1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài tập nhóm Luật Chứng khoán: Tìm hiểu các quy định về công ti đại chúng để thấy sự khác biệt của công ti đại chúng với các công ti phi đại chúng?

13 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 26,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa công ty đại chúng - Theo quy định tại Điều 25, Luật chứng khoán năm 2006: Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình sau: 1 Công ty đã thực hiện chào bá

Trang 1

BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT CHỨNG KHOÁN

Tìm hiểu các quy định về công ti đại chúng để thấy sự khác biệt của công ti đại chúng với các công ti phi đại chúng?

1 Đặt vấn đề

2 Nội dung giải quyết

2.1 Khái quát chung về công ty đại chúng

2.1.1 Khái niệm, vai trò của công ty đại chúng 2.1.1.1 Định nghĩa, đặc điểm công ty đại chúng

a Định nghĩa công ty đại chúng

- Theo quy định tại Điều 25, Luật chứng khoán năm 2006:

Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình sau:

(1) Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng;

(2) Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán;

(3) Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều

lệ đã góp từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên

- Theo quy định tại Điều 32 Luật chứng khoán 2019:

Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong hai trường hợp sau:

(1) Công ty có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ;

(2) Công ty đã thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông qua đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

b Đặc điểm của công ty đại chúng

Trang 2

- Về cổ đông công ty: tối thiểu 100 nhà đầu tư

- Vốn điều lệ của công ty: từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên

- Huy động vốn: (khả năng huy động vốn linh hoạt, phát hành

cổ phiếu, các khoản vay,…)

- Tư cách pháp nhân: có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

- Chế độ trách nhiệm tài sản: chế độ trách nhiệm hữu hạn

2.1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của công ty đại chúng

Với việc xuất hiện công khai trên thị trường chứng khoán, trên báo chí, công ty đại chúng sẽ được xã hội biết đến công ty đại chúng nhiều hơn Không những vậy, công ty còn khẳng định được danh tiếng, uy tín nên khi cần huy động vốn từ ngoài xã hội cũng dễ dàng hơn rất nhiều Ngoài ra, công ty được phép phát hành cổ phiếu, trái phiếu với chi phí phát hành thấp hơn với lần phát hành trước

Thêm vào đó, nó giúp các nhà đầu tư nhỏ lẻ có khả năng tiếp cận với các kênh đầu tư dài hạn hoặc thúc đẩy thị trường luân chuyển vốn, cùng với nó là sự gia tăng số lượng, đa dạng hoá các kênh đầu tư cho thị trường vốn

Điểm nổi bật cần nói thêm liên quan đến công ty đại chúng

và thị trường chứng khoán là hoạt động IPO (initial public offering) IPO là động tác có tính bước ngoặt để chuyển một công

ty thành đại chúng (going public) và niêm yết IPO và hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng nói chung được luật lệ chứng khoán chăm sóc đặc biệt

Công ty phải báo cáo công khai hoạt động của mình cho công chúng, nên chịu sự giám sát của công chúng, xã hội Thêm vào đó, hội đồng quản trị và ban giám đốc phải công khai các

Trang 3

hoạt động quản lý và điều hành công ty Ban giám đốc phải chăm

lo việc phát triển công ty cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản lý, cơ cấu hợp lý vốn, nếu không thì các giám đốc sẽ bị sa thải; như vậy hoạt động công ty đại chúng đã ràng buộc các giám đốc phải tuân thủ pháp luật, điều hành công ty theo đúng luật công ty

Nhà nước bớt được gánh nặng phải trợ giúp vốn ngân sách cho công ty, và như vậy Nhà nước có thể tập trung sức lực vào nhiệm vụ trọng đại của mình là đầu tư cơ sở hạ tầng

2.1.2 Các mô hình công ty đại chúng (trên thế

giới)

Quy định của các quốc gia trên thế giới về công ty đại chúng

có sự khác nhau, cụ thể như sau:

Theo pháp luật Mỹ, việc thành lập và hoạt động của các CTCP được điều chỉnh bởi luật pháp của các tiểu bang và có thể không giống nhau Mặc dù vậy, vấn đề phân chia các trạng thái pháp lý của CTCP đều dựa vào tiêu chí về cấu trúc cổ đông Theo

đó, công ty đại chúng có tên gọi C Corporation nhằm phân biệt với S Corporation - hình thức công ty có tính chất nội bộ Cơ cấu

cổ đông của S Corporation bị ràng buộc bởi những giới hạn như:

(1) công ty chỉ được phát hành loại cổ phần duy nhất; (2) số lượng

cổ đông không vượt quá 100; (3) cổ đông phải là cá nhân và là

công dân Mỹ Những giới hạn này không áp dụng đối với C Corporation Điều này đồng nghĩa một CTCP có cơ cấu cổ đông

muốn vượt qua những giới hạn vừa nêu phải đăng ký hoạt động dưới tư cách là một công ty đại chúng Theo thống kê thì đa phần

các CTCP tại Mỹ đều được tổ chức dưới hình thức C Corporation.

Trang 4

Tuy vậy, không phải C Corporation nào cũng chịu sự điều

chỉnh của pháp luật chứng khoán và đặt dưới sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK Theo quy định của Đạo luật Chứng khoán Mỹ năm 1934, các công ty có tài sản từ

10 triệu USD và 500 cổ đông trở lên sẽ phải làm thủ tục đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Mỹ theo quy định của Đạo luật này

Theo luật công ty tại Anh (the Companies Act 2006), công ty đại chúng được gọi là public limited company (viết tắt là Plc) để

phân biệt với công ty tư nhân hay gọi là công ty trách nhiệm hữu

hạn theo cổ phần (private limited company) Các nhà làm luật

nước này đặt ra rất nhiều quy định điều chỉnh việc xác lập tư cách công ty đại chúng Theo đó, công ty muốn được xác lập tư cách công ty đại chúng phải đáp ứng nhiều điều kiện luật định như: (1) vốn cổ phần danh nghĩa không được thấp hơn 50.000 Bảng Anh hoặc giá trị tương đương; (2) giá trị tài sản ròng được ghi nhận trong sổ sách kế toán được kiểm toán, vào thời điểm trong vòng 6 tháng trở lại tính từ ngày đăng ký, không được thấp hơn giá trị vốn cổ phần danh nghĩa và các khoản lợi nhuận chưa phân phối; (3) cùng một số điều kiện khác về thủ tục pháp lý

Tại Úc, Điều 112 Đạo luật Công ty của quốc gia này (the Corporations Act 2001) quy định theo hướng cho phép các nhà

đầu tư có thể lựa chọn hình thức công ty sở hữu tư nhân/nội

bộ (proprietary company) hoặc công ty đại chúng (public company) Các công ty đại chúng thì không bị hạn chế số lượng cổ

đông Đồng thời, chỉ công ty đại chúng mới có quyền huy động vốn bằng việc phát hành cổ phiếu ra công chúng

Thông qua những phân tích trên, có thể nhận thấy, từ góc độ

lý luận đến quy định trong pháp luật thực định của các quốc gia,

Trang 5

tiêu chí xác định công ty đại chúng có thể không hoàn toàn giống nhau nhưng đều xoay quanh một vài tiêu chí cốt lõi

Cụ thể, pháp luật các nước đều đề cập đến hai khía cạnh: (i) Khả năng công chúng có thể trở thành chủ sở hữu của công ty thông qua hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng; (ii) Mức

độ tự do chuyển nhượng cổ phiếu công ty của các nhà đầu tư là chủ sở hữu hiện hữu với những nhà đầu tư tiềm năng thông qua việc công ty có niêm yết cổ phiếu trên TTCK có tổ chức hay không

Bên cạnh đó, quy mô vốn và số lượng cổ đông cũng được quan tâm, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp Điều này đảm bảo rằng công ty đại chúng phải là những công ty đủ tiềm lực để tuân thủ các yêu cầu khắt khe hơn về quản trị, tuân thủ và trách nhiệm giải trình so với các công ty tư nhân/nội bộ

Việc xác lập trạng thái pháp lý là công ty đại chúng như là một điều kiện được đặt ra để các CTCP tiếp cận nguồn vốn trong phạm vi rộng lớn, không giới hạn từ công chúng Vì vậy, chế định

về công ty đại chúng như một công cụ để các nhà quản lý định hướng cho các CTCP trong chiến lược phát triển, mở rộng quy mô

Đồng thời, đây cũng là công cụ để nhà nước bảo vệ công chúng đầu tư, bảo vệ sự lành mạnh, công bằng và phát triển bền vững của thị trường vốn Thông lệ quốc tế cho thấy, việc xác lập

tư cách công ty đại chúng là mong muốn tất yếu của rất nhiều CTCP vì nó mở ra nhiều cơ hội lớn cho việc phát triển nhờ sự hỗ trợ hiệu quả của TTCK

2.2 Pháp luật về công ty đại chúng ở Việt Nam hiện

nay

Trang 6

Tại Việt Nam, khái niệm về “công ty đại chúng” xuất hiện khá trễ Mãi đến năm 2006, khi Luật Chứng khoán được thông qua thì các nhà làm luật mới bắt đầu thiết lập cơ chế pháp lý riêng biệt để điều chỉnh hoạt động của công ty đại chúng

a Thế nào là công ty đại chúng?

Theo quy định tại Điều 25 Luật Chứng khoán 2006, sửa đổi,

bổ sung năm 2010 định nghĩa về công ty đại chúng như sau:

“Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình sau đây: 1 Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; 2 Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán; 3. Công ty

có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp

từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên.”

Như vậy, nếu công ty cổ phần đáp ứng được một trong ba điều kiện trên thì được coi là công ty đại chúng

Ở hai trường hợp đầu tiên, việc trở thành công ty đại chúng

là sự lựa chọn của bản thân công ty hay còn hiểu là việc xác lập trạng thái công ty đại chúng là tự động Còn ở trường hợp cuối cùng, công ty cổ phần đáp ứng điều kiện về vốn điều lệ và số cổ đông đã nêu sẽ nghiễm nhiên trở thành công ty đại chúng nhưng phải thông qua thủ tục đăng ký công ty đại chúng Ngày trở thành công ty đại chúng được tính từ ngày hoàn thành việc góp vốn đầy đủ và số cổ đông được ghi nhận trong số cổ đông có

từ 100 nhà đầu tư trở lên

Vậy nên, một là trong vòng 90 ngày kể từ ngày trở thành công ty đại chúng, công ty có trách nhiệm phải nộp hồ sơ đăng ký

Trang 7

công ty đại chúng cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Hai là, lúc này, công ty đại chúng thuộc sự quản lý của Ủy ban chứng khoán Nhà nước bên cạnh Sở Kế hoạch và Đầu tư

Cụ thể, chúng ta có thể hiểu là công ty đại chúng là những công ty thực hiện huy động vốn rộng rãi từ công chúng thông qua phát hành chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) niêm yết tại các trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc chứng khoán không niêm yết nhưng được giao dịch thông qua các thể chế môi giới chứng khoán

Nét đặc trưng của các công ty đại chúng là có sự tham gia của nguồn vốn từ bên ngoài với nhiều nhà đầu tư, do đó đặt ra yêu cầu quản trị công ty như là yếu tố khác biệt với vấn đề quản

lý công ty (management)

Có thể thấy, việc quy định 3 trường hợp dùng để xác định công ty đại chúng là không cần thiết và tạo nên sự trùng lặp trong

kỹ thuật lập pháp Theo quy định hiện nay về niêm yết cổ phiếu tại các Sở Giao dịch chứng khoán, điều kiện để niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán đã bao hàm cả tiêu chí về số lượng cổ đông và quy mô vốn điều lệ thực góp

Cụ thể, công ty niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh phải đạt số vốn tối thiểu là 120 tỷ đồng và

có nhiều hơn 300 cổ đông, còn niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội thì điều kiện tương ứng phải 30 tỷ đồng và nhiều hơn 100 cổ đông (ngoại trừ trường hợp doanh nghiệp nhà nước – Doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa)

Trang 8

Như vậy, trước khi tiến hành niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch chứng khoán, các công ty niêm yết đã đáp ứng điều kiện của trường hợp 3 Nói cách khác, trước khi một Công ty cổ phần trở thành Công ty niêm yết, công ty này đã phải là công ty đại chúng

vì rơi vào trường hợp 3 theo quy định của Điều 25 Luật Chứng khoán 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2010 hiện hành

Có thể hiểu công ty đại chúng bằng một cách khác nhau, nhưng về cơ bản, theo quy định của Luật ở Việt Nam thì: (i) Có vốn điều lệ thực góp ít nhất là 10 tỷ đồng; (ii) Ít nhất 100 cổ đông, không kể các cổ đông là các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp như các tổ chức bên lĩnh vực tài chính như Ngân hàng thương mại, Công ty Tài chính, Công ty Cho thuê Tài chính, Công

ty Bảo hiểm, Công ty Chứng khoán và Công ty Quản lý Quỹ (Cùng các Quỹ đầu tư do các Công ty này Quản lý)

Do đó khi một Công ty cổ phần đạt đủ cả 02 điều kiện nói trên thì chính thức được xem là Công ty Đại chúng, theo quy định của Luật Chứng khoán thì trong vòng 90 ngày kể từ ngày thành Công ty Đại Chúng thì Công ty Cổ phần đó phải nộp hồ sơ để báo cáo Ủy ban Chứng khoán biết và quản lý Như vậy các Công ty Đại chúng sẽ do Ủy ban Chứng khoán quản lý, còn các Công ty cổ phần khác còn lại chưa đạt được tính “Đại chúng” vẫn sẽ do Sở kế hoạch Đầu tư các Tỉnh, Thành phố quản lý

Ngoài ra các quy định này có thể hiểu được rằng các nhà làm luật xác định tính đại chúng của một Công ty cổ phần dựa vào

ba tiêu chí: Tiêu chí (1), hoạt động gọi vốn từ công chúng; (2) Tiêu chí 2, sự tham gia của công chúng vào việc trao đổi, mua bán cổ phần của công ty; Tiêu chí (3), ngưỡng quy mô (vốn điều lệ và cổ đông) xác định ranh giới nội bộ và đại chúng của Công ty cổ phần

Trang 9

Mục đích chính của quy định rõ ràng hướng đến việc bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán

b Điều kiện để trở thành công ty đại chúng

- Vốn điều lệ: Công ty đại chúng phải có vốn điều lệ từ 10 tỷ

VNĐ trở lên

- Năng lực sản xuất kinh doanh: Năng lực sản xuất kinh

doanh của Công ty đại chúng là có lãi 1 năm trước khi chào bán

- Tính đại chúng: Công ty đại chúng yêu cầu tối thiểu 100

nhà đầu tư nắm giữ không kể nhà đầu tư chuyên nghiệp là các tổ chức tài chính

- Thời gian nắm giữ cổ phiếu của các thành viên trong ban lãnh đạo công ty: Công ty đại chúng không quy định

tỷ lệ và thời gian nắm giữ bắt buộc của các thành viên lãnh đạo

Để được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, công ty đại chúng phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Vốn điều lệ: Phải có vốn điều lệ từ 80 tỷ VNĐ trở lên;

- Năng lực sản xuất kinh doanh: Công ty đại chúng niêm

yết phải là có lãi 2 năm trước khi niêm yết;

- Tính đại chúng: Công ty đại chúng yêu cầu tối thiểu 100

nhà đầu tư nắm giữ không kể nhà đầu tư chuyên nghiệp là các tổ chức tài chính trong khi Công ty đại chúng niêm yết yêu cầu thêm điều kiện là 100 cổ đông nắm giữ ít nhất 20%

cổ phiếu có quyền biểu quyết

- Thời gian nắm giữ cổ phiếu của các thành viên trong ban lãnh đạo công ty: Công ty đại chúng niêm yết trên Sở

Trang 10

giao dịch chứng khoán yêu cầu ban lãnh đạo phải nắm giữ 100% trong 6 tháng đầu tiên và 50% trong 6 tháng tiếp theo

kể từ ngày niêm yết

2.3 Sự khác biệt giữa công ty đại chúng và công ty

phi đại chúng

Về quản trị công ty, công ty đại chúng ngoài tuân theo các quy định của luật Doanh nghiệp năm 2014 còn phải theo Luật Chứng khoán và các quy định

có liên quan.nhằm tạo sự giám sát trong nội bộ công ty cũng sự tạo sự kiểm soát thuận tiện từ phía Nhà nước Vì công ty đại chúng là công ty cổ phần, tuy nhiên khác với công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp, công ty đại chúng được quy định riêng một chương dành cho công ty đại chúng và được quy định ở các văn bản có liên quan khác

Công ty Đại chúng do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quản lý, tức là đã thuộc phạm vi của Luật Chứng khoán, còn các Công ty Cổ phần còn lại kia chỉ

do đơn thuần Luật Doanh nghiệp quản lý như bình thường Do đó Công ty Đại chúng sẽ chịu 1 số khác biệt để đảm bảo tính “Đại chúng” của nó:

Công bố đầy đủ các thông tin Định kỳ và Bất thường theo quy định: Báo cáo tài chính kiểm toán năm / soát xét 6 tháng đầu năm, Nghị quyết Đại hội cổ đông thường niên, thay đổi thành viên Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, mua bán tài sản có giá trị lớn >15% Tổng tài sản Công ty

Phải tuân thủ các nguyên tắc quản trị Công ty Đại chúng như:

- Bảo đảm cơ cấu quản trị hợp lý và hiệu quả hoạt động của Hội đồng

Quản trị cũng như Ban Kiểm soát Ví dụ: trong số các thành viên tham gia Hội đồng Quản trị của Công ty Đại chúng thì cần có ít nhất 01 thành viên là thành viên Hội đồng Quản trị độc lập tức không nắm giữ cổ phiếu, không phải là nằm trong Ban Điều hành cũng như người liên quan, không

có lợi ích trực tiếp, … tất cả để nhằm có 01 thành viên thực sự “Độc lập”

Ngày đăng: 29/10/2022, 02:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w