Đề tài Đào tạo kỹ năng viết tiếng Anh học thuật cho mục đích công bố quốc tế của giảng viên trường Đại học Thương Mại nhằm hệ thống cơ sở lý luận về công bố quốc tế, các tiêu chuẩn và khó khăn trong công bố quốc tế; hệ thống cơ sở lý luận về kỹ năng viết học thuật; hệ thống cơ sở lý luận về thiết kế chương trình đào tạo; khảo sát thực trạng và nhu cầu đối với kỹ năng viết học thuật của giảng viên trường Đại học Thương Mại;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
ĐÀO TẠO KỸ NĂNG VIẾT TIẾNG ANH HỌC THUẬT
CHO MỤC ĐÍCH CÔNG BỐ QUỐC TẾ CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Mã số: CS20-47
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Lan Phương Thành viên: ThS Phạm Thị Tố Loan
ThS Đinh Thị Hà ThS Nguyễn Thị Liên Hương
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-*** -
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
ĐÀO TẠO KỸ NĂNG VIẾT TIẾNG ANH HỌC THUẬT
CHO MỤC ĐÍCH CÔNG BỐ QUỐC TẾ CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Mã số: CS20-47 Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Lan Phương
Thành viên: ThS Phạm Thị Tố Loan
ThS Đinh Thị Hà
ThS Nguyễn Thị Liên Hương
Hà Nội, Tháng 3/2021
Trang 3i
LỜI CÁM ƠN
Nhóm nghiên cứu xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban giám hiệu nhà trường, Phòng Quản lý Khoa học, lãnh đạo Khoa Tiếng Anh, khoa Hệ thống thông tin kinh tế và Thương mại điện tử và khoa Tài chính Ngân Hàng trường đại học Thương Mại đã tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu cấp trường này
Nhóm nghiên cứu cũng xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới các giảng viên trường Đại học Thương mại đã tích cực tham gia trả lời phiếu khảo sát và trả lời câu hỏi phỏng vấn, giúp nhóm tác giả thu thập dữ liệu cho việc thực hiện nghiên cứu này
Trang 4ii
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm khảo sát nhu cầu và mong muốn của giảng viên trường đại học Thương mại trong chương trình đào tạo kỹ năng viết tiếng Anh học thuật nhằm góp phần nâng cao năng lực công bố quốc tế của giảng viên nhà trường
Dữ liệu được thu thập từ 135 giảng viên thông qua bảng khảo sát và phỏng vấn sâu 10 giảng viên và 3 cán bộ quản lý Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định lượng và định tính nhằm tìm hiểu thực trạng, nhận thức, nhu cầu và mong muốn của giảng viên cũng như quan điểm của lãnh đạo về khóa học Từ đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất Chương trình đào tạo kỹ năng viết học thuật hướng mục tiêu công bố quốc
tế cùng một số kiến nghị để triển khai chương trình này
Cụ thể, về nội dung, nhóm nghiên cứu đã thiết kế chương trình đào tạo với 2 phần lớn là Huấn luyện và Hoàn thiện bản thảo Về thời lượng đào tạo, nhóm nghiên cứu đề xuất khóa học kéo dài 3 tháng với tổng số 48 giờ học, trong
đó 32 giờ dành cho Huấn luyện và 16 giờ cho Hoàn thiện bản thảo, tần suất học
là 2 buổi/ tuần, mỗi buổi học kéo dài 120 phút được tổ chức ngoài giờ hành chính Về giảng viên huấn luyện, nhóm nghiên cứu đề xuất có sự kết hợp giữa giảng viên tiếng Anh và giảng viên các chuyên ngành khác đã từng có công bố quốc tế Về tài chính, nhóm nghiên cứu đề xuất kinh phí học tập được chia sẻ giữa Nhà trường và học viên theo tỉ lệ 70 - 30 Về cam kết tham gia, nhóm nghiên cứu đề xuất học viên đảm bảo tham gia tối thiểu 80% số giờ học và hoàn thành 80% nhiệm vụ được giao Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất các đơn vị làm đầu mối triển khai khóa đào tạo và phụ trách chuyên môn của chương trình
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 4
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 5
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 6
1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6
1.6 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.1 Công bố quốc tế 8
1.1.1 Định nghĩa 8
1.1.2 Qui trình đăng bài báo trên tạp chí quốc tế 10
1.1.3 Các nhân tố quyết định đến công bố quốc tế 12
1.1.4 Những khó khăn đối với việc viết và công bố quốc tế 15
1.2 Kỹ năng viết học thuật 16
1.2.1 Định nghĩa 16
1.2.2 Những khó khăn trong kỹ năng viết học thuật bằng tiếng Anh 17
1.3 Thiết kế chương trình đào tạo 18
1.3.1 Khái niệm đào tạo 18
1.3.2 Vai trò của hoạt động phân tích nhu cầu đào tạo 19
1.3.3 Các yếu tố liên quan đến chương trình đào tạo 20
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 22
Trang 6iv
2.2 CÔNG CỤ THU THẬP SỐ LIỆU 23
2.3 QUY TRÌNH THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 KẾT QUẢ TỪ BẢNG HỎI 28
3.1.1 Đối với nhóm biến về nhân khẩu học 28
3.1.2 Đối với nhóm biến năng lực Tiếng Anh 30
3.1.3 Đối với nhóm biến về nhu cầu và mong muốn đối với khóa đào tạo 34
3.2 KẾT QUẢ PHỎNG VẤN VỚI GIẢNG VIÊN VÀ CÁN BỘ QUẢN LÝ 39 3.2.1 Đối với giảng viên 39
3.2.2 Đối với cán bộ quản lý 40
CHƯƠNG 4THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO 42
4.1 CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO 42
4.1.1 Huấn luyện 42
4.1.2 Hoàn thiện bản thảo 48
4.2 PHƯƠNG THỨC TRIỂN KHAI 48
4.2.1 Thời lượng đào tạo 48
4.2.2 Giảng viên huấn luyện 51
4.2.3 Các vấn đề tài chính 52
4.2.4 Các cam kết tham gia khóa đào tạo 53
4.2.5 Các vấn đề khác 54
PHẦN KẾT LUẬN 56
PHỤ LỤC 1 65
PHỤ LỤC 2 71
PHỤ LỤC 3 72
Trang 7v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- Đại học Thương mại - ĐHTM
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Danh sách các biến trong tập dữ liệu 24
Hình 3.1 Tỉ lệ giảng viên theo giới tính 28
Hình 3.2 Tỉ lệ công bố quốc tế theo giới tính 28
Hình 3.3 Tỉ lệ giảng viên theo độ tuổi 28
Hình 3.4 Tỉ lệ công bố quốc tế theo độ tuổi 28
Hình 3.5 Tỉ lệ giảng viên theo học vị 29
Hình 3.6 Tỉ lệ công bố quốc tế theo học vị 29
Hình 3.7 Kết quả công bố quốc tế theo xếp hạng tạp chí 29
Hình 3.8 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha 30
Hình 3.9 Kết quả kiểm định tương quan Pearson 31
Hình 3.10 Kết quả chạy của mô hình hồi quy với 2 biến Reading và Writing 32
Hình 3.11 Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 32
Hình 3.12 Kết quả chạy hồi quy với biến Reading 33
Hình 3.13 Kết quả chạy hồi quy với biến Writing 33
Hình 3.14 Biểu đồ về tỉ lệ giảng viên lựa chọn nội dung khóa đào tạo 34
Hình 3.15 Đồ thị về tỉ lệ chọn độ dài của khóa học 35
Hình 3.16 Đồ thị về tỉ lệ chọn độ dài của mỗi buổi học 35
Hình 3.17 Đồ thị về tỉ lệ chọn thời điểm học 36
Hình 3.18 Đồ thị về tỉ lệ chọn tần suất học 36
Hình 3.19 Đồ thị về tỉ lệ chọn hình thức học của khóa học 36
Hình 3.20 Đồ thị về tỉ lệ chọn giảng viên tham gia giảng dạy khóa học 37
Hình 3.21 Đồ thị về tỉ lệ chọn cách thức trả học phí 38
Hình 3.22 Đồ thị về tỉ lệ chọn các hình thức cam kết đầu ra 39
Trang 9vii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: ĐÀO TẠO KỸ NĂNG VIẾT TIẾNG ANH HỌC THUẬT CHO MỤC ĐÍCH CÔNG BỐ QUỐC TẾ CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
THƯƠNG MẠI
- Mã số: CS20-47
- Chủ nhiệm: TS Nguyễn Thị Lan Phương
- Cơ quan chủ trì: Đại học Thương Mại
- Thời gian thực hiện: 30/08 năm 2020 đến tháng 30/03 năm 2021
+ Chương trình đào tạo được xây dựng trên cơ sở phân tích nhu cầu đào tạo của người học, do đó có tính khả thi cao
4 Kết quả nghiên cứu:
Nhóm nghiên cứu đã xây dựng được đề cương chi tiết chương trình đào tạo kỹ năng viết học thuật cho mục tiêu công bố quốc tế và các đề xuất nhằm triển khai chương trình
5 Công bố sản phẩm khoa học từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp chí
năm xuất bản và minh chứng kèm theo nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp
dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):
Trang 10viii
Nguyễn Thị Lan Phương, Phạm Thị Tố Loan (2021) Nâng cao năng lực tiếng Anh nhằm cải thiện khả năng công bố quốc tế của giảng viên trong các trường đại học tại
Việt Nam, Tạp chí Dạy và học ngày nay, Kỳ 1 – 01/2021
6 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng:
Đề tài có khả năng chuyển giao cho các bộ phận chức năng của trường Đại học Thương mại và có khả năng ứng dụng nhằm nâng cao kỹ năng viết học thuật, góp phần cải thiện năng suất công bố quốc tế của giảng viên trường Đại học Thương mại
Ngày 30 tháng 3 năm 2021
Chủ nhiệm đề tài
TS Nguyễn Thị Lan Phương
Trang 111
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Công bố quốc tế không chỉ là một trong những tiêu chí quan trọng trong xếp hạng đại học mà còn là lợi thế cạnh tranh bền vững nhằm nâng cao vị thế và
uy tín của nhà trường ở trong nước và trên thế giới Công bố quốc tế cũng là cơ hội để các giảng viên Việt Nam giới thiệu kết quả nghiên cứu trong nước ra thế giới, từ đó tăng cường trao đổi học thuật, mở rộng hợp tác quốc tế giữa các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Do không tự viết được bằng tiếng Anh, muốn đăng bài trên các tạp chí quốc tế, các giảng viên thường phải hợp tác với một giảng viên chuyên ngành tiếng Anh hoặc phải chi trả một khoản kinh phí cho dịch thuật, hiệu đính và biên tập ngôn ngữ Điều này càng làm giảm động lực viết bài và đăng bài quốc tế của các giảng viên ở nhiều cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam nói chung và tại trường Đại học Thương mại nói riêng
Việc tổ chức các khóa đào tạo kỹ năng viết được coi là giải pháp nhằm hỗ trợ các giảng viên nâng cao kỹ năng viết tiếng Anh học thuật, từ đó tạo sự tự tin và động lực để giảng viên nỗ lực công bố các công trình trên tạp chí quốc tế (Pho và Tran, 2016) qua đó tăng số lượng xuất bản, gắn kết đồng nghiệp và mở rộng cơ hội hợp tác viết bài
Vì lý do này, nhóm nghiên cứu đề xuất xây dựng một khóa học viết tiếng Anh học thuật cho các giảng viên của trường Đại học Thương mại (ĐHTM) với mong muốn nâng cao kỹ năng viết hàn lâm nhằm hướng tới nâng cao năng lực công bố quốc tế của giảng viên trường Đại học Thương Mại
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hoạt động nghiên cứu khoa học của trường đại học và số lượng công bố quốc tế của giảng viên luôn là một trong những tiêu chí quan trọng trong bảng xếp hạng đại học toàn cầu Vì vậy, các trường đại học trên thế giới đã đưa ra nhiều quy định và chính sách nhằm khuyến khích đẩy mạnh xuất bản quốc tế
Trang 122
Trong tiến trình hội nhập sâu rộng, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Tuy nhiên, giảng viên ở các nước không nói tiếng Anh (non-native speakers of English) như châu Á, châu Phi, châu Âu đều gặp rào cản về ngôn ngữ khi viết bài báo bằng tiếng Anh (Flowerdew, 1999; Lillis và Curry, 2006; Hyland, 2009; Hyland, 2011; Omer, 2015; Garwe, 2015; Lehto và cộng sự, 2012)
Một trong những phương thức hiệu quả để tăng cường khả năng viết và công bố quốc tế là cộng tác viết bài cùng một nhà khoa học đến từ những nước nói tiếng Anh (native speaker) Tuy nhiên, nguồn lực những nhà khoa học này không sẵn có (Cargill và O’Connor, 2006) Một cách thức khác mà các nhà nghiên cứu có thể áp dụng là trả phí cho dịch vụ dịch thuật từ tiếng mẻ đẻ sang tiếng Anh nhưng khoản phí này thường rất cao và không phải nhà khoa học nào cũng có đủ năng lực tài chính để chi trả (Burrough-Boenisch, 2003; Luellen, 2001) Vì vậy, Cargill và O’Connor (2006) và Jafari, Jafari và Kafipour (2018), O’Farrell (2013) đã đề xuất khóa đào tạo viết học thuật nhằm trang bị kiến thức,
kỹ năng cho nhà khoa học có thể viết bài độc lập Trong khóa học này, người học không những được đào tạo về ngôn ngữ mà còn về đặc điểm diễn ngôn (hoạt động giao tiếp giữa người nói và người nghe bằng lời nói hoặc văn viết) của bài báo Nghiên cứu của O’Farrell (2013) đề cập đến hai khóa đào tạo viết học thuật cho mục đích xuất bản (Writing for academic publication programs) vào năm 2010 và 2011 tại trường Trinity College Dublin của Ireland Hai khóa học diễn ra hai buổi một tháng kéo dài trong 6 tháng và 4 tháng, thời lượng mỗi buổi học là ba tiếng Nội dung khóa học xoay quanh các chủ đề như 1 Thách thức và lợi ích của việc công bố quốc tế, 2 Lựa chọn tạp chí phù hợp, 3 Các chiến lược viết bài, 4 Chiến lược phúc đáp phản biện, 5 Viết thử bản thảo Sau khi kết thúc khóa học, các thành viên tham gia được khảo sát về hiệu quả của khóa đào tạo Hầu hết các giảng viên đều cho rằng khóa học giúp họ nâng cao động lực cũng như sự tự tin trong kỹ năng viết học thuật Ngoài ra, khóa học cũng thắt chặt tình cảm đồng nghiệp qua việc thấu hiểu và giúp đỡ nhau trong nghiên cứu Các giảng viên tham gia đều mong muốn tổ chức các khóa học viết
Trang 144
trình bình duyệt tại thời điểm tác giả báo cáo tổng kết về khóa học Như vậy, chương trình đào tạo đã mang lại hiệu quả tích cực trong việc nâng cao kỹ năng viết khoa học, và giúp giảng viên đáp ứng các yêu cầu về xuất bản trong môi trường quốc tế Ở một nghiên cứu khác của Baroga và Mitoma (2018), thông qua khảo sát nhu cầu các giảng viên, một hệ thống hỗ trợ biên tập nội bộ gồm các chuyên gia có thành tích xuất sắc trong xuất bản quốc tế trong nhà trường đã được thành lập; cùng với đó là chương trình nâng cao kỹ năng viết hàn lâm dành cho các giảng viên Kết quả chỉ ra rằng chương trình viết học thuật và hệ thống
hỗ trợ biên tập giúp tăng cường kỹ năng viết và thúc đẩy khả năng công bố quốc
tế Rõ ràng là, các khóa học viết học thuật mang lại những tín hiệu đáng mừng cho các giảng viên tại các trường đại học trên thế giới trong việc nâng cao khả năng viết cũng như khả năng công bố quốc tế Mô hình ưu việt này nên được nhân rộng ở các trường đại học tại Việt Nam để đẩy mạnh năng lực công bố của các giảng viên trong nước Tuy nhiên, để khóa học diễn ra hiệu quả, nhà trường cần phân tích nhu cầu của giảng viên về thời lượng, nội dung, chương trình, giáo viên huấn luyện, hỗ trợ tài chính và hình thức tổ chức lớp học
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây, quy chế tuyển sinh và đào tạo tiến sĩ của bộ Giáo dục Đào tạo đã có nhiều thay đổi Theo đó, tiêu chuẩn bảo vệ luận án của nghiên cứu sinh và tiêu chuẩn với người hướng dẫn đều được nâng lên, trong đó
có yêu cầu về công bố quốc tế (Thông tư 08/2017/TT-BGDĐT Quy chế tuyển sinh đào tạo trình độ tiến sĩ) Việc thực hiện quy chế này cộng với các chính sách khen thưởng những giảng viên có bài báo đăng trên các tạp chí ISI-Scopus của các cơ sở giáo dục đại học trong nước cũng góp phần thúc đẩy sự gia tăng xuất bản quốc tế (Nhóm Nghiên cứu Đại học Duy Tân, 2018)
Một trong những lý do giảng viên trong nước còn phụ thuộc nhiều vào học giả nước ngoài là khả năng viết tiếng Anh còn hạn chế Thực tế là yêu cầu
về văn phong viết tiếng Anh chuẩn mực trên các tạp chí quốc tế là trở ngại lớn cho các nhà nghiên cứu ở những quốc gia không nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ
Trang 155
trong đó có Việt Nam (Pho và Tran, 2016) Vì vậy, theo Pho và Tran (2016), các
cơ sở giáo dục cần tổ chức các khóa đào tạo về kỹ năng viết học thuật nhằm hỗ trợ các giảng viên nâng cao kỹ năng này, từ đó tạo sự tự tin và động lực để giảng viên nỗ lực công bố các công trình trên tạp chí quốc tế
Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng một trong những phương pháp hữu hiệu nhằm nâng cao năng lực viết tiếng Anh học thuật là xây dựng và áp dụng các khóa tiếng Anh học thuật nhằm nâng cao kỹ năng này cho các giảng viên Mục đích của chương trình bổ trợ kiến thức về kỹ năng viết học thuật nhằm giúp (1) tăng số lượng xuất bản cả về chất và lượng; (2) tăng kỹ năng và kiến thức về viết học thuật; (3) tăng động lực viết bài bằng tiếng Anh; và (4) gắn kết đồng nghiệp và mở rộng cơ hội hợp tác viết bài (Phạm Quang Minh và Nguyễn Văn Chính, 2019)
Như vậy, tổng quan các nghiên cứu trong nước cho thấy các tác giả đã xác định được một số rào cản chính đối với công bố quốc tế, trong đó có tiếng Anh
Do đó nhóm nghiên cứu nhận thấy việc đào tạo kỹ năng tiếng Anh viết học thuật tại đại học Thương mại đóng vai trò thiết yếu trong việc nâng cao năng suất công bố quốc tế cho các giảng viên của trường
Thừa dấu
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài hướng tới mục tiêu xây dựng Chương trình đào tạo kỹ năng viết tiếng Anh học thuật cho giảng viên trường ĐHTM nhằm góp phần nâng cao năng lực công bố quốc tế của giảng viên
Để thực hiện mục tiêu này, đề tài đã giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Hệ thống cơ sở lý luận về công bố quốc tế, các tiêu chuẩn và khó khăn trong công bố quốc tế; Hệ thống cơ sở lý luận về kỹ năng viết học thuật; Hệ thống cơ sở lý luận về thiết kế chương trình đào tạo;
- Khảo sát thực trạng và nhu cầu đối với kỹ năng viết học thuật của giảng viên trường ĐHTM;
Trang 166
- Dựa trên thực trạng và nhu cầu, thiết kế chương trình Đào tạo kỹ năng viết học thuật nhằm hướng tới mục tiêu công bố quốc tế cho giảng viên trường
ĐHTM và các kiến nghị để thực hiện chương trình đào tạo
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Đề tài nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
1 Giảng viên trường ĐHTM nhìn nhận như thế nào về vai trò của tiếng Anh trong công bố quốc tế?
2 Giảng viên trường ĐHTM có nhu cầu và mong muốn như thế nào đối với khóa đào tạo kỹ năng viết học thuật cho mục tiêu công bố quốc tế?
3 Khóa đào tạo kỹ năng viết học thuật cho mục tiêu công bố quốc tế của giảng viên trường ĐHTM nên được thiết kế và tổ chức như thế nào để mang lại hiệu quả tối ưu?
1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan tới Đào tạo kỹ năng viết học thuật hướng tới mục tiêu công bố quốc tế của giảng viên trường ĐHTM
Do hạn chế về thời gian, nhân lực và tài lực, đề tài lựa chọn giới hạn ở các phạm vi nghiên cứu như sau:
- Phạm vi nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và nhu cầu của
giảng viên trường ĐHTM để từ đó thiết kế khóa đào tạo kỹ năng viết học thuật hướng tới mục tiêu gia tăng số lượng công bố quốc tế của giảng viên
- Phạm vi không gian: đề tài được nghiên cứu tại trường ĐHTM
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 9/2020 đến
tháng 3/2021
1.6 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài có bố cục gồm bốn chương với các nội dung cụ thể như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận: hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước
có liên quan đến đề tài nhằm kế thừa các kết quả nghiên cứu trước; trình bày các
Trang 177
lý thuyết liên quan đến đề tài nhằm tạo nền tảng cho việc xây dựng Chương trình đào tạo kỹ năng viết học thuật cho mục đích công bố quốc tế tại trường ĐHTM
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu: cung cấp thông tin về khách thể
nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu: trình bày các kết quả chính thu thập
được từ khảo sát làm nền tảng đề xuất thiết kế và triển khai Chương trình đào tạo kỹ năng viết học thuật cho mục đích công bố quốc tế tại trường ĐHTM
- Chương 4: Thiết kế Chương trình đào tạo: mô tả nội dung và hình thức
triển khai Chương trình đào tạo kỹ năng viết học thuật cho mục đích công bố quốc tế tại trường ĐHTM
Trang 18sự nghiệp khoa học Ngoài ra, công bố quốc tế của nhà khoa học cũng làm gia tăng uy tín và danh dự của viện hoặc trường đại học nơi họ làm việc, đồng thời giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia trong nền kinh tế tri thức vốn xem bài báo khoa học là một thước đo quan trọng
Tuy nhiên, trong bức tranh chung của nền giáo dục đại học thế giới, chỉ một tỷ lệ nhỏ các nhà khoa học xuất bản một số lượng lớn các bài báo khoa học, trong khi số khác xuất bản rất ít hoặc không hề có công bố quốc tế (Kyvik, 1991; Teodorescu, 2000) Vì vậy, từ trước tới nay đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành nhằm tìm hiểu những nhân tố tác động đến năng suất công bố quốc tế của các nhà khoa học Trong nghiên cứu này, công bố quốc tế được hiểu là những xuất bản được đăng tải trên các tạp chí được ISI Clavirate Web of Science (bao gồm các tạp chí SCIE, SSCI, AHCI, ESCI) và Scopus chỉ mục (indexed) Bàn về các tạp chí thuộc ISI Clavirate Web of Science, ISI – Viện Thông tin khoa học Mỹ (Institute for Scientific Information) đã tuyển chọn chất lượng của các tạp chí trên thế giới một cách khắt khe, chặt chẽ với tính chuyên môn và khoa học cao để đưa vào cơ sở dữ liệu của họ ISI bao gồm hơn 10,000 các tạp chí trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ SCI (Scientific Citation Index) và SCIE (Scientific Citation Index Expanded), khoa học xã hội SSCI (Social Science Citation Index), nghệ thuật và nhân văn A&HCI (Arts and Humanities Citation Index) và tạp chí mới nổi ESCI (Emerging Sources Citation
Trang 199
Index) Với các tạp chí phân loại theo Scopus (thuộc sở hữu của Nhà xuất bản Elsevier – Hà Lan), khi được đưa vào danh sách Scopus, các tạp chí cũng được lựa chọn nghiêm ngặt và kĩ lưỡng Số lượng tạp chí thuộc danh mục Scopus gần gấp đôi số lượng nằm trong ISI, nhưng không bao gồm mà chỉ chứa khoảng 70% số lượng của ISI Cơ sở dữ liệu Scopus bao gồm các ấn phẩm xuất bản nhiều kỳ (serial publications) có ISSN như tạp chí, chuỗi sách, chuỗi kỷ yếu và các ấn phẩm không xuất bản nhiều kỳ (non-serial publications) có chỉ số ISBN như sách hay kỷ yếu xuất bản một lần Tạp chí Scopus được phân loại thành bốn
tứ phân vị (quartiles) gồm Q1, Q2, Q3, Q4 Theo đó, Q1 gồm các tạp chí chiếm vị trí cao nhất (thuộc top 25%) về chỉ số ảnh hưởng IF (impact factor); Q2 gồm các tạp chí chiếm vị trí trung bình cao về IF (từ top 25% đến top 50%); Q3 gồm các tạp chí chiếm vị trí trung bình thấp về IF (từ top 50% đến top 75%); Q4 gồm các tạp chí đứng ở vị trí thấp còn lại (25% còn lại) Cách đánh giá chất lượng của tạp chí của ISI và Scopus thường dựa vào các chỉ số đo chất lượng khoa học của tạp chí như chỉ số ảnh hưởng IF và chỉ số H (H-index) IF là chỉ số trích dẫn của một tạp chí hay tham khảo trung bình các bài báo mà tạp chí đã công bố hai năm trước Những công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí có chỉ số ảnh hưởng cao thường có chất lượng khoa học cao và càng khó để có thể đăng bài trong tạp chí đó Tuy nhiên, chỉ số ảnh hưởng của tạp chí cũng được đánh giá phụ thuộc vào các ngành khoa học khác nhau Một giảng viên được đăng bài trên tạp chí chất lượng và bài báo được trích dẫn nhiều sẽ được đánh giá cao Chỉ số ảnh hưởng cá nhân nhà khoa học H dùng để đánh giá các kết quả khoa học và làm cơ sở so sánh đóng góp khoa học của các nhà khoa học khác nhau trong cùng một lĩnh vực Chỉ số H chứa đựng cả hai thông tin, bao gồm số lượng các bài báo được công bố và chất lượng, tầm ảnh hưởng - tức là số lần được các nhà khoa học khác trích dẫn Hiện nay, chỉ số H của các nhà khoa học được thể hiện trên trang web của Scopus
Trang 2010
1.1.2 Qui trình đăng bài báo trên tạp chí quốc tế
Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của trường đại học là nghiên cứu khoa học Để đánh giá chất lượng nghiên cứu của trường đại học, số lượng và chất lượng bài báo được đăng tải trên các tạp chí khoa học quốc tế được xem là một tiêu chí quan trọng Với các giảng viên chưa có kinh nghiệm trong xuất bản quốc tế, việc làm quen với qui trình đăng bài trên tạp chí quốc tế là điều hết sức cần thiết Sau đây, bài nghiên cứu sẽ trình bày năm bước để công bố bài báo quốc tế
Bước 1: Chuẩn bị bản thảo
Bản thảo muốn được duyệt đăng ở tạp chí quốc tế phải chứa đựng đóng góp mới cho khoa học, phù hợp với chuyên ngành làm việc và lĩnh vực nghiên cứu của tác giả Để có tính mới thì ý tưởng của công trình phải khác với các nghiên cứu trước đây Bố cục một bài báo khoa học theo thông lệ quốc tế bao gồm những thành phần sau đây:
- Tiêu đề (title): mô tả ngắn gọn, súc tích, chính xác với lượng thông tin cao nhất về vấn đề mà bài viết đề cập
- Tóm tắt nội dung (Abstract): bao gồm các vấn đề của nghiên cứu về mục đích nghiên cứu, phương pháp luận, kết quả nghiên cứu, thảo luận, và kết luận (Santos, 1996; Swales, 2004) Các tạp chí thường có yêu cầu về độ dài đối với phần này
- Phần giới thiệu (Introduction): nêu được vấn đề nghiên cứu, tổng quan các khái niệm cơ sở và các công trình nghiên cứu liên quan Phần này cũng đề cập đến mục đích nghiên cứu, phương pháp luận, các kết quả chính, đóng góp quan trọng của nghiên cứu (Swales, 2004)
- Phần phương pháp nghiên cứu (Methodology): trình bày về mẫu và bối cảnh nghiên cứu, công cụ nghiên cứu, qui trình thu thập dữ liệu, qui trình phân tích dữ liệu (Phó Phương Dung, 2008)
- Phần kết quả nghiên cứu và thảo luận: trình bày kết quả thu được từ dữ liệu, so sánh kết quả của nghiên cứu của tác giả với các nghiên cứu trước,
Trang 2111
rút ra mô hình mới hoặc giả thuyết mới dựa trên kết quả thu được, nêu ý nghĩa của nghiên cứu, và bàn qua những ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu (Arsyad, 2000)
- Phần kết luận: nêu kết luận tổng hợp từ kết quả và bàn luận, đề xuất các khuyến nghị và các gợi ý nghiên cứu trong tương lai
- Lời cám ơn (Aknowledgements): chỉ rõ các giúp đỡ về mặt kỹ thuật, góp
ý của các cá nhân, hỗ trợ về tài chính, hoặc những đóng góp khác cho việc thực hiện công trình
- Các tài liệu tham khảo (References): liệt kê các tài liệu tham khảo theo thứ tự alphabet, và tuân theo sự chỉ dẫn của tạp chí
- Các phụ lục (Appendices): bao gồm những nội dung hỗ trợ mà không cần thiết phải đưa vào phần nội dung chính của bài
(Theo Swales, 2004)
Bước 2: Lựa chọn tạp chí và gửi bản thảo
Ban đầu, tác giả nên lựa chọn danh sách các tạp chí tiềm năng, sau đó loại dần và chọn một tạp chí phù hợp nhất Để làm tốt điều này, tác giả cần tìm hiểu mục đích và phạm vi của từng tạp chí (aims and scopes), cũng như xem xét tầm ảnh hưởng của bài báo để lựa chọn tạp chí phù hợp với hệ số ảnh hưởng IF Khi chọn được tạp chí, người viết cần nghiên cứu về thể thức và quy cách nhằm đáp ứng yêu cầu của tạp chí
Bước 3: Xét duyệt
Đây được xem là một trong những bước khó khăn nhất bởi người biên tập sẽ đọc phần giới thiệu bài báo, xem nội dung và chất lượng có phù hợp với tạp chí hay không Tiếp đó, tạp chí sẽ gửi bài báo đến các chuyên gia đầu ngành để phản biện Thời gian để các phản biện viên đưa ra ý kiến phản biện có thể dao động từ 3-4 tuần hoặc lâu hơn Sau khi có ý kiến phản biện, tạp chí sẽ gửi cho tác giả để chỉnh sửa bài viết Tác giả hoàn toàn không biết phản biện viên gồm những ai
Trang 22
12
Bước 4: Sửa chữa bản thảo
Sau khi nhận ý kiến phản biện, tác giả bài viết có quyền sửa hoặc không, nhưng đều phải kèm theo lý giải Tác giả nên sửa chữa theo yêu cầu của phản biện để nâng cao chất lượng bài báo Tuy nhiên, nếu không đồng tình với ý kiến nào đó của phản biện, tác giả có thể bảo lưu quan điểm của mình, từ chối sửa chữa và nêu rõ lý do trong thư phản hồi Khi đạt được sự thống nhất chung giữa tạp chí, phản biện và tác giả thì bài báo sẽ được đăng và ngược lại Toàn bộ quy trình này diễn ra trong khoảng 6 tháng Trong trường hợp bản thảo bị từ chối, tác giả có thể xem lại và chỉnh sửa lại toàn bộ bài viết từ cách đặt tiêu đề, đề mục, đến nội dung chính và gửi đi tạp chí khác
Bước 5: Quảng bá bài báo
Nếu bài báo được xuất bản, tác giả nên quảng bá sản phẩm của mình đến đồng nghiệp trong ngành để tăng tính hiện diện (visibility) của bài báo và tác giả cũng như tăng khả năng trích dẫn (citability) của bài báo Những kênh mà tác giả có thể giới thiệu bài báo của mình bao gồm: facebook, research gate, google scholar, academia.edu (Nature.com/content/authorship, truy cập lúc 8 giờ sáng ngày 20/2/2020)
1.1.3 Các nhân tố quyết định đến công bố quốc tế
1.1.3.1 Các yếu tố cá nhân
a Giới tính
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt giới trong năng suất nghiên cứu khoa học Cụ thể, các học giả nữ thường phải đối mặt với vô vàn khó khăn để cân bằng giữa công việc và gia đình (Bailyn, 2003) Việc họ phải đảm nhận nhiều vai trò khác nhau trong xã hội đã hạn chế khả năng nghiên cứu, dẫn đến năng suất công bố khiêm tốn hơn nam giới (Sheehan và Welch, 1996) Ngược lại, các nhà khoa học nam có nhiều điều kiện và thời gian dành cho nghiên cứu hơn các đồng nghiệp nữ, vì vậy số lượng công bố của họ cũng vượt trội hơn
b Bằng cấp
Một yếu tố khác ảnh hưởng đến năng suất công bố là bằng cấp của các nhà khoa học Theo Fulton and Trow (1974), những học giả có học vị cao thường có nhiều xuất bản quốc tế hơn Tương tự, Chepkorir (2018) cũng chỉ ra
Trang 2313
rằng bằng cấp có tác động đến số lượng công trình nghiên cứu Kết quả trong nghiên cứu của ông cho thấy những nhà khoa học có học vị tiến sĩ nắm giữ nhiều xuất bản quốc tế hơn các thạc sĩ và sinh viên đại học
c Học hàm
Theo Finkelstein (1984), những giảng viên có học hàm cao thường xử lý khối lượng công việc tốt hơn, vì vậy họ có số lượng xuất bản nhiều hơn những người có vị trí học hàm thấp hơn Kết quả này cũng được ghi nhận bởi Fulton
và Trow (1974) trong nghiên cứu của họ với 29% giáo sư (full professor), 20% phó giáo sư (associate professors), 13% trợ lý giáo sư (assistant professor) và chỉ 2% giảng viên (lecturer) có công bố trên năm bài báo trong khoảng thời gian hai năm
d Động lực nghiên cứu
Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng động lực nghiên cứu chính là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất công bố (Finkelstein, 1984; Teodorescu, 2000) Theo đó, những giảng viên có cam kết nghề nghiệp cao thường có nhiều xuất bản hơn (Jauch và cộng sự, 1978) vì động lực khiến họ đam mê và quyết tâm để thực hiện mục tiêu đã đề ra Ramsden (1994) cũng cho rằng động lực chính là một yếu tố giúp đoán định năng suất nghiên cứu
e Cộng tác trong nghiên cứu
Một nhân tố khác đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao số lượng và chất lượng xuất bản quốc tế đó là việc cộng tác trong nghiên cứu Trong nghiên cứu của mình, các nhà khoa học cũng chỉ ra rằng những bài báo cộng tác thường
có chất lượng tốt hơn, cơ hội được xuất bản cao hơn và có khả năng được trích dẫn nhiều hơn (Smart và Bayer, 1986; Figg và cộng sự, 2006)
f Khả năng tiếng Anh
Trong những thập kỉ qua, toàn cầu hóa (globalization) và thị trường hóa (marketization) các cơ sở giáo dục đã tạo sức ép lớn đối với việc công bố quốc
tế trên các tạp chí uy tín thế giới (Flowerdew, 1999) Hầu hết các tạp chí chuyên ngành được xuất bản bằng tiếng Anh – ngôn ngữ chung trên toàn cầu Điều này
Trang 2414
cũng tạo ra vô số khó khăn cho các học giả khi viết bài báo bằng tiếng Anh theo quy chuẩn quốc tế (Ammon, 2001) Tiếng Anh được xem là cản trở lớn, tác động đến năng suất nghiên cứu của các nhà nghiên cứu không nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ (Tariq và cộng sự, 2016) Trong quá trình nghiên cứu, họ gặp khó khăn trong việc đọc tham khảo tài liệu và viết bản thảo Vì vậy, theo Hewings (2004), những nhà nghiên cứu ở các nước không nói tiếng Anh thường nhận được những bình luận thiếu tích cực từ các biên tập viên và phản biện viên trong quá trình bình duyệt bài báo
1.1.3.2 Các yếu tố thể chế
a Hỗ trợ tài chính của các cơ sở giáo dục
Các nghiên cứu trước đây cho thấy hỗ trợ tài chính có tác động đáng kể đến sản lượng nghiên cứu khoa học của các giảng viên trong các cơ sở giáo dục đại học Mức hỗ trợ này phục thuộc vào thể loại xuất bản của giảng viên như bài báo tạp chí, sách chuyên khảo, chương sách Nếu không có các hỗ trợ tài chính thì các giảng viên sẽ gặp rất nhiều khó khăn và thiếu thốn trong việc tiến hành nghiên cứu (Wood, 1990)
b Văn hóa nghiên cứu
Văn hóa nghiên cứu của nhà trường có ảnh hưởng sâu sắc đến thái độ và hành động của giảng viên, vì vậy nó cũng có mối liên hệ trực tiếp với năng suất nghiên cứu Deem và Lucas (2007) chỉ ra rằng văn hóa trường học đóng vai trò thúc đẩy nhưng cũng có thể gây cản trở công việc nghiên cứu của giảng viên Các yếu tố khuyến khích nghiên cứu gồm quỹ hỗ trợ nghiên cứu, giảm tải giờ giảng để tạo không gian nghiên cứu, chuyên gia huấn luyện về nghiên cứu, các buổi hội thảo, và các khóa đào tạo về phương pháp nghiên cứu khoa học Những yếu tố làm giảm động lực nghiên cứu gồm quá tải giờ giảng, các công việc hành chính, thời gian cho nghiên cứu hạn hẹp, và kỹ năng viết bài báo quốc tế
c Nguồn tài nguyên phục vụ nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, các tác giả phải tham khảo, đánh giá, so sánh các nghiên cứu được công bố ở các bài báo tạp chí, sách và chương
Trang 2515
sách để từ đó chỉ ra những đóng góp mới của mình trong kho tàng tri thức khoa học Như vậy, nguồn tài liệu tham khảo đóng vai trò hết sức cần thiết đối với các nhà nghiên cứu Iqbal và Mahmood (2011) cho rằng sự thiếu hụt các các tạp chí chuyên ngành và thiếu cập nhật các xu hướng nghiên cứu nổi trội sẽ dẫn đến năng suất nghiên cứu thấp
1.1.4 Những khó khăn đối với việc viết và công bố quốc tế
Các công trình khoa học là những sản phẩm khoa học được công bố và có tính ứng dụng trong thực tế Vì vậy, một công trình được coi là có giá trị khoa học khi kết quả của nó được viết thành các ấn phẩm dưới dạng các bài báo đăng trên tạp chí, một chương sách hay một cuốn sách chuyên khảo có thẩm định chuyên môn của các chuyên gia (peer-review) Một nhà nghiên cứu có uy tín là người có nhiều công trình có giá trị, được trích dẫn và được sử dụng nhiều trong học thuật và thực tiễn trong phạm vi quốc gia và quốc tế Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cần khẳng định vị thế của mình trong và ngoài nước thông qua các sản phẩm công bố quốc tế Nếu mỗi cá nhân làm khoa học và các viện/trường chưa nhận thấy công bố quốc tế là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong thế giới hội nhập hiện nay thì các chiến lược nhằm nâng cao vị thế, tạo uy tín, tăng cường hội nhập và trao đổi học thuật không thể thực hiện thành công Tuy nhiên, công bố quốc tế trên các tạp chí uy tín được chỉ mục trong Scopus và ISI vẫn còn ít nhiều xa lạ với phần lớn các giảng viên tại các viện/trường đại hoc ở Việt Nam Nguyễn Thị Hiền (2016) nêu ra một số lý do cho vấn đề này như sau:
a Nhiều nghiên cứu chưa có cấu trúc chuẩn mực
Nhiều bài viết của các tác giả chưa chặt chẽ, không có cấu trúc mang tính chuẩn mực Một bài báo khoa học cần được viết rõ ràng, lô gíc, thuyết phục và đảm báo cấu trúc thông thường của một bài nghiên cứu gồm: 1 Phần mở đầu (Introduction), 2 Lịch sử nghiên cứu (Literature review), 3 Phương pháp nghiên cứu (Methodology), 4 Kết quả và thảo luận (Results and discussions), 5 Kết luận (Conclusion) Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu công bố trên các tạp chí Việt Nam chưa đáp ứng những yêu cầu về nội dung và hình thức này
Trang 2616
b Nhiều nghiên cứu chưa cập nhật các xu hướng mới
Nhiều bài viết của các tác giả Việt Nam chưa cập nhật quan điểm, xu hướng nghiên cứu và chưa đưa nghiên cứu cụ thể vào trong tranh luận mang tính học thuật quốc tế Trong quá trình nghiên cứu, tác giả không chỉ đọc những bài viết về Việt Nam của các học giả Việt Nam mà còn còn phải nắm bắt các quan điểm, xu hướng nghiên cứu trên thế giới trong lĩnh vực liên quan Do hạn chế về ngoại ngữ, nhiều nhà nghiên cứu Việt nam không đọc được hệ thống tư liệu cập nhật bằng tiếng Anh Trong khi đó, để viết một bài báo, tác giả phải tham khảo hàng chục thậm chí hàng trăm công trình từ các sách và tạp chí Nếu bài viết không cập nhật các quan điểm học thuật quốc tế liên quan thì bài rất khó có khả năng được chấp nhận đăng
c Rào cản ngoại ngữ
Năng lực ngoại ngữ hạn chế không những khiến cho các nhà khoa học trong nước khó cập nhật được nguồn tài liệu trong lĩnh vực nghiên cứu mà họ còn gặp vô vàn khó khăn khi viết bài bằng tiếng Anh Hầu hết các tạp chí được xếp vào danh mục ISI, Scopus đều được xuất bản bằng tiếng Anh, một số ít bằng tiếng Pháp và các ngôn ngữ khác Với các học giả ở các quốc gia không nói tiếng Anh, việc viết bản thảo bằng tiếng Anh đáp ứng các chuẩn mực về mặt ngôn ngữ và văn phong học thuật là một thách thức lớn Ngoài ra, ngoại ngữ cũng là rào cản lớn đối với nhà khoa học trong việc lựa chọn in tạp chí trong các danh mục ISI, Scopus phù hợp với chủ đề, lĩnh vực bài viết Thêm vào đó, trong quá trình bình duyệt, nhà khoa học cũng cần có khả năng tiếng Anh đủ tốt để phúc đáp lại những nhận xét phản biện của người bình duyệt Đây cũng là một trong những lý do mà những nhà khoa học yếu tiếng Anh khó công bố quốc tế
1.2 Kỹ năng viết học thuật
1.2.1 Định nghĩa
Viết học thuật là một thể loại văn viết được dùng trong các lĩnh vực nghiên cứu, học thuật ở giáo dục bậc cao (higher education) bao gồm trình độ đại học và sau đại học Các bài viết học thuật có mục đích thông tin, giải thích
Trang 2717
những vấn đề nghiên cứu phức tạp đến một lượng lớn người đọc Bài viết cần trình bày vấn đề một cách rõ ràng, dễ hiểu để người đọc cả trong và ngoài lĩnh vực chuyên môn đều có thể lĩnh hội được Thể loại viết học thuật đòi hỏi nhiều quy chuẩn khắt khe về từ ngữ, cách diễn đạt, văn phong và bố cục (Swales và Feak, 2004) Văn viết học thuật có những nét đặc trưng cơ bản như sau:
- Sử dụng ngôi thứ ba: bài viết nên sử dụng ngôi thứ ba nhằm đảm bảo tính khách quan đồng thời cung cấp cho người đọc bức tranh toàn diện và khoa học về vấn đề nghiên cứu Ngược lại, việc sử dụng ngôi thứ nhất trong bài viết khiến người đọc cảm thấy tác giả đang thể hiện quan điểm cá nhân mang tính chủ quan
- Diễn đạt rõ ràng, cụ thể: mục đích của bài viết cần được trình bày rõ ràng xuyên suốt bài viết Luận điểm, luận cứ đưa ra phải có tính thống nhất, chặt chẽ để làm sáng tỏ vấn đề
- Ngôn ngữ trang trọng (formal): ngôn ngữ trong bài viết phải mang tính học thuật, tránh sử dụng khẩu ngữ đời thường thông tục
- Lập luận dựa trên chứng cứ cụ thể: tuyệt đối không lấy dẫn chứng từ trải nghiệm cá nhân vì nó mang tính chủ quan Tất cả các luận điểm đưa ra trong bài viết phải dựa trên những dẫn chứng khoa học chính xác và khách quan Các lập luận cũng phải được phân tích, nhìn nhận từ nhiều góc độ và tránh kết luận mang tính tuyệt đối
- Ngữ pháp chuẩn mực: bài viết học thuật trình bày các vấn đề nghiên cứu, vì vậy bài viết luôn được trau chuốt kỹ càng về mặt ngữ pháp nhằm truyền tải, biện giải một vấn đề khoa học Các lỗi về chính tả, ngữ pháp trong bài thể hiện sự cẩu thả và thiếu chuyên nghiệp của tác giả
1.2.2 Những khó khăn trong kỹ năng viết học thuật bằng tiếng Anh
Flowerdew (1999) nêu ra một số thách thức mà các tác giả ở những quốc gia không nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ phải đối mặt khi viết bài báo bằng tiếng Anh như sau:
Trang 2818
a Hạn chế về cách diễn đạt
Các nhà nghiên cứu phi bản ngữ (non-native English) gặp khó khăn trong việc sử dụng các cách diễn đạt theo chuẩn mực quốc tế Khả năng diễn đạt bằng tiếng Anh của họ không thuần thục như người bản ngữ (native English)
b Hạn chế về từ vựng
Đối với các học giả đến từ các nước nói tiếng Anh, khi ý tưởng được hình thành, họ đã có luôn vốn từ thường trực để thể hiện các ý tưởng đó vì tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ Tuy nhiên, các học giả phi bản ngữ sẽ gặp trở ngại lớn trong việc sử dụng và lựa chọn các từ vựng để diễn đạt ý tưởng do lượng từ tiếng Anh hạn chế
c Hạn chế về kiến thức ngữ pháp
Ngữ pháp cũng là một điểm yếu của các tác giả phi bản ngữ khi viết bản thảo bằng tiếng Anh Mặc dù họ nắm vững kiến thức chuyên ngành và các thuật ngữ liên quan nhưng việc sử dụng đúng thì, thể, mạo từ, giới từ, liên từ, danh từ, động từ, tính từ trong tiếng Anh một cách chuẩn xác là một thách thức vô cùng lớn đối với các tác giả Theo Ammon (2000), bản thảo của các tác giả phi bản ngữ mắc quá nhiều lỗi ngữ pháp khiến người biên tập không thể hiểu rõ nội dung mà tác giả muốn chuyển tải
d Cấu trúc biện luận trong bài chưa theo chuẩn mực
Các nhà nghiên cứu mới vào nghề thường viết bài báo nặng tính mô tả, khái quát hóa mà thiếu dẫn chứng, chứng minh rõ ràng, không nêu được vấn đề nghiên cứu, luận giải vấn đề, không cập nhật được các quan điểm nghiên cứu, lý thuyết nghiên cứu của lĩnh vực liên quan Trong mỗi phần của bài báo, tác giả cần tuân thủ cấu trúc nhất định theo thông lệ quốc tế gồm các hành động (moves) và các bước thể hiện (steps) để biện giải vấn đề Tuy nhiên, đây là điểm yếu của các nhà khoa học Việt Nam vì phần lớn các bài báo vẫn chưa theo chuẩn mực quốc tế
1.3 Thiết kế chương trình đào tạo
1.3.1 Khái niệm đào tạo
Đào tạo được hiểu là các chỉ dẫn nhằm mục đích nâng cao hiệu suất công việc hoặc các hoạt động học tập nhằm tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt để thực hiện những công việc cụ thể một cách hoàn hảo hơn Đào tạo nguồn nhân
Trang 2919
lực là một hoạt động có tổ chức, được tiến hành trong một thời gian nhất định và mang lại sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người (Spector và cộng sự, 2013) Đối với doanh nghiệp, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực sẽ đảm bảo cho nguồn nhân lực của doanh nghiệp có thể thích ứng và theo sát sự tiến bộ và phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, duy trì một lực lượng lao động chuyên môn cao giúp doanh nghiệp hoàn thành các mục tiêu đề ra Đối với người lao động, đào tạo giúp họ nâng cao trình độ văn hóa và kiến thức chuyên môn để không bị tụt hậu; từ đó, họ cảm thấy tự tin và làm việc hiệu quả hơn, trở nên nhanh nhạy hơn để đáp ứng với sự thay đổi của môi trường (Arulampalam và cộng sự, 2004; Bosch và Charest, 2012; O’Connell, 1999) Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực hiện có sẽ mang lại hiệu quả trong việc nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động, khẳng định vai trò và năng lực của nhà quản lý, thiết lập mối quan hệ tốt đẹp trong nội bộ và phát triển hình ảnh của doanh nghiệp trong xã hội Đối với trường đại học, đào tạo nguồn nhân lực sẽ giúp giảng viên tăng cường trình độ chuyên môn trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học, xây dựng mối quan hệ thân thiết với đồng nghiệp và nâng cao hình ảnh của nhà trường
1.3.2 Vai trò của hoạt động phân tích nhu cầu đào tạo
Việc nắm bắt nhu cầu đào tạo sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người lập kế hoạch đào tạo, từ đó giúp họ thiết kế chương trình hiệu quả, đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra Florian và Hegarty (2004) và Haesner cùng cộng sự (2015) chỉ
ra rằng việc phân tích nhu cầu đào tạo đóng vai trò quan trọng trong suốt quá trình huấn luyện David (2009) cũng xác định nhu cầu đào tạo là giai đoạn khởi thủy để xây dựng và thiết kế khóa học nhằm xác định hình thức đào tạo phù hợp
để nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của nhân viên, đồng thời giúp tiết kiệm thời gian, tài chính và công sức cho tổ chức và cá nhân Hoạt động phân tích nhu cầu có thể được tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau như thực hiện bảng khảo sát, phỏng vấn sâu, … từ đó cung cấp cho tổ chức các thông tin
về nhu cầu, mong muốn được đào tạo của nhân viên để thiết kế chương trình một cách phù hợp nhất Việc nắm được nhu cầu đào tạo cũng sẽ hỗ trợ doanh
Trang 3020
nghiệp xây dựng cho mỗi nhân viên một lộ trình học tập và phát triển rõ ràng và
cụ thể Theo đó, nhân viên sẽ chủ động và hứng thú hơn với việc học tập và trau dồi chuyên môn
Tóm lại, hoạt động phân tích nhu cầu đào tạo trong các tổ chức, doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết nhằm tạo ra các khóa đào tạo đạt hiệu quả tối ưu và tiết kiệm chi phí
1.3.3 Các yếu tố liên quan đến chương trình đào tạo
Để thiết kế chương trình phù hợp và hiệu quả, người thiết kế cần cân nhắc các yếu tố liên quan đến tài liệu học tập, thời gian biểu, thời gian đào tạo, số lượng học viên, và người huấn luyện (Lê Tiến Đạt, 2015)
Về tài liệu học tập
Theo Kidder và Rouiller (1997), chất lượng và số lượng các tài liệu sử dụng trong khóa đào tạo là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả của khóa học Tài liệu học cần phù hợp với khả năng và trình độ của người tham gia Tức là, những tài liệu này không nên vượt xa tầm hiểu biết của người học để tránh làm họ nhụt chí Bên cạnh đó, chương trình học quá dễ sẽ khiến học viên cảm thấy nhàm chán Tài liệu học cần được tổ chức theo hướng phát triển chuyên môn trong tương lai dài hạn cho nhân viên (Vygotsky, 1986) Nội dung tài liệu cần lồng ghép các hình ảnh và bảng biểu; thông tin được trích từ sách, tạp chí và được trình bày dưới dạng slide Ngoài ra, giáo viên huấn luyện cũng nên cung cấp thêm các tài liệu tham khảo bổ trợ dưới dạng bản in và bản điện tử
Về thời gian biểu
Theo Giangreco, Sebastiano and Peccei (2009), thời gian học là một yếu tố cần cân nhắc đối với những người thiết kế khóa học để mang lại hiệu quả cho học viên Thời gian học nên phù hợp với số đông để đảm bảo học viên tham gia đầy đủ các buổi huấn luyện
Về thời gian đào tạo
Thời gian đào tạo được coi là một nhân tố quan trọng trong việc thực hiện khóa đào tạo Theo Sitzmann và cộng sự (2008), khóa học ngắn sẽ mang lại hiệu quả hơn so với khóa học dài bởi khóa học diễn ra trong một thời gian dài sẽ kéo theo những tác động tiêu cực đến người học Cụ thể, thời gian dành cho việc
Trang 3121
tham gia khóa đào tạo sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến công việc của học viên Ghosh và cộng sự (2011) cho rằng thời gian đào tạo nên ở mức độ vừa đủ để người học lĩnh hội nội dung khóa học một cách hiệu quả
Về số lượng học viên
Theo quan điểm của các chuyên gia về nhân sự, mỗi khóa đào tạo nên giới hạn từ 8 đến 25 người tham gia Đây là số lượng lí tưởng để các học viên có cơ hội tương tác, trao đổi các vấn đề với nhau trong mỗi bài học (Giangreco và cộng sự, 2010) Tuy nhiên, Brown và cộng sự (2005) lại chỉ ra rằng số lượng học viên không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng và hiệu quả khóa học
Về người huấn luyện
Việc huấn luyện sẽ sẽ giúp người học có thể nhanh chóng đạt được mục tiêu của khóa học và của cá nhân Người huấn luyện cần hướng dẫn và khuyến khích học viên phát triển hết khả năng của mình, từ đó giúp họ tự đánh giá hiệu quả công việc để tiếp tục phát huy những ý tưởng mới sáng tạo hơn Đồng thời, chuyên gia huấn luyện cũng phải tạo được niềm tin với người học bởi sự đồng cảm và tin tưởng lẫn nhau sẽ giúp nâng cao hiệu quả của khóa học (Giangreco và cộng sự, 2010)
Về kinh phí đào tạo
Theo Trần Kim Dung (2016), chi phí vật chất trong đào tạo bao gồm: Chi phí cho các phương tiện vật chất, kỹ thuật, tài liệu sử dụng trong quá trình giảng dạy
Chi phí cho đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giảng viên huấn luyện Học bổng hoặc tiền lương trả cho nhân viên trong thời gian đi học (nếu có) Chi phí cơ hội do nhân viên tham dự các khóa đào tạo, không thực hiện được các công việc thường ngày của họ
Trang 3222
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành tại trường đại học Thương mại, một trong những cơ sở giáo dục đại học thuộc top đầu về ngành kinh tế tại Việt Nam Đại học Thương mại là trường đại học chất lượng cao, đa ngành, đa lĩnh vực, và hoạt động tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình Các khoa chuyên ngành trực thuộc trường bao gồm khoa quản trị kinh doanh, khách sạn du lịch, marketing, kế toán kiểm toán, kinh tế và kinh doanh quốc tế, kinh tế-luật, tài chính ngân hàng, hệ thống thông tin kinh tế và thương mại điện tử, quản trị nhân lực và khoa Tiếng Anh Từ khi thành lập đến nay, nhà trường đã đào tạo và cung cấp cho xã hội hàng chục nghìn cử nhân kinh tế, hàng nghìn thạc sĩ, tiến sĩ kinh tế; bồi dưỡng nhiều cán bộ quản lý kinh tế cho ngành thương mại và các ngành khác Ngoài ra, nhà trường cũng đã trực tiếp thực hiện và tham gia nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, hàng trăm đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và hàng chục hợp đồng nghiên cứu với các cơ quan, doanh nghiệp được Nhà nước, xã hội và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá ngày càng cao Tuy nhiên, về thành tích nghiên cứu khoa học, số công bố quốc tế còn chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng số giảng viên và đặc biệt là so với năng lực nghiên cứu của giảng viên Việc công bố quốc tế cũng mới chỉ tập trung trong một số ít giảng viên đã từng du học nước ngoài, có năng lực ngoại ngữ tốt Khai thác khả năng công bố quốc tế của phần lớn giảng viên, đặc biệt là các giảng viên trẻ là mong muốn của nhà trường
Nghiên cứu này thực hiện nhằm phân tích và đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc nâng cao kỹ năng viết học thuật trong công bố quốc tế, nhu cầu và mong muốn của giảng viên trường ĐHTM đối với nội dung và hình thức triển khai khóa đào tạo Vì vậy khách thể nghiên cứu ở đây là 135 giảng viên đến từ các khoa chuyên ngành khác nhau như Khách sạn du lịch, Kế toán-kiểm toán, Quản trị kinh doanh, Hệ thống thông tin kinh tế và thương mại điện tử của trường ĐHTM Để đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng cũng như nhu cầu và mong
Trang 332.2 CÔNG CỤ THU THẬP SỐ LIỆU
Để thực hiện nghiên cứu này, dữ liệu được thu thập từ 2 nguồn cụ thể như sau:
Thứ nhất là dữ liệu điều tra bằng bảng hỏi Bảng hỏi này bao gồm 2 phần: phần thứ nhất có 13 câu hỏi để điều tra về thông tin chung cùng với năng lực tiếng anh, những khó khăn cũng như thành tựu trong công bố quốc tế của các giảng viên Phần thứ hai khảo sát về nhu cầu và mong muốn của giảng viên đối với việc tham gia các khóa đào tạo nhằm nâng cao kỹ năng viết học thuật Chi tiết phiếu điều tra này được trình bày ở phụ lục Phiếu điều tra này được thiết kế trên google form và thực hiện khảo sát online kết hợp với phát phiếu trực tiếp Kết quả thu về được tổng hợp và chuẩn bị cho giai đoạn tiền xử lý và phân tích dữ liệu
Thứ hai là dữ liệu thu được từ phỏng vấn (áp dụng với 10 giảng viên và 3 cán bộ quản lý) với các câu hỏi sâu về nhu cầu cũng như khó khăn trong việc công bố quốc tế của giảng viên Ba cán bộ quản lý bao gồm: 01 trưởng khoa chuyên ngành, 01 trưởng bộ môn chuyên ngành, 01 chuyên viên phòng quản lý khoa học Đối với cán bộ quản lý, nội dung phỏng vấn sâu hướng tới các giải pháp, khả năng đáp ứng, hỗ trợ từ phía cơ sở đào tạo đối với giảng viên trong công bố quốc tế
2.3 QUY TRÌNH THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU
Đối với dữ liệu điều tra
Trang 3424
Sau khi khảo sát online bằng công cụ Google Form và phát phiếu trực tiếp, kết quả thu về 135 phiếu Dữ liệu gồm các biến đầu vào được chia thành 3 nhóm:
- Nhóm các biến liên quan thông tin nhân khẩu học bao gồm các biến tuổi, giới tính và học vị
- Nhóm các biến về năng lực Tiếng Anh bao gồm các biến về chứng chỉ ngoại ngữ, khả năng đọc, viết, và thành tựu về các công bố quốc tế của giảng viên
- Nhóm các biến liên quan đến nhu cầu và mong muốn của giảng viên đối với việc tham gia các khóa đào tạo nhằm nâng cao kỹ năng viết học thuật
Bảng 3.1 Danh sách các biến trong tập dữ liệu
1 Sex Giới tính 9 Content Nội dung của khóa học
2 Age Độ tuổi 10 Duration Độ dài của khóa học
Thời gian của mỗi buổi học
4 Certificate
Chứng chỉ Tiếng Anh 12 Frequence Tần suất các buổi học
5 Ability
Năng lực tiếng Anh nói chung 13 Time Thời điểm học
Trang 3525
Các biến của tập dữ liệu được mô tả như bảng 3.1 Dữ liệu này được tổng hợp trong file Excel để làm đầu vào cho giai đoạn tiền xử lý và phân tích dữ liệu Trong đó:
Tiền xử lý dữ liệu là bước nhằm tạo ra bộ dữ liệu hoàn chỉnh có thể làm
đầu vào cho quá trình phân tích sau này Bước này bao gồm các thao tác làm sạch, xử lý các giá trị khuyết thiếu hay giá trị nhiễu, ngoại lai, mã hóa và biến đổi dữ liệu
Phân tích dữ liệu: Sau khi tiền xử lý, quy trình phân tích cho từng nhóm
biến sẽ khác nhau Cụ thể: đối với nhóm biến về thông tin nhân khẩu học sẽ được phân tích đơn giản dưới dạng các thống kê mô tả để có đánh giá ban đầu đối với dữ liệu; đối với nhóm các biến liên quan đến nhu cầu tham gia các khóa học của giảng viên, dữ liệu sẽ cũng được phân tích dưới các thống kê mô tả để đánh giá mức độ tầm quan trọng của các khóa học cũng như đưa ra các đề xuất và định hướng trong việc tổ chức các khóa học này; đối với nhóm các biến về năng lực Tiếng Anh sẽ được phân tích và đánh giá mối tương quan hệ giữa các biến quan sát/ yếu tố đầu vào với biến đầu ra Giai đoạn này sẽ bao gồm 3 bước:
Bước 1: Kiểm định thang đo CronBach Alphha: Đây là bướcnhằm phân tích cũng như đánh giá độ tin cậy của thang đo Mục đích của kiểm định Cronbach Alpha là để tìm hiểu xem các biến quan sát có cùng đo lường cho một khái niệm cần đo hay không Giá trị đóng góp nhiều hay ít được phản ánh thông qua hệ số tương quan biến tổng Corrected Item – Total Correlation Thông qua
đó, cho phép chúng ta loại bỏ được những biến không phù hợp trong mô hình nghiên cứu của mình Thông thường kiểm định thang đo Cronbach’s Alpha được thực hiện theo từng nhóm nhân tố trước khi phân tích nhân tố khám phá EFA Và khái niệm “thang đo” ý muốn nói đến một tập hợp các biến quan sát con có khả năng đo được, thể hiện được tính chất của nhân tố mẹ Phép kiểm định này phản ánh mức độ tương quan chặt chẽ giữa các biến quan sát trong cùng 1 nhân tố Nó cho biết trong các biến quan sát của một nhân tố, biến nào đã đóng góp vào việc đo lường khái niệm nhân tố, biến nào không Kết quả bước
Trang 3626
này sẽ giúp người dùng loại các biến không phù hợp theo từng nhân tố Tiêu chí
để đánh giá thang đo như sau:
- Nếu một biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng >=0,3 thì biến đó
đạt yêu cầu ( Theo Nunnally,J (1978), Psychometric Theory, New York, McGraw -Hill) Điều này có nghĩa sẽ loại các biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng Corrected Item – Total Corelation nhỏ hơn 0,3 ( tương ứng là những biến không có đóng góp nhiều cho sự mô tả của khái niệm cần đo)
- Mức giá trị hệ số CronBach’s Alpha (Theo Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 2, NXB Hồng Đức ) thì:
o Từ 0,8 đến gần bằng 1 : thang đo lường rất tốt
o Từ 0,7 đến gần bằng 0.8: thang đo lường sử dụng tốt
o Từ 0,6 trở lên: thang đo lường đủ điều kiện
- Ngoài ra, khi xem xét để loại một biến quan sát nào đó cần so sánh giá trị của CronBach’s Alpha của nhóm trước và sau khi loại biến đó
Bước 2: Phân tích tương quan Pearson: Trước khi thực hiện phân tích
hồi quy, kiểm định tương quan pearson sẽ được thực hiện nhằm kiểm tra mối tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa biến phụ thuộc với các biến độc lập và sớm nhận diện vấn đề đa cộng tuyến khi các biến độc lập cũng có tương quan mạnh với nhau Tương quan Pearson r có giá trị dao động từ -1 đến 1 (lưu ý, hệ số r chỉ có ý nghĩa khi sig nhỏ hơn 0,05, nếu sig lớn hơn 0,05 thì không có mối tương quan tuyến tính) và tiêu chí đánh giá hệ số tương quan như sau:
- Nếu r càng tiến về 1, -1: tương quan tuyến tính càng mạnh, càng chặt chẽ Tiến về 1 là tương quan dương, tiến về -1 là tương quan âm
- Nếu r càng tiến về 0: tương quan tuyến tính càng yếu
- Nếu r = 1: tương quan tuyến tính tuyệt đối
- Nếu r = 0: không có mối tương quan tuyến tính
Trang 3727
Bước 3: Phân tích và xây dựng mô hình hồi quy: Sau khi thực hiện kiểm
định độ tin cậy của thang đo bằng phương pháp CronBach’s Alpha và phân tích tương quan pearson giữa các biến, đây là bước dùng mô hình hồi quy để phân tích mức độ tác động của từng nhân tố lên sự thay đổi của biến đầu ra của mô hình Trong bài nghiên cứu này, mô hình hồi quy được sử dụng là mô hình hồi quy tuyến tính đa biến Để phân tích và đánh giá mô hình hồi quy, quy trình thực hiên và các tiêu chí sau được sử dụng:
- Kiểm định hệ số hồi quy: kiểm định này sẽ được dùng để kiểm tra xem các biến độc đập có ảnh hưởng tới biến phụ thuộc hay không Đối với hô hình hồi quy tuyến tính đa biến kiểm định này sẽ được thực hiện thông qua giá trị p-value với kiểm định t Trong đó p-value hay hệ số sig cho biết xác suất của
dữ liệu xảy ra nếu giả thiết vô hiệu H0 là đúng (là giả thuyết ngược lại với những gì mà nhà nghiên cứu tin là sự thật- đây thường là giả thiết ngược với giả thiết chính và người ta muốn bác bỏ giả thiết này ) Theo quy ước, tất cả các gía trị p-value thấp hơn 0,05 (tức thấp hơn 5%) được xem là “significant” tức là “có
ý nghĩa thống kê” Điều này có nghĩa là nếu p-vaue >=0,05 thì biến đầu vào tương ứng tương quan không có ý nghĩa đối với biến đầu ra
- Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình thông qua mức độ dự báo chính xác – là tỉ lệ dự báo chính xác của mô hình và mức độ phù hợp của mô hình thông qua kiểm định F và giá trị R bình phương hiệu chỉnh
- Hệ số hồi quy: hệ số này cho biết chiều hướng và mức độ ảnh hướng của từng biến độc lập lên biến phụ thuộc Hơn nữa, nếu hệ số hồi quy âm, có nghĩa biến đầu vào tương ứng có tác động/ ảnh hưởng nghịch/ hoặc tiêu cực lên biến đầu ra và ngược lại, nếu hệ số hồi quy là dương thể hiện biến độc lập tác động thuận/ tích cực lên biến phụ thuộc
- Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến của mô hình thông qua hệ số phóng đại phương sai VIF Thông thường nếu giá trị VIF nhỏ hơn 2 thì kết luận không có hiện tượng đa cộng tuyến
Trang 3828
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 KẾT QUẢ TỪ BẢNG HỎI
3.1.1 Đối với nhóm biến về nhân khẩu học
Theo số liệu thống kê của khảo sát thì có 68,89% giảng viên đã có các công bố quốc tế với các hạng khác nhau Trong phần này, nghiên cứu sẽ trình bày chi tiết thành tựu này theo từng đặc điểm về giới tính, độ tuổi, học vị và theo xếp hạng tạp chí
Hình 3.1 Tỉ lệ giảng viên theo giới tính Hình 3.2 Tỉ lệ công bố quốc tế theo giới tính
Thứ nhất, xét về đặc điểm giới tính Từ đồ thị cho thấy tỉ lệ nữ giảng viên tham gia khảo sát chiếm 80%, còn 20% là nam giảng viên Điều này hoàn toàn hợp lý khi tỉ lệ giảng viên là nữ chiếm phần lớn trong tổng số giảng viên của Nhà trường Chính vì vậy công bố quốc tế của nữ giảng viên nữ cũng chiếm tỉ lệ nhiều hơn so với của nam giảng viên
Hình 3.3 Tỉ lệ giảng viên theo độ tuổi Hình 3.4 Tỉ lệ công bố quốc tế theo độ tuổi
Thứ hai, xét về độ tuổi Từ đồ thị ta có thể thấy các giảng viên chiếm tỉ lệ nhiều nhất thuộc về 2 độ tuổi từ 31 đến 35 (35,6%) và từ 36 đến 40 (31,1%), tiếp theo là 2 độ tuổi từ 26 đến 30 và từ 46 đến 50 với tỉ lệ cùng là 13,3% Điều này cho thấy lực lượng giảng viên của Nhà trường khá trẻ, và tỉ lệ đóng góp vào các công bố cũng nằm chủ yếu ở các nhóm tuổi chiếm phần lớn với 26,67% của độ
55.56
13.33
0.00 20.00 40.00 60.00
Từ 26 30
-Từ 35
31Từ 36 40
Từ 41 45
Từ 46 50
-Tỉ lệ công bố quốc tế theo độ
tuổi (%)
Trang 3929
tuổi 31-35, 22,22 % của độ tuổi 36 -40 Ngoài ra tỉ lệ đóng góp vào các công bố quốc tế của các độ tuổi lần lượt là: từ 26 – 30 (2,22%), từ 41 -45 (8,89%), từ 46 -50 (4,44%) Lưu ý rằng kết quả này không phản ánh tỉ lệ công bố quốc tế của
độ tuổi từ 51 trở lên do trong tập dữ liệu khảo sát được không có quan sát nào của độ tuổi này
Hình 3.5 Tỉ lệ giảng viên theo học vị Hình 3.6 Tỉ lệ công bố quốc tế theo học vị
Thứ ba, xét về học vị Từ đồ thị cho thấy, bộ dữ liệu khảo sát gồm có 62,2% giảng viên có học vị là thạc sỹ, 35,6% giảng viên có học vị là tiến sĩ và còn lại giảng viên có học vị là cử nhân Và dựa vào biểu đồ về tỉ lệ công bố quốc
tế ta thấy mặc dù tỉ lệ giảng viên là thạc sĩ cao gần gấp đôi giảng viên có học vị tiến sĩ nhưng mức độ đóng góp vào công bố của quốc tế của giảng viên có học vị thạc sĩ (35,56%) không cao hơn mức độ đóng góp của giảng viên có học vị
0.00 5.93 0.00 5.19 3.70
0.00 10.00 20.00 30.00 40.00 50.00 60.00 Chưa từng có công bố quốc tế
Hội thảo quốc tế Tạp chí quốc tế có chỉ số ISBN Tạp chí thuộc danh mục ABDC
Scopus Q4 hoặc ESCI
Scopus Q3 Scopus Q2 hoặc ISI(1<IF<2)
Q1 hoặc ISI (IF>2)
Trang 4030
Thứ tư, xét theo xếp hạng loại tạp chí Từ đồ thị ta thấy có 31,11% giảng viên được điều tra chưa có các công bố quốc tế và 68,89% giảng viên có công bố quốc tế Trong số các công bố quốc tế thì các bài báo thuộc các hội thảo quốc
tế chiếm phần lớn với 53,33%, tiếp theo là các bài báo được đăng trên các tạp chí quốc tế có chỉ số ISBN với tỉ lệ 17,78% Trong khi đó các công bố có xếp hạng cao chiếm tỉ lệ thấp, cụ thể các công bố ở các tạp chí xếp hạng Q4 hoặc ESCI chiếm 5,93%, tạp chí xếp hạng Q2 hoặc ISI có chỉ số IF nhỏ hơn 2 chiếm 5,19% và tạp chí xếp hạng Q1 hoặc ISI có chỉ số IF lớn hơn 2 là 3,7%
3.1.2 Đối với nhóm biến năng lực Tiếng Anh
Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha:
Hình 3.8 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha
Từ kết quả ta thấy, giá trị Cronbach’s Alpha hiện tại là 0,844, có nghĩa là thang đo rất tốt Hơn nữa, tất cả các biến đều có mối tương quan với biến tổng đều lớn hơn 0,3, tức các biến quan sát đều có ý nghĩa đối với việc mô tả năng lực Tiếng Anh của các giảng viên Tuy nhiên ta cần loại bỏ biến Certificate ra khỏi mô hình phân tích do giá trị hệ số Cronbach’s Alpha sau khi loại bỏ biến này (0,9232) lớn hơn giá trị hiện tại
Kết quả kiểm định tương quan Pearson
Trong kiểm định này, ta đưa các biến về nhân khẩu học như tuổi và trình
độ (học vị) để xem xét mối tương quan các biến này với biến đầu ra Kết quả ta thu được:
Item Obs Sign correlation correlation covariance alpha
item-test item-rest interitem
average