1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Quản lý môi trường trong thương mại quốc tế: Phần 2 - ThS. Lê Quốc Cường

47 7 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 602,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 2 của bài giảng Quản lý môi trường trong thương mại quốc tế tiếp tục cung cấp cho học viên những nội dung về: hàng rào kỹ thuật môi trường trong thương mại quốc tế; quản lý môi trường trong hoạt động thương mại ở Việt Nam;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

CHƯƠNG IV HÀNG RÀO KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG THƯƠNG MẠI

QUỐC TẾ 4.1 T n u n v h n thuật t ờn t n th n uốc t

4.1.1 Khái niệm chung v hàng rào ỹ thuật m i tr ng

 Khái niệm hàng rào kỹ thuật môi trường

Thuật ngữ “rào cản” hay “hàng rào” được đề cập nhiều trong hoạt động thương mại quốc

tế, nhưng cũng chưa có một khái niệm chính thống về rào cản thương mại, mà rào cản thương mại được hiểu là bất kỳ biện pháp nào gây cản trở đối với hoạt động thương mại Trong hoạt động thương mại quốc tế rào cản thương mại nói chung được chia thành: Rào cản thuế quan (Tariff barriers) và rào cản phi thuế quan (Non-Tariff barriers)

Rào cản thuế quan là rào cản “truyền thống” sử dụng các biện pháp thuế mà chủ yếu là sử dụng mức thuế cao đánh vào hàng hoá nhập khẩu WTO thừa nhận và cho phép các nước thành viên được sử dụng rào cản thuế quan để bảo hộ, nhưng phải ràng buộc và giảm dần để đảm bảo minh bạch hoá và tự do hoá thương mại

Rào cản phi thuế là sử dụng các biện pháp phi thuế quan gây cản trở hoạt động thương mại Các biện pháp phi thuế như hạn chế định lượng, các biện pháp mang tính thủ tục hành chính, các biện pháp kỹ thuật…Các rào cản phi thuế như biện pháp hạn chế định lượng, biện pháp mang tính thủ tục hành chính, được coi là các biện pháp có tính võ võ đoán, không có

cơ sở khoa học, có tác dụng hạn chế thương mại rõ rệt, làm bóp méo thương mại tạo nên cạnh tranh không công bằng, không phù hợp với các quy định và định chế quốc tế, theo WTO phải được bãi bỏ, chỉ có rào cản kỹ thuật thương mại được phép tồn tại và phải tuân thủ theo quy định của hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại

Cho đến nay, rào cản kỹ thuật thương mại, ngày càng được gia tăng sử dụng, được coi là công cụ bảo hộ mậu dịch hiệu quả và hoàn toàn phù hợp với xu hướng chung của thương mại quốc tế và thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà kinh tế và tổ chức kinh tế trên thế giới Trong một nghiên cứu của mình, các nhà kinh tế học Thornsbusy, Robert và Deremer đã đưa

ra khái niệm về rào cản kỹ thuật thương mại: “Rào cản kỹ thuật thương mại là tất cả các quy định kỹ thuật, các tiêu chuẩn khác nhau trên thế giới, quy định cho sản phẩm liên quan đến tất cả các quá trình từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng một sản phẩm nhằm mục đích ngăn chặn hàng hoá từ nước khác xâm nhập thị trường trong nước”

Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của WTO cũng không đưa ra khái niệm

về hàng rào kỹ thuật, mà chỉ thừa nhận rằng các nước có thể sử dụng các biện pháp cần thiết (bao gồm các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn) để đảm bảo cuộc sống hay sức khoẻ con người, động thực vật, bảo vệ môi trường hoặc để ngăn ngừa các hoạt động man trá ở mức độ cần thiết và không được tạo ra các hạn chế trá hình đối với hoạt động thương mại quốc tế

Trang 2

Vậy rào cản kỹ thuật bao gồm tất cả các quy định kỹ thuật, quy định cho sản phẩm, cho quá trình sản xuất sản phẩm cho bao bì và các quá trình liên quan nhằm bảo vệ cuộc sống hay sức khoẻ con người, động thực vật, bảo vệ môi trường hoặc để ngăn ngừa các hoạt động man trá và gây hạn chế thương mại quốc tế

Hàng rào kỹ thuật về môi trường (hay gọi cách khác là "rào cản xanh"), theo Trung tâm nghiên cứu APEC: "Hàng rào kỹ thuật về môi trường được định nghĩa như là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy định môi trường chặt chẽ tác động đến thương mại; các biện pháp thương mại phân biệt đối xử đặt ra vì những mục đích bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; các hạn chế thương mại đơn phương; các biện pháp thâm nhập thị trường với điều kiện chấp nhận các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường; các hạn chế thương mại đặt ra theo quy tắc MEAs"

Như vậy hàng rào kỹ thuật môi trường là một dạng rào cản kỹ thuật trong thương mại Tuy nhiên chưa có một khái niệm chính thống, nhưng rào cản thương mại môi trường được hiểu là tất cả các quy định kỹ thuật, các tiêu chuẩn quy định cho sản phẩm, bao bì và ghi nhãn sản phẩm, các quá trình liên quan đến sản phẩm từ sản xuất đến phân phối tiêu dùng nhằm trực tiếp hay gián tiếp đảm bảo môi trường và gây cản trở đối với thương mại quốc tế

 Sự hình thành hàng rào kỹ thuật môi trường trong thương mại quốc tế

Ngày nay, cùng với sự phát triển thương mại, các quốc gia đều rất quan tâm đến mục tiêu bảo vệ môi trường, nhưng mức độ quan tâm và biện pháp đưa ra nhằm bảo vệ môi trường cũng rất khác nhau Các quy định này có thể liên quan trực tiếp đến bảo vệ môi trường như các quy định nhằm bảo vệ môi trường nước, môi trường đất, môi trường không khí, bảo vệ tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên nước, bảo vệ cuộc sống và an toàn của các loại động, thực vật…Các quy định có liên quan gián tiếp đến môi trường nhưng liên quan trực tiếp đến bảo vệ an toàn thực phẩm như quy định về hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật có trong các hàng nông sản, quy định về kiểm tra thú y, quy định các chất phụ gia trong thực phẩm, quy định về danh mục hoá chất được phép dùng, bị cấm trong nuôi trồng, sản xuất chế biến thuỷ sản…Chính vì vậy mà các quy định về môi trường cũng có sự khác nhau và trở thành hàng rào trong thương mại quốc tế

Trong khuôn khổ của WTO, tổ chức chi phối trên 95% thương mại toàn cầu, quan điểm phát triển thương mại hàng hoá dịch vụ trên thế giới phát triển, nhưng phải trên cơ sở bảo vệ

an toàn và sức khoẻ của con người và môi trường, chứ không phải phát triển thương mại với mọi giá Và chỉ trên cơ sở bảo vệ môi trường mới có thể phát triển bền vững, ổn định cho sản xuất, thương mại và bảo vệ được sức khoẻ của con người Bảo vệ nguồn nước không bị ô nhiễm là tạo điều kiện để phát triển ngành thuỷ sản và bảo vệ sức khoẻ của con người Bảo

vệ rừng không những tạo điều kiện để phát triển nông lâm nghiệp, hạn chế lũ lụt, tạo cảnh quang thiên nhiên và môi trường sinh thái Bảo vệ môi trường ngày càng được nhiều nước và cộng đồng quốc tế quan tâm vì chính mục tiêu là bảo vệ trái đất, bảo vệ con người chúng ta Bảo vệ môi trường trở thành khách quan và là một sự đòi hỏi cấp thiết của tất cả các nước và cộng đồng quốc tế Các nước và các tổ chức quốc tế ngày càng đưa ra các quy định có tính ngặt nghèo hơn nhằm bảo vệ môi trường Ngoài ra một số nước còn “lợi dụng” sự hợp pháp

Trang 3

của các quy định về môi trường đưa ra các quy định cao hơn sự cần thiết nhằm mục đích bảo

hộ mậu dịch trong nước

4.2 Nh n tố t c n n v ệc dụn h n thuật t ờn t n th n uốc t

4.2.1 Các nh n t th c đ y việc áp dụng các hàng rào ỹ thuật m i tr ng

Khi xem xét về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi các điều khoản môi trường trong các thương mại quốc tế có thể bao gồm nhóm các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc đàm phán các vấn đề môi trường liên quan đến thương mại, nhóm các yếu tố còn lại như chính trị

xã hội như các yếu tố khác liên quan đến mối quan tâm của cộng đồng, các tổ chức và doanh nghiệp Việc đưa vào các điều khoản về môi trường trong thương mại có thể gây ra tranh cãi Đối với một số người, việc bao gồm các điều khoản về môi trường mang lại tiềm năng chưa tương xứng cho mục tiêu bảo vệ môi trường thực tế Tuy nhiên, các nhà phê bình về thương mại thường coi những hàng rào kỹ thuật môi trường này được đưa vào các thỏa thuận thương mại hiện đại để làm cho chúng ít gây tranh cãi hơn trong mắt công chúng và các nhà lập pháp Đối với các nhà phê bình khác, họ đại diện cho một công cụ của "chủ nghĩa bảo hộ xanh" nhằm giữ các sản phẩm rẻ hơn của các nước đang phát triển không có mặt trên thị trường

Trong nghiên cứu của OECD mà cụ thể là Ủy ban Thương mại và môi trường đã chỉ ra các yếu tố chính ảnh hưởng xu hướng việc tăng cường áp dụng các rào cản môi trường trong thương mại quốc tế, cụ thể có các yếu tố sau:

 Nhóm yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực thi của các quốc gia như:

- Cam kết duy trì luật môi trường, và không làm suy yếu vì mục đích thu hút thương mại

- Thúc đẩy phát triển thương mại bền vững toàn cầu

- Đảm bảo rằng tự do hóa thương mại không gây tổn hại và đóng góp tích cực vào bảo

vệ môi trường

- Chính sách nhất quán giữa các mục tiêu môi trường và thương mại

- Xúc tiến thương mại hàng hóa và dịch vụ môi trường

- Thúc đẩy quản trị tốt hơn về môi trường ở các nước đối tác

- Sử dụng các biện pháp thương mại để đạt được mục tiêu chính sách môi trường

- Giảm thiểu mọi tác động tiêu cực của luật môi trường đối với tự do hóa thương mại

- Hợp tác nghiên cứu môi trường

- Giảm thiểu và tăng cường các hoạt động đánh giá tác động môi trường

 Một số yếu tố xã hội:

- Áp lực từ các tổ chức xã hội (các tổ chức phi chính phủ về môi trường, cộng đồng)

- Áp lực của khu vực tư nhân

- Mức độ quan tâm của công chúng và các tổ chức xã hội

 Thêm vào đó có các yếu tố liên quan đến nhiệm vụ về chính trị:

- Sự xác nhận / hỗ trợ từ nguyên thủ quốc gia

- Sự chứng thực của Nghị viện (Quốc hội) hoặc tương đương

- Quyền hạn chính trị ở các nước đối tác

- Tình trạng hiệp ước ràng buộc pháp lý

Trang 4

- Xu hường tăng cường công nhận về sự tương tác giữa các khía cạnh thương mại và môi trường, và sự hỗ trợ lẫn nhau của hai khu vực;

- Tư duy mới về những cách hiệu quả hơn để đạt được chính sách thương mại và môi trường trong việc thực hiện các mục tiêu;

- Ngày càng có nhiều quốc gia tham gia các FTAs gồm các điều khoản toàn diện về môi trường

Trang 5

- Tăng trưởng xanh, phát triển bền vững có khả năng được giải quyết trong RTAs trong tương lai hoặc cập nhật các RTAs hiện có;

- Tập trung mạnh mẽ vào các khía cạnh ngành như đa dạng sinh học, thủy sản, gỗ, động vật hoang dã, năng lượng tái tạo, biến đổi khí hậu, dán nhãn môi trường

- Tăng cường quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản các ngành nghề khác;

- Tăng cường chế tài xử lý về hành vi hủy hoại môi trường (Ví dụ bất hợp pháp, không được kiểm soát và đánh cá không báo cáo);

- Cải cách các khoản trợ cấp có hại cho môi trường (Ví dụ thủy sản, nhiên liệu hóa thạch);

- Các vấn đề có thể không liên quan đến sản phẩm và phương pháp sản xuất, vòng đời các biện pháp carbon biên giới (ETS);

- Tăng cường các hoạt động thương mại và công nghiệp thân thiện với môi trường để phát triển bền vững;

- Tăng cường sự tham gia của cộng đồng, bao gồm các vấn đề như sự minh bạch, cao nhận thức và giáo dục về môi trường;

- Phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ trong các RTAs, và để xác định danh sách hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia;

- Tăng cường thử nghiệm các phương pháp tiếp cận để cải thiện sự phối hợp giữa các quốc gia cùng quan điểm phải đối mặt với các RTA / FTA đang gia tăng nhanh chóng (Ví dụ để giải quyết các nguồn lực hạn chế để thực hiện các nghĩa vụ, các mục tiêu, các chính sách khác nhau);

- Tăng cường sử dụng các đánh giá trước về các tác động kinh tế và môi trường của thương mại các hiệp định thông báo chính sách thương mại và môi trường và các nhiệm vụ đàm phán

4.2.2 Ảnh h ởng c a việc áp dụng các hàng rào ỹ thuật m i tr ng

Trang 6

Mặc dù, thương mại quốc tế, như đã được chứng minh bằng nguyên tắc “lợi thế so sánh”,

sẽ khiến năng suất lao động và sản lượng kinh tế ở từng quốc gia và toàn cầu tăng lên Tuy nhiên, sẽ là phiến diện nếu bỏ qua những tác động môi trường mà tự do hóa thương mại mang lại, bởi vì nếu như nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng mà môi trường toàn cầu bị hủy hoại, thì sự gia tăng sản lượng này không những không làm tăng chất lượng cuộc sống của người dân (vì họ mặc dù có nhiều của cải hơn song lại phải chịu đựng tác hại, bệnh tật của môi trường bị ô nhiễm) mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế trong dài hạn để đánh đổi lấy sự gia tăng sản lượng trước mắt Theo các nhà kinh tế học hiện đại, có 03 tác động chính của thương mại đối với môi trường Đó là “tác động quy mô” (scale effect), “tác động kĩ thuật” (technique effect) và “tác động thành phần” (composition effect) “Tác động quy mô”

là tác động của tư do thương mại lên môi trương xuất phát từ sản lượng tăng thêm của sản xuất của thương mại khiến cho quy mô các tác động lên môi trường vốn có của các hoạt động kinh tế

Các hoạt động kinh tế, tự bản thân nó, đã tác động tới môi trường theo hai hướng: việc khai thác, sử dụng tài nguyên và việc xả các chất thải ra môi trường Tác động trực tiếp nhất đến từ việc sử dụng tài nguyên Trái đất chỉ có một lượng tài nguyên hữu hạn Những nguồn tài nguyên thiên nhiên này gồm nhiều loại, từ những loại tương đối dồi dào đến những loại cực kì quý hiếm, từ những loại có thể tái tạo đến những loại không thể tái tạo

Những sản phẩm thải của quá trình sản xuất công nghiệp là một tác nhân tác động khác của các hoạt động kinh tế lên môi trường Rất nhiều sản phẩm thải của quá trình sản xuất có hại tới môi trường Sự phát triển của thương mại sẽ khiến sản lượng toàn cầu tăng lên và do

đó, con người sẽ phải sử dụng nhiều hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn của trái đất để làm nguyên liệu đầu vào cho các hoạt động sản xuất và phải xả ra môi trường một lượng lớn hơn các chất thải nguy hại từ quá trính sản xuất các sản phẩm, hàng hóa Đây chính là “tác động quy mô” của tự do hóa thương mại lên môi trường Như vậy, trong tình huống này, các chính phủ có hai lựa chọn: không chấp nhận tự do hóa thương mại để bảo vệ môi trường hoặc áp dụng các “hàng rào kĩ thuật xanh”

Giải pháp đầu tiên không khả thi bởi những lợi ích kinh tế mà tự do hóa thương mại mang lại như đã được chứng minh ở trên Trong khi đó, giải pháp thứ hai là “áp dụng hàng rào kĩ thuật xanh” vừa tạo sự linh hoạt trong chính sách (chính phủ có thể điều chỉnh nâng cao, hạ thấp hàng rào này trong từng thời kỳ, từng lĩnh vực phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mình) lại vừa là công cụ hữu hiệu để bảo vệ môi trường “Tác động kĩ thuật” là tác động gián tiếp của tự do thương mại lên môi trường Tự do thương mại dẫn đến thu nhập và mức sống của thế giới được cải thiện Mức sống được cải thiện sẽ đồng biến với nhu cầu cao hơn về việc được sống trong một môi trường trong lành của người dân và từ dẫn đến các quy phạm về bảo vệ môi trường do Nhà nước ban hành trở lên khắt khe hơn “Tác động kĩ thuật” chính là việc các hãng sản xuất phải đổi mới kĩ thuật, phương pháp sản xuất

để đáp ứng được nhu cầu môi trường trong lành được đẩy lên tầm cao mới của xã hội

Như vậy, tự do hóa thương mại sẽ tác động có lợi cho môi trường theo hướng làm gia tăng thu nhập của người dân và toàn xã hội, từ đó gián tiếp làm tăng lên các tiêu chuẩn về môi trường, thúc đẩy sử cải tiến kĩ thuật để bảo vệ môi trường Chính việc toàn xã hội đặt ra

Trang 7

yêu cầu bảo vệ cao hơn đối với các sản phẩm, hàng hóa về vấn đề bảo vệ môi trường là một trong những nguyên nhân hình thành nên các tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật về môi trường Chẳng hạn như do cộng đồng nhận thức được tính nghiêm trọng của vấn đề suy giảm tầng ô-zôn mà một số nước như Hoa Kỳ đã ban hành các tiêu chuẩn kĩ thuật cấm sản xuất và tiêu thụ tủ lạnh sản dụng công nghệ sản sinh khi CFC, tác nhân làm suy giảm tầng ô-zôn Tóm lại, mặc dù tự do hóa thương mại mang lại lợi ích to lớn về kinh tế; tác động hai chiều của nó tới môi trường là không thể phủ nhận

Do vậy, việc áp dụng các Hàng rào kĩ thuật về môi trường có thể giúp các quốc gia giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động tiêu cực của tự do hóa thương mại dối với môi trường trong khi vẫn đảm bảo gặt hái được thành quả kinh tế mà tự do hóa thương mại đem lại

Ví dụ: Theo các quy định của WTO rõ ràng cho phép các nước dựng lên các rào cản thương mại vì lý do môi trường (ETB) WTO cũng đã cố gắng nghiên cứu để trả lời các câu hỏi cụ thể: Các hàng rào kỹ thuật môi trường như vậy được áp dụng rộng rãi như thế nào, đối với những sản phẩm nào và tác dụng của chúng là gì? Trong số 4.917 sản phẩm mà WTO đã kiểm tra trong thương mại thế giới, WTO tìm thấy 1.171 sản phẩm không phải đối mặt với bất kỳ ETB nào 3.746 sản phẩm khác - gặp phải rào cản ở ít nhất một quốc gia nhập khẩu - chiếm 88% thương mại hàng hóa thế giới (tức là không bao gồm dịch vụ) vào năm 1999 Như vậy, với nghiên cứu của WTO thể nói rằng phần lớn thương mại quốc tế bao gồm các sản phẩm có khả năng bị ảnh hưởng bởi ETB

Tuy nhiên, con số 88% sản phẩm được giao dịch quốc tế trực tiếp đối mặt ETB cần có cách nhìn khác nếu nhìn vào con số thương mại bị ảnh hưởng trực tiếp bởi ETBs là 679 tỷ USD – tương đương 13% thương mại thế giới Điều đó cũng giải thích phần lớn các sản phẩm trong 3.746 sản phẩm WTO nghiên cứu có đến 86% giá trị hàng xuất khẩu thế giới đã vượt qua những rào cản này Điều đó có nghĩa là các nhà xuất khẩu tập trung các lô hàng của

họ vào các thị trường không bị hạn chế, hoặc tuân thủ ít nhất các ETB đặt ra

4.3 Thị t ờn ch u Âu

Chính sách môi trường của EU dựa trên các hiệp ước toàn cầu, đặc biệt dựa trên Chương trình nghị sự 21của Hiệp định Rio de Janerio, Hội nghị Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển được tổ chức năm 1992 tại Braxin Đây là hiệp định nền móng tạo sự phát triển bền vững hơn trên phạm vi toàn cầu, đảm bảo sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường EU và các nước thành viên đó cam kết thực hiện hành động trong khuôn khổ Hiệp định Rio

Quy định về môi trường của EU đối với hàng hoá nằm trong hệ thống văn bản pháp luật

về sản phẩm môi trường, nhằm mục đích bảo vệ sức khoẻ con người và môi trường sinh thái

EU được coi là một thị trường "khó tính" bao gồm rất nhiều các quy định khắt khe có liên quan đến hàng rào kỹ thuật và môi trường

4.3.1 Các quy định v sản ph m và quá tr nh sản uất

Hệ thống quy định và tiêu chuẩn đối với sản phẩm của EU rất phức tạp và nghiêm ngặt, đặc biệt đối với thực phẩm Có thể nói hiện nay hệ thống tiêu chuẩn và quy định của EU so

Trang 8

với nhiều nước trên thế giới là hoàn chỉnh hơn cả, điều này thể hiện trong thực tế là nhu cầu của người tiêu dùng ở EU về những sản phẩm sạch và an toàn rất cao Một số tiêu chuẩn bảo đảm môi trường và VSATTP của EU bao gồm:

 Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn HACCP

Hệ thống quy định HACCP (viết tắt của chữ Hazard Analysis and Critical Control Point System), nghĩa là “Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn” hay “Hệ thống phân tích, xác định và tổ chức kiểm soát các mối nguy trọng yếu trong quá trình sản xuất và chế biến thực phẩm” HACCP là sự tiếp cận có tính khoa học, hợp lý và hệ thống để nhận biết, xác định và kiểm soát mối nguy trong chế tạo, gia công, sản xuất, chuẩn bị và sử dụng thực phẩm nhằm bảo đảm thực phẩm là an toàn khi tiêu dùng Ví dụ, việc áp dụng hệ thống HACCP trong dây chuyền thực phẩm sẽ bắt đầu từ nông trường và kết thúc bằng việc chuẩn

bị thực phẩm riêng biệt hoặc ở khách sạn hoặc ở nhà

Quy định HACCP được đặc biệt coi trọng đối với các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển khi xuất khẩu vào thị trường EU, bởi nếu không thực hiện quy định HACCP sẽ không thể xuất được hàng của mình sang thị trường này Chẳng hạn, trong ngành thủy sản các nhà sản xuất buộc phải tuân thủ chỉ thị 91/492/EEC (ngụ ý họ phải thực hiện hệ thống HACCP) để được phép xuất khẩu vào EU Một viện kiểm tra được điều hành bởi Ủy ban châu Âu sẽ tiến hành thanh tra các công ty xin cấp phép, chỉ khi qua được khâu kiểm tra này thì các công ty mới chính thức được công nhận và có tên trong “danh sách giới hạn” để được phép nhập khẩu

Quy định EC số 1333/2008 quy định danh sách và điệu kiện sử dụng của các chất được phép sử dụng làm phụ gia thực phẩm, enzyme thực phẩm, hương liệu thực phẩm và chất dinh dưỡng Danh mục này có thể được cập nhật với quy định EC 1331/2008 để thiết lập một số thủ tục chung với chất phụ gia thực phẩm, enzyme thực phẩm và các hương liệu thực phẩm Ngày 22 tháng 5 năm 2017, Ủy ban Châu Âu đã ban hành Quy định EU 2017/874 sửa đổi phụ lục III trong EC số 1333/2008 về việc sử dụng butane (E943a), isobutene (E 943b), và propane (E944) trong màu

Trang 9

Ngoài ra EU còn có các luật khác điều chỉnh về mức độ tối đa của thuốc trừ sâu không phân huỷ, kim loại nặng, nhiễm độc và vi phóng xạ Nếu những sản phẩm nào vi phạm sẽ bị tạm dừng nhập khẩu, trả lại hàng hoặc tiêu huỷ lô hàng

 Quy định truy nguyên nguồn gốc

Trong những năm gần đây, do một số dịch bệnh bắt nguồn từ gia súc và gia cầm đã lây lan nhanh chóng trên quy mô toàn cầu, nên Mỹ và châu Âu đã ban hành các luật về VSATTP, trong đó có các quy định về việc các doanh nghiệp cung ứng hàng vào Mỹ và châu

Âu phải thực hiện ghi và cung cấp dữ liệu sao cho có thể truy nguyên được nguồn gốc của sản phẩm khi có vấn đề về VSATTP

Tổ chức quốc tế EAN.UCC (do Hội đồng mã thống nhất của Mỹ UCC hợp nhất với Hội

mã số vật phẩm châu Âu EAN) đã phối hợp với ủy ban tiêu chuẩn châu Âu và các tổ chức liên quan nghiên cứu và áp dụng, thống nhất một giải pháp công nghệ chung cho việc truy nguyên nguồn gốc thực phẩm trong chuỗi cung ứng toàn cầu, đó là hệ thống tiêu chuẩn EAN.UCC Một trong nguyên tắc chung của truy nguyên thực phẩm là tất cả các bên tham gia chuỗi cung ứng đều áp dụng các tiêu chuẩn chung cho truy nguyên thực phẩm, từng ngành có thể quy định hoặc xây dựng tiêu chuẩn đặc thù áp dụng cho ngành đó Ví dụ, tổ chức EAN.UCC đưa ra mã số GS1 là một dãy chữ số nguyên, trong đó có các nhóm số để chứng minh về xuất xứ hàng hóa với đầy đủ và tin cậy các thông tin: đây là sản phẩm gì? do công ty nào xuất? công ty đó thuộc quốc gia nào? Do cách đánh số như vậy, mỗi loại hàng hóa sẽ có dãy số duy nhất để nhận dạng đơn nhất trên toàn thế giới Đây là một cấu trúc mã

số tiêu chuẩn dùng để nhận dạng sản phẩm hàng hóa theo các quốc gia (vùng) khác nhau, tương tự như mã số điện thoại để liên lạc quốc tế

4.3.2 Ti u chu n bao g i, dán nhãn và nhãn sinh thái

 Tiêu chuẩn bao gói và dán nhãn

EU đưa ra các quy định chặt chẽ về vấn đề quản lý bao bì và phế thải như Chỉ thị 93/67/EEC, Chỉ thị 97/138/EEC, Chỉ thị 1999/177/EEC, Chỉ thị 94/62/EEC với bản sửa đổi

là Chỉ thị 2004/12/EC đã nhán mạnh tầm quan trọng của việc tái chế, tái sử dụng bao bì phế thải Các quy định này được áp dụng cho cả hàng sản xuất trong nước và nhập khẩu

Các quy định về bao bì và phế thải bao bì nhằm mục đích hạn chế tối thiểu lượng phế thải bao bì từ nguồn rác thải sinh hoạt để bảo vệ môi trường sinh thái Các thành viên của EU trừ Ailen, Bồ đào nha, Hy lạp đã nhất trí phấn đấu mức tái sử dụng 50-65% lượng rác thải từ bao

Ủy ban châu Âu đang dự định sửa đổi các quy định về vật liệu đóng gói thực phẩm với mục đích giới thiệu các vật liệu bao gói thông minh có tính kích hoạt và khả năng tăng thời hạn sử dụng, dễ theo dõi chất lượng thực phẩm Phần bổ sung của những quy định là các yêu cầu về khả năng truy nguyên, theo đó các vật liệu tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm phải được nêu ra ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất và phân phối Vật liệu bao gói có tính kích hoạt có thể tương tác với thực phẩm để giảm lượng ôxy và tăng hương vị, cũng như khả năng bảo quản Một số loại bao gói có thể hấp thụ khí gas hay độ ẩm sinh ra trong quá trình thực phẩm chín tự nhiên, do đó, làm giảm nguy cơ thực phẩm bị nhiễm độc và giữ cho hương vị của sản phẩm tồn tại lâu hơn Các vật liệu bao gói thông minh còn có khả năng biến đổi màu

Trang 10

sắc giúp người tiêu dùng nhận biết được sản phẩm còn tươi hay đã hỏng Ngoài ra, các chỉ dẫn về độ tươi của sản phẩm cũng được gắn trong bao gói nhằm cung cấp trực tiếp thông tin

về chất lượng vi sinh của thực phẩm Quy định của EU không cho phép sử dụng các vật liệu bao gói có phản ứng với thực phẩm cho dù những thay đổi này là có lợi EU cũng ban hành danh sách những vật liệu plastic có thể dùng làm bao bì

Chỉ thị quy định quá trình sản xuất bao bì phải tuân thủ các quy định sau:

- Bao bì phải được sản xuất sao cho thể tích và khối lượng giới hạn ở mức tối thiểu nhằm duy trì mức an toàn, vệ sinh cần thiết đối với sản phẩm có bao bì

- Bao bì phải được thiết kế, sản xuất buôn bán theo cách thức cho phép tái sử dụng hay thu hồi, bao gồm tái chế và hạn chế đến mức thấp nhất tác động đói với môi trường khi chất phế thải bao bì bỏ đi

- Bao bì phải được sản xuất theo cách có thể hạn chế tối đa sự có mặt của nguyên liệu

và chất độc hại do sự phát xạ, tro tàn khi đốt cháy hay chôn bai bì, chất cạn bã

- Đối với bao bì tái sử dụng, ngoài việc tuân thủ các quy định trên, còn phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Tính chất vật lý và các đặc trưng của bao bì phải được phép sử dụng một số lần nhất định trong điều kiện sử dụng được dự đoán trước là bình thường

- Quá trình sản xuất bao bì phải đảm bảo sức khoẻ và an toàn cho người lao động

- Phải đáp ứng các yêu cầu đặc biệt về thu hồi bao bì khi bao bì không được tái sử dụng

và trở thành rác thải

- Bao bì thu hồi ở dạng vật liệu tái sử dụng được thì phải được sản xuất để nó có thể chiếm một tỷ lệ phần trăm khối lượng vật liệu có thể dùng vào việc sản xuất các sản phẩm

có thể bán được phù hợp với các quy định của EU

- Loại bao bì thu hồi dạng phế phẩm năng lượng phải thu hồi tối thiểu lượng calo cho phép

- Phải tái chế đạt 50-65% rác bao bì tính bằng số nguyên liệu tái chế hay đốt để thu năng lượng

- Loại bao bì không thể tái sử dụng phải đem đốt thì phải đảm bảo là không ảnh hưởng môi trường bởi các khí độc thải ra

Mức giới hạn đối với một số hoá chất dùng trong sản xuất bao bì thể hiện trong bảng Quy định về bao bì và phế thải bao bì là biện pháp hữu hiệu được áp dụng phổ biến ở châu Âu trong những năm gần đây Các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu và tuân thủ các quy định để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU

Mức giới hạn đối với các hoá chất trong sản xuất bao bì S

Trang 11

12 Bao bì bằng gỗ rừng không tái chế cấm

Nguồn: Chỉ thị 94/62/EEC về bao bì và phế thải bao bì, www.cbi.nl

 Nhãn sinh thái (Eco label)

Nhãn sinh thái (hay còn gọi là nhãn xanh, nhãn môi trường) là các nhãn mác của sản phẩm, dịch vụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng về sự thân thiện với môi trường hơn so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại Nhãn sinh thái gồm 3 loại:

a) Nhãn kiểu I là nhãn được chứng nhận, cấp cho sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất; b) Nhãn kiểu II là nhãn tự công bố, do các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu và doanh nghiệp phân phối đưa ra dựa trên kết quả tự đánh giá hoặc đánh giá của bên thứ ba;

c) Nhãn kiểu III là nhãn tự nguyện của doanh nghiệp sản xuất và cung ứng cho người tiêu dùng theo chương trình tự nguyện của ngành kinh tế và các tổ chức kinh tế đề xuất

Ngay từ tháng 12/1991, Hội đồng Bộ trưởng Môi trường của EU đã thông qua chương trình cấp nhãn hiệu sinh thái EU theo quyết định số 880/92 để thúc đẩy việc thết kế, sản xuất, bán và sử dụng sản phẩm xanh Nhãn hiệu sinh thái được cấp cho những hàng hóa không bao gồm thực phẩm, đồ uống và dược phẩm Hiện nay có 14 nhóm sản phẩm nằm trong phạm vi chương trình nhãn hiệu sinh thái của EU, bao gồm: bột giặt, bóng điện, máy giặt, giấy copy,

tủ lạnh, giày dép, máy tính cá nhân, giấy ăn, máy rửa bát, máy làm màu đất, nệm trải giường, sơn và vecni, sản phẩm dệt và nước rửa bát

Theo Văn phòng Sản xuất và tiêu dùng bền vững - Bộ Công Thương, các sản phẩm mang nhãn sinh thái có khả năng thu hút hơn 450 triệu người tiêu dùng tại khu vực Châu Âu Nhãn sinh thái của Châu Âu được xây dựng từ năm 1992 có biểu tượng là một bông hoa Mục tiêu của nhãn bông hoa giúp cho người tiêu dùng có thể xác định sản phẩm đã được kiểm tra nghiêm ngặt, đảm bảo chất lượng tốt, giảm tác động của sản phẩm đến môi trường

từ quá trình sản xuất đến quá trình loại bỏ sản phẩm Bên cạnh nhãn bông hoa, một số loại nhãn sinh thái khác (khác về hình thức và tên gọi) cũng được sử dụng phổ biến tại khu vực Châu Âu là: nhãn Thiên nga trắng tại khu vực Bắc Âu, nhãn Thiên thần xanh tại Đức… Nhãn sinh thái Bắc Âu - Thiên nga Bắc Âu - là Nhãn sinh thái chính thức của các nước Bắc Âu và được xây dựng vào năm 1989 bởi Hội đồng các Bộ trưởng Bắc Âu với mục đích

Trang 12

đưa ra một chương trình ghi nhãn môi trường góp phần vào việc tiêu dùng bền vững Đây là chương trình mang tính tự nguyện và bao gồm nhiều sản phẩm và dịch vụ Nhãn sinh thái Bắc Âu cũng được khởi xướng như là công cụ thực tế cho người tiêu dùng nhằm giúp họ lựa chọn một cách tích cực các sản phẩm lành mạnh về môi trường Đây là hệ thống ghi nhãn sinh thái loại 1 của ISO 14024, đòi hỏi sự tham gia của cơ quan kiểm soát thuộc bên thứ ba

Thiên nga Bắc Âu và Nhãn sinh thái EU đều là những chương trình ghi nhãn sinh thái dựa trên cách tiếp cận đa tiêu chí và theo vòng đời Vì thế, để đáp ứng yêu cầu về thủ tục cấp các loại nhãn này thì kiểm soát thành phẩm thôi vẫn chưa đủ mà phải kiểm soát toàn diện hơn Đây là một trong những lý do khiến những tiêu chuẩn này được xem là tốn kém hơn Thiên thần xanh ở Đức là một công cụ chính sách môi trường phù hợp hơn với thị trường nhằm xác định các đặc điểm tích cực về môi trường của sản phẩm và dịch vụ Ngày nay, khoảng 11.700 sản phẩm và dịch vụ trong số 120 nhóm sản phẩm mang nhãn Thiên thần xanh Giống như Thiên nga Bắc Âu và Nhãn sinh thái châu Âu, Thiên thần xanh là nhãn loại

1 dựa trên vòng đời của sản phẩm

Dấu xác nhận tiêu chuẩn đối với các sản phẩm thân thiện đối với môi trường hoặc nhãn sản phẩm rau quả sản xuất hữu cơ cũng có thể được coi là nhãn sinh thái Một dấu xác nhận tiêu chuẩn chỉ ra rằng sản phẩm (bao gồm toàn bộ quá trình sản xuất sản phẩm) có ít tác động đối với môi trường so với những sản phẩm tương tự khác Các tiêu chuẩn của EU về sản xuất

và dán nhãn thực phẩm hữu cơ nằm trong Quy định EC/2092/91 Các nhà cung cấp ở nước thứ ba muốn xuất khẩu rau quả sản xuất hữu cơ cũng như dán nhãn sinh thái phải đáp ứng tất

cả các quy định được ghi rõ trong Quy định EC/2092/91 Để chứng minh sự tuân thủ, nhà kinh doanh thực phẩm phải đăng ký với một cơ quan chứng nhận hữu cơ được EU chấp nhận

và thực thi một kế hoạch chứng nhận hữu cơ kết hợp với sự xác minh độc lập về sự tuân thủ trên cơ sở hằng năm

Một số nước đã chứng minh thành công với EU rằng họ có hệ thống kiểm soát sản xuất hữu cơ quốc gia tương đương và do đó việc nhập khẩu tự do các sản phẩm hữu cơ từ những nước này được cho phép Các nhà kinh doanh cá thể ở hầu hết các quốc gia chưa chứng minh được có các hệ thống quốc gia tương đương về sản xuất hữu cơ yêu cầu phải có sự chấp nhận trước về xuất khẩu và một giấy chứng nhận nhập khẩu (được ban hành bởi một cơ quan quốc gia hoặc quốc tế được EU công nhận) kèm theo mọi lô hàng Chi tiết về giấy chứng nhận

Trang 13

nhập khẩu và thủ tục xuất khẩu sản phẩm hữu cơ sang thị trường EU được đưa ra trong Quy định EC/1788/2001

4.3.3 Các hàng rào ỹ thuật m i tr ng hác

 Quy trình thực hành canh tác nông nghiệp tốt (GAP)

Quy trình thực hành canh tác nông nghiệp tốt GAP (viết tắt của chữ Good Agricultural Practices) Đây là những nguyên tắc được thiết lập nhằm bảo đảm một môi trường sản xuất

an toàn, sạch sẽ, thực phẩm phải bảo đảm không chứa các tác nhân gây bệnh như chất độc sinh học (vi khuẩn, nấm, virus, ký sinh trùng) và hóa chất (dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, hàm lượng nitrat), đồng thời sản phẩm phải bảo đảm an toàn từ ngoài đồng đến khi sử dụng GAP bao gồm việc sản xuất theo hướng lựa chọn địa điểm, sử dụng đất đai, phân bón, phòng trừ sâu bệnh hại, thu hái, đóng gói, tồn trữ, vệ sinh đồng ruộng, vận chuyển sản phẩm nhằm phát triển nông nghiệp bền vững với mục đích bảo đảm an toàn thực phẩm,

an toàn cho người sản xuất, bảo vệ môi trường, truy nguyên được nguồn gốc sản phẩm Hiện nay, nhiều nhà sản xuất và xuất khẩu hoa quả và rau tươi nếu muốn cung cấp cho các dây chuyền siêu thị ở châu Âu sẽ phải chứng minh rằng sản phẩm của họ được sản xuất theo quy trình GAP và nhiều quốc gia, khu vực sẽ xây dựng GAP của mình theo chuẩn mực quốc tế khi sản xuất rau quả tươi

EuropGAP (Europ Good Agricultural Practice) EuropGAP là thực hành nông nghiệp tốt

ở Châu Âu, xuất hiện đầu tiên vào năm 1997 và được áp dụng cho các nhóm cây thực phẩm như rau, quả, thịt, cá, trứng, sữa… Đây là các loại thực phẩm dễ bị vi khuẩn tấn công gây hại Châu Âu bao gồm các nước có nền công, nông nghiệp phát triển, do vậy các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) được đặt ra khá chặt chẽ và nghiêm khắc Các chỉ tiêu về VSATTP đã được kiểm soát và được đánh giá rất cẩn thận Sự ra đời của EuropGAP là nhu cầu tất yếu để sản xuất nông nghiệp của khu vực châu Âu

Ngày 7 tháng 9 năm 2007, EuropGAP đã được đổi tên thành GlobalGAP (Global Good Agricultural Practice) áp dụng cho tất cả các nước trên toàn thế giới, điều đó phản ánh rõ phạm vi ảnh hưởng của EuropGAP trên toàn cầu

GlobalGAP là thực hành nông nghiệp tốt trên toàn cầu do một tổ chức tư nhân, một nhóm các siêu thị ở Châu Âu xây dựng Mục đích của GlobalGAP là làm tăng sự tin tưởng của khách hàng đối với thực phẩm an toàn, thông qua người sản xuất đã thực hành nông nghiệp tốt Trọng tâm của GlobalGAP là an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, bên cạnh đó cũng đề cập đến các vấn đề khác như an toàn về sức khỏe, phúc lợi cho người lao động và bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên địch có ích

GlobalGAP là một tiêu chuẩn về việc cấp chứng nhận cho các quá trình sản xuất từ khi hạt giống được gieo trồng đến khi sản phẩm được xuất khỏi trang trại Đây là một bộ tiêu chuẩn được xây dựng để áp dụng tự nguyện cho sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi

và thủy sản) trên toàn cầu Bộ tiêu chuẩn GlobalGAP là công cụ kết nối giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa nhà sản xuất với người cung ứng nông sản thực phẩm, vì thế nó

Trang 14

không hướng tới việc gắn nhãn trên sản phẩm dành cho người tiêu dùng, mà quan tâm tới sản lượng và địa điểm sản xuất

Cho đến nay GlobalGAP đã xây dựng được các tiêu chuẩn cho rau và trái cây, cây trồng xen, hoa và cây cảnh, cà phê, chè, thịt lợn, gia cầm, gia súc và cừu, bơ sữa và thủy sản (Cá Hồi) Điều đó có thể hiểu rằng EuropGAP khi được nhiều châu lục áp dụng thì trở thành GlobalGAP Như vậy nếu sản phẩm được công nhận theo tiêu chuẩn của EuropGAP thì rất

dễ dàng lưu hành ở mọi thị trường trên thế giới Về cơ bản EuropGAP và GlobalGAP không

có gì khác nhau, tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ khi áp dụng trong phạm vi GlobalGAP

Vì có thể nước Nhật hay nước Mỹ có một vài qui định khắt khe như về dư lượng thuốc hóa học, hoặc về khía cạnh tôn giáo, tập quán hay thói quen của một số tộc người hay quốc gia nào đó không phù hợp với tiêu chuẩn của EuropGAP, nhưng đó được nhận định chỉ là những tiêu chuẩn phụ

 Cơ chế kiểm toán và quản lý sinh thái (EMAS)

Luật Kế Hoạch Quản lý và Kiểm toán môi trường Châu Âu lần đầu tiên được Ủy Ban Châu Âu giới thiệu vào tháng 7/1993 có tính chất như là công cụ trong chính sách bảo vệ môi trường, với mục tiêu ban đầu là sự phát triển bền vững của toàn thể cộng đồng

Từ năm 1995, Cơ chế kiểm toán và quản lý sinh thái – EMAS được thiết lập EMAS là một công cụ quản lý cho các công ty và các tổ chức khác để đánh giá, báo cáo và cải thiện môi trường, hiệu quả hoạt động của họ Các chương trình đã có sẵn cho các công ty bằng cách tham gia từ năm 1995 và được giới hạn ban đầu cho các công ty trong ngành công nghiệp

Từ năm 2001, Các cơ quan chức năng bổ xung những quy định để phù hợp hơn với những yêu cầu của thời đại Theo đó, Ủy ban Châu Âu đã công bố Luật thông qua năm 2011(EC No 761/2001) EMAS II ra đời với nhiều điểm mới như được mở cho tất cả các ngành kinh tế, bao gồm cả các dịch vụ công cộng và tư nhân; Các tiêu chuẩn ISO 14001 có

sự thống nhất làm cho quá trình kiểm tra đánh giá đơn giản và không bị trùng lặp; Công nhận biểu tượng của EMAS là một sản phẩm hữu hình và là một tổ chức có chức năng kiểm duyệt

về tiêu chuẩn môi trường như các tổ chức kiểm tra khác; Yêu cầu sự can thiệp của người lao động trong các hoạt động của EMAS; Minh bạch hóa thông tin của tổ chức đăng ký về môi trường đối với cộng đồng; Xem xét triệt để các yếu tố gián tiếp (vốn đầu tư, quản lý, các quyết định lập kế hoạch…) đến vấn đề môi trường

Trong tháng 7/2008 Uỷ ban châu Âu đề nghị sửa đổi EMAS để tăng sự tham gia của các công ty và giảm bớt gánh nặng và chi phí hành chính, đặc biệt là cho các doanh nghiệp vừa

và nhỏ

EMAS III ra đời thể hiện sự hòa hợp với tiêu chuẩn EN/ ISO 14001 và các hệ thống quản

lý EMS khác, đồng nghĩa với việc coi tiêu chuẩn này và các hệ thống quản lý môi trường khác bước đầu đã đáp ứng theo yêu cầu của EMAS Để có chuyển đổi được từ các hệ thống EMS lên EMAS thì EMS hiện tại được coi là phù hợp với EMAS thì không cần chứng minh khi đăng ký EMAS nữa Thông qua việc xây dựng về hình ảnh về một hệ thống quản lý môi trường minh bạch, EMAS không chỉ là một công cụ khẳng định mạnh mẽ với bên ngoài về

Trang 15

hiệu quả công tác quản lý môi trường mà đây cũng chính là công cụ có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các quyết định lập kế hoạch, các quyết định hành chính và tài chính của chủ thể tham gia

4.4 Thị t ờn ch u M (M )

4.4.1 Các quy định v sản ph m và quá tr nh sản uất

 Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn HACCP

Cũng như thị trường EU, HACCP được coi là rào cản nói chung trong đó có vấn đề nói riêng mà các tổ chức xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ cần phải lưu ý đặc biệt đối với mặt hàng nông thủy sản

Ví dụ về HACCP đối với hàng thuỷ sản Tất cả các nhà chế biến thuỷ sản trong nước, tất

cả các nhà chế biến thuỷ sản nước ngoài muốn xuất khẩu vào Hoa Kỳ và tất cả các nhà nhập khẩu đều phải tuân thủ theo HACCP Các quy định bao gồm:

Phân tích mối nguy: Tất cả các nhà chế biến phải phân tích mối nguy để xác định các loại

mối nguy ảnh hưởng đến sự an toàn thực phẩm thường thấy ở mỗi loại thuỷ sản và sản phẩm thuỷ sản mà mình sản xuất và xác định các biện pháp phòng ngừa để có thể kiểm soát các mối nguy hại này Các mối nguy ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm có thể có nguồn gốc ở môi trường bên ngoài và cả bên trong xí nghiệp chế biến vào thời điểm trước, trong hay sau khi đánh bắt

Kế hoạch phân tích mối nguy tới hạn (Kế hoạch HACCP): Tại những nơi xác định có

mối nguy mỗi nhà chế biến phải xây dựng kế hoạch HACCP bằng văn bản cụ thể cho từng địa điểm và cho từng sản phẩm cụ thể với các nội dung:

Phải nhận diện các mối nguy hiểm đối với an toàn thực phẩm có nhiều khả năng xảy ra như: Độc tố tự nhiên; Nhiếm vi sinh; Nhiễm hoá chất; Thuốc trừ sâu; Dư lượng thuốc kháng

sinh (FDA quy định có 6 loại kháng sinh và một danh mục 18 thứ khác không phải kháng sinh được phép sử dựng trong nuôi trồng và chế biến thuỷ sản); Sự phân huỷ trong các loài sản sinh ra độc tố Scombroid hay bất kỳ loài nào khác có mối nguy đói với an toàn thực phẩm liên quan tới sự phân huỷ; Ký sinh trùng; Sử dụng trái phép các chất phụ gia hoặc phẩm mầu trực tiếp hay gián tiếp lên thực phẩm; Các môi nguy vật lý

 Nhận diện được các điểm kiểm soát tới hạn

 Xác định các giá trị tới hạn

 Quy trình giám sát các điểm tới hạn để đảm bảo sự tuân thủ của các điểm tới hạn

 Các kế hoach hành động sửa chữa

 Cung cấp các hồ sơ lưu trữ về việc gián sát các điểm tới hạn

Những quy định về giám sát vệ sinh: Các nhà chế biến phải giám sát và lưu trữ tài liệu về

8 khu vực vệ sinh như sau:

 Sự an toàn của nước tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm hoặc để làm đá

 Tình trạng và điều kiện vệ sinh của bề mặt tiếp xúc với thực phẩm bao gồm dụng cụ, găng tay và quần áo bảo hộ lao động…

Trang 16

 Phòng ngừa nhiễm chéo từ các vật thể mất vệ sinh sang thực phẩm

 Bảo dưỡng các thiết bị rửa và thiết bị vệ sinh

 Ngăn ngừa thực phẩm, bề mặt bao gói và bề mặt tiếp xúc khỏi bị lẫn lộn với các chất khác

 Việc dán nhãn, bảo quản và sử dụng các loại chất độc đúng quy cách

 Kiểm soát sức khoẻ của nhân viên

 Loại trừ động vật gây hại trong xí nghiệp thực phẩm

Những quy định đặc biệt về nhập khẩu thuỷ sản: Các nhà nhập khẩu phải thẩm tra sự tuân

thủ HACCP của các nhà cung cấp nước ngoài Có hai cách thẩm tra:

- Nhập khẩu sản phẩm từ nước có thoả thuận với Hoa Kỳ về chương trình thanh tra dựa trên HACCP tương đương

- Tiến hành các thủ tục thẩm tra với các nội dung:

 Các đặc tính kỹ thuật của sản phẩm về an toàn

 Các bước khảng định để đảm bảo HACCP được thực hiện thực sự, có thể

là một trong các bước sau:

 Thu thập từ nhà chế biến về hồ sơ HACCP và hồ sơ vệ sinh

 Tiếp nhận chứng chỉ của bên thứ ba xác nhận sản phẩm được chế biến đạt yêu cầu kỹ thuật

 Kiểm tra cơ sở chế biến để đảm bảo sản phẩm được chế biến theo đúng yêu cầu

 Nhận bản sao kế hoạch HACCP của nhà chế biến và giấy đảm bảo là nó được tuân thủ

Những quy định đặc biệt đối với sản phẩm thuỷ sản

Đối với sản phẩm thuỷ sản hun khói hay xông hương liệu khói: Độc tố Clostridium botulinum là mối nguy hiểm chính đối với loại sản phẩm này nếu không được kiểm soát đầy

đủ Các nhà chế biến phải phân tích kiểm soát mối nguy này để đảm bảo độc tố không sinh ra trong sản phẩm trong khoảng thời gian dài hơn thời gian bảo quản của sản phẩm

Đối với sản phẩm thuỷ sản thân mềm có vỏ giáp: Tất cả các thuỷ sản thân mềm có vỏ giáp không tuân thủ các quy định dưới đây sẽ bị giữ lại hoặc bị cấm nhập và bị huỷ bỏ: Nhà chế biến chỉ được sử dụng thuỷ sản thân mềm có vỏ giáp thu hoạch tại vùng nuôi do

cơ quan chức năng quản lý thuỷ sản thân mềm có vỏ giáp công nhận

Mọi nhuyễn thể nguyên liệu đều phải có thẻ hàng hoá ghi ngày và địa điểm thu hoạch, chủng loại và số lượng thuỷ sản có vỏ giáp, số giấy đăng ký của nhà thu hoạch do cơ quan chức năng quản lý thuỷ sản cấp, hoặc ghi tên của người thu hoạch, hay tên hoặc số đăng ký

Trang 17

của tầu đánh bắt Đối với lô hàng lớn có thể thay thẻ hàng hoá bằng vân đơn hay chứng từ vận chuyển hàng hoá tương tự chứa đựng các thông tin như trên

Tất cả những thùng đựng thuỷ sản thân mềm có vỏ giáp đã được bóc vỏ phải có nhãn ghi

rõ họ tên, địa chỉ và số chứng nhận của nhà bao gói hay nhà bao gói lại nhuyễn thể

Những quy định về lưu trữ hồ sơ ghi chép

Các cơ sở chế biến hay nhà nhập khẩu phải lưu trữ hồ sơ ghi chép ít nhất một đến hai năm, tuỳ theo loại hồ sơ và loại sản phẩm (phụ thuộc vào thời gian sử dụng sản phẩm) Các

hồ sơ lưu trữ bao gồm các kế hoạch và hồ sơ HACCP, hồ sơ về kiểm soát vệ sinh và các hồ

sơ liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm phải được lưu trữ và sẵn sàng để các thanh tra viên FDA kiểm tra chính thức và sao chụp vào các thời điểm cần thiết

 Quy định về an toàn thực phẩm

Trong quy định về an toàn thực phẩm, các nhà sản xuất phải đảm bảo các tiêu chí về chất lượng, độ an toàn của sản phẩm và đảm bảo môi trường đối với nơi họ sản xuất, tránh các nguy cơ tiềm tàng như rủi ro từ nguồn nước ô nhiễm, ô nhiễm vi sinh vật hoặc hóa chất Mức

dư lượng tối đa cho phép đối với các loại thuốc bảo vệ thực vật Các quy định về mức dư lượng tối đa cho phép với các loại thuốc bảo vệ thực vật (thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh v.v…) có hiệu lực trên phạm vi quốc gia và quốc tế

Ví dụ: Thanh long là mặt hàng đang được ưa chuộng trên thị trường Mỹ Bên cạnh các yêu cầu về chất lượng sản phẩm, thị trường Mỹ còn đặt ra các yêu cầu để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng khi tiêu thụ mặt hàng nhập khẩu này Một cách tóm gọn, doanh nghiệp xuất khẩu chỉ có thể bày bán sản phẩm thanh long trên thị trường Mỹ khi được Cơ quan Kiểm dịch Mỹ (APHIS) chứng nhận đủ tiêu chuẩn an toàn để nhập khẩu, xử lý chiếu xạ và đặc biệt là thị trường Mỹ cần thanh long sản xuất theo hướng hữu cơ

Liên quan đến dư lượng thuốc trừ sâu, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt nông sản không còn xa lạ nhưng không phải người trồng nào cũng có đủ nhận thức trong việc

sử dụng phù hợp và quan trọng là đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng Để nhằm kiểm soát hàng hóa nhập khẩu cũng như vì người tiêu dùng, chính phủ Mỹ đưa ra các quy định buộc nhà sản xuất và xuất khẩu phải tuân theo Các nhà sản xuất và xuất khẩu phải tuân thủ các quy định của nước họ (khi gần đây nhất có quy định về mức dư lượng tối đa cho phép với các loại thuốc bảo vệ thực vật) và các quy định của các nước nhập khẩu Họ chỉ có thể sử dụng các loại hóa chất đã được đăng ký sử dụng cho từng loại cây trồng riêng và phải tuân thủ nghiêm túc hướng dẫn được nêu cụ thể trên các tờ hướng dẫn sử dụng hoặc trên các đồ chứa (ghi trên hộp hoặc chai lọ)

Tại Hoa Kỳ, mức dư lượng tối đa với các loại thuốc bảo vệ thực vật cho được thiết lập bởi Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) và được Cơ quan Quản lý về Thực phẩm và Dược Phẩm (FDA) giám sát ngay tại địa điểm nhập khẩu đối với tất mặt hàng nông sản (Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ, 2017)

Trang 18

Trang web dưới đây có thể giúp người sử dụng biết được mức dư lượng tối đa của Hoa

Kỳ và các nước nhập khẩu khác theo cây trồng, các loại hoạt chất hoặc dạng thuốc bảo vệ thực vật và quốc gia: www.fas.usda.gov/htp/MRL.asp

Bên cạnh đó, theo yêu cầu của Luật hiện đại hóa An toàn thực phẩm (FSMA), sản phẩm nhập khẩu vào Hoa kỳ đều phải đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm Theo đó, mọi sản phẩm nhập khẩu vào Hoa Kỳ cần đáp ứng các tiêu chuẩn về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật của Hoa Kỳ, gọi là các Hạn mực dư lượng tối đa (MRL) Nếu có vấn đề xảy ra về kiểm dịch hoặc an toàn thực phẩm thì cơ quan thẩm quyền của Hoa Kỳ sẽ có khả năng truy nguyên nguồn gốc của sản phẩm tới tận người trồng, nơi trồng hoặc lô hàng Đạo luật này có hiệu lực

từ ngày 04/01/2011, quy định chặt chẽ và kiểm soát dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trên hàng nhập khẩu Đặc biệt đạo luật đề ra các quy định đối với các sản phẩm rau, quả tươi không được sản xuất tại Hoa Kỳ Theo đó, nước xuất khẩu phải xây dựng mức dư lượng tối

đa cho phép đối với các hóa chất và bảo vệ thực vật và gửi hồ sơ kỹ thuật cho phía Hoa Kỳ xem xét chấp nhận

 Truy xuất nguồn gốc sản phẩm

Để đối phó với những vấn đề về an toàn thực phẩm và khủng bố toàn cầu, nhiều chính phủ đang tăng cường kiểm soát ở tất cả các công đoạn sản xuất, chế biến và phân phối thực phẩm nhằm bảo vệ người tiêu dùng khỏi các nguy cơ ô nhiễm sinh học, hóa học và môi trường lên thực phẩm Truy xuất (truy tìm nguồn gốc sản phẩm) là khả năng theo dõi sự di chuyển của thực phẩm qua các công đoạn nhất định trong việc sản xuất, chế biến và phân phối Nó cũng giúp tăng cường hiệu quả trong việc thu hồi các loại thực phẩm bị ô nhiễm Hơn thế nữa, chúng cũng giúp xác định gốc rễ của một vấn đề an toàn thực phẩm, tuân thủ các quy định pháp luật và đạt được sự mong đợi của người tiêu dùng về an toàn và chất lượng khi mua sản phẩm

Chính phủ Hoa Kỳ đã thông qua Luật Khủng bố Sinh học, Luật này yêu cầu tất cả các nhà xuất khẩu phải đăng ký với Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) và đưa

ra thông báo trước khi sản phẩm đến Hoa Kỳ Để biết thêm chi tiết về Luật Khủng bố Sinh học của Hoa Kỳ hãy liên hệ: Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm tại trang Web: www.cfsan.fda.gov/~dms/ffsbtac5 và html www.access.fda.gov/ Chương trình ghi nhãn nước xuất xứ (COOL) yêu cầu thực hiện ngày 30 tháng 9 năm 2008 tên nước xuất xứ phải được ghi rõ trên nhãn của sản phẩm đối với một số mặt hàng nông sản COOL sẽ có ảnh hưởng đến các qui định về truy xuất nguồn gốc của Hoa Kỳ tới các nước cung cấp Thông tin chung về chương trình này có thể tìm thấy tại địa chỉ USDA: www.ams.usda.gov/cool/

 Các quy định về chất lượng thương mại khác

Đối với quy định cho các sản phẩm nông sản

Phải đáp ứng các điều kiện về giám định và kiểm dịch của cơ quan giám định động và thực vật Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ Nhập khẩu các động vật phải kèm theo chứng chỉ sức khoẻ của chúng và chỉ được phép đưa vào một số cảng nhất định nơi có cơ sở kiểm dịch Động vật hoang dã và vật nuôi cảnh phải xin phép cơ quan kiểm soát cá và động vật hoang dã Ngoài ra còn có các quy định trong luật bảo vệ động vật biển có vú 1972 (MMPA),

Trang 19

đạo luật về các loài động vật bị nguy hiểm năm 1973, Luật cưỡng chế đánh bắt cá bằng lưới nổi ngoài khơi, Luật bảo vệ chim rừng năm 1992

Hoa Kỳ yêu cầu tất cả những nông sản nhập khẩu phải đạt phẩm cấp theo tiêu chuẩn của Ban Thị Trường thuộc Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ (USDA) với các yếu cầu liên quan chất lượng thương mại như chủng loại, màu sắc, kích cỡ, độ chín, hình dạng sản phẩm, tình trạng

hư hỏng và hạn sử dụng

Ngoài ra, một trong những cấu thành của dư luật trang trại (Farm Bill) năm 2002 (Luật an ninh trang trại và Đầu tư nông thôn năm 2002) là thực hiện việc bắt buộc ghi nhãn về nước xuất xứ (COOL) Gần đây nhất là Luật Nông Nghiệp 2014 (Agriculture Act of 2014) thay thế cho Luật Nông Trại 2008 (Farm bill 2008) trước đây cũng yêu cầu áp dụng tiêu chuẩn quy định một số sản phẩm của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ phải đáp ứng các tiêu chuẩn ngang đồng với mặt hàng này sản xuất tại Mỹ, từ quy trình sản xuất đến việc chế biến, đóng gói và xuất khẩu

 Quy định kiểm dịch thực vật

Các nhà sản xuất phải tuân thủ quy định kiểm dịch thực vật nhằm ngăn ngừa sự xâm nhập và lan truyền của bệnh dịch và sâu hại Các nước nhập khẩu chính trên thế giới hầu hết đều tiến hành phân tích nhằm xác định nguy cơ và rủi ro của sản phẩm nhập khẩu và kiểm tra tại nơi đến Việc áp dụng cấp giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật đối với các sản phẩm được quy định như các loại cây trồng, hạt giống, trái cây, rau và hoa là cần thiết

Với thị trường Mỹ, cơ quan thẩm quyền của Mỹ tiến hành phân tích rủi ro của dịch hại nhằm xác định rủi ro trong mỗi sản phẩm nhập khẩu và kiểm tra tại nơi đến để đảm bảo rằng mức rủi ro không vượt ngưỡng quy định

Ngoài ra, Mỹ yêu cầu trái cây tươi phải được chiếu xạ hoặc xử lý hơi nước nóng trước khi nhập khẩu Tại Mỹ, các thanh tra viên của Cơ quan Thanh tra sức khỏe Động thực vật thuộc Bộ nông nghiệp Mỹ phải kiểm tra và chứng nhận tất cả các lô hàng trước khi khai báo Hải quan Nếu có dấu hiệu sâu hại và dịch bệnh thì sản phẩm có thẻ bị khử trùng hoặc xử lý cách khác, bị trả lại nước xuất khẩu hoặc tiêu hủy Thông tin chi tiết về hệ thống kiểm dịch thực vật của Mỹ có thể tìm kiếm ở trang web: www.aphis.usda.gov/ppq/permits

 Khai báo hải quan

Khâu cuối cùng cho sản phẩm được nhập khẩu phụ thuộc vào Cơ quan Hải quan ở nước nhập khẩu Để thông qua Hải quan, nhà xuất khẩu phải điền những thông tin cần thiết vào mẫu tờ khai (thương mại, vận chuyển) và trả tất cả các khoản phí (thuế nhập khẩu, thuế và lệ phí khác) Do quá trình xử lý những mẫu đơn này có thể tiêu tốn thời gian, một số nước hiện nay đã đưa ra chương trình khai báo hải quan trước để tiết kiệm thời gian Điều này có nghĩa

là các sản phẩm có thể được khai báo hải quan tại nước xuất khẩu do các cơ quan chức năng

và các cơ quan này có thể đảm bảo các quy định đối với sản phẩm đã được tuân thủ đầy đủ Việc không tuân thủ một số các quy định của nước nhập khẩu sẽ có thể là nguyên nhân từ chối sản phẩm

Trang 20

Với thị trường Mỹ, Cơ quan hải quan chỉ có thể cấp phép nhập cho các sản phẩm vào Mỹ sau khi đã được APHIS và FDA kiểm tra tại nơi nhập khẩu Các nhà xuất khẩu cũng phải trả các loại thuế cần thiết tại đó, khi đã xác định được số lượng, giá trị, kiểu dáng và nước xuất

xứ Để đẩy nhanh thời gian xử lý ở cửa khẩu, các nhà xuất khẩu có thể hoàn tất một số thủ tục hải quan nhất định trước khi vận chuyển Ví dụ, thông qua Dịch vụ Quốc tế của APHIS

mà hiện nay có thể thực hiện tại một số nước để khai báo trước chứng từ nhập khẩu như giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật

4.3.2 Ti u chu n bao g i, dán nhãn và nhãn sinh thái

 Nhãn sản phẩm tiêu dùng tại Hoa Kỳ được quản lý bởi một loạt các quy định của liên bang và đôi khi của tiểu bang

Việc quản lý và kiểm tra các quy định ghi nhãn do một số cơ quan chính phủ khác nhau ban hành và giám sát, bao gồm Ủy ban Thương mại công bằng (FTC – Federal Trade Commission), Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA), Ủy ban an toàn sản phẩm tiêu dùng (Consumer product Safety Commission CPSC),

và nhiều cơ quan khác, tùy thuộc vào chủng loại hàng hóa

Vì lý do này, Hoa Kỳ không có riêng một luật hay riêng một cơ quan chính phủ quy định cho mọi loại nhãn sản phẩm Việc tìm tất cả các luật và quy định dán nhãn liên quan đến sản phẩm xuất khẩu sẽ khó khăn và mất khá nhiều thời gian

Danh mục này phân loại các sản phẩm thuộc quản lý của các cơ quan khác nhau như thực phẩm và thuốc thuộc quản lý của FDA, thuốc trừ sâu doanh nghiệp nên tìm hiểu các quy định

từ Cục Bảo vệ môi trường EPA, đối với các sản phẩm thuộc nhóm hàng thực phẩm, mỹ phẩm, thuốc và thiết bị y tế, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) là cơ quan đưa

ra các quy định cho thực phẩm, mỹ phẩm, thuốc và thiết bị y tế

Sản phẩm ghi nhãn các thông tin chủ yếu bao gồm: tên sản phẩm, nước sản xuất, các thông tin dinh dưỡng, thành phần (Ingredients), khối lượng tịnh, cảnh báo (dị ứng, tác dụng phụ, tên và địa chỉ nhà sản xuất, nhập khẩu, phân phối, đóng gói)

 Đối với nhãn sinh thái (Ecolabel)

Theo EPA, Nhãn sinh thái là nhãn hiệu được đặt trên bao bì sản phẩm hoặc trong danh mục điện tử có thể giúp người tiêu dùng và người mua là tổ chức nhanh chóng và dễ dàng xác định những sản phẩm đáp ứng các tiêu chí hoạt động môi trường cụ thể và do đó được coi là “thích hợp với môi trường” Nhãn sinh tháicó thể được sở hữu hoặc quản lý bởi các cơ quan chính phủ, các tổ chức vận động môi trường phi lợi nhuận hoặc các tổ chức khu vực tư nhân

Ví du: Đối với mặt hàng thanh long nhập khẩu, nhãn sinh thái USDA Organic cho phép

áp dụng với tất cả các sản phẩm kể cả trồng tại Mỹ hay từ các nước khác

Các lô hàng thanh long hữu cơ trong thời gian đầu khi xuất khẩu sang Mỹ vẫn bị buộc chiếu xạ nhằm tránh sâu bệnh như ruồi đục thân, bệnh nấm trắng, bệnh nấm nâu Nếu nông

Trang 21

dân tuân thủ đúng quy trình 100% hữu cơ, thì sau hai năm không phát hiện sai sót gì, thanh long hữu cơ trên vùng trồng của Châu Thành, LongAn sẽ được hiệp hội sản phẩm hữu cơ của

Mỹ thẩm định và chứng nhận sản phẩm hữu cơ (organic), được bỏ quy định chiếu xạ (Duy Khuê, 2014)

Trên thực tế, sản phẩm đã đạt chứng nhận hữu cơ rồi nhưng do quy định thanh long nhập khẩu vào Mỹ cần phải là trái cây tươi nên gây khó khăn cho việc xuất khẩu thanh long vào

Mỹ Khi điều kiện bảo quản không tốt, nếu vận chuyển bằng đường biển với thời gian dài, thanh long sẽ bị hỏng nhiều Nếu vận chuyển bằng máy bay thì cước phí cao, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy, việc nhập khẩu thanh long vào Mỹ không phải là đơn giản kể cả khi sản phẩm đã đạt chứng nhận hữu cơ và được dán nhãn sinh thái (Công ty rau quả Bình Thuận, 2017)

4.3.3 Các hàng rào ỹ thuật m i tr ng hác

 Nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ là một phương pháp sản xuất mà quản lý trang trại và môi trường trong trang trại như một hệ thống đơn lẻ Nó sử dụng cả kiến thức khoa học và truyền thống

để làm tăng sức mạnh cho hệ sinh thái nông nghiệp Trang trại hữu cơ chú trọng vào việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vùng và việc quản lý hệ sinh thái hơn là những đầu tư từ bên ngoài như phân khoáng và các hoá chất nông nghiệp Nông nghiệp hữu cơ không sử dụng các hoá chất tổng hợp và cây trồng biến đổi gen Nó đẩy mạnh các biện pháp canh tác truyền thống bền vững để duy trì độ phì nhiêu của đất như là để đất nghỉ

Trong khi các tiêu chuẩn về trang trại hữu cơ chủ yếu đang được cơ quan chứng nhận tư nhân xây dựng thì Mỹ là một trong những thị trường có quy định quốc gia về ghi nhãn sản phẩm hữu cơ và nếu nhà sản xuất muốn xuất khẩu sản phẩm của họ sang các nước này, họ phải đáp ứng được các quy định đó

 Chứng nhận ISO 14001 (Tiêu chuẩn quốc tế về quản lý môi trường)

Tiêu chuẩn 14001 được đưa ra để giúp thực thi hệ thống quản lý môi trường áp dụng cho các tổ chức tư nhân và nhà nước Nó được nên bởi Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO) xây dựng tổ chức này là một mạng lưới quốc tế các cơ quan tiêu chuẩn quốc gia làm việc đồng hành với các chính phủ, các đại diện nghành công nghiệp và người tiêu dùng Trong khi đó khá nhiều các tiêu chuẩn ISO khác có thể sử dụng làm công cụ để quản lý môi trường, ví dụ như ISO 14001

Tiêu chuẩn ISO 14001 đòi hỏi doanh nghiệp xây dựng một hệ thống quản lý môi trường bao gồm: Mục tiêu và chủ thể về môi trường, chính sách và phương thức để đạt được những mục tiêu đó, xác định trách nhiệm, các hoạt động đào tạo huấn luyện nhân viên, ghi chép sổ sách và hệ thống kiểm tra bất kỳ sự thay đổi nào đã xảy ra Tiêu chuẩn ISO 14001 mô tả quá trình quản lý mà doanh nghiệp cần phải làm theo và yêu cầu các doanh nghiệp phải tôn trọng quy định quốc gia về môi trường Tuy nhiên, nó không đặt ra mức độ hoạt động cụ thể hoặc yêu cầu là phải đạt được các mức độ hoạt động riêng đó

4.5 C c thị t ờn h c

4.5.1 Ti u chu n m i tr ng và vệ sinh an toàn Nhật Bản

Trang 22

Người Nhật quan tâm ngày càng nhiều đến vấn đề môi trường, nguồn lợi, nguồn gốc của sản phẩm Cục môi trường Nhật bản khuyến khích người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm không làm hại môi trường

Các mặt hàng thực phẩm nhập khẩu vào Nhật Bản phải đáp ứng đủ các quy định và thủ tục kiểm tra nghiêm ngặt mới được phép nhập khẩu Các nhà xuất khẩu phải chứng minh được các mặt hàng này không gây hại đến các loài động, thực vật trong nước của Nhật Bản theo các quy định cụ thể của luật đối với từng mặt hàng Một số mặt hàng nằm trong diện quản lý nhập khẩu thì phải theo quy định của Luật ngoại hối và ngoại thương yêu cầu côta nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu hoặc được sự đồng ý trước của bộ trưởng phụ trách chuyên ngành Đối với một số trường hợp, công văn đề nghị côta nhập khẩu và giấy phép nhập khẩu được tiến hành đồng thời, nếu không được phân bổ côta thì mặt hàng đó sẽ không được phép nhập khẩu vào Nhật Bản

Khi kiểm tra tại cảng đến nếu phát hiện có dấu hiệu lây nhiễm bệnh hay ký sinh trùng, hàng hoá sẽ bị xử lý gửi trả lại hay huỷ bỏ tuỳ thuộc vào kết quả kiểm tra Ngoài ra, rau quả dạng củ khi nhập khẩu vào Nhật không được lẫn đất, một số loại có thể bị cấm nhập khẩu khi còn tươi nhưng lại được phép nhập dưới dạng khô đông lạnh, khô hoàn toàn, ngâm dấm hay một vài dạng khác nhưng phải có giấy chứng nhận vệ sinh thực phẩm của cơ quan có thẩm quyền ở nước xuất khẩu Khoai tây, khoai sọ phải được trồng vào một thời gian nhất định và phải được kiểm tra không bị lây nhiễm virut

Tất cả các hàng hoá là thực phẩm nhập khẩu vào Nhật bản phải tuân thủ Luật vệ sinh thực phẩm Rau tươi phải qua kiểm tra dư lượng thuốc trừ sâu, các tác nhân nông nghiệp, các chất phụ gia và các chất phóng xạ Rau đông lạnh phải kiểm tra thêm các tiêu chuẩn về vi khuẩn

Đối với mặt hàng thuỷ sản là mặt hàng có lượng tiêu thụ khá lớn tại Nhật bản và đây cũng là thị trường xuất khẩu chính của Việt nam Người Nhật rất quan tâm đến chất lượng loại thực phẩm này Hàng có nhiễm dịch bệnh hoặc có dư lượng kháng sinh cao đều không được phép nhập khẩu vào Nhật bản

Kể từ ngày 3/2/2004, Nhật Bản quy định 8 mặt hàng thực phẩm hải sản và một số động thực vật sống theo mã HS trong biểu thuế nhập khẩu của Nhật nằm trong diện hạn ngạch nhập khẩu Các mặt hàng này gồm: cá đánh bắt ở vùng biển Nhật Bản (cá trích, cá tuyết, cá ngừ vây vàng, cá thu, cá xác đin, cá sòng, cá thu đao); một số loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ như sò, điệp, trai; mực ống, rong biển ăn được (kể cả các chế phẩm)

4.5.2 Ti u chu n bao g i, dán nhãn và nhãn sinh thái

Hiện nay theo quy định của Pháp luật Nhật bản có khoảng 100 nhóm hàng phải dán nhãn chất lượng Các nhãn mác phải cung cấp cho người tiêu dùng thông tin về chất lượng sản phẩm và các lưu ý khi sử dụng

Hàng hóa nhập khẩu vào Nhật Bản được khuyến khích đóng dấu “Ecomark”, đảm bảo sản phẩm không làm hại hệ sinh thái

Đối với hàng thuỷ sản nhãn phải có đầy đủ các thông tin như tên sản phẩm, hạn sử dụng, tên, địa chỉ nhà sản xuất, tên chất phụ gia, xuất xứ, tên hãng nhập khẩu …

Đối với hàng rau quả tươi, nhãn hàng phải cung cấp cho người tiêu dụng các thông tin như tên và loại sản phẩm, nơi sản xuất, nhà nhập khẩu, kích cỡ …

Trang 23

Theo xu hướng chung người tiêu dùng Nhật bản không những quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn chú trọng đến môi trường các sản phẩm có tính thân thiện với môi trường đều được ưa chuộng trên thị trường Cục môi trường Nhật bản khuyến khích người dân sử dụng các sản phẩm không làm ảnh hưởng đến môi trường, các sản phẩm như vậy được đóng dấu „Ecomark‟ trên nhãn hàng Để được đóng dấu „Ecomark‟ sản phẩm phải đặt được ít nhất một trong các tiêu chuẩn sau :

 Việc sử dụng sản phẩm không gây ô nhiễm môi trường hoặc có nhưng ít

 Việc sử dụng sản phẩm đó đem lại nhiều lợi ích cho môi trường

 Chất thải sau khi sử dụng sản phẩm không gây hại hoặc gây hại nhưng ở mức thấp

 Sản phẩm đóng góp đáng kể vào việc bảo vệ môi trường ngoài các tiêu chuẩn trên

CHƯƠNG V: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG

THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 5.1 Qu n lý Nh n ớc v t ờn t n h t n th n t V ệt N

5.1.1 N i dung bảo vệ m i tr ng trong các ch nh sách th ng mại hiện nay

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, cũng như yêu cầu phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế trong bối cảnh tự do hoá thương mại, mở cửa hội nhập, trong những năm gần đây Đảng và Chính Phủ Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động để vừa đảm bảo phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường Các chủ trương về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường được thể hiện khá rõ nét trong hầu hết các văn bản pháp luật cơ bản của nước ta

Nghị quyết số 41-NQT/W 15/11/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bước tiếp theo là quyết định 34/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ 22/2/2005 để thực hiện nghị quyết số 41

Tư tưởng chỉ đạo quan trọng nhất về phát triển bền vững được thể hiện một cách rõ ràng trong Hiến pháp của nước ta năm 2013 Điều 43 của Hiến pháp nêu rõ “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường.” Điều 50 “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Tiếp đó là quyết định số 1216/2003/QĐ-TTG 05/09/2012 của thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm

2030 Điều 1 đã nêu lên “Bảo vệ môi trường là yêu cầu sống còn của nhân loại; Chiến lược bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành không tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược phát triển bền vững; bảo vệ môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền

Ngày đăng: 29/10/2022, 04:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm