chỉ có 4% cảm thấy „bình thường‟ và không sinh viên nào không hài lòng với mô hình học tập này Từ đó, nghiên

cứu cho thấy thái độ tích cực và nhu cầu áp dụng mô hình học tập BL là rất cao

4.2 Hi ệu quả của mô hình học tập Blended Learning

Qua kết quả bài kiểm tra trước và sau thử nghiệm, nhờ việc áp dụng mô hình

học tập Blended Leaning, sinh viên lớp thử nghiệm đã có sự tiến bộ hơn trong kết

quả học tập cả 4 kỹ năng so với lớp đối chứng Như vậy, việc triển khai mô hình

học tập BL đã đem lại kết quả cao hơn so với phương pháp dạy học truyền thống Ngoài ra mô hình còn mang lại một số lợi ích sau:

Về phía sinh viên, các em hứng thú, chủ động tìm tòi kiến thực, phát huy khả năng sáng tạo, tự học, tích cực hơn, nắm chắc kiến thức hơn và làm bài hiệu quả

Trang 12

hơn Sinh viên được củng cố kiến thức, rèn luyện các kỹ năng với nội dung bám sát chương trình học ở lớp truyền thống Với kỹ năng đọc và nghe, các em biết điểm ngay sau khi làm bài kiểm tra trực tuyến để tự đánh giá sự tiến của mình Với kỹ năng viết và nói, các em được giảng viên sửa lỗi phát âm, ý tưởng, từ vựng, ngữ pháp cũng như liên kết ý…nên có sự tiến bộ vượt bậc Do đó điểm kiểm tra sau thử nghiệm của các em cũng cao hơn so với sinh viên lớp đối chứng Qua quá trình

giảng dạy, quan sát cá nhân và trao đổi trực tiếp với sinh viên, qua bảng câu hỏi điều tra và phỏng vấn sâu, nhóm tác giả nhận thấy hầu hết sinh viên cảm thấy hứng thú hơn, hài lòng hơn và mong muốn được áp dụng mô hình học tập này

Về phía giảng viên, họ có cơ hội được chia sẻ với sinh viên thêm những tài liệu

cập nhật hơn, những kinh nghiệm thi IELTS thực tế hơn và từ đó giảng viên cũng có hứng thú hơn với những giờ lên lớp và khai thác bài học một cách sáng tạo hơn Ngoài

ra, GV không cần áp lực chạy giáo án, chạy chương trình Nhờ mô hình học tập này,

GV quản lý lớp dễ dàng hơn, nắm được tình hình làm bài cũng như sự tiến bộ của các

em Dựa trên các lớp thực nghiệm và đối chứng GV có thể đánh giá khả năng học tập

của HS, đồng thời rút ra kinh nghiệm và phương pháp học tích cực cụ thể cho từng bài

học và tiết học và từng kỹ năng Nhìn chung, giảng viên cũng vất vả hơn, đầu tư nhiều

thời gian, công sức hơn trong việc tìm tài liệu, chữa bài, xây dựng các hoạt động, tương tác với sinh viên nhiều hơn Tuy nhiên những ưu điểm của mô hình này vượt trội so với nhược điểm nên việc áp dụng mô hình BL là toàn toàn thích đáng

4.3 Đề xuất cách thức áp dụng mô hình học tập Blended Learning

4.3.1 Đối với sinh viên

- Điều kiện tiên quyết để mô hình phát huy tác dụng là sinh viên có khả năng

sử dụng máy vi tính và mạng Internet, có E-mail cá nhân, đăng kí thành công và được GV gửi lời mời vào nhóm lớp học tập của học phần Basic IELTS 1

- Để đạt được hiệu quả cao trong việc học tập, rèn luyện các kỹ năng tiếng Anh nhằm đáp yêu cầu môn học, SV theo học hệ chất lượng cao cần phải phát huy tính chủ động, sáng tạo, thực hiện một cách có trách nhiệm nhiệm vụ học tập của mình cả trên lớp lẫn trên mạng

+ Trên lớp, SV tập trung nghe giảng lý thuyết, ghi chép bài, tham gia các

hoạt động thảo luận và thực hành trên lớp

Trang 13

+ Ở nhà, khi có thời gian lên mạng, SV đăng nhập vào tài khoản cá nhân để tham gia lớp học, tải tài liệu về và nghiên cứu, SV có thể chủ động tìm kiếm những tài liệu bài giảng có liên quan

- Với kỹ năng nghe và đọc, SV vào làm bài kiểm tra tương ứng với đơn vị bài

giảng, chú ý nộp bài đúng hạn Sau khi nhận được kết quả, SV xem kỹ lại những câu sai và đáp án cũng như lời giả chi tiết giáo viên đã gửi Riêng với bài nghe, khi

chữa bài SV cần nghe đi nghe lại một số lần và nhìn tapescript với mục đích nghe

nhận biết âm về cách phát âm và ngữ điệu; SV nên nhại lại từ hoặc câu hoặc cả bài

Với bài đọc, SV chú ý tới đáp án, định vị thông tin trong bài bằng các cụm từ đồng nghĩa hoặc các cách diễn đạt tương đương SV chủ động lên các trang web khác để làm các dạng bài tương đương để tăng dần tốc độ làm bài cũng như tăng vốn từ vựng Xây dựng bảng từ khóa với các từ khóa được gạch chân từ câu hỏi và từ đồng nghĩa trong bài đọc

- Với bài nói, SV xem kỹ các câu trả lời mẫu GV gửi lên, học từ vựng và cấu trúc theo chủ đề; xem các link bài nói mẫu GV đã gửi kèm lên để học tập cách trả lời Trước khi quay hoặc ghi âm để gửi bài lên, SV cần luyện tập để đạt độ trôi chảy nhất định, cố

gắng sử dụng các từ, cụm từ và cấu trúc mới học trong tài liệu đính kèm Luyện tập cách phát triển và đưa ra ý kiến của mình về nhiều chủ đề Quan trọng hơn, SV cần đặc biệt chú ý đến những phản hồi của GV để sửa đổi và hoàn thiện bài nói của mình

- Với bài viết biểu đồ trong học phần Basic IELTS 1, SV đọc kỹ tài liệu về ngôn ngữ viết cho từng loại biểu đồ, cách triển khai và phân tích biểu đồ, đọc bài

mẫu thật kỹ Khi bắt tay vào viết, SV không nên áp dụng ngôn ngữ mô tả phù hợp,

cố gắng mô tả và tóm tắt xu hướng chính và thông tin chính của biểu đồ mà không chép từ bài mẫu ra Giống như với bài nói, SV đọc kỹ phản hồi và đánh giá điểm

của GV cho bài viết của mình để từ đó rút kinh nghiệm

- Khi có khúc mắc, SV có thể đặt câu hỏi trực tiếp cho GV trên phần phản

hồi, trên diễn đàn lớp, nhóm chat hoặc trên lớp học truyền thống

4.3.2 Đối với giáo viên

- Tổ chức các hoạt động giảng dạy trên lớp học truyền thống

- GV giới thiệu công cụ, phần mềm học tập (Google classroom), hướng dẫn

SV đăng ký tài khoản và tham gia lớp học ảo

Trang 14

- Xây dựng lớp học trực tuyến trên hệ thống Google Classroom cung cấp hệ

thống bài giảng, tài liệu tham khảo, bài kiểm tra online, diễn đàn trao đổi thông tin

và một số tiện ích mở rộng khác GV chia các thư mục riêng trên công cụ học tập cho từng kỹ năng nghe, nói, đọc, viết sau đó tải tài liệu và soạn bài kiểm tra trực tuyến theo đúng các đơn vị bài giảng Tài liệu và bài kiểm tra cần bám sát nội dung

học tập trên lớp học truyền thống

- Giao bài với hạn nộp bài cho SV

- Gửi kết quả, phản hồi với bài làm của SV và giải đáp thắc mắc, kiểm soát quá trình học tập trên Google Classroom Theo dõi, điều phối và kiểm soát quá trình học tập, thường xuyên tiếp nhận và xử lí các thông tin phản hồi từ người học; tạo điều kiện học

tập tốt nhất cho người học; thực hiện đánh giá thường kỳ và cung cấp kịp thời thông tin

về sự tiến bộ cho sinh viên Trên cơ sở thời lượng, nội dung chương trình giảng dạy, trình độ của sinh viên và các yếu tố khác, giáo viên có thể linh hoạt áp dụng các mô hình sao cho phù hợp, hiệu quả với từng trường hợp cụ thể

- Chữa bài, tổng kết, đánh giá chung trên lớp

4.3.3 V ận dụng mô hình

Nghiên cứu áp dụng mô hình blended face - to – face Cụ thể, thời lượng học trực

tiếp với giảng viên là bắt buộc đối với mô hình này và các hoạt động học trực tuyến được

sử dụng để bổ trợ kiến thức cho người học Việc đọc tài liệu, làm bài tập trắc nghiệm và các bài tập đánh giá khác đều được hoàn thành online, ở nhà Mô hình cho phép sinh viên và giảng viên có nhiều thời gian để chia sẻ kiến thức, kĩ năng cũng như dành cho các hoạt động học tập đặc biệt như thảo luận và làm việc nhóm

Nhóm tác giả xác định phương án vận dụng bài dạy kết hợp theo ba bước sau:

* Tổ chức hoạt động dạy trên lớp

* Tổ chức hoạt động dạy qua mạng

Trang 15

- GV: Tổ chức các hoạt động lĩnh hội tri thức mới cho học sinh viên, sử dụng

những phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh, với sự hỗ trợ

của công nghệ thông tin và truyền thông

- HS: Tích cực tham gia các hoạt động lĩnh hội tri thức

- GV tổ chức cho HS ôn tập củng cố kiến thức vừa mới học

- GV cho HS làm bài kiểm tra đánh giá kiến thức vừa học

- GV: Chuẩn bị thông báo các hoạt động học qua mạng cho học sinh chuẩn bị

Bước 2: Tổ chức hoạt động dạy qua mạng

- Giáo viên (GV) mở khóa học và yêu cầu học sinh (HS) đăng nhập vào lớp theo thời gian quy định GV thông báo tới học sinh tiến trình, yêu cầu và những lưu

ý khi tham gia bài học

- HS đăng nhập vào hệ thống, làm bài kiểm tra kiến thức đầu vào

- HS thực hiện những yêu cầu GV đã đưa ra theo trình tự trong hướng dẫn để lĩnh hội kiến thức mới như làm bài tập, trả lời câu hỏi, thảo luận chủ đề theo nhóm, tham gia diễn đàn,

- GV chấm bài làm, trả lời thắc mắc của HS qua Chat, e-mail; giám sát hoạt động của từng HS, đánh giá và cho điểm theo cá nhân hay theo nhóm

- HS: theo dõi điểm số để biết tình hình học tập và có điều chỉnh sao cho phù hợp

Bước 3: Tổ chức tổng kết và đánh giá trên lớp

- GV: Thông báo kết quả và đưa ra nhận xét cho học sinh

- GV: Thu nhận thông tin phản hồi từ học sinh để có điều chỉnh phù hợp hơn cho bài sau

- HS: Từ kết quả đánh giá của giáo viên, đưa ra những điều chỉnh cho phù

hợp với hoạt động học của mình

4.2.4 Các h ọc phần nên áp dụng mô hình học tập BL

Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình học tập kết hợp có tác dụng nâng cao

kết quả học tập cả 4 kỹ năng trong học phần Basic IELTS 1, nên nhóm tác giả đề

xuất áp dụng mô hình này cho các học phần IELTS tiếp theo như Basic IELTS 2, Expanding IELTS 1, Expanding IELTS 2, Developing IELTS 1, và Developing IELTS 2 và các học phần tiếng Anh khác cho sinh viên toàn trường

Trang 16

5 Công bố sản phẩm khoa học từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp

chí năm xuất bản và minh chứng kèm theo nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ

sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):

S ản phẩm Khoa học là Bài báo đăng Tạp chí Dạy và Học ngày nay – số kì 2-3/2021

6 Hi ệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp

d ụng:

+ Sản phẩm dạng văn bản có đề xuất như:

- Tài liệu tham khảo hướng dẫn sinh viên nâng cao kết quả học tập các kỹ năng trong IELTS thông qua mô hình học tập BL

- Tài liệu tham khảo hướng dẫn giáo viên xây dựng bài giảng kết hợp

+ Sản phẩm Khoa học công nghệ:

Nghiên cứu sẽ là tiền đề cho các sản phẩm về công nghệ nhằm nâng cao kết

quả học tập các kỹ năng tiếng Anh:

- Các chương trình học trên lớp kết hợp với tự học trên máy (Blended learning programs),

- Các chương trình tự học trực tuyến (E-learning programs)

Ngày 30 tháng 3 năm 2021

Ch ủ nhiệm đề tài

Dương Thị Hồng Thắm

Trang 17

PH ẦN MỞ ĐẦU

1 Tính c ấp thiết của đề tài

Tại Việt Nam, các cơ sở giáo dục vẫn triển khai phương pháp đào tạo truyền thống là chủ yếu Khi xã hội phát triển, cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ

tư, hay còn gọi là cuộc cách mạng số, việc cải cách và đổi mới các phương pháp giáo dục trở thành điều tất yếu Để đáp ứng với xu hướng số hóa, các cơ sở đào tạo và đặc biệt là các trường ĐH phải nhanh chóng đổi mới chương trình, đổi mới các mô hình dạy học (về mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy-học, phương thức kiểm tra-đánh giá kết quả đầu vào-đầu ra,…) nhằm đào tạo người lao động nói chung và cho thế hệ giảng viên trong thế kỷ 21 nói riêng không hững về mặt chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp mà còn đào tạo giảng viên cả về mặt công nghệ thông tin và truyền thông Một số phương pháp cải tiến được áp dụng nhằm tăng cường tính chủ động của người học như lấy người học làm trung tâm, kết hợp việc sử dụng công nghệ thông tin như bảng điện tử, máy chiếu hay phòng Lab trong giảng dạy Những năm gần đây, cùng với sự bùng nổ về công nghệ thông tin, phương pháp đổi mới nổi bật có thể kể đến là E-learning – học trực tuyến qua mạng Internet với nhiều

ưu điểm so với phương pháp truyền thống Tuy nhiên, E-learning thường chỉ dừng lại ở mức cung cấp thông tin, tài liệu cho người học là chủ yếu, chưa có sự kết hợp rõ ràng giữa phương pháp truyền thống và trực tuyến qua mạng

Blended Learning (phương pháp kết hợp giảng dạy truyền thống và E-learning) được báo cáo rằng có hiệu quả hơn các lớp học face-to-face (dạy học giáp mặt) hay online (dạy học trực tuyến) thuần túy Bằng cách kết hợp các ưu điểm của phương pháp giảng dạy truyền thống và E-learning, các phương pháp Blended Learning có thể mang đến sự thành công của sinh viên ở mức độ cao Với Blended Learning, giảng viên sẽ hướng dẫn một phần và phần còn lại sinh viên sẽ làm việc trực tuyến không có giảng viên, sinh viên chủ động hơn và làm quen với khái niệm mới dễ dàng hơn việc tiếp thu thụ động trên các lớp học truyền thống, việc học sẽ được bổ sung bởi các hoạt động trực tuyến (online), một số hoạt động sẽ mang tính tự định hướng và tự học, một số sẽ khuyến khích sự hợp tác Theo ông Michael B Horn đến từ học viện Innosign: “Blended learning có nghĩa là bất cứ thời điểm nào một học sinh có thể học ít nhất một phần ở địa điểm học tập được giám sát xa nhà và ít nhất một phần thông qua mạng với một số yếu

Trang 18

tố kiểm soát học sinh thông qua thời gian, địa điểm, cách tiếp cận và/hoặc tiến độ học tập.” Lợi ích của phương pháp BL bao gồm việc tiếp cận với các nội dung chất lượng tốt hơn, liên quan nhiều hơn, khớp hơn theo nhiều dạng; các giờ học trên lớp và cấu trúc chương trình linh hoạt hơn; đáp ứng được nhu cầu học của học sinh; sinh viên có thể tiếp cận với nhiều nguồn hướng dẫn, đánh giá và các công cụ kiểm tra giúp điều chỉnh tốc độ

và cách học của họ; và tiềm lực cho giáo viên đáp ứng nhu cầu hướng dẫn và giới thiệu

để đảm bảo sự tiến bộ và thành thạo cho tất cả các học sinh, dành sự lưu tâm cho những học viên yếu hơn Những lợi thế này khiến ngày càng nhiều nơi ứng dụng theo phương pháp Blended learning Blended learning đang nổi lên như một phương pháp chiếm ưu thế trong tương lai

Trước sự phát triển và yều cầu của xã hội, ngày 22/04/2016 bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành thông tư số 12/2016/TT-BGDĐT về việc quy định Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng, trong đó đã đề cập đến phương thức đào tạo kết hợp (Blended Learning) nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy và chất lượng giáo dục

Hơn nữa, ngày nay việc dạy và học ngoại ngữ không chỉ là việc trang bị cho

học sinh những kiến thức ngữ pháp chắc chắn mà còn tạo cho học sinh khả năng nghe, nói, đọc, và viết tốt… Với sinh viên hệ chất lượng cao, trường Đại học Thương mại đã đưa IELTS vào chương trình đào tạo; vì vậy thời gian học tập trên

lớp theo phương pháp truyền thống không thể đáp ứng những tiêu chí này một cách

hiệu quả Ngoài ra, theo quan sát và đánh giá của nhóm tác giả trong 2 năm qua

giảng dạy học phần Basic IELTS, kết quả học tập của sinh viên không được như kỳ

vọng một phần do thời lượng trên lớp quá ít và các em không có nhiều cơ hội thực hành các kỹ năng nghe, nói, đọc và viết

Trước những thực trạng, yêu cầu nêu trên cũng như những hiệu quả từ việc

áp dụng mô hình học tập Blended Learning đã tạo động lực cho nghiên cứu này được triển khai

2 T ổng quan nghiên cứu của đề tài

2.1 Trong nước

“Học tập kết hợp (Blended Learning) để chỉ các mô hình kết hợp giữa hình thức

học truyền thống và các giải pháp E-Learning” (Victoria L Tinio, 2003) Vì vậy,

Trang 19

trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0, việc áp dụng phương pháp giảng dạy Blended Learning này là điều cần thiết và là một hướng đi tích cực để cải thiện chất lượng

giảng dạy ở bậc đại học trong thời đại kỉ nguyên số Từ khoảng những năm 2000 trở

về trước, ở Việt Nam có không nhiều tài liệu nghiên cứu, phổ biến về đào tạo trực tuyến Trong những năm gần đây các hội nghị, hội thảo về CNTT và giáo dục đều

có đề cập đến đào tạo trực tuyến và khả năng áp dụng đào tạo trực tuyến vào công

cuộc cải cách giáo dục và phát triển đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo Nâng cao

chất lượng đào tạo - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2000, Hội nghị Giáo dục Đại

học năm 2001, Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về Nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT&TT, ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về Nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT&TT, ICT/rda 9/2004, Hội thảo khoa học

“Nghiên cứu và triển khai đào tạo trực tuyến” do Viện Công nghệ Thông tin (Đại

học Quốc gia Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội)

phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005, , là những hội thảo khoa học về đào tạo trực tuyến đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam

Từ đó, các nghiên cứu về dạy học trực tuyến, dạy học kết hợp từng bước thâm nhập và trở thành xu hướng quan trọng trong nghiên cứu và ứng dụng của khoa học giáo dục tại Việt Nam Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu

về Blended Learning trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam như dưới đây

Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Nghiên cứu và triển khai Blended Learning trong đào tạo đại học – Tình huống tại Trường Đại học Kinh tế

TP H ồ Chí Minh (UEH)” của Ths.Võ Hà Quang Định và Ths Đặng Thái Thịnh đã

phân tích đánh giá kết quả áp dụng Blended Learning tại UEH được thu thập vào tháng 12 năm 2016 Một số giảng viên UEH đã bắt đầu sử dụng các bài giảng điện

tử và áp dụng ngày càng nhiều các công cụ công nghệ thông tin vào việc xây dựng, chuyển tải các bài giảng trên đến sinh viên Một số công cụ thường được dùng như: xây dựng trang web riêng để cung cấp tài liệu, bài tập cho sinh viên tải về, thông qua blog của Khoa, tạo những group trên mạng xã hội (facebook), sử dụng chức năng Google Drive của tài khoản email UEH để lưu trữ và chia sẻ nội dung, và email là được sử dụng phổ biến nhất Một số thầy cô còn xây dựng trên đó những công cụ để sinh viên nộp bài tập, diễn đàn để sinh viên trao đổi thông tin về môn

Trang 20

học … Cuối cùng, các tác giả đưa ra quy trình và các bước triển khai Blended Learning tại UEH nói riêng và tại các cở sở giáo dục đại học nói chung

Trong một nghiên cứu khác có tiêu đề “Nghiên cứu áp dụng mô hình học tập

k ết hợp (Blended Learning) tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Thực nghiệm

v ới môn tin học đại cương”, TS Trịnh Hoài Sơn tiến hành khảo sát sử dụng phiếu

điều tra với 434 sinh viên Việc thí điểm áp dụng mô hình học tập hỗn hợp đã được nhóm nghiên cứu thực hiện đối với một số lớp, môn tại Khoa Tin học Kinh tế trong

3 năm gần đây: Tin học đại cương, Tin học ứng dụng, Kế toán máy, Hệ thống thông tin quản lý và một số môn học chuyên ngành khác Xét về loại môn học, môn học thuộc khối kiến thức đại cương với 72% sinh viên ủng hộ trong khi môn học chuyên ngành chỉ có 49.7% sinh viên được khảo sát ủng hộ áp dụng mô hình học tập kết hợp Cuối cùng, nhóm nghiên cứu trình bày kết quả thống kê đánh giá lợi ích của

mô hình học tập kết hợp, đồng thời tìm hiểu về tính khả thi, phương hướng và kiến nghị triển khai áp dụng mô hình học tập kết hợp tại Đại học Kinh tế Quốc dân

Luận án “Dạy học kết hợp (B-learning) dựa vào phong cách học tập cho sinh viên ngành sư phạm tin học” của tác giả Trần Văn Hưng, với mục tiêu là xây dựng

mô hình lí thuyết về dạy học kết hợp (B-learning) dựa trên phong cách học tập

nhằm phát triển năng lực người học, đồng thời vận dụng mô hình đó để thiết kế dạy

học kết hợp trong đào tạo SV ngành Sư phạm Tin học bậc ĐH, góp phần nâng cao

chất lượng đào tạo, đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình Kết quả nghiên cứu đã

chỉ ra rằng: phong cách học tập, sinh viên thuộc các phong cách học trực quan, thính giác và vận động đều được hưởng lợi như nhau từ sự can thiệp thử nghiệm trong trường hợp thông qua bài học Từ phản ứng, thái độ, hành vi của SV đối với các khía cạnh khác nhau của B-learning, dễ sử dụng cho môi trường web, môi trường trực tuyến, nội dung, hướng dẫn trực tiếp, đánh giá và phản ứng chung, rõ ràng là SV có phản ứng tích cực với B-learning

Với luận án “Tổ chức dạy học một số kiến thức chương “cảm ứng điện từ”-

vật lí 11 theo hình thức Dạy học kết hợp trên lớp và qua mạng”, tác giả Ngô trọng

Tuệ đã đặt ra mục tiêu nghiên cứu là: Thiết kế nội dung và tiến trình tổ chức hoạt động học của HS trong dạy học chương cảm ứng điện từ theo hình thức Dạy học kết

hợp trên lớp và qua mạng (B-learning) nhằm phát triển NL giải quyết vấn đề và

Trang 21

sáng tạo của HS Kết quả nghiên cứu đã cho kết luận sau: (1) GV, HS phải có máy tính kết nối Internet và thành thạo sử dụng máy tính, mạng Internet để tham gia B-learning (2) Môi trường dạy học trên mạng thích hợp để HS thảo luận nhóm, tự

học, chuẩn bị bài học và thực hiện các nhiệm vụ học tập (xây dựng kiến thức mới; làm bài tập có tích hợp ảnh, video; tìm hiểu ứng dụng kiến thức vật lí qua video, mô

phỏng) Đồng thời, giúp GV phân tích được quá trình làm việc của HS để điều

chỉnh hoạt động DH trên lớp (3) Mội trường dạy học trên lớp thuận lợi để HS nhận nhiệm vụ, phát hiện vấn đề, tự họcvà thảo luận nhóm Làm TN, thực hành, luyện

tập, tìm hiểu ứng dụng kiến thức vật lí, báo cáo kết quả (4) Thiết bị TN có vai trò quan trọng để khắc phục khó khăn, sai lầm của HS khi học chương cảm ứng điện từ (5) Nguồn học liệu phải phong phú để HS khai thác khi tự học, hoạt động nhóm để giải quyết vấn đề (6) Trong mội trường dạy học trên lớp, trên mạng thuận lợi để

thực hiện các biện pháp nhằm phát triển NL giải quyết vấn đề và sáng tạo của HS trong dạy học vật lí (7) Tổ chức DH theo hình thức B-learning sẽ phát triển được

NL giải quyết vấn đề và sáng tạo của HS Các hoạt động học phải được thiết kế dựa trên chỉ số hành vi của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo và các biện pháp

nhằm phát triển NL giải quyết vấn đề và sáng tạo của HS

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện tại có rất ít các nghiên về việc áp dụng mô hình

học tập kết hợp này trong giảng dạy tiếng Anh nói chung và IELTS nói riêng được

thực hiện

Trong bài báo khoa học “Blended Learning, mô hình giảng dạy sang tạo được ứng dụng thành công trong việc giảng dạy môn Ngữ âm (Phonetics) tại trường Đại học Văn Lang”, tác giả Nguyễn Đắc Tâm đã nghiên cứu thực nghiệm trên 473 sinh viên

của 3 khóa học trong hơn 2 năm Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên đánh giá cao

mô hình Blended Learning vì đã mang lại nhiều lợi ích, hỗ trợ việc phát âm đúng và cải thiện khả năng phát âm tiếng Anh cho rất nhiều sinh viên Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát bảng hỏi, phỏng vấn và chọn mẫu để phân tích

Tác giả Trần Thị Mai Phương (2018), trong bài báo khoa học „Sử dụng phương pháp học tập tích hợp Blended learning để đào tạo tiếng Anh theo định hướng TOEIC cho sinh viên trường Đại học Kiến trúc Hà Nội‟ đã trình bày sự cần thiết của việc đào tạo tiếng Anh theo định hướng TOEIC và những ưu điểm của

Trang 22

việc áp dụng phương pháp học tập tích hợp Blended learning cho sinh viên tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

Qua những công trình khoa học đã được công bố trong nước, nhóm tác giả

nhận thấy một số hạn chế do đa phần các đề tài này thuộc cấp cơ sở nên phạm vi nghiên cứu chưa rộng và chỉ tập trung vào việc áp dụng mô hình Blended Learning vào một số môn chuyên ngành như Tin học đại cương, địa lý, vật lý hay chỉ một khía cạnh trong ngôn ngữ như môn Ngữ âm hoặc mới chỉ đưa ra sự cần thiết áp

dụng mô hình học tập này để định hướng cho sinh viên thi chứng chỉ TOEIC Chưa

có nghiên cứu nào bao quát được hết cả bốn kỹ năng Nghe, Nói, đọc và Viết tiếng Anh Và đặc biệt với nghiên cứu này, nhóm tác giả thử nghiệm việc áp dụng mô hình Blended Learning trong việc giảng dạy định hướng luyện thi một chứng chỉ quốc tế - IELTS cho sinh viên theo chương trình đào tạo chất lượng cao năm nhất

tại trường Đại học Thương mại với học phần Basic IELTS 1 để đánh giá tính hiệu

quả của mô hình trong việc nâng cao kết quả các kỹ năng cho SV

2.2 Ngoài nước

Học tập kết hợp sử dụng công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy quá trình học

tập bên ngoài lớp học là một mô hình đã và đang ngày càng phổ biến đặc biệt là ở

bậc đại học (Garrison và Kanuka, 2004) có lẽ vì những lợi ích học tập mà nó mang

lại (Ark, 2012) Một nghiên cứu gần đây nhất của nhóm tác giả gồm Means, Toyama, Murphy, Bakia, Jones (2010) đánh giá tổng kết hiệu quả của mô hình Học

tập kết hợp Nhóm tác giả đã tổng hợp 46 nghiên cứu thực nghiệm trong bối cảnh

phổ thông và đại học tại Mỹ và kết luận rằng mô hình Học tập kết hợp mang lại

hiệu quả học tập Khi so sánh giữa Học tập kết hợp và dạy học theo kiểu truyền

thống, nghiên cứu cho thấy sự khác biệt lớn về kết quả học tập của người học Kết

quả này là do mô hình Học tập kết hợp đã tạo ra được môi trường học thực học (deep learning), học có ý nghĩa (meaningful learning) cũng như phát triển tư duy phê phán và hình thức học cấp cao, nó cũng tạo ra môi trường làm việc độc lập và

tự kiểm soát việc học như Garrison và Kanuka (2004) đã khẳng định

Về việc dạy và học tiếng Anh, trên thế giới đã có một số nghiên cứu về áp

dụng mô hình học tập kết hợp Blended Learning vào giảng dạy tiếng Anh theo mục đích nghề nghiệp và giảng dạy các kỹ năng riêng biệt

Trang 23

Trong bài nghiên cứu “The impact of Blended Learning on Teaching English

for vocational purposes”, Elżbieta Danuta Lesiak-Bielawska đã làm thử nghiệm đánh giá ảnh hưởng của mô hình Blended Learning lên quá trình giảng dạy tiếng Anh với các mục đích nghề nghiệp Nghiên cứu áp dụng phương pháp đạc tam giác

kiểm tra chéo (triangulation) và kết quả thu được cho thấy có sự tiến bộ đáng kể và

có sự khác biệt lớn giữa điểm số của hai bài kiểm tra từ vựng nghề nghiệp trước và sau khi áp dụng mô hình học tập này

Tương tự như vậy, Sarka Hubackova et al (2011) với nghiên cứu “Blended Learning in a foreign language teaching” đã cho thấy nhu cầu rất lớn và thái độ tích

cực của sinh viên với mô hình thử nghiệm Blended Learning trong giảng dạy kỹ năng viết trong kinh doanh (hợp đồng, báo cáo…) Kết quả nghiên cứu cho thấy với

mô hình học tập này, sinh viên có động lực học viết tốt hơn do được học với nhịp

độ phù hợp với trình độ mỗi người và được phản hồi nhanh chóng từ giáo viên

Trên thế giới cũng đã có một số tác giả nghiên cứu thực nghiệm mô hình Blended Learning vào giảng dạy kỹ năng nói tiếng Anh Gede Ginaya (2018) đã

thực hiện nghiên cứu 51 sinh viên năm thứ ba (27 nam và 24 nữ) đăng ký học chương trình cử nhân ba năm ngành Du lịch và Lữ hành tại một tổ chức giáo dục đại học ở Bali Kết quả từ 2 bài kiểm tra pre-test và post-test được dùng để đánh giá

sự tiến bộ của sinh viên Trong khi đó phương pháp thu thập dữ liệu định tính được phân tích dựa trên cả quá trình quan sát và kết quả của bảng hỏi Kết quả của nghiên

cứu cho thấy sinh viên có sự cải thiện đáng kể về động lực học tập khi được áp

dụng mô hình Blended Learning trên nền tảng ứng dụng WebQuest, do đó kết quả

là khả năng nói của họ cũng tốt hơn đáng kể Tác giả Rachma Vivien Belinda (2018) cũng chỉ ra sự cải thiện đáng kể kỹ năng nói tiếng Anh của 25 sinh viên (19-

20 tuổi) có trình độ tiếng Anh tốt trong nghiên cứu “The effect of Blended Learning activity in improving the students’ English speaking skill in the context of English

as a foreign language” Nghiên cứu thử nghiệm ứng dụng WhatsApp Chatting để

lập nhóm cho sinh viên thảo luận và nói về bất cứ chủ đề nào, mục đích để sinh viên

có thêm môi trường luyện tập kỹ năng nói

Tóm lại, các nghiên cứu về dạy và học tiếng Anh ở nước ngoài tập trung nghiên cứu về một kỹ năng cụ thể nào đó và đánh giá tính hiệu quả của việc áp

Trang 24

dụng mô hình Blended learning trong việc cải thiện kỹ năng đó đối với người học Chưa có một nghiên cứu nào bao quát hết cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc và viết và đặc biệt chưa có đề tài nào nghiên cứu về áp dụng mô hình này trong giảng dạy

tiếng Anh định hướng luyện thi chứng chỉ quốc tế IELTS

Nhận thức được những khoảng trống trong các nghiên cứu trên, nhóm tác giả quyết định tiến hành nghiên cứu việc áp dụng mô hình Blended Learning để nâng cao kết quả học tập học phần Basic IESLTS 1 cho sinh viên năm nhất đang theo học hệ chất lượng cao trường Đại học Thương mại

Kết lại, với các kết quả tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước như trên,

có thể thấy dạy học theo hình thức B-learning:

- Đã và đang được nghiên cứu và sử dụng trên phạm vi toàn cầu

- Tiến trình dạy học đã thể hiện hiện ưu thế của cả dạy học giáp mặt truyền

thống và dạy học trực tuyến E-learning qua đó giúp người học phát triển cả năng

lực đặc thù và năng lực chung đồng thời tăng cường sự hứng thú học tập

- Tại Việt Nam, việc nghiên cứu và sử dụng dạy học hình thức B-learning đã được quan tâm Tuy vậy, do các điều kiện khách quan và chủ quan nên việc nghiên

cứu và sử dụng mô thức này trong dạy và học tiếng Anh nói chung và giảng dạy 4

kỹ năng nghe nói đọc viết định hướng IELTS cần được triển khai sâu rộng hơn nữa

3 M ục tiêu đề tài

3.1 M ục tiêu chung

Nghiên cứu này được thực hiện để thực hiện một số mục tiêu chung như sau: (1) hệ thống cơ sở lý luận về mô hình học tập kết hợp (Blended Learning) (2) đánh giá hiệu quả của mô hình học tập kết hợp

(3) đề xuất định hướng phát triển phương thức học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và đề xuất cách thức triển khai mô hình học tập phù hợp áp dụng Blended Learning cho học phần Basic IELTS 1

Trang 25

- Tìm hiểu thực trạng về điều kiện trang thiết bị (máy tính, laptop, Internet…)

mại

- Tìm ra cách thức triển khai mô hình học tập kết hợp phù hợp nhất cho các

em sinh viên năm nhất theo chương trình đào tạo chất lượng cao với học

phần Basic IELTS 1

3.3 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài tập trung làm rõ ba câu hỏi nghiên cứu sau:

- Thực trạng về điều kiện trang thiết bị, nhu cầu và thái độ của sinh viên đối với mô hình học tập kết hợp Blended Learning như thế nào?

- Hiệu quả của mô hình này trong việc nâng cao kết quả học tập bốn kỹ năng nghe, nói, đọc và viết của học phần Basic IELTS 1 ra sao?

- Cách thức áp dụng mô hình học tập này như thế nào để phù hợp nhất cho các

em sinh viên năm nhất theo chương trình đào tạo chất lượng cao với học

phần Basic IELTS 1?

4 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc áp dụng mô hình học tập kết hợp (Blended Learning) trong việc nâng cao kết quả học tập 4 kỹ năng nghe, nói đọc và

viết của học phần Basic IELTS 1

5 Ph ạm vi nghiên cứu

- Về không gian: đề tài được nghiên cứu tại trường Đại học Thương Mại

- Về mẫu khảo sát: của nghiên cứu là 25 sinh viên (trong đó có 6 nam và 19

nữ) K56 hệ chất lượng cao của các Khoa Tài chính – Ngân hàng và Kế toán trong trường Đại học Thương mại

- Về thời gian: Các thông tin số liệu phản ánh trong nghiên cứu sẽ được lấy trong khoảng 3 tháng từ tháng 9 năm 2020 đến hết tháng 12 năm 2020, vào đầu năm

Trang 26

học, khi các sinh viên năm nhất hệ chất lượng cao các khoa Tài chính – Ngân hàng

và Kế toán bắt đầu học học phần Basic IELTS 1 Toàn bộ nghiên cứu sẽ được thực

hiện trong 8 tháng từ tháng 8 năm 2020 đến ngày 30 tháng 3 năm 2021

6 Phương pháp nghiên cứu

Đây là nghiên cứu thực nghiệm có sử dụng nhóm can thiệp và nhóm đối

chứng

Nhóm can thiệp (Lớp 20751) được học tập kết hợp giữa phương pháp dạy

học truyền thống mặt đối mặt trên lớp (gồm: bài giảng, thảo luận, bài tập, tài liệu liên quan tới môn học…) với học trực tuyến (người học có thể xem video, đọc tài

liệu, hoàn thành những việc được phân công, thảo luận qua diễn đàn/ hội nhóm trên

mạng, truyền thông đa phương tiện, làm bài kiểm tra trực tuyến…) Trong khi đó, nhóm đối chứng (Lớp 20747) chỉ đơn thuần học theo phương pháp truyền thống trên lớp Hai nhóm được yêu cầu làm một bài kiểm tra đầu khóa (Pre-test) và một bài kiểm tra cuối khóa (Post-test) Các dữ liệu từ điểm kiểm tra, câu trả lời phiếu điều tra khảo sát và phỏng vấn giúp tác giả tìm hiểu hiệu quả của việc áp dụng mô hình học tập này trong việc nâng cao kết quả học tập học phần Basic IELTS 1 đối

với sinh viên

Việc tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm khẳng định tính hiệu quả, tính

khả thi của việc tổ chức dạy và học kết hợp đối với học phần Basic IELTS 1

+ Phương pháp thu thập dữ liệu:

- Phương pháp thu thập dữ liệu có sẵn (dữ liệu thứ cấp): để tìm hiểu, phân tích, tổng hợp, thống kê, mô tả trên nền tảng dữ liệu và thông tin từ những tài liệu, bài viết hay các công trình nghiên cứu khoa học khác nhau về áp dụng mô hình Blended Learning trong giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học do các tác giả, chuyên gia hoặc các nhà giáo dục khác nhau thực hiện

- Phương pháp nghiên cứu điều tra bằng bảng câu hỏi: Bảng câu hỏi sử dụng phiếu điều tra được sao in, phát cho sinh viên lớp thực nghiệm năm thứ nhất theo chương trình đào tạo chất lượng cao khoa Tài chính ngân hàng và khoa Kế toán của trường Đại học Thương Mại để họ trả lời trực tiếp trên phiếu Kết quả thu được từ

bảng câu hỏi giúp nhóm tác giả tìm ra thực trạng sử dụng công nghệ thông tin cũng

Trang 27

như nhu cầu và thái độ của các em đối với mô hình học tập kết hợp (Blended Learning)

- Phương pháp điều tra phỏng vấn sâu được thực hiện với chính 25 sinh viên trong lớp thử nghiệm nhằm giúp nhóm tác giả có cái nhìn sâu sắc hơn về hiệu quả

của mô hình này đối với sự tiến bộ từng kỹ năng của sinh viên; tìm hiểu những khó khăn, bất cập sinh viên gặp phải trong quá trình học thử nghiệm

Sau khi được thu thập, số liệu định lượng sẽ được tổng hợp và phân tích

bằng phần mềm excel Số liệu định tính được phân tích theo phương pháp phân tích

biểu và sơ đồ

- Dữ liệu định tính được thu thập từ các cuộc điều tra phỏng vấn sâu được

thực hiện trong các giờ giải lao, cuối giờ học để đánh giá mức độ tin cậy của nguồn

dữ liệu định lượng thu được qua phương pháp điều tra bảng hỏi Dữ liệu định tính được phân tích theo phương pháp phân tích nội dung

7 C ấu trúc của bài nghiên cứu

Nghiên cứu bao gồm Phần mở đầu, Kết luận và ba chương với nội dung như sau:

Phần mở đầu trình bày khái quát về đề tài nghiên cứu, bao gồm tính cấp

thiết của đề tài, tổng quan nghiên cứu đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên

cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và kết cấu của đề tài

Chương 1 tóm lược một số vấn đề lý luận về học tập kết hợp (Blended

Learning) trong giảng dạy Chương này cũng tóm tắt tình hình nghiên cứu về những nghiên cứu áp dụng mô hình học tập kết hợp trong giảng dạy tại Việt Nam

Chương 2 trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên

cứu Kết quả thu được từ phiếu điều tra, phỏng vấn, và bài kiểm tra pre-test cũng

Trang 28

như post-test giúp tìm hiểu tác dụng của mô hình học tập BL đối với sinh viên trong

việc nâng cao kết quả học tập Basic IELTS 1

Chương 3 đưa ra các đề xuất để việc cách thức áp dụng mô hình học tập BL

hiệu quả nhất trong việc nâng cao kết quả học tập bốn kỹ năng nghe, nói, đọc và

viết trong học phần Basic IELTS 1 cho sinh viên năm thứ nhất đang theo học chương trình đào tạo chất lượng cao, trường đại học Thương Mại

Phần kết luận khái quát lại kết quả của nghiên cứu và tầm quan trọng của nghiên cứu trong việc nâng cao kết quả học Basic IELTS 1 cho sinh viên

Trang 29

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Định nghĩa Blended Learning

Blended Learning (Hybrid model) hay còn gọi là “học tập kết hợp” là phương pháp học hòa trộn giữa cách học truyền thống trên lớp và cách học hiện đại E-Learning (Mobile Learning và Internet Learning) Đây chính là phương pháp cập nhật theo đúng xu thế học tập của rất nhiều quốc gia trên thế giới, ban đầu được nghiên cứu bởi Đại học Cambridge trong việc giảng dạy ngoại ngữ, sau này đã được

áp dụng giảng dạy tại nhiều trường đại học danh tiếng cũng như các tổ chức đào tạo chuyên nghiệp trong các lĩnh vực đào tạo khác (UB Academy, 2017) Thực tế, phương pháp học Blended Learning là sự kế thừa từ việc phát triển mô hình học tập

trực tuyến (E-Learning) Các tài liệu tham khảo về thuật ngữ “Blended Learning” được xuất hiện từ đầu thập niên 90, kể từ đó khái niệm này đã được thay đổi theo sự

kết hợp của giáo dục truyền thống đặc thù và công nghệ (Friesen, 2012)

Dạy học kết hợp - "Blended Learning " (BL) là một thuật ngữ xuất phát từ nghĩa

của từ "Blend" tức là "pha trộn" Có nhiều định nghĩa khác nhau về học kết hợp:

(1) BL: là kết hợp các phương thức giảng dạy (hoặc cung cấp các phương tiện truyền thông) [Bersin & Associates, 2003; Orey, 2002a, 2002b; Singh & Reed, 2001; Thomson, 2002]

(2) BL: là kết hợp các phương pháp giảng dạy [Driscoll, 2002; House, 2002; Rossett, 2002]

(3) BL: là kết hợp hướng dẫn trực tuyến và sự hướng dẫn đối mặt [Reay, 2001; Rooney, 2003; Sands, 2002; Ward & LaBranche, 2003; Young, 2002]

(4) BL: là "Sự kết hợp của các phương tiện truyền thông trong đào tạo như công nghệ, các hoạt động, và các loại sự kiện nhằm tạo ra một chương trình đào tạo

tối ưu cho một đối tượng cụ thể" [Theo Alvarez (2005)]

(5) BL: để chỉ các mô hình học kết hợp giữa hình thức lớp học truyền thống

và các giải pháp E - learning" [Victoria L Tinio]

Trang 30

Mô hình kết hợp có thể được mô tả như sau:

Hình 1 Sơ đồ mô hình học tập kết hợp

Trong mô hình này, người học tham gia vào quá trình học tập bằng hình thức

học giáp mặt trên lớp (nhóm, cá nhân, seminar, hội thảo); hình thức hợp tác qua

mạng Internet (chat, blog, online, forum) và tự học (trực tuyến/ ngoại tuyến, độc lập

về không gian)

Ở Việt Nam, thuật ngữ này cũng không còn xa lạ, tuy nhiên lại được diễn

giải theo nhiều cách khác nhau và chưa chính xác Đối với thuật ngữ tiếng Anh, theo Từ điển Longman, Blend được định nghĩa như sau “to combine diffirent things

in a way that produces an effective or pleasant result” (kết hợp nhiều thứ khác nhau theo một cách nào đó để tạo ra kết quá tốt hơn” Còn trong Từ điển Cambridge thì nói rằng Blend là trộn hoặc kết hợp cùng nhau (to mix or combine together) Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt (Đề tài KC01.01/06-10 “Nghiên cứu phát triển

một số sản phẩm thiết yếu về xử lí tiếng nói và văn bản tiếng Việt” (VLSP), Đề tài thuộc Chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước KC01/06-10 Chủ trì nhánh

đề tài “Xử lí văn bản tiếng Việt”: thì kết hợp (v) là gắn với nhau để bổ sung, hỗ trợ cho nhau; tích hợp (v) là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống để tạo

Trang 31

nên một hệ thống đồng bộ; hỗn hợp (a) gồm có nhiều thành phần, trong đó mỗi thành phần vẫn giữ được tính chất riêng của mình Từ cách diễn giải theo cả từ điển

tiếng Anh và tiếng Việt ta thấy rằng Blended Learning xét về bản chất của nó sẽ được hiểu là mô hình học tập kết hợp, qua đó việc học trên lớp và việc học trực tuyến được tiến hành trong sự kết hợp và bổ trợ cho nhau (Phùng Huy, 2012) Với Blended Learning, sinh viên vẫn nhận được sự hướng dẫn trên lớp từ giảng viên và tham gia các hoạt động trên lớp truyền thống khác Thêm vào đó, việc học sẽ được

bổ sung các tài liệu học tập online (bao gồm e-book, hướng dẫn học, bài giảng điện

tử…) và các hoạt động học tập online mang tính tự định hướng nhằm nâng cao tinh

thần tự học của sinh viên

Tóm lại, các khái niệm trên được đưa ra chủ yếu dựa trên sự kết hợp về hình thức tổ chức, nội dung và phương pháp dạy học

Từ những cách định nghĩa trên, có thể hiểu một cách đơn giản: Dạy học kết

hợp là sự phối hợp nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức dạy - học giữa các hình thức học khác nhau nhằm tối ưu hóa thế mạnh mỗi hình thức, đảm bảo hiệu

quả giáo dục đạt được là cao nhất

1.2 Cấu trúc Blended learning

Theo khái niệm về B-learning, ta có thể khái quát cấu trúc của mô hình dạy

học này bao gồm hai thành phần chính đó là:

1) Dạy học truyền thống thông qua việc tương tác trực tiếp giữa GV – HS;

HS – HS trên lớp học

2) Dạy học trực tuyến qua việc ứng dụng ICT

Mặc dù, có một số quan điểm khác nhau đưa ra thành phần cấu trúc của learning bao gồm nhiều yếu tố khác nhau nhưng về cơ bản B-learning vẫn dựa trên hai yếu tố chính Theo lý thuyết của các tác giả Keller, Gagné, Bloom, Merrill, Crark và Gery thì cấu trúc của B-learning bao gồm 5 thành phần chính, đó là:

B-(1) Học trên lớp hoặc học từ xa có sự hỗ trợ của GV: Hình thức học có sự hướng dẫn của GV và tất cả HS tập trung tại một thời điểm

(2) Học trực tuyến: Hình thức học dựa vào kinh nghiệm của HS, HS tự hoàn thành nội dung học theo khả năng và thời gian của họ, như là quá trình học tập với

sự giúp đỡ của máy tính và phần mềm trong đĩa CD hoặc dựa trên Internet

Trang 32

(3) Học cộng tác: Đây được hiểu là môi trường mà trong đó HS giao tiếp với nhau hoặc HS giao tiếp với GV thông qua thư điện tử, thảo luận theo chủ đề hoặc đối thoại trực tuyến

(4) Đánh giá: Việc đánh giá có thể thực hiện trước khi HS tự học hoặc tham gia lớp học để xác định khả năng ban đầu Việc đánh giá cũng có thể được thực hiện theo lịch trình của bài học hoặc theo các sự kiện trực tuyến nhằm đánh giá khả năng

tiếp thu của HS

(5) Tài liệu tham khảo: Các tài liệu tham khảo nhằm duy trì việc tự học và nâng cao khả năng tiếp thu thông qua các tài liệu bằng pdf, word, powerpoint

1.3 Các mô hình c ủa Blended Learning

Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người học cũng như các giáo viên, giảng viên ở từng cấp học, các nhà giáo dục đã phát triển sáu mô hình học tập

kết hợp (Blended Learning)

1.3.1 Mô hình blended face - to – face

Mô hình này dựa trên mô hình lớp học truyền thống Thời lượng học trực

tiếp với giảng viên là bắt buộc đối với mô hình này và các hoạt động học trực tuyến được sử dụng để bổ trợ kiến thức cho người học (A.J.O‟Connel, 2016) Đọc tài liệu, làm bài tập trắc nghiệm và các bài tập đánh giá khác đều được hoàn thành online, ở nhà Mô hình cho phép sinh viên và giảng viên có nhiều thời gian để chia sẻ kiến

thức, kĩ năng cũng như dành cho các hoạt động học tập đặc biệt như thảo luận và làm việc nhóm Mô hình này cũng đặc biệt phù hợp với những lớp học đa dạng, sinh viên có sự phân khúc khác nhau về khả năng nhận thức

1.3.2 Mô hình rotation (s ự luân phiên)

Mô hình quay vòng/luân phiên, đây thực chất là sự biến thể của mô hình

trạm học tập đã được các giáo viên, giảng viên sử dụng trong nhiều năm qua Thời gian biểu được thiết lập để các học sinh, sinh viên vừa có thời gian học tập trực tuyến (thông qua các thiết bị điện tử trong lớp học) và học trực tiếp với giáo viên Phương pháp này bao gồm ba mô hình học tập nhỏ: station rotation (hoán đổi trạm), lab rotation (hoán đổi lớp học), individual rotation (quay vòng cá nhân) (A.J.O‟Connel,2016) Đối với mô hình luân chuyển trạm yêu cầu sinh viên hoán đổi các trạm (trạm là các nhóm nhỏ học tập được giáo viên chia theo mục đích tìm hiểu

Trang 33

các phần nhỏ trong bài học) trong thời gian quy định theo hướng dẫn của giáo viên

Mô hình luân chuyển lớp học yêu cầu học sinh, sinh viên phải thay đổi địa điểm học

tập xoay quanh khuôn viên trường và mô hình quay vòng cá nhân cho phép một học sinh, sinh viên được luân phiên thay đổi các hình thức học tập khác nhau theo lịch

học tập Mô hình này phù hợp với giáo dục bậc trung học cơ sở, trung học phổ thông hơn là giáo dục bậc đại học

1.3.3 Mô hình flex

Mô hình này chủ yếu dựa trên hướng dẫn giảng dạy trực tuyến, các giảng viên không chỉ đưa ra những hướng dẫn mà còn đóng vai trò là người trực tiếp hướng dẫn sinh viên Toàn bộ chương trình học được người học truy cập qua các

phần mềm học tập trực tuyến Giảng viên phải xây dựng hệ thống bài giảng online, các phương pháp đánh giá kiểm tra trực tuyến Phương pháp này đặc biệt phù hợp

với các đối tượng vừa học vừa làm, thời gian trên lớp không nhiều

1.3.4 Mô hình lab school

Mô hình cho phép sinh viên được tham gia các lớp học trực tuyến toàn thời gian trong suốt khóa học Các giảng viên sẽ không tham gia giảng dạy trực tiếp trên

lớp mà thay vào đó là các trợ giảng đã được đào tạo tham gia giải đáp thắc mắc cho sinh viên trên lớp

1.3.5 Mô hình self-blended

Mô hình này cho phép sinh viên được tham gia học các môn học không nằm trong chương trình học của họ Sinh viên vẫn tham gia các lớp học truyền thống nhưng sau đó có thể đăng kí tham gia học các môn học khác và tự học (A.J O‟Connel,2016)

1.3.6 Mô hình online driver

Mô hình này hoàn toàn trái ngược với mô hình học tập truyền thống Sinh viên học tập từ xa và nhận hướng dẫn học tập thông qua nền tảng trực tuyến Giảng viên là người thiết kế các bài giảng trực tuyến, các bài tập, bài đánh giá để sinh viên truy cập học tập trực tuyến Sinh viên được giảng viên giải đáp thắc mắc qua việc

hỏi đáp trực tuyến

Mô hình “học tập kết hợp” xuất phát từ các quốc gia phát triển sau khi họ triển khai chưa hoàn toàn thành công mô hình E-Learning (học trực tuyến) Công

Trang 34

nghệ mang lại sự tiện nghi, sự chủ động và linh hoạt trong học tập của sinh viên tuy nhiên lại làm cho sinh viên sẽ dễ dàng mất đi động cơ học tập (nếu sinh viên không

có thói quen tự giác học tập) và mất đi cơ hội được học tập trực tiếp với giảng viên như trong các lớp học truyền thống Chính vì vậy các buổi học trực tiếp (face-to-face) vẫn giữ được nhiều giá trị mà việc tự học với máy tính không thể nào bù đắp được Ngược lại, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và việc xuất hiện các chương trình ứng dụng trên mạng thì việc truyền đạt thuần túy không thể cung cấp cho sinh viên được nguồn kiến thức khổng lồ và những thông tin thức thời Vai trò hỗ trợ của

học trực tuyến lúc này được thể hiện rõ nét (Phùng Huy, 2012) Như vậy, có thể

khẳng định bản chất của Blended Learning vẫn là phương thức học tập truyền

thống, trong đó giảng viên vẫn lên lớp, vẫn tương tác thực tế với sinh viên Blended Learning chỉ khác với học tập truyền thống trước kia là thời gian lên lớp ngắn hơn

vì có sự hỗ trợ của các “máy giảng – các bài giảng video…” – nơi sinh viên có thể tìm thấy nguồn kiến thức vô tận và có thể tận dụng bất kể thời gian nào để tự học

1.4 Các xu th ế thiết kế Blended learning

Nhóm tác giả Ali Alammary (2014) và cộng sự cho thấy có 03 xu thế thiết kế BL:

- Kết hợp ở mức độ thấp: bổ sung một số các hoạt động theo dạng thức kết hợp đối với khóa học có sẵn ở dạng truyền thống (mặt giáp mặt – F2F)

- Kết hợp ở mức độ vừa: thay thế một số các hoạt động trong khóa học có sẵn

ở dạng truyền thống (mặt giáp mặt - F2F) bằng dạng thức kết hợp

- Kết hợp ở mức độ cao: thiết kế lại toàn bộ khóa học theo dạng thức kết hợp Hai dạng kết hợp đầu tiên có thể xem như dựa trên nền tảng của hình thức dạy học truyền thống (F2F) có bổ sung hoặc thay thế một số hoạt động học tập ở dạng trực tuyến (OL)

Kết hợp ở mức độ thấp thuận lợi với người dạy chưa tự tin hoặc mới làm quen với việc sử dụng các công cụ công nghệ dạy học và hỗ trợ dạy học trực tuyến, cũng như mới làm quen với việc thiết kế các bài học, khóa học ở dạng kết hợp Dựa trên nền tảng của các bài học có sẵn, không cần thiết phải thay đổi phương pháp giảng dạy, người dạy có thể bổ sung một số các hoạt động dạy học ở dạng trực tuyến, ví dụ yêu cầu người học (sinh viên) ngoài các hoạt động thường kỳ phải nộp bài, thảo luận qua mạng Người dạy có thể sử dụng một số công cụ ở dạng

Trang 35

webquest, wiki, hay mạng xã hội như Facebook để thực hiện được các hoạt động Tương tự, đối với người học cũng không yêu cầu cao về mức độ sử dụng công nghệ Người hiện nhiệm vụ như trả lời một số câu hỏi, viết tóm tắt hay thu hoạch…

để đảm bảo rằng người học có thực hiện nhiệm vụ được giao

Tương tự như dạng thức kết hợp ở mức độ thấp, dạng thức kết hợp ở mức độ vừa cũng đặt ra một áp lực nhất định đối với người dạy và người học Đối với người dạy, cần lựa chọn và phân bổ hoạt động phù hợp với hoạt động dạng F2F cũng như

OL Người dạy cũng cần có những đánh giá, phản hồi kịp thời với các hoạt động tương ứng của người học, đồng thời với việc trợ giúp kĩ thuật đối với người học khi cần thiết, ngoài việc trợ giúp, hướng dẫn về mặt chuyên môn Do đó, người dạy phải có sự tự tin và thông thạo với các công cụ, công nghệ dạy học nhất định; người dạy cũng cần đầu tư thời gian nhiều hơn ban đầu khi thiết kế các hoạt động phù hợp

để tổ chức dạy học OL thay vì F2F Tuy nhiên, thời gian và khối lượng công việc trên lớp sẽ giảm bớt khi đã chuyển đổi thành công một số hoạt động ở dạng trực tiếp, giáp mặt trên lớp thành hoạt động tự học, trực tuyến của người học, qua đó nâng cao khả năng tự học của người học

Dạng thức kết hợp ở mức độ cao đặt ra yêu cầu cao nhất đối với người dạy khi thiết kế khóa học Người dạy thiết kế khóa học hoàn toàn mới, thay vì điều chỉnh khóa học dựa trên nội dung và tiến trình dạy học truyền thống Để thiết kế khóa học và dạy học ở dạng thức này, người học phải có hiểu biết cao về các công

cụ, công nghệ để thiết kế bài dạy, khóa học và kiểm tra đánh giá ở dạng thức kết hợp và trực tuyến Người dạy cần có những kiến thức về lí thuyết và trải nghiệm về dạy học kết hợp để thiết kế bài học và khóa học Tìm hiểu không ngừng về những công cụ, công nghệ và phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học mới sẽ giúp người dạy có nền tảng để thiết kế khóa học sinh động, hấp dẫn và hiệu quả Việc thiết kế

và xây dựng khóa học kiểu này có thể mất thời gian gấp từ 2 tới 3 lần so với thiết kế một khóa học theo dạng thức truyền thống

1.5 Áp d ụng mô hình Blended Learning trong đào tạo đại học trên thế giới

1.5.1 Ưu điểm

Mô hình học tập kết hợp, bao gồm những yếu tố tốt nhất của học tập online

và học trên lớp, đem lại nhiều lợi ích như:

Trang 36

- Đối với giảng viên:

Blended Learning giúp giảng viên sáng tạo hơn, chủ động hơn trong quá trình giảng dạy Khác với phương pháp truyền thống, giảng viên phải tùy chỉnh thiết

kế giáo án dựa trên nhu cầu học tập của sinh viên bao gồm: phong cách, sở thích và

khả năng học tập Do vậy, những chương trình giảng dạy sẽ là những sản phẩm học

tập tốt nhất phục vụ cho nhu cầu học tập của mỗi sinh viên

Áp dụng Blended Learning cho phép giảng viên tích hợp được nhiều công cụ truyền đạt thông tin như: bài giảng PowerPoint, text, video sinh động… cho những

nội dung đơn thuần cần truyền đạt, giúp giảng viên có nhiều thời gian tập trung hơn vào các nội dung mang tính gợi mở, phát triển thông qua hoạt động thảo luận trực

tiếp trên lớp… (Đàm Quang Vinh, 2017)

Sự thay đổi phương pháp giảng dạy lấy người học làm trung tâm thay vì

giảng viên trước đây, người học sẽ trở nên năng động hơn và tương tác nhiều hơn

Giảng viên định hướng, hướng dẫn học viên, xây dựng các nội dung để học viên chủ động truy cập học tập cũng như trả bài

Việc đánh giá kết quả học tập giờ mang tính khách quan rất cao khi hầu hết việc

chấm bài của học viên được thực hiện tự động ngay sau khi học viên nộp bài Hơn nữa,

nội dung bài giảng và các vấn đề liên quan, mở rộng có thể được truyền đạt thông qua bài giảng trên lớp, các tài nguyên online khác như video, slide, ebook,…

Diễn đàn với những chủ đề chuyên biệt trao đổi về môn học cho phép học viên đặt câu hỏi để làm rõ thêm vấn đề mình băn khoăn để nhận được câu trả lời từ giảng viên hoặc từ các học viên khác Chức năng gửi và nhận tin nhắn cá nhân cho phép học viên thiết lập kênh liên lạc cá nhận với giảng viên cũng như các học viên khác

Ngoài ra, mô hình học tập kết hợp này còn giúp giáo viên:

+ Phối hợp các công cụ kỹ thuật số để khuyến khích, tăng sự hứng thú và

hiệu quả học tập của học viên

+ Giảm thời gian giảng lý thuyết trên lớp, tăng thêm thời lượng cho việc thảo

luận, thuyết trình và làm việc nhóm để đạt hiệu quả đào tạo cao hơn

+ Tăng sự quản lý, giám sát học tập, đưa ra những phản hồi kịp thời, thường xuyên chi tiết đến từng cá nhân học viên

Trang 37

+ Tăng trách nhiệm của giảng viên không chỉ trong phạm vi lớp học, trong

giờ học mà còn là sự giám sát, hỗ trợ, quản lý học viên bên ngoài lớp học, ngoài giờ

học chính thức Giảng viên hay người quản lý lớp có thể kiểm soát được mọi hoạt động của học viên trên lớp học online như thời điểm truy cập, thời gian làm việc,

thời gian làm bài tập, nội dung từng phương án trả lời từ đó cho phép cá nhân hóa

việc quản lý lớp học theo từng học viên

- Đối với sinh viên:

Thứ nhất, Blended Learning tạo môi trường tích cực và chủ động hơn trong

học tập thông qua việc tương tác: sinh viên - sinh viên để học hỏi lẫn nhau, sinh viên - giảng viên qua việc hướng dẫn của giáo viên ở cả trên lớp và qua mạng; học sinh tương tác với bất kì chuyên gia nào trên thế giới Chat room với các thành viên trong cũng một lớp học cho phép học viên có sự giao tiếp tập thể về mọi chủ đề liên quan Việc cùng nhau làm một bài kiểm tra hay đề cương ôn tập cho phép học viên

có nhiều hứng thú, tiết kiệm thời gian trong khi vẫn có được những đáp án tốt nhất

Về việc cộng tác ngoài lớp học, thông qua bài tập nhóm hay bài tập viết luận về một

chủ đề được yêu cầu, học viên có động lực và hứng thú để tìm kiếm sự cộng tác với các học viên khác trong cùng lớp học hoặc với bất kể chuyên gia hay cá nhận có liên quan thông qua các diễn đàn xã hội Việc cộng tác, trao đổi thông tin có thể được tổ chức ở bất cứ đâu, bất cứ thời gian nào và theo hình thức gặp mặt trực tiếp

hoặc hội thảo online tạo sự thuận tiện và hứng thú cho học viên

Thêm vào đó, với các module học trực tuyến cho phép sinh viên được “cá nhân hóa” việc học tập của mình Có nghĩa là, sinh viên được học theo tốc độ của riêng họ, sử dụng các phương pháp học tập ưa thích và nhận được các phản hồi thường xuyên và kịp thời về các hoạt động học tập họ tham gia

Thứ hai, sinh viên có môi trường học tập thoải mái, tiện lợi hơn Học ở trường,

học ở nhà, ngay cả học ở quán café, học ở các địa điểm công cộng… miễn là họ có thiết

bị kết nối Internet Trong thời kì mạng Internet thông dụng như ngày nay, việc học chưa bao giờ dễ dàng và thuận tiện đến vậy Nói theo cách khác, sự chủ động trong học tập

của học viên được đề cao khi ngoài giờ học ở lớp, học viên toàn quyền quyết định thời gian, địa điểm cũng như cường độ học tập của mình trên các tài nguyên online đã được định hướng và chỉ đạo Thực tế cũng chứng minh, “cá nhân hóa” việc học tập theo năng

Trang 38

lực và sở thích giúp sinh viên đạt kết quả cao hơn trong học tập Thông qua các ứng dụng

học tập online cùng với sự hướng dẫn của giảng viên có thể đem đến một trải nghiệm

học tập cá nhân hóa và hiệu quả hơn cho học viên Học viên có thể xem, nghe lại bài

giảng nhiều lần mà không bị giới hạn về thời gian Áp lực phải có mặt ở lớp theo đúng khung giờ quy định của học viên sẽ giảm bớt và giảng viên cũng sẽ không còn phải lo

giảng lại bài cho những học viên vắng mặt buổi học trước Học viên có thể thực hiện

việc học vào khung giờ phù hợp nhất với bản thân mà ko phải theo sự sắp đặt cố định và

chủ động xem lại hoặc học trước các nội dung liên quan đến môn học tùy vào hứng thú hay mối quan tâm của mình Theo nghiên cứu của Chuck Dziuban và cộng sự tại Trường Đại học Trung tâm Florida (University of Central Florida), nơi triển khai mô hình E-Learning cũng như Blended Learning từ rất sớm Từ 8 môn học ứng dụng Blended Learning với 125 sinh viên tham gia vào năm 1997 đã tăng lên 503 môn học có Blended Learning với 13,600 sinh viên theo học UCF cũng đã bổ sung các hoạt động học online

với những môn học còn lại sau khi nhận ra điểm số của sinh viên cao hơn và chi phí chi trả cho cơ sở vật chất giảm đáng kể (Bonk và Graham, 2006)

Thứ ba, Blended Learning còn đem lại cho sinh viên những kỹ năng mềm như: tự tìm kiếm thông tin, tương tác và chắt lọc thông tin để có những nguồn kiến

thức tin cậy nhất trang bị cho bản thân Đây chắc chắn là điều mà các trường nên trang bị cho sinh viên của mình trước khi đưa họ trở lại với môi trường lao động đầy cạnh tranh và năng động

- Đối với các nhà trường: Trong các nhà trường thì chi phí cho hệ thống giảng

đường, trang bị là một khoản chi phí không hề nhỏ Những khoản đầu tư cho hệ thống phòng học đạt chuẩn luôn là khó khăn thường trực đối với các trường học từ cấp mầm non đến đại học trên thế giới, càng rõ nét hơn đối với Việt Nam Nếu áp dụng Blended Learning thì nhu cầu đối với phòng học truyền thống sẽ giảm đi đáng kể và áp lực đầu tư cũng sẽ giảm theo Mặt khác, thời gian đứng lớp của giảng viên, đặc biệt ở bậc đại học là

một vấn đề cần giải quyết Giảng viên giỏi thì có nhiều sinh viên muốn đăng kí học, nhưng trong mô hình truyền thống, khả năng đáp ứng này bị giới hạn bởi không gian lớp

học và thời gian mà giảng viên có thể bố trí lên lớp được Hơn nữa, chúng ta thấy, giảng viên đại học ngoài yêu cầu đứng lớp, họ có áp lực rất lớn là dành thời gian cho nghiên

cứu khoa học, tham gia hội thảo, tư vấn nghề nghiệp… Do đó, Blended Learning lại một

Trang 39

lần nữa chứng minh tính hiệu quả của nó trong giải quyết mâu thuẫn thời gian đứng lớp

và nghiên cứu khoa học của các giảng viên đại học, mâu thuẫn giữa khả năng đáp ứng của giảng viên với số lượng vô tận của người học hướng đến cả giảng viên giỏi Mô hình này cho phép giảng viên mang bài giảng của mình đến hàng triệu người học (lớn hơn nhiều nếu giảng truyền thống) và đặc biệt, họ có thể truyền đạt kiến thức cho sinh viên

thậm chí cả khi đang ngủ (Đàm Quang Vinh, 2017)

- Đối với xã hội: Chúng ta vẫn muốn xây dựng một xã hội học tập, tức là một

xã hội mà cơ hội học tập đến với bất kỳ một ai, bất kỳ lúc nào trong quãng đời của người học (khi còn trẻ cũng như lúc đã về hưu), học không phải chỉ để lấy kiến thức,

lấy bằng, mà học trước hết là để hội nhập xã hội, để hiểu nhau, làm việc cùng nhau và

sống tốt đẹp với nhau Vì những hạn chế của mô hình học tập truyền thống, nên chỉ

những ai vượt qua các kỳ thi, những ai có thể bố trí thời gian và tài chính… mới có

thể vào được giảng đường đại học Với Blended Learning và tương lai là E-Learning thì có hội học tập đã có thể mở ra với hầu hết mọi người, khi mà họ chỉ cần ngồi nhà,

với kết nối Internet hay điện thoại… là đã có thể nghe được những bài giảng của

những giáo sư hàng đầu ở những phương trời rất xa (Đàm Quang Vinh, 2017)

1.5.2 H ạn chế

Mô hình BL đang là một xu hướng phát triển ở rất nhiều nơi trên thế giới

Việc triển khai hệ thống BL cần có những nỗ lực và chi phí lớn, mặt khác nó cũng

có những rủi ro nhất định Bên cạnh những ưu điểm nổi bật như trên, BL còn có

một số khuyết điểm mà ta không thể bỏ qua cần phải khắc phục sau đây:

- Do đã quen với phương pháp học truyền thống nên sinh viên và giáo viên

sẽ gặp một số khó khăn về cách học tập và giảng dạy Ngoài ra họ còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các công nghệ mới

- Sinh viên cần phải có gắng nỗ lực hết mình khi tham gia khóa học để có kết quả học tập tốt do việc môi trường học tập phân tán

- Giáo viên phải mất nhiều thời gian và công sức để soạn bài giảng, tài liệu giảng dạy, tham khảo cho phù hợp với mô hình học tập này

- Các vấn đề khác về mặt công nghệ: cần phải được xem xét công nghệ hiện thời có đáp ứng được các mục đích đào tạo hay không, chi phí đầu tư cho công nghệ

đó có hợp lý không Ngoài ra, khả năng làm việc tương thích giữa các hệ thống phần cứng và phần mềm cũng cần được xem xét

Trang 40

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN

Để tìm hiểu tác dụng, hiệu quả của mô hình học tập kết hợp, nhóm tác giả đã

chọn hai lớp học phần cùng học Basic IELTS 1 khoa Tài chính – Ngân hàng và Kế toán theo chương trình đào tạo chất lượng cao (chương trình đào tạo chính quy duy

nhất tại trường Đại học Thương mại được học tiếng Anh theo định hướng thi IELTS) Lớp thử nghiệm (K56DD2-20751) gồm 25 sinh viên (trong đó có 6 nam và

19 nữ) Lớp đối chứng gồm 30 SV (trong đó có 3 nam và 27 nữ) Lớp đối chứng (K56DD1-20747) vẫn học theo phương pháp giảng dạy truyền thống còn lớp thử nghiệm được áp dụng mô hình Blended Learning, đó là sự kết hợp giữa học trên lớp

với học trực tuyến trên các công cụ họp và học trực tuyến

Về trình độ tiếng Anh, sinh viên của hai nhóm lớp có trình độ khá tương đồng Theo kết quả bài kiểm tra pre-test, điểm trung bình trung cả 4 kỹ năng của sinh viên nhóm lớp thử nghiệm là 4.87 và điểm trung bình trung cả 4 kỹ năng của sinh viên nhóm lớp đối chứng là 4.75 Tất cả sinh viên cả hai nhóm lớp đều chưa

từng tham gia thi chứng chỉ IELTS

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu trên, đề tài sử dụng kết hợp các công

cụ nghiên cứu sau:

- B ảng câu hỏi điều tra: được sử dụng để điều tra quan điểm của sinh viên

Bảng câu hỏi gồm 7 câu hỏi đóng Câu hỏi 1, 2 tìm hiểu một số thông tin về việc sở

hữu các thiết bị điện tử và cơ hội truy cập Internet trên các thiết bị đó phục vụ cho

việc học trực tuyến của sinh viên; với câu hỏi 3 và 4, sinh viên đánh giá một số lợi ích

của mô hình học tập kết hợp với bản thân các em và với tổ chức đào tạo nói chung

Ngày đăng: 29/10/2022, 07:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w