1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả gây tê khoang cân mạc chậu liên tục giảm đau sau phẫu thuật gãy xương vùng háng

7 40 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả gây tê khoang cân mạc chậu liên tục giảm đau sau phẫu thuật gãy xương vùng háng
Tác giả Trịnh Tấn Thỡn, Lờ Văn Chung
Trường học Bệnh Viện Sài Gòn ITO
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Đánh giá hiệu quả gây tê khoang cân mạc chậu liên tục giảm đau sau phẫu thuật gãy xương vùng háng trình bày đánh giá mức độ đau theo thang điểm đau VAS và lượng morphine trung bình sử dụng cứu hộ cho người bệnh lúc nghỉ và lúc vận động trong 48 giờ sau mổ gãy xương vùng háng; Lượng giá sức cơ tứ đầu đùi và các tác dụng không mong muốn sau mổ.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GÂY TÊ KHOANG CÂN MẠC CHẬU

LIÊN TỤC GIẢM ĐAU SAU PHẪU THUẬT GÃY XƯƠNG VÙNG HÁNG

Trịnh Tấn Thìn 1 , Lê Văn Chung 1

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Để tránh những biến chứng của giảm đau liên tục trục thần kinh trung ương hoặc giảm đau

đường toàn thân bằng opioid, giảm đau đa mô thức sau mổ với gây tê thần kinh ngoại biên được khuyến cáo cho

những phẫu thuật gãy xương vùng háng Gây tê khoang cân mạc chậu (FICB) là kỹ thuật gây tê vùng phổ biến

cho các phẫu thuật này

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu can thiệp lâm sàng không nhóm chứng với

mục đích đánh giá hiệu quả giảm đau của gây tê khoang cân mạc chậu liên tục và lượng giá sức cơ tứ đầu đùi

trong 48 giờ đầu sau mổ gãy xương vùng háng ở bệnh nhân trên 18 tuổi, đồng ý tham gia nghiên cứu tại bệnh

viện SÀI GÒN ITO từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020

Kết quả: Phân tích 30 người bệnh gây tê FICB liên tục, chủ yếu gặp ở người lớn tuổi, trung bình là 70,83

15,46 tuổi, phẫu thuật thay khớp háng bán phần chiếm phần lớn (63,33%) các trường hợp gãy xương vùng

háng,mức tiêu thụ morphinetrung bình trong 48 giờ sau mổ là 1,00 ± 3,05 mg, điểm đau VAS khi nghỉ <2 và khi

vận động <5 Lượng giá sức cơ tứ đầu bằng tay đạt bậc 4/5

Kết luận: Gây tê FICB duy trì được sức cơ tứ đầu đùi và giảm đau tốt sau mổ cho người bệnh phẫu thuật

gãy xương vùng háng

Từ khóa: gây tê khoang cân mạc chậu, gãy xương vùng háng, người bệnh tự điều chỉnh liều giảm đau

ABSTRACT

EVALUATIVE EFFICACY OF CONTINUOUS FASCIA ILIACA COMPARTMENT BLOCKS

FOR POSTOPERATIVE ANALGESIA IN PATIENTS WITH HIP FRACTURE

Nguyen Thanh Liem, Dinh Huu Hao, Tran Huynh Dao

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 24 - No 3 - 2020: 205 - 211

Background: To avoid the complications of neuraxial anesthesiaand intravenous opioid analgesia,

multimodal analgesia with peripheral nerve block has been recommended in hip fracture Fascia iliaca

compartment block (FICB) are commonly used for postoperative analgesia in hip fracture surgery

Methods: A prospective, non-controlled trial with the aim of evaluating the analgesic effect of continuous

fascia iliaca compartment blockand quadriceps muscle strength during the first 48 hours postoperativelyin

patients over 18 years old agree to participate in the study, at SAIGON ITO Hospital from April to June 2020

Results: Analyzed 30patients received FICB, mainly seen in the elderly, an average of 70.83 15.46 years

old, the majority of cases are bipolar hip replacement surgery (63.33%) The first 48 h postoperatively, the

morphine consumption were 1.00 ± 3.05 mg, VAS pain scores when rest and active were <3 and <5, respectively

The quadriceps manual muscle testing for FICB at 48 hourspostoperative were level 4/5

Conclusion: The present study findings suggest that FICB preserves quadriceps strength and postoperative

analgesia for patients undergoing hip fracture surgery

Keywords: fascia iliaca compartment block, hip fracture, patient-controlled analgesia(PCA)

1 Hệ thống Bệnh viện Sài Gòn ITO Tân Bình

Tác giả liên lạc: BSCKII Trịnh Tấn Thìn ĐT: 0984534759 Email: tanthindr@gmail.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Có nhiều phương pháp giảm đau sau mổ

gãy xương vùng háng Trước đây và ngay cả

hiện nay người ta thường sử dụng thuốc giảm

đau toàn thân, phương pháp này dễ thực hiện

nhưng có hiệu quả giảm đau không cao và tác

dụng phụ của thuốc lại quá nhiều, nhất là khi sử

dụng thuốc nhóm opioid Gây tê ngoài màng

cứng giảm đau sau mổ rất hiệu quả, tuy nhiên

phương pháp này có nhiều rủi ro về kỹ thuật

như tụ máu ngoài màng cứng, gây yếu và thậm

chí liệt cả hai chân, làm người bệnh khó chịu và

hầu như mất sức cơ tứ đầu đùi(1,2,3) Ngày nay,kỹ

thuật giảm đau can thiệp phối hợp trong giảm

đau đa mô thức cho phẫu thuật gãy xương vùng

háng được ưu tiên chọn lựa kỹ thuật gây tê thần

kinh ngoại vi để tránh những biến chứng của kỹ

thuật gây tê liên tục trục thần kinh trung ương

hoặc giảm đau đường toàn thân bằng opioid

Gây tê thần kinh đùi được Winnie AP mô tả đầu

tiên năm 1973 và ngày nay đang được áp dụng

rộng rãi, những nghiên cứu gần đây cho kết quả

gây tê thần kinh đùi đạt được 38% phong bế

đám rối thắt lưng hoàn toàn và 62% phong bế

thần kinh bì đùi ngoài, không những thế sau gây

tê thần kinh đùi làm yếu cơ tứ đầu đùi sau mổ vì

vậy người bệnh vận động khó khăn(4,5) Gây tê

đám rối thắt lưng đi lối sau có hiệu quả giảm

đau rất tốt cho các phẫu thuật vùng háng và đùi,

nhưng có thể gây ra các biến chứng như tiêm

thuốc tê vào khoang ngoài màng cứng, gây tổn

thương thận và tụ máu cơ thắt lưng vì đám rối

này ở sâu Gây tê khoang mạc chậu (FICB) được

Dalens và cộng sự mô tả năm 1989, là kỹ thuật

gây tê vùng phổ biến giảm đau cho các phẫu

thuật thay khớp háng hay kết hợp xương đùi

Ngày nay kỹ thuật này thực hiện dưới hướng

dẫn của siêu âm, thuận lợi, ít gây tai biến, sau

khi tiêm thuốc tê có hiệu quả giảm đau ngay(6,78)

Năm 2015 tác giả Nie H đã nghiên cứu gây tê

khoang cân mạc chậu liên tục trong 48 giờ sau

mổ có điểm đau NRS <2 điểm cho các phẫu

thuật gãy xương vùng háng ở người lớn tuổi,

mức tiêu thụ morphine trong 48 giờ ở nhóm

FICB trung bình chỉ bằng 11% của nhóm sử dụng morphine đường toàn thân (nhóm PCA), tuy nhiên lượng morphine trung bình sử dụng ở nhóm FICB còn cao(7,35 ± 2,18 mg) và tác giả chưa đánh giá sức cơ tứ đầu đùi sau mổ(9) Vì thế chúng tôi đặt câu hỏi “Gây tê khoang mạc chậu liên tục với ropivacaine có giảm liều lượng sử dụng morphine thấp hơn nhưng hiệu quả kiểm soát đauvà duy trì được sức cơ tứ đầu đùi tốt sau mổ gãy xương vùng háng hay không?”

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá mức độ đau theo thang điểm đau VAS và lượng morphine trung bình sử dụng cứu

hộ cho người bệnh lúc nghỉ và lúc vận động

trong 48 giờ sau mổ gãyxương vùng háng

Lượng giá sức cơ tứ đầu đùi và các tác dụng

không mong muốn sau mổ

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả người bệnh có chỉ định phẫu thuật gãy xương vùng háng một bên,từ 18 tuổi trở lên, thuộc nhóm ASA I, II, III được chọn vào nghiên cứu tại hệ thống Bệnh viện SÀI GÒN- ITO từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020

Tiêu chuẩn loại trừ

Các trường hợp bị dị ứng với các thuốc nghiên cứu, nhiễm trùng tại chỗ chọc kim, rối loạn đông máu hoặc điều trị bằng các thuốc chống đông, có bất thường về thần kinh cơ cùng

bên, thoát vị bẹn, có tiền sử nghiện thuốc phiện

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp lâm sàng không nhóm chứng

Cỡ mẫu

30 trường hợp theo công thức tính cỡ mẫu một nhóm dựa vào một giá trị trung bình và theo nghiên cứu của Nie H(9)

Phương pháp tiến hành

Chuẩn bị bệnh nhân và phương tiện chính

Người bệnh được thăm khám tiền mê, phân

Trang 3

độ ASA (American Society of Anesthesiologists),

thực hiện các xét nghiệm cần thiết cho phẫu

thuật Bác sĩ gây mê cung cấp phiếu thông tin

cho người bệnh về kỹ thuật sẽ thực hiện và giải

thích đầy đủ các tai biến biến chứng có thể xảy

ra Người bệnh ký cam kết đồng thuận Máy

siêu âm Sonosite (Edge II), đầu dò Linear 25, kim

gây tê có catheter Multiset, thuốc ropivacaine

0,5%, máy PCA, thuốc và trang thiết bị cấp cứu

Các bước thực hiện

Tại phòng mổ:

Người bệnh được lập đường truyền tĩnh

mạch đảm bảo, gắn các thiết bị theo dõi sinh

hiệu trước khi tiến hành gây tê.Ngườibệnh nằm

ngửa, giảm đau với sufentanil 5 mcg tiêm tĩnh

mạch chậm(TMC), thở ôxy mũi qua ống hai

nhánh 3l/p

Tiến hành gây tê khoang cân mạc chậu:

Vùng háng tương ứng được rửa da, sát

trùng với povidine 10% Đặt đầu dò nằm

ngang đùi ở vị trí dây chằng bẹn, xác định

động mạch đùi, thần kinh đùi, cơ thắt lưng

chậu và cân mạc chậu Di chuyển đầu dò ra

phía ngoài cho đến khi xác định được cơ may,

vị trí gây tê khoang cân mạc chậu là điểm nối

giữa 1/3 ngoài và 2/3 trong đường nối gai chậu

trước trên với xương mu

Xoay đầu dò 90o hướng trục dọc cơ thể theo

phương pháp Hebbard P(10), hình ảnh giải phẫu

siêu âm (Hình 1) xác định được xương chậu, cơ

thắt lưng chậu, cân mạc chậu và động mạch mũ

chậu sâu

Hình 1 Hình ảnh giải phẫu siêu âm

Hình 2 Mức lan của thuốc tê

Hình ảnh gây tê dưới siêu âm khoang cân

mạc chậu (Hình 2): gây tê tại chỗ bằng lidocaine

1% 2ml, kim gây tê được đưa vào theo hướng đồng mặt phẳng với đầu dò từ dưới lên hướng đầu, khi kim xuyên qua cân mạc chậu cảm giác

“Pop” Mức lan của thuốc tê (Hình 3): giữ vững

kim và đầu dò siêu âm ở vị trí này, hút kiểm tra không chạm mạch máu, tiêm thuốc tê ropivacaine 0,25% 0,3 – 0,5 ml/kg, kiểm tra mức lan của thuốc tê dưới khoang cân mạc chậu Lưu ống thông nhựa (catheter) trong khoang 10 cm tính từ dây chằng bẹn, cố định bằng băng dán

Đánh giá hiệu quả gây tê: gây tê khoang cân mạc chậu thành công khi điểm đau VAS giảm 50% so với trước gây tê

Người bệnh được gây tê tủy sống(TTS) bằng ropivacaine 0,5% 7 – 10 mg + sufentanil 5 µg để phẫu thuật gãy xương vùng háng.Sau phẫu thuật, gắn ống thông (catheter) vào thiết bị giảm đau do người bệnh tự kiểm soát (PCA) tốc độ nền ropivacaine 0,125% 0,1 ml/kg, bolus 5 ml, thời gian khóa 60 phút

Tại phòng hồi sức sau mổ:

Người bệnh được chuyển vào phòng hồi sức sau mổ (t0), ghi nhận sinh hiệu, điểm đau VAS, lượng morphine sử dụng cứu hộ (điểm đau VAS khi nghỉ >3 điểm) tại các thời điểm t0 - t6 (6 giờ sau t0) – t12 (12 giờ sau t0) – t24 (24 giờ sau t0) – t48 (48 giờ sau t0) Theo dõi và xử trí các tác dụng phụ, tai biến biến chứng sau mổ Theo dõi đau bằng thang điểm VAS (0 -<2 điểm: hoàn toàn không đau; 3-<5 điểm: đau ít; 5-7 điểm: rất

Trang 4

đau; >7-10 điểm: đau khủng khiếp)

Giảm đau thường qui bằng paracetamol 1g

truyền tĩnh mạchmỗi 8 giờ và/hoặc ketorolac 30

mg tiêm tĩnh mạch chậm và/hoặc nefopam 20

mg truyền tĩnh mạch mỗi 12 giờ

Các biến số nghiên cứu

Biến số chính

Điểm đau VAS tại các thời điểm 6 giờ, 12 giờ,

24 giờ và 48 giờ sau mổ khi người bệnh nghỉ hay

vận động và tổng liều morphine sử dụng cứu hộ

khi điểm đau VAS >4

Đánh giá điểm đau (pain score) chủ quan

theo thang chia tỷ lệ mức độ đau trực quan VAS

(Visual Analog Scale) gồm từ 0 đến 10 điểm:

0 điểm: không đau,

từ 1 – 3 điểm: đau nhẹ,

từ 4 – 6 điểm: đau trung bình,

từ 7 – 10 điểm: đau dữ dội

Nghiên cứu viên dùng thước VAS trực tiếp

hỏi người bệnh khi họ nhìn vào điểm đau được

nghiên cứu viên chỉ trên thước và trả lời có hay

không đau(4) Khi điểm đau VAS >4, tiến hành

tiêm mocphin cứu hộ đường tĩnh mạch

Biến số phụ

Sức cơ tứ đầu đùi tại các thời điểm 24 giờ và

48 giờ sau mổ, ngã, dị cảm, ngộ độc thuốc tê, thời

gian sử dụng morphine cứu hộ đầu tiên

Nghiên cứu viên dùng tay đánh giá sức cơ tứ

đầu đùi của người bệnh từ 0 đến 5 bậc ( mức độ

người bệnh tự nâng chi dưới sức cản của tay

nghiên cứu viên):

0: không có sự co cơ;

1: có cảm nhận co cơ nhưng không tạo ra cử

động chi;

2: cử động chi hết tầm trong mặt phẳng

không trọng lực;

3: cử động chi hết tầm trong mặt phẳng có

trọng lực;

4: cử động chi hết tầm trong mặt phẳng có

trọng lực và kháng lực;

5: cử động chi bình thường

Biến số nền

Tuổi, giới, cân nặng, chiều cao, ASA, thời

gian phẫu thuật

Xử lý số liệu và phương pháp thống kê

Xử lý số liệu theo phần mềm stata 13.0 theo mục tiêu nghiên cứu Các biến số định lượng được trình bày bằng số trung bình ± độ lệch chuẩn Các biến số định tính được biểu thị bằng

tỉ lệ phần trăm (%)

Hình 3 Lưu đồ nghiên cứu

KẾT QUẢ

Nghiên cứu thực hiện từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020, tiến hành trên 30 người bệnh được gây tê khoang cân mạc chậu thu được các kết quả như sau:

Đặc điểm chung dân số nghiên cứu

Gãy xương vùng háng chủ yếu gặp ở người lớn tuổi, tuổi trung bình là 70,83 15,46, lớn nhất

có trường hợp 91 tuổi Tỉ lệ phẫu thuật thay khớp háng bán phần chiếm phần lớn (63,33%)

(Bảng 1)

Đánh giá chọn vào (n= 30)

Loại trừ (n=0)

Mất can thiệp (n= 0) Nhận can thiệp (n=30)

Phân tích (n=30)

Phân Tích Tuyển Chọn

Trang 5

Bảng 1 Đặc điểm chung

Đặc điểm Gây tê khoang cân mạc chậu (n=30)

Thời gian PT (phút) * 74,66  22,00

Loại phẫu thuật: Thay khớp háng

bán phần†

KHX bằng nẹp DHS†

KHX bằng đinh Gammma†

19

2

9

*Trung bình ± độ lệch chuẩn † Số trường hợp

DHS: Dynamic hip screw – Nẹp vít động khớp háng, ASA:

American Society of Anesthesiologists - Xếp loại tình trạng

bệnh theo hội Gây Mê Hồi Sức Hoa Kỳ, KHX: Kết hợp

xương PT: Phẫu thuật

Điểm đau VAS khi nghỉ và vận động

Hình 4 Điểm đau VAS khi nghỉ và vận động

Điểm đau VAS (visual analog scale) trung

bình khi nghỉ và vận động lần lượt là <2 và <5

điểmtại các thời điểm trong 48 giờ đầu sau mổ

(Hình 4)

Lượng morphine trung bình sử dụng cứu hộ

trong 48 giờ sau mổ

Bảng 2 Lượng morphine trung bình sử dụng cứu hộ

trong 48 giờ sau mổ

Morphine Trung bình Trung vị Thấp nhất Cao nhất

*Trung bình độ lệch chuẩn

Có ba trường hợp cần sử dụng morphine

cứu hộ sau mổ, trong đó có một trường hợp sử

dụng sớm tại thời điểm 6 giờ sau mổ (Bảng 2)

Lượng giá sức cơ tứ đầu đùi

Thời điểm 48 giờ sau mổ, sức cơ tứ đầu đùi ở

mức 4/5, sức cơ tốt sau mổ (Bảng 3)

Bảng 3 Lượng giá sức cơ tứ đầu đùi

Sức cơ 24 giờ sau mổ* 48 giờ sau mổ*

3,53  0,50 4,1  0,48

*Trung bình độ lệch chuẩn

Mức độ an toàn của kỹ thuật gây tê khoang cân mạc chậu dưới siêu âm

Không ghi nhận trường hợp nào ngã, dị cảm, ngộ độc thuốc tê ở hai nhóm nghiên cứu

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung

Kết quả trong nghiên cứu này là phẫu thuật cho người bệnh lớn tuổi (tuổi trung bình 70,8315,46), trong đó người bệnh nữ chiếm tỷ lệ 70%, ASA loại 3 chiếm tỷ lệ trên 65%, chủ yếu là phẫu thuật thay khớp háng bán phần (63%)

Đánh giá mức độ đau theo thang điểm đau VAS

Theo nhiều nghiên cứu đã công bố với tác dụng giảm đau cho phẫu thuật gãy xương vùng háng nói riêng và sau mổ xương vùng háng đến khớp gối nói chung khá hoàn hảo của kỹ thuật gây tê khoang mạc chậu Năm 2015, tác giả Nie

H cũng ghi nhận gây tê khoang cân mạc chậu liên tục trong 48 giờ sau mổ có điểm đau NRS <2 điểm, và kết luận rằng gây tê khoang cân mạc chậu liên tục là kỹ thuật an toàn và có hiệu quả giảm đau sau mổ, là sự lựa chọn để giảm đau sau mổ ở người cao tuổi gãy xương vùng háng(9) Tương tự, tác giả Foss NB ghi nhận giảm đau vượt trội ở mọi thời điểm của gây tê khoang cân mạc chậu, sử dụng FICB trong điều trị đau cấp tính đối với những trường hợp gãy xương vùng háng(11)

Trong nghiên cứu của chúng tôi cho ra kết quả điểm đau VAS trung bình trong 48 giờ sau

mổ khi nghỉ và vận động lần lượt <2 và <5 điểm

(Hình 4) Kết quả này cũng phù hợp với hầu hết

các nghiên cứu trên thế giới

Khi điểm đau VAS thấp, người bệnh không đau họ sẽ vận động sớm, tập vật lý trị liệu hiệu quả và phục hồi sớm sau mổ, không để lại di

Trang 6

chứng cứng khớp sau mổ

Đánh giá mức độ đau của người bệnhtheo mức

độ tiêu thụ morphine

Hầu hết không sử dụng morphine khi người

bệnh nằm tại giường trong nghiên cứu của

chúng tôi Tuy nhiên có một trường hợp sử

dụng sau 6 giờ, cũng như một số trường hợp sử

dụng khi vận động gây đau Như vậy sau khi

gây tê khoang mạc chậu với ropivacaine đã có

hiệu quả giảm đau đáng kể, vì thế sử dụng rất ít

morphine cứu hộ sau mổ, cho nên dường như

không gặp những tác dụng không mong muốn

nào của morphine ở nhóm nghiên cứu

Theo kết quả nghiên cứu tại Bảng 2 của

nghiên cứu này cho thấy lượng morphine cứu

hộ trung bình trong 48 giờ đầu sau mổ của

người bệnh có gây tê khoang cân mạc chậu liên

tục là 1,00 ± 3,05 mg, nhưng theo kết quả nghiên

cứu của tác giả Nie H, trong nghiên cứu cho thấy

lượng morphine tương đương trung bình sử

dụng trong 48 giờ đầu sau mổ của nhóm FICB là

7,35 ± 2,18 mg cao hơn rất nhiều so với kết quả

của chúng tôi(9)

Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi cũng

phù hợp với tác giả Thompson J nghiên cứu theo

dõi gây tê khoang cân mạc chậu liên tục 72 giờ

sau mổ gãy xương vùng háng sử dụng

morphine cứu hộ là 0,4 mg(2) Cũng trong nghiên

cứu tác giả này so sánh liều morphine của nhóm

tê FICB với nhóm sử dụng morphine toàn thần

(0,4 mg so với 19,4 mg) giữa 2 nhóm khác nhau

có ý nghĩa về mặt thống kê

Đánh giá mức độ an toàn của gây tê khoang

cân mạc chậu

Kết quả nghiên cứu này cho thấy sức cơ tứ

đầu đùi trong 48 giờ sau mổ ở mức 4 trên 5 (4/5),

sức cơ tốt giúp chân mổ vận động tốt, cải thiện

tuần hoàn và phòng ngừa thuyên tắc huyết khối

tĩnh mạch sau mổ (Bảng 3) Cân mạc chậu đi từ

trên xuống trước cơ thắt lưng chậu, tạo nên một

khoang không chứa các mạch máu lớn cũng như

thần kinh, nên hạn chế được những biến chứng

như tổn thương thân thần kinh, ngộ độc thuốc

tê, dị cảm sau mổ Tác giả Atchabahian A có ghi nhận một trường hợpgiảm cảm giác vùng đùi sau 8 ngày gây tê khoang cân mạc chậu giảm đau sau mổ thay khớp háng toàn phần, tác giả

sử dụng phương pháp gây tê mất sức cản (hai

“pop”) để vào khoang cân mạc chậu, phương pháp này tiềm ẩn nhiều nguy cơ như tổn thương thần kinh mạch máu, tuy nhiên tác giả không ghi nhận tai biến, biến chứng nào trong nghiên cứu(12)

Gây tê khoang cân mạc chậu dưới hướng dẫn siêu âm theo phương pháp Hebbard P, tiếp cận khoang cân mạc chậu là kỹ thuật đi đường trước dọc theo cơ thể người bệnh vào đám rối thắt lưng, giúp chúng ta quan sát được đầu mũi kim, mức lan rộng của thuốc tê sau khi tiêm, cũng như vị trí đặt catheter thuện lợi(10)

KẾT LUẬN

Sử dụng ropivacaine liên tục trong gây tê khoang cân mạc chậu dưới siêu âm đi đường trước tiếp cận dọc theo cơ thể người bệnh là kỹ thuật mới, an toàn, dễ thực hiện và có hiệu quả giảm đau cao theo thang điểm VAS và giảm đáng kể mức tiêu thụ morphine, cũng như duy trì tốt sức cơ tứ đầu đùi sau mổ trong phẫu thuật

gãy xương vùng háng,

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Grant CRK, Checketts MR (2008) "Analgesia for primary hip and knee arthroplasty: the role of regional anaesthesia"

Continuing Education in Anaesthesia, Critical Care & Pain J,

8(2):56-61

2 Thompson J, Long M, Rogers E, et al (2020) "Fascia Iliaca Block Decreases Hip Fracture Postoperative Opioid Consumption: A

Prospective Randomized Controlled Trial" J Orthop Trauma,

34:49-54

3 Yu B, He M, Cai GY, et al (2016) "Ultrasound-guided continuous femoral nerve block vs continuous fascia iliaca compartment block for hip replacement in the elderly A

randomized controlled clinical trial (CONSORT)" Medicine,

95(42):1-5

4 Capdevila X, Rubenovitch J, et al (1998) "Comparison of the Three-in-One and Fascia lliaca Compartment Blocks in Adults:

Clinical and Radiographic Analysis" Anesth Analg, 86:1039-1044

5 Winnie AP, Ramamurthy S, Durrani Z (1973) "The Inguinal Paravascular Technic of Lumbar Plexus Anesthesia: The “3 -in -

1 Block” Anesthesia and Analgesia, 52(6):989-996

6 NYSORA (2020) Ultrasound-Guided Fascia Iliaca Block URL:

https://www.nysora.com/regional-anesthesia-for-specific-surgical-procedures/lower d7o7i1sie6u

Trang 7

anesthesia-for-specific-surgical-procedures/ultrasound-guided-fascia-iliaca-block/

7 Dalens B, Vanneuville G, Tanguy A (1989) "Comparison of the

fascia iliaca compartment block with the 3-in-1 block in

children" Anesth Analg, 69(6):705-713

8 O’Reilly N, Desmet M, Kearns R (2019) "Fascia iliaca

compartment block" BJA Education, 19(6):191-197

9 Nie H, Yang YX, Wang Y, et al (2015) "Effects of continuous

fascia iliaca compartment blocks for postoperative analgesia in

patients with hip fracture" Pain Res Manag, 20(4):210-212

10 Hebbard P, Ivanusic J, Sha S (2011) "Ultrasound-guided

supra-inguinal fascia iliaca block: a cadaveric evaluation of a novel

approach" Anaesthesia, 66:300–305

11 Foss NB, Kristensen BB, Bundgaard M, et al (2007) "Fascia Iliaca Compartment Blockade for Acute Pain Control in Hip Fracture Patients A Randomized, Placebo-controlled Trial"

Anesthesiology, 106:773-778

12 Atchabahian A, Brown AR (2001) "Postoperative Neuropathy

following Fascia Iliaca Compartment Blockade" Anesthesiology,

94:534-536

Ngày nhận bài báo: 17/07/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/08/2020 Ngày bài báo được đăng: 30/08/2020

Ngày đăng: 29/10/2022, 07:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm