1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn Hóa Công Giáo Ở Sài Gòn - Thành Phố Hồ Chí Minh (Giai Đoạn Từ 1954 Đến Nay)

27 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 395,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, đề tài nghiên cứu cũng giúp chính quyền thành phố hiểu sâu sắc hơn về Công giáo, góp phần làm cho mối quan hệ giữa chính quyền thành phố và Công giáo thêm tốt đẹp.. Khi sự hiể

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Ngành: Văn Hóa Học

Mã số: 9229040

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2022

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM

Phản biện 2: PGS.TS Huỳnh Ngọc Thu

Phản biện 3: TS Phan Văn Dốp

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án Tiến

sĩ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

vào lúc giờ ngày tháng năm 2022

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Đại học quốc gia TP HCM

- Thư viện Trường Đại học KHXH & NV, TP HCM

- Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công giáo tại Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh TP.HCM) có nhiều thăng trầm từ năm 1954 Đề tài nghiên cứu mong muốn giúp cho các cộng đồng khác gắn bó hơn với Công giáo Đồng thời, đề tài nghiên cứu cũng giúp chính quyền thành phố hiểu sâu sắc hơn về Công giáo, góp phần làm cho mối quan hệ giữa chính quyền thành phố và Công giáo thêm tốt đẹp Khi sự hiểu biết lẫn nhau thêm sâu sắc, giáo hội Công giáo

(SG-sẽ đề ra những đường hướng hội nhập hiệu quả hơn, chính quyền thành phố cũng có thể ban hành những chính sách về tôn giáo sát thực hơn, phát triển nguồn nhân lực tôn giáo của thành phố

2 Mục tiêu nghiên cứu

Phác họa diện mạo của văn hóa Công giáo tại TP.HCM và tổng kết những đóng góp của văn hóa Công giáo đối với văn hóa SG-TP.HCM trong gần 70 năm qua

SG-3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể bổ sung cho lý thuyết tiếp xúc tiếp biến giữa văn hóa tôn giáo và văn hóa đô thị Giúp chính quyền thành phố hiểu hơn về văn hóa Công giáo Trở thành tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu thuộc chuyên ngành Văn

hóa học và các ngành gần khác

4 Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là: văn hóa Công giáo

Thời gian: từ 1954 đến nay

Trang 4

Không gian: địa bàn hành chính SG - TP.HCM, trừ huyện

Củ Chi

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu: "Diện mạo văn hóa Công giáo ở SG-TP.HCM từ 1954 đến nay như thế nào? Trong thời gian này, Công giáo đã đóng góp những thành tựu gì cho văn hóa chung của thành phố?"

Giả thuyết nghiên cứu:

Văn hóa Công giáo ở SG-TP.HCM đã có diện mạo mới kể

từ cuộc di cư năm 1954 Văn hóa Công giáo cũng có tác động mạnh mẽ đến văn hóa chung của SG-TP.HCM Hệ giá trị Công giáo được tiếp thu, chia sẻ, tạo ra nhiều thành tựu văn hóa vật thể và phi vật thể

6 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Luận án nghiên cứu theo hướng tiếp cận liên ngành Ba phương pháp chính gồm: phương pháp điền dã, phương pháp

Trang 5

Vì khuôn khổ luận án có hạn, nên một số nội dung ít quan trọng hơn được đưa vào phần Phụ lục để người đọc tham khảo

mở rộng

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nhóm công trình về lịch sử Công giáo Việt Nam

Những nghiên cứu lich sử Công giáo Việt Nam bắt đầu

từ triều Nguyễn Tuy nhiên, công trình chính thức mở đầu được

ghi nhận là Việt Nam Giáo Sử của Phan Phát Huồn (1955) Nối tiếp có thể kể đến Lịch sử Giáo hội Công Giáo của Bùi Đức Sinh (1978), Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo của Nguyễn Văn Trinh (1994), Giáo hội đi trong nhân loại của Nguyễn Thế Thoại (2007), Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam của

Trương Bá Cần (2008), …

1.1.2 Nhóm công trình Công giáo thời Nguyễn và ở miền Nam trước 1975

Một số công trình nổi bật về Công giáo và Công giáo

miền Nam dưới thời Nguyễn như: La place du catholicisme

dans le ralations entre la France et le Viet-Nam de 1851 à

1870 của Võ Đức Hạnh, The Cross and the Bo tree: Catholics and Buddhists in Viet Nam của Pierro Gheddo, Le Viêt-nam au

XX e siècle của Pierre – Richard Féray, Giáo Hội Việt Nam Năm

1659 của Đào Quang Toản, Công giáo Việt Nam thời kỳ triều

Trang 6

Nguyễn (1802 – 1883) của Nguyễn Quang Hưng, Công giáo Việt Nam – từ Đế Chế đến Quốc Gia của Charles Keith, …

Các công trình tiêu biểu nghiên cứu Công giáo miền Nam trong từ năm 1954 đến năm 1975 có thể kể đến: “The Catholic Question in North Viet Nam from Polish sources (1945 –

1954)” của Claire Trần Thị Liên, Vietnam: Between Two

Truces của Lacouture, “Bac di cu: Catholic Refugees from the

North of Vietnam, and their role in the Southern Republic,

1954 – 1959” của Peter Hansen, In search of the third force:

The American lobby for Ngo Dinh Diem của Larsen Dana,

“The miracle of Vietnam”: The Establishment and Consolidation of Ngo Dinh Diem’s Regime, 1954 – 1959 của

ở TP.HCM” gồm nhiều bài viết của nhiều tác giả, trong bộ

sách Văn hoá Sài Gòn – TP.HCM, “Giáo hội giữa dòng đời”

của trung tâm nghiên cứu Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình, … “Cấu hình Xã hội cộng đồng Công Giáo Bắc di cư tại Nam Bộ” của Nguyễn Đức Lộc, “Cộng đồng giáo xứ của người Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh: Tiếp cận Tiểu Văn Hóa” của Nguyễn Xuân Nghĩa, …

Trang 7

1.1.4 Nhận xét và sự kế thừa của luận án

Qua một số công trình nghiên cứu quan trọng vừa nêu,

“Công giáo Việt Nam” là mảng đề tài được nhiều học giả quan tâm Luận án kế thừa tư liệu của các học giả đi trước trong hai mốc thời gian: cuộc di cư 1954 và thống nhất 1975, cùng sự

kiện Công đồng Vatican II 1962 - 1965

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Tôn giáo

Tôn giáo được nhiều học giả nhìn nhận theo ý nghĩa chung nhất là: một hệ thống niềm tin siêu nhiên và các nghi lễ nhằm biểu thị niềm tin đó Luật tín ngưỡng tôn giáo 2016:

“niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và

tổ chức” Tôn giáo khác tín ngưỡng ở 4 yếu tố gồm: giáo chủ, giáo lý, giáo luật và giáo đồ

1.2.2 Công giáo

Công giáo là tôn giáo được Chúa Giêsu lập vào đầu Công nguyên Công giáo hiện là một trong những tôn giáo có số giáo dân đông nhất thế giới với tòa thánh Vatican tại Roma, Ý Công giáo thuộc hệ thống các tôn giáo thờ Chúa Ki-tô (Ki-tô giáo), tuy nhiên có những phân biệt với Chính thống giáo, Tin lành và Anh giáo

1.2.3 Văn hoá

Văn hóa trước hết là một “hệ thống giá trị”, thứ đến, được “con người tuân theo”, sau cùng, tạo ra “những hình thái biểu thị qua thời gian (di sản)” Thành tố văn hoá gồm: nhận thức, tổ chức và ứng xử

1.2.3 Văn hoá tôn giáo

Trang 8

Tôn giáo sẽ có một hệ thống giá trị riêng buộc tín đồ phải hành động theo, vì vậy, tôn giáo có văn hóa tôn giáo Tôn giáo toàn cầu còn có hệ giá trị mang tính xuyên vượt giá trị bản địa

1.2.4 Di sản văn hoá

Di sản văn hóa theo UNESCO: “là di sản của các hiện vật vật thể và các thuộc tính phi vật thể của một nhóm hay xã hội được kế thừa từ các thế hệ trước, đã duy trì đến hiện nay

và dành cho các thế hệ mai sau” Di sản vật thể điển hình như: kiến trúc, mỹ thuật và ngược lại là phi vật thể: lễ hội, văn chương, giáo dục, lối sống, nghệ thuật dân gian, bí quyết nghề,

1.2.5 Văn hoá Công giáo

Luận án xây dựng định nghĩa về văn hóa Công giáo trong khuôn khổ đề tài: “Văn hóa Công giáo là hệ thống giá trị Công giáo được con người lựa chọn hành động theo trong quá trình tương tác với môi trường sống”

1.2.6 Giao lưu, tiếp biến văn hóa và bản sắc văn hóa

John W Berry định nghĩa “Tiếp biến văn hóa” là “quá trình thay đổi văn hóa và tâm lý diễn ra do sự tiếp xúc giữa hai hoặc nhiều nhóm văn hóa và các thành viên riêng lẻ của họ”

Về bản sắc văn hoá, Trần Ngọc Thêm cho rằng Bản sắc văn hóa (dân tộc) là một hệ thống các giá trị tinh thần tồn tại tương đối lâu bền hơn cả trong truyền thống văn hóa, chi phối các đặc trưng khác, tạo nên tính khu biệt

1.2.8 Vùng văn hóa và văn hóa vùng

Khái niệm vùng văn hoá theo Ngô Đức Thịnh: “vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân

cư sinh sống từ lâu đã có những quan hệ nguồn gốc và lịch sử,

Trang 9

tương đồng về trình độ phát triển kinh tế xã hội” Còn văn hoá vùng là sự nhấn mạnh: mỗi vùng văn hóa sẽ có một văn hóa đặc trưng của vùng đó

1.2.9 Văn hóa đô thị

Văn hóa đô thị mang những đường nét điển hình của đô thị với những đặc điểm chính: sự đa sắc diện, tính giản tiện và tính thời đại Ba đặc điểm này của văn hóa đô thị hoạt động

theo nguyên tắc chung nhất là “hội tụ và lan tỏa”

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Khái quát về SG-TP.HCM

Đầu triều Nguyễn, SG-TP.HCM hiện nay thuộc Gia Định Thành Năm 1874, tổng thống Pháp Grévy lập thành phố Sài Gòn Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 phân đôi đất nước theo vĩ tuyến 17 Phía bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Ở phía nam là Việt Nam Cộng Hòa Sài Gòn thuộc Việt Nam Cộng Hoà Sau khi Việt Nam thống nhất 30/4/1975 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đổi tên Sài Gòn thành

“Thành phố Hồ Chí Minh”

SG-TP.HCM là vùng đất thấp dần từ bắc xuống nam, phía nam nhiều kênh rạch Ngoài người Kinh thì đông nhất là người Hoa và Khmer Người Sài Gòn theo nhiều tín ngưỡng khác nhau, tính cách cởi mở Văn hoá SG-TP.HCM là loại hình văn hoá đô thị, hào sảng, tôn trọng mọi khác biệt, đưa đến ba đặc tính cơ bản nhất: giản tiện, thời đại và đa sắc thái

1.3.2 Khái quát về Công giáo ở SG-TP.HCM

Công giáo đến vùng đất Sài Gòn từ thời Nguyễn Hữu Cảnh mở đất, sau đó là các cuộc trốn chạy của quan binh Công giáo Minh hương và giáo dân từ miền Trung vì sự cấm đạo của

Trang 10

triều Nguyễn Năm 1954, nhiều giáo dân từ miền Bắc di cư vào Nam, được bố trí định cư thành cụm tại các cửa ngõ Sài Gòn: bắc, nam, đông, trung tây và tây nam

Giáo dân các xứ đạo cụm phía bắc hầu hết di cư năm

1954, xuất thân nông thôn, gắn bó văn hóa làng xã bền chặt Giáo dân cụm trung tây lại đa số là công nhân và thương nhân thị thành, ưa kinh doanh, mạo hiểm Giáo dân cụm phía nam xuất thân từ trí thức Phát Diệm cũ, thân Pháp, chuộng kiểu cách sinh hoạt của người Pháp, đời sống bị chi phối bởi môi trường sông nước Giáo dân cụm phía đông đa số có gốc nam

bộ, định cư từ trước 1954, giữ đạo kín đáo, mang tâm thức trốn chạy từ triều Nguyễn Giáo dân cụm tây nam ít nhất, phần đông người Hoa, vẫn giữ nhiều phong tục riêng

Hiện nay, giáo phận thành phố có 204 giáo xứ, 21 giáo điểm, 685.389 giáo dân chiếm 8% dân số thành phố (2018) Nhìn chung, tổng giáo phận TP.HCM hiện có thành phần giáo dân đa dạng nhất, chịu ảnh hưởng đặc tính đô thị sâu sắc: tính giản tiện, tính thời đại và đa sắc diện

Tiểu kết chương 1

Công giáo tại Việt Nam, trong đó, Công giáo tại miền Nam là một đề tài được nhiều tác giả Việt Nam lẫn nước ngoài quan tâm nghiên cứu, các công trình đa dạng và phong phú Công giáo đã xuất hiện ở vùng đất SG-TP.HCM từ rất sớm, gắn bó chặt chẽ với văn hóa nơi đây, tuy nhiên vì bối cảnh lịch

sử, vẫn còn một số tách biệt, quá trình hòa nhập còn khó khăn, cần thêm thời gian và những hiểu biết về nhau

  

Trang 11

CHƯƠNG 2 DIỆN MẠO VĂN HÓA CÔNG GIÁO

2.1.2 Đức tin và lòng đạo đức bình dân

Trước năm 1954, các xứ đạo miền bắc phần lớn là làng đạo tự trị, niềm tin Công giáo chịu sự ảnh hưởng tín ngưỡng dân gian, nhiều chuyện hoang đường về thiên đàng, hoả ngục được thêm vào sách kinh Mỗi địa phận diễn xướng tích sự kinh thánh bằng nhiều hình thức nghệ thuật dân gian Khi vào nam, giáo dân miền bắc đem theo các sách kinh cùng các thực hành đạo đức bình dân khác Với sự trình bày đức tin như vậy, các thế hệ giáo dân ở SG-TP.HCM dễ phát sinh ba thái độ: Một

là chán ghét, tự cô lập Hai là sùng bái, mê tín Ba là lai tạp, bái vọng đa thần Thực hành đạo đức bình dân nặng tính chất nông thôn cũng bị môi trường đô thị làm cho mai một

2.1.3 Luân lý Công giáo

Ở SG-TP.HCM, ngoài những chuẩn mực theo luân lý Công giáo, người giáo dân còn đứng trong các chuẩn mực xã hội phức tạp riêng của đời sống đô thị như thời trang, tài khoản

Trang 12

số, diễn viên, Người giáo dân suy nghĩ ưu tiên tính trách nhiệm lương tâm Đây là kiểu nhận thức “luân lý hoàn cảnh” thịnh trị ở đô thị châu Âu thập niên 1930 Nhận thức luân lý của người Công giáo ở SG-TP.HCM, đô thị hình mẫu phương Tây có sự tương đồng

và hoàn cảnh đột phát Cơ cấu giáo xứ như vậy nên ở TP.HCM thường có hợp đồng mượn nhà thờ, hoặc hợp đồng nhờ quản lý giáo xứ có kỳ hạn

SG-2.2.1.2 Đặt tên giáo xứ

Tên xứ đạo là biểu tượng văn hóa mang tính trường tồn của cộng đồng giáo dân Tên xứ đạo ở SG-TP.HCM đặt theo địa danh nhiều hơn nhân danh Tên theo địa danh bắc bộ có 5 kiểu, địa danh nam bộ có 3 kiểu Việc đặt tên giáo xứ thể hiện tâm thức và nguồn gốc xuất thân của giáo dân Cụm phía bắc

đa số giáo dân xuất thân nông thôn miền bắc, vẫn mang mối hoài vọng quê cũ Cụm trung tây xuất thân công nhân, thương nhân, dễ thích nghi đô thị Cụm phía nam xuất thân trí thức, tên mang định vị rõ ràng Cụm phía đông đa số gốc nam bộ, tính cách giản dị, trọng nghĩa khí Cụm tây nam, nhiều xứ gốc hậu duệ Minh triều, tên xứ là những vị thánh võ tướng

Trang 13

2.2.1.3 Quy hoạch xứ đạo

Qua các hồ sơ giáo xứ, kết hợp không ảnh, có thể thấy, cụm phía bắc đất bằng phẳng lại nặng tâm thức làng xã nên quy hoạch kiểu Đồng Tâm Cụm trung tây dọc trục đường lộ dài lại

đa số giáo dân sống bằng kinh doanh, nên quy hoạch kiểu Rẽ Quạt Cụm phía nam và đông môi trường sông nước chằng chịt, đa số có đồ hình kiểu Tuyến Chuỗi Cụm tây nam, giáo dân người Hoa sống nơi phố xá chật hẹp, nên kiểu phân bố chủ yếu là Đa Nhân

2.2.1.4 Mục vụ di dân và mục vụ người nước ngoài

Di dân và người ngoại quốc là nét riêng của Công giáo ở SG-TP.HCM Công nhân, sinh viên đổ về thành phố đông đảo, nên năm 2004, Ủy Ban Mục Vụ Di Dân được thành lập lo cho

họ Tiểu ban Mục Vụ Người Nước Ngoài cũng ra đời, phục vụ

lễ Chúa nhật bằng 4 ngôn ngữ cho gần 5000 người

2.2.2 Tổ chức đời sống giáo dân

2.2.2.1 Tổ chức cưới hỏi và hôn nhân

Hôn nhân của người giáo dân ở SG-TP.HCM chịu sự chi phối của môi trường đô thị trong tổ chức đám cưới cũng như các mối quan hệ thách thức tính bất khả phân ly theo Công giáo Về mặt tổ chức đám cưới, giáo dân ưa sự giản tiện, hầu hết chỉ gom vào một ngày gồm thánh lễ hôn phối và rước dâu Nhưng mỗi cụm Công giáo còn giữ nét riêng trong tổ chức đám cưới Các quan hệ tình cảm trong đô thị, cùng văn minh công nghệ tác động không nhỏ đến tính đồng nhất, bất khả phân ly

và các quy phạm về hôn nhân Công giáo, nổi bật là hôn nhân khác đạo, cùng các vấn đề tình dục điển hình nơi đô thị

2.2.2.2 Tổ chức tang lễ

Trang 14

Người Công giáo SG-TP.HCM trước năm 2000 dè dặt ít hỏa táng, dù Vatican II đã cho phép Nhưng vì quá trình đô thị hóa, yêu cầu giản tiện thời gian, quỹ đất, nên hiện hỏa táng phổ biến Tính đa sắc diện cũng thể hiện trong cách tổ chức tang lễ

ở từng cụm Công giáo Ngoài ra, giáo dân SG-TP.HCM còn ứng dụng thành tựu văn minh thời đại khi lo hậu sự cho người quá cố: thạch cốt, mộ online,

2.2.2.3 Tổ chức buôn bán, giao thương

Người Công giáo bắc di cư mở chợ giao thương và gắn kết cộng đồng Các chợ này thường tổ chức dưới hình thức uỷ nhiệm của các làng nghề Công giáo Sự cạnh tranh ít dựa vào hàng hóa bằng chạy đua truyền thông Các chợ này ở mức độ nào đó còn là nơi tụ họp đồng hương, cánh tay nối dài của nhà thờ với những khen chê theo chuẩn mực số đông

xử với nhau Thứ nhất là tính phô trương, kiểu hưởng thụ đền

bù, …, thứ hai là óc bè phái cục bộ, tạo liên minh lợi ích nhóm, thứ ba là đùn đẩy trách nhiệm

2.3.1.2 Ứng xử trong nội bộ giáo dân

Mỗi cộng đồng đều trân trọng các giá trị riêng của cộng đồng khác Tuy bao dung với khác biệt giữa các cộng đồng, nội

bộ mỗi xứ đạo lại tồn tại những bất đồng, kỳ thị trong ứng xử

Ngày đăng: 29/10/2022, 05:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w