1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ASEAN : Lựa chọn một gói cam kết về dịch vụ của ASEAN để phân tích phạm vi và mức độ tự do hóa thương mại dịch vụ trong những lĩnh vực đó. Đánh giá phạm vi và mức độ cam kết của VN trong gói cam kết này và so sánh phạm vi, mức độ cam kết của VN trong ASEA

15 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 60,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này, nhóm em xin trình bày kết quả nghiên cứu BTN về đề bài: Lựa chọn một gói cam kết về dịch vụ của ASEAN để phân tích phạm vi và mức độ tự do hóa thương mạ

Trang 1

Mục lục

1 Đặt vấn đề 2

2 Nội dung giải quyết 2

2.1 Khái quát về tự do hóa thương mại dịch vụ trong ASEAN và WTO 3

2.1.1 Tự do hóa thương mại dịch vụ 3

2.1.2 Tự do hóa thương mại dịch vụ trong WTO và ASEAN 5

2.2 Phạm vi và mức độ tự do hóa thương mại dịch vụ trong gói cam kết 8 của AFAS 8

2.3 Phạm vi, mức độ cam kết của Việt Nam trong gói cam kết số 8 và so sánh với khuôn khổ WTO8 3 Kết luận 11

4 Danh mục tài liệu tham khảo 12

5 Phụ lục 13

Cam kết của Việt Nam trong Gói cam kết AFAS 9 có phạm vi rộng hơn nhiều so với cam kết riêng của Việt Nam trong biểu cam kết GATS 13

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Cùng với thương mại hàng hóa và thương mại đầu tư, thương mại dịch vụ (TMDV) ngày càng trở nên phát triển trên quy mô toàn cầu và có giá trị to lớn đối với các nền kinh tế Một trong những phương thức thúc đẩy TMDV phát triển hữu hiệu nhất, cũng là yêu cầu và là tất yếu của hội nhập kinh tế toàn cầu hóa là phát triển tự do hóa, chống lại các xu hướng bảo hộ cũng như tăng cường hợp tác giữa các quốc gia theo hình thức đa phương/ song phương Tuy nhiên, ở mỗi thỏa thuận quốc tế về tự do hóa TMDV thì phạm vi và mức độ cam kết của các quốc gia là khác nhau

Là một khu vực đang phát triển mạnh mẽ với nhiều tiềm năng, hoạt động tự

do hóa thương mại dịch vụ trong ASEAN ngày càng mở rộng, kế thừa các nền tảng của WTO và kết hợp với đặc điểm khu vực Từ khi ra đời đến nay, Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS)1 cùng các gói cam kết với phạm vi và mức độ cam kết ngày một rộng hơn đã tạo điều kiện cho các hoạt động kinh doanh dịch vụ

có phạm vi đa quốc gia trong ASEAN Để tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này, nhóm em xin trình bày kết quả nghiên cứu BTN về đề bài:

Lựa chọn một gói cam kết về dịch vụ của ASEAN để phân tích phạm vi và mức độ tự do hóa thương mại dịch vụ trong những lĩnh vực đó Đánh giá phạm vi

và mức độ cam kết của VN trong gói cam kết này và so sánh phạm vi, mức độ cam kết của VN trong ASEAN so với WTO

Gói cam kết nhóm em lựa chọn là gói cam kết số 08

2 Nội dung giải quyết

2.1.Khái quát về tự do hóa thương mại dịch vụ trong ASEAN và WTO

1 Hiện nay, AFAS đã được thay thế bởi Hiệp định Thương mại dịch vụ ASEAN – ATISA với nhiều nội dung thay đổi quan trọng Tuy nhiên, cả 10 gói cam kết trước đó của ASEAN về tự do hóa TMDV đều dựa trên cơ sở pháp lý khung là AFAS Vì vậy trong bài làm này, chủ yếu nhóm sẽ phân tích các quy định liên quan đến AFAS.

Trang 3

2.1.1 Tự do hóa thương mại dịch vụ

Trong quan niệm hiện đại, cơ cấu kinh tế quốc dân được chia ra ba khu vực chính, đó là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm rất rộng, từ việc đáp ứng nhu cầu cá nhân đến việc phục vụ cho một ngành sản xuất, là một ngành kinh tế độc lập, hiện nay đang chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân và không ngừng được tăng cao Kinh tế dịch vụ trải dài ở nhiều ngành như là thương mại, du lịch, vận tải, ngân hàng, thông tin liên lạc…, hay những ngành nghề tạo ra giá trị tinh thần, ảnh hưởng trực tiếp đến việc đạt được các mục tiêu phát triển xã hội, phát triển con người2 như giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, hoặc như hoạt động của các đoàn thể xã hội… Thương mại dịch vụ là hoạt động mua bán dịch vụ, kinh doanh dịch vụ, trong đó coi dịch vụ vừa là phương thức, lại vừa mang nghĩa sản phẩm.3

Không giống như các nhóm ngành nông nghiệp hay sản xuất (công nghiệp), sản phẩm của nhóm ngành dịch vụ và thương mại dịch vụ mang tính chất vô hình,

do vậy có thể dễ dàng cung cấp và mở rộng phạm vi cung cấp trên nhiều nền tảng

xã hội Với sự phát triển của internet và cơ sở hạ tầng kĩ thuật, tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ ngày càng cao, được coi là ngành bùng nổ4 trong nhóm ngành thương mại là thương mại hàng hóa và thương mại đầu tư và nhanh hơn bất kì nhóm ngành nào khác các nền kinh tế, kéo theo đó là dòng vốn đầu tư phát triển nước ngoài đổ vào hoạt động thương mại dịch vụ ngày càng tăng

- Các phương thức của thương mại dịch vụ

Trên cơ sở các Hiệp định về thương mại trước đó, Tổ chức thương mại thế giới WTO (tiền thân là các nước tham gia GATT) đã ban hành Hiệp định chung về

2 Asean Integration In Services, tr.4

https://www.asean.org/storage/2015/12/ASEAN-Integration-in-Services-(Dec%202015).pdf

3 https://www.wto.org/english/thewto_e/20y_e/services_brochure2015_e.pdf

4 WTO-UNCTAD-ITC trade in services dataset

Trang 4

thương mại dịch vụ GATS, và hiệp định này trở thành hình mẫu cho các ITT về tự

do hóa thương mại dịch vụ Trong khuôn khổ GATS (và cũng là mẫu chung cho cả FATS hay các Hiệp định thương mại dịch vụ khác), việc cung cấp dịch vụ xuyên

biên giới có thể được thực hiện bởi 04 phương thức (Mode) gồm: (1) Tiêu dung dịch vụ qua biên giới, tức là mua bán dịch vụ qua biên giới giữa các nước, có thể

bằng viễn thông hoặc chuyển dịch vụ bằng hiện vật như bản vẽ, băng đĩa…;

(2) Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài, tức là khách hàng đi sang nước khác để tiêu

dùng dịch vụ như đi du lịch, học tập; sửa chữa tàu biển, máy bay ở nước ngoài…;

(3) Hiện diện thương mại, tức là đầu tư trực tiếp để thành lập một chi nhánh, công

ty con hay đại lý để cung cấp dịch vụ như cung cấp thông tin, tư vấn pháp luật,

ngân hàng cho nước sở tại và (4) Hiện diện và di chuyển của thể nhân, tức là sự di

chuyển tạm thời của cá nhân sang nước khác để cung cấp các dịch vụ như tư vấn, xây dựng, làm nội trợ, chăm sóc sức khỏe…

Trong bốn phương thức trên đây thì Mode 3 – Hiện diện thương mại có vị trí

quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại dịch vụ5, đây là hình thức hoạt động thông qua liên doanh, chi nhánh hoặc công ty 100% vốn nước ngoài (FDI) để cung cấp dịch vụ trong nước (ngoại trừ dịch vụ du lịch và vận chuyển), thứ đến là

phương thức 1 – Thương mại dịch vụ giữa các nước Phương thức 2 – Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài có vị trí quan trọng trong du lịch quốc tế Phương thức 4 – Hiện diện thể nhân có tỷ trọng không đáng kể trong thương mại dịch vụ, nhưng

đối với các nước đang phát triển như nước ta cũng rất quan trọng trong việc xuất khẩu lao động và thuê chuyên gia nước ngoài Trên thực tế, các xu hướng bảo hộ dịch vụ nội địa, các rào cản trong thương mại dịch vụ cũng chủ yếu tập trung ở hoạt động cung cấp theo Mode 3.6 Vì vậy, các Hiệp định về tự do hóa thương mại dịch vụ cũng tập trung ở việc cam kết xóa bỏ rào cản ở phương thức này nhất

5 Theo nghiên cứu của WTO, bình quân các hoạt động thương mại dịch vụ ở Mode 3 chiếm khoảng 55% trọng số trong cơ cấu nhóm ngành thương mại dịch vụ quốc tế.

6 https://www.wto.org/english/tratop_e/serv_e/cbt_course_e/c1s3p1_e.htm

Trang 5

2.1.2 Tự do hóa thương mại dịch vụ trong WTO và ASEAN

Tự do hóa TMDV trong khuôn khổ WTO được thực hiện với cơ sở pháp lý

là Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) có hiệu lực năm 1995, là một hiệp định thương mại thiết lập nên một hệ thống quy tắc thương mại quốc tế đáng tin cậy (trong lĩnh vực dịch vụ), đảm bảo một sự đối xử công bằng và không phân biệt đối với tất cả những người tham gia , thúc đẩy hoạt động kinh tế thông qua các chính sách ràng buộc và được bảo đảm; và xúc tiến và phát triền thương mại dịch vụ thông qua các tiến trình tự do hóa cấp tiến

Hiệp định bao trùm 12 lĩnh vực dịch vụ được xác định7 ngoại trừ những dịch

vụ được cung cấp bởi các cơ quan chính phủ và các biện pháp ảnh hưởng đến quyền hạn và dịch vụ trong lĩnh vực hàng không Ở WTO, tiến trình tự do hóa thương mại được thực hiện thông qua các gói cam kết đã được đưa ra như cam kết

về tiếp cận thị trường- (Điều XVI của GATS), các cam kết về đối xử quốc gia (Điều XVII của GATS) và các cam kết bổ sung( Điều XVIII trong GATS) - là những cam kết về những biện pháp ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ không nằm trong phạm vi hai cam kết nói trên

Tuy nhiên, GATS không xác định các phương thức cụ thể cho tự do hóa TMDV, các quy định của GATS mang tính chất mở, quyền chủ động vẫn thuộc về các nước thành viên GATS chỉ xác định các nguyên tắc chung mà từ đó làm định hướng, nền tảng cho các bên tham gia thực hiện công tác xây dựng pháp luật, quản

lý cụ thể và thể hiện trong danh mục cam kết của Quốc gia Các nguyên tắc chung

đó bao gồm: Nguyên tắc tiếp cận thị trường; Đối xử tối huệ quốc (Điều 2); Đối xử

7 Gồm: Dịch vụ kinh doanh; Dịch vụ thông tin; Dịch vụ xây dựng và kỹ thuật; Dịch vụ kinh tiêu; Dịch vụ đào tạo; Dịch vụ môi trường ;Dịch vụ tài chính; Dịch vụ liên quan đến sức khỏe và xã hội; Dịch vụ du lịch và các hoạt động

có liên quan; Dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao; Dịch vụ vận tải; Các dịch vụ khác.

Trang 6

quốc gia (Điều 16); Minh bạch ( Điều 3), Nguyên tắc liên quan đến các quy định trong nước (Điều 6)

Kế thừa quy định của GATS và cũng dựa trên thực tế rằng các thành viên của ASEAN đề là thành viên WTO, Hiệp định khung về TMDV ASEAN đã ra đời làm nền tảng cho việc thắt chặt quan hệ, mở rộng thị trường trong nội khối

Ở thời kì chưa hướng tới AEC, AFAS duy trì 5 vòng đàm phán và lấy đó làm cơ sở để xây dựng 07 gói cam kết cụ thể từ các kết quả trong các vòng, đồng thời chỉ ra các biện pháp để xóa bỏ rào cản đối với thự do hóa TMDV gồm: (i) Xóa

bỏ đáng kể các biện pháp phân biệt đối xử và các hạn chế tiếp cận thị trường hiện tại giữa các quốc gia thành viên; (ii) Cấm các biện pháp phân biệt đối xử và các hạn chế tiếp cận thị trường mới hoặc có tính chất hạn chế và phân biệt đối xử hơn

và (iii) các quốc gia sẽ tiến hành đàm phán về các biện pháp gây ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ trong các lĩnh vực cụ thể

Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 14 tại Thái Lan, các Nhà Lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Cha-am/Hua Hin về Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN và thông qua Kế hoạch Tổng thể xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC Blueprint) đến năm 2015 Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC đã quy định cụ thể các biện pháp nhằm thực hiện bốn trụ cột của AEC gồm: (i) Thị trường và cơ

sở sản xuất thống nhất; (ii) Một khu vực kinh tế cạnh tranh; (iii) Một khu vực phát triển đồng đều và (iv) Hội nhập với nền kinh tế toàn cầu Từ đây, các bên không tiến hành đàm phán nữa mà thực hiện theo những mục tiêu – lịch trình cụ thể được xây dựng trong AEC blueprint

Trong trụ cột thứ nhất, tự do hoá thương mại dịch vụ là một trong những nội dung chủ chốt giúp ASEAN thành lập một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất đến năm 2015 Chính vì vậy, ASEAN đã có nhiều nỗ lực để tự do hoá lĩnh vực

Trang 7

dịch vụ trong nội bộ khối thông qua các gói AFAS cũng như các thoả thuận tự do hoá thương mại cho các ngành ưu tiên Theo mục tiêu đặt ra trong AEC Blueprint, các nước ASEAN sẽ tiến hành đàm phán 11 gói cam kết cho đến năm 2015 Các

ưu tiên tự do hoá gồm: ASEAN điện tử (e-ASEAN), y tế, logistics, hàng không và

du lịch

Đến nay, trong khuôn khổ của AFAS các nước ASEAN đã ký và đưa vào áp dụng 10 gói cam kết8 về thương mại dịch vụ bao gồm nhiều lĩnh vực như: xây dựng, môi trường, dịch vụ kinh doanh, dịch vụ chuyên nghiệp, phân phối hàng hóa, giáo dục, vận tải biển, viễn thông và du lịch và 7 thỏa thuận công nhận lẫn nhau, 6 cam kết về dịch vụ tài chính và 8 gói cam kết về dịch vụ hàng không Các cam kết trong AFAS đều có phạm vi rộng và mức độ tự do hóa sâu hơn so với cam kết trong khuôn khổ WTO

Về cấu trúc các gói cam kết chung của ASEAN, Biểu cam kết dịch vụ gồm 4 cột: i) Cột mô tả ngành/phân ngành thể hiện tên và mã số của dịch vụ cụ thể được đưa vào cam kết; ii) Cột hạn chế tiếp cận thị trường liệt kê các biện pháp hạn chế

mà thành viên đưa ra cam kết muốn áp dụng cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài[4]; iii) Cột hạn chế đối xử quốc gia liệt kê các biện pháp mà thành viên đưa

ra cam kết muốn duy trì để phân biệt đối xử giữa nhà cung cấp dịch vụ trong nước với nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài; iv) Cột cam kết bổ sung liệt kê các biện pháp ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp và tiêu dùng dịch vụ nhưng không thuộc về hạn chế tiếp cận thị trường hay hạn chế về đối xử quốc gia

2.2.Phạm vi và mức độ tự do hóa thương mại dịch vụ trong gói cam kết 8 của AFAS

8 Xem và tải Hiệp định khung AFAS, các gói cam kết và cam kết cụ thể của từng quốc gia thành viên tại:

https://trungtamwto.vn/chuyen-de/7178-hiep-dinh-khung-asean-ve-dich-vu-afas

Trang 8

Gói cam kết thứ 8 của AFAS ra đời như là một sản phẩm đầu tiên, mở đầu cho sự hình thành một loạt các gói cam kết ngày càng mở rộng trong khuôn khổ AFAS theo Kế hoạch tổng thể về xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC Blueprint (2008 – 2015)

Gói cam kết dịch vụ ASEAN lần thứ 8 đưa ra lịch trình tự do hóa đối với 15 phân ngành mới, với tỷ lệ vốn góp nước ngoài tối đa là 70% với 4 ngành dịch vụ

ưu tiên trong ASEAN (gồm dịch vụ y tế, du lịch, e-ASEAN, vận tải hàng không và dịch vụ tiếp vận) và thấp nhất là 51% đối với các lĩnh vực dịch vụ khác

Điều này khẳng định quyết tâm của ASEAN với mục tiêu tự do hóa dịch vụ nội khối thông qua xóa bỏ hầu hết các rào cản dịch vụ, đối với nhiều phân ngành hơn nữa, với mức độ cam kết cao hơn cam kết trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và hợp tác để thúc đẩy liên kết sức mạnh của các doanh nghiệp trong ASEAN cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ ASEAN

Nhìn chung, mức độ tự do hóa trong Gói cam kết 8 là tương đối cao và mở rộng rõ rệt so với các gói cam kết trước đó Về các cam kết chung, cơ bản vẫn là các cam kết liên quan đến mở cửa thị trường đối với Phương thức 3 và Phương thức 4 tương tự như với các cam kết chung mà các bên đã đưa ra đối với GATS

2.3.Phạm vi, mức độ cam kết của Việt Nam trong gói cam kết số 8 và so sánh với khuôn khổ WTO

Các cam kết chung của Việt Nam trong AFAS 8 giống với cam kết chung của Việt Nam trong Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO (GATS) và

về cơ bản liên quan đến Mode 3, Mode 4 Theo các cam kết chung của Việt Nam trong Mode 3, doanh nghiệp dịch vụ nước ngoài được phép thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới các hình thức: Hợp đồng hợp tác kinh doanh với đối

Trang 9

tác Việt Nam, doanh nghiệp liên doanh với đối tác Việt Nam hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được góp vốn dưới hình thức mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ vốn góp nước ngoài không thấp hơn 70% với 4 ngành dịch vụ ưu tiên (e-ASEAN, y tế, hàng không và du lịch) trong ASEAN đến năm 2010 và không thấp hơn 51%, 70% đối với các lĩnh vực dịch vụ khác tương ứng đến năm 2010, 2015 Với Mode 4, như nhiều thành viên ASEAN khác, Việt Nam cũng không đưa ra nhiều cam kết, ngoại trừ đối với 5 đối tượng là: người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp, nhân sự khác, người chào bán dịch vụ, người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại và nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng

Với cam kết cụ thể:

Về phạm vi cam kết, trong khuôn khổ AFAS 8, Việt Nam cam kết mở cửa

thị trường dịch vụ với 11/12 ngành và tính theo phân ngành là khoảng 111 phân ngành So với AFAS 7, Việt Nam đã mở cửa với 16 phân ngành mới Điều này hoàn toàn phù hợp với AEC Blueprint, trong đó quy định các nước phải đàm phán thêm ít nhất 15 phân ngành trong năm 2010

So với cam kết thuộc khôn khổ GATS, Việt Nam mở cửa nhiều phân ngành hơn trong dịch vụ thông tin liên lạc, y tế, du lịch, vận tải, môi trường và mở cửa ít phân ngành hơn trong dịch vụ kinh doanh Điều này là hợp lý vì hầu hết các ngành Việt Nam mở cửa nhiều phân ngành hơn đều là những ngành ưu tiên tự do hoá của ASEAN hoặc là những ngành ASEAN có gói cam kết riêng Các ngành dịch vụ khác, số lượng phân ngành mở cửa là như nhau Việt Nam chỉ mở cửa ít hơn 1 phân ngành trong dịch vụ kinh doanh Điều này thể hiện sự nỗ lực của Việt Nam trong hội nhập dịch vụ khu vực, vì các cam kết trước đó trong AFAS 7 của Việt Nam có phạm vi mở cửa khá giống GATS

Trang 10

Cụ thể, phạm vi cam kết của Việt Nam trong Gói AFAS 8 đã rộng hơn trong WTO ở các lĩnh vực là Thông tin liên lạc (1 phân ngành), Môi trường (1 phân ngành, mở cửa ở đủ 04 phân ngành mà WTO đưa ra), Y tế (1 phân ngành, mở cửa

ở đủ 04 phân ngành mà WTO đưa ra) , du lịch và đặc biệt là Vận tải (7 phân ngành) Điều này một mặt phù hợp với lịch trình chung của Blueprint về 4 ngành dịch vụ ưu tiên (e-ASEAN, y tế, hàng không và du lịch), phù hợp với định hướng phát triển khu vực ASEAN Gói AFAS 8 là bước mở đầu cho các cam kết ngày càng rộng của Việt Nam so với AEC

Về mức độ cam kết trong Gói AFAS 8, nhìn chung, Việt Nam có mức độ

mở cửa khá cao với Mode 2; thận trọng mở cửa với Mode 1, Mode 3 và hầu như chưa cam kết với Mode 4 Việt Nam cam kết mở cửa cao nhất đối với dịch vụ môi trường, tiếp đó là dịch vụ tài chính, y tế Mức độ cam kết mở cửa thấp nhất đối với dịch vụ văn hoá, giải trí, thể thao và dịch vụ giáo dục

Ngày đăng: 29/10/2022, 02:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w