Đặc biệt do biết tận dụng và khai thác tốt điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, tỉnh Đồng Nai đã vươn mình trở thành một trong những
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS VŨ VĂN GẦU
Phản biện độc lập 1: PGS.TS Trần Mai Ước Phản biện độc lập 2: PGS.TS Hà Trọng Thà
Phản biện 1: PGS.TS Vũ Đức Khiển Phản biện 2: PGS.TS Hà Trọng Thà Phản biện 3: PGS.TS Cao Xuân Long
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án Tiến sĩ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc giờ ngày tháng năm 2022
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Đại học quốc gia TP HCM
- Thư viện Trường Đại học KHXH & NV, TP HCM
- Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI CỦA LUẬN ÁN
1 Lê Ngọc Dũng (2020), Tác động của quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đến môi trường tự nhiên – nghiên cứu trường hợp tỉnh Đồng Nai,
Tạp chí Khoa học chính trị, ISSN 1859 – 0187, số 05, 2020, tr 81 - 86
2 Lê Ngọc Dũng (2020), Bảo vệ môi trường gắn với phát triển kinh tế
ở tỉnh Đồng Nai, Tạp chí An toàn vệ sinh lao động, ISSN 2615 - 9082, số
tháng 8/2020, tr 27 - 28
3. Lê Ngọc Dũng (2021), Mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng
kinh tế với bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Nai hiện nay, Tạp chí Khoa học Đại
học Văn Lang, ISSN 2525 - 2429, số 28/7/2021, tr 30 - 36./
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đương đại đang chứng kiến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra những bước tiến thần tốc ở rất nhiều lĩnh vực liên quan mật thiết đến đời sống, xã hội, làm thay đổi nhanh chóng và sâu sắc tới sự phát triển của kinh tế xã hội và bản thân con
người Bên cạnh những thành tựu rực rỡ về khoa học và công nghệ, loài người cũng
đang phải đối mặt với những thách thức lớn lao về chính trị, văn hóa và đặc biệt là môi trường tự nhiên Trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI, do sức ép gắt gao về dân số và sự phát triển kinh tế thiếu tính toán, các nguồn tài nguyên trên trái đất ngày càng cạn kiệt, môi trường bị suy thoái nghiêm trọng, thậm chí một số vùng còn bị phá hủy hoàn toàn Hàng loạt các vấn đề về môi trường như biến đổi khí hậu, hiện tượng băng tan, nước biển dâng, suy thoái tầng ozon, suy thoái đa dạng sinh học, ô nhiễm và suy thoái tài nguyên đất và nước ngọt đang là những thách thức đối với sự tồn tại của loài người, của trái đất, Việt Nam cũng không nằm ngoài những thách thức này
Việt Nam đang đứng trước những thách thức to lớn với xuất phát điểm là một đất nước nghèo, điểm xuất phát thấp, chiến tranh kéo dài, nền kinh tế và môi trường đã đặt ra hàng loạt vấn đề cần giải quyết Tuy nhiên, nếu quá vội vàng trong việc áp dụng các giải pháp chính sách đầu tư, đổi mới thiếu quy hoạch kinh tế xã hội và môi trường theo quan điểm phát triển bền vững trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học và hệ thống thì tất yếu sẽ dẫn đến những hậu quả đáng tiếc Hậu quả đó có thể có lợi cho kinh tế trước mắt nhưng lại có hại lâu dài, nền kinh tế sẽ bị suy thoái khi phát triển quá ngưỡng chịu đựng của môi trường tự nhiên Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước,
đã có những khởi sắc rõ rệt về kinh tế, đời sống nhân dân được nâng cao, nhận thức về BVMT và phát triển bền vững đã có những tiến bộ rõ rệt Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam đang bị khai thác ngày càng kiệt quệ và có xu hướng cạn kiệt, môi trường tự nhiên bị ô nhiễm nghiêm trọng Đại hội Đảng XIII (2021) sau khi tổng kết quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm giai đoạn (2016 - 2020) đã khẳng định cùng với phát triển kinh tế xã hội và đẩy mạnh CNH, HĐH đã đạt được những kết quả tích cực thì bên cạnh
đó việc khai thác tài nguyên thiếu bền vững, hiệu quả quản lý, sử dụng chưa cao, chưa theo nguyên tắc thị trường, nhất là đất đai Việc khai thác, sử dụng, định giá đất còn nhiều hạn chế, chưa sát thực tế Tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái chưa được đánh giá, hạch toán đầy đủ, sử dụng bền vững Việc quản lý và xử lý chất thải rắn đô thị còn hạn chế, môi trường nước ở một số đô thị bị ô nhiễm Chất lượng không khí ở các đô thị lớn
có dấu hiệu suy giảm Tình trạng xâm nhập mặn, phèn hóa, sạt lở bờ sông, bờ biển xảy ra nghiêm trọng ở một số nơi An ninh nguồn nước chưa được quan tâm đúng mức… Vì vậy, việc phân tích, đánh giá quan hệ giữa TTKT với BVMT trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách đảm bảo
sự phát triển bền vững là vấn đề mang tính cấp thiết
Là địa phương có vị trí địa lý thuận lợi, là đầu mối giao thông quan trọng trong các tỉnh khu vực Nam Bộ, tỉnh Đồng Nai giữ vị thế quan trọng đối với cả nước và
Trang 5khu vực Đặc biệt do biết tận dụng và khai thác tốt điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, tỉnh Đồng Nai đã vươn mình trở thành một trong những địa phương có sự TTKT năng động bậc nhất khu vực, đóng góp nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Với việc hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, công nghiệp tỉnh Đồng Nai đã có bước phát triển đột phá, thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh
mẽ theo hướng CNH, HĐH, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong khi vẫn giữ nhịp độ tăng trưởng khá cao trong các ngành kinh tế
Sự TTKT cao và liên tục đã tạo điều kiện tích lũy nguồn lực cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như hệ thống giao thông, điện, thông tin liên lạc, phát triển giáo dục, đào tạo v.v… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu về kinh
tế, tỉnh Đồng Nai phải đối mặt với các hệ lụy về môi trường Mặc dù chính quyền địa phương đã có nhiều nỗ lực nhưng thực tế, việc giải quyết mối quan hệ giữa TTKT với BVMT ở tỉnh Đồng Nai còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của tỉnh, cần phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, có sự tham gia của nhiều chủ thể
Xuất phát từ thực tế của tỉnh Đồng Nai, nhận thức được tầm quan trọng của thực tiễn đặt ra, Nghiên cứu sinh chọn đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ với tên
gọi: “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Nai
trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Xét trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, trong và ngoài nước, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề TTKT với BVMT với nhiều cách tiếp cận khác nhau Trong số rất nhiều công trình đó, nghiên cứu sinh phân tách thành hai vấn đề gắn liền với luận án như sau:
Một là, những công trình tiêu biểu nghiên cứu về lý luận TTKT, BVMT và
CNH, HĐH như: “Tốc độ và chất lượng TTKT ở Việt Nam” (2006) của hai tác giả
Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt; “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta” (2010) của tác giả Nguyễn Thị Doan; Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (2005); Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu (2011); Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (2012); Luật BVMT (2014); Đạo đức sinh thái trong hoạt động khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và BVMT vì sự phát triển bền vững (2005) của tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm; “Báo cáo môi trường quốc gia 2009
- MT KCN Việt Nam” (2009) Bộ Tài nguyên và MT,…
Hai là, những công trình tiêu biểu nghiên cứu về quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế với bảo vệ môi trường trên thế giới, Việt Nam và ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 6Những công trình nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới được khái quát như sau: “TTKT, sức chống đỡ và môi trường” (1995) của nhóm các tác giả Kenneth Arrow, Bert
Bolin, Robert Costanza, Partha Dasgupta, Carl Folke, C S Holling, Bengt-Owe Jansson, Simon Levin, Karl - Goran Maler, Charles Perrings & David Pimentel;
“TTKT, tính cạnh tranh quốc tế và BVMT: Nghiên cứu phát triển và các chiến lược
đổi mới với mô hình WARM” (1997) của tác giả Carlo Carraro & Marzio Galeotti;
“Có phải suy thoái môi trường là hệ quả tất yếu của TTKT: Nghiên cứu thông qua
đường cong Kuznets MT - EKC” (1999) của tác giả Mohan Munasinghe;…
Những công trình nghiên cứu tiêu biểu tại Việt Nam được khái quát như sau:
“Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020” (2012); “Chiến
lược quốc gia về tăng trưởng xanh” (2012); Đề tài “Mối quan hệ giữa TTKT và BVMT ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH” (2001) của tập thể tác giả Bùi
Văn Dũng (Chủ nhiệm đề tài); “Một số vấn đề về BVMT và phát triển kinh tế ở nước
ta hiện nay” (2004) của tác giả Nguyễn Văn Ngừng; “Mối quan hệ giữa phát triển và BVMT - kinh nghiệm của Nhật Bản (2004) của tác giả Nguyễn Văn Kim; “Chính sách tăng trưởng xanh ở một số nước ASEAN trong bối cảnh tái cấu trúc nền kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu (2015) của tác giả Nguyễn Huy Hoàng
Ngoài ra, còn có nhiều công trình luận án tiến sĩ nghiên cứu liên quan đến chủ
đề này: “Vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp giữa TTKT với BVMT sinh thái ở
nước ta hiện nay” (2014), Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Khương; “Kết hợp TTKT với BVMT ở các tỉnh Bắc Trung bộ hiện nay” (2015), Luận án Tiến sĩ của Đỗ
Trọng Hưng,… Những đề tài này tập trung nghiên cứu việc kết hợp TTKT với BVMT của các tổ chức, cá nhân, nhất là các doanh nghiệp, đơn vị kinh tế trên địa bàn Các quan điểm, giải pháp này nếu được nhận thức sâu rộng và tổ chức thực hiện đồng bộ sẽ mang lại hiệu quả trên thực tế
Về những công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến mối quan hệ giữa TTKT với BVMT ở tỉnh Đồng Nai có thể khái quát như sau: Phẩm An Ninh, Môi trường ở các
khu công nghiệp Đồng Nai - thực trạng và giải pháp (2002), “Đồng Nai đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội theo hướng CNH, HĐH (2004) của tác giả Võ Văn Một; Đồng Nai, thế và lực mới trong thế kỷ XXI (2005) của tác giả Chu Viết Luân (Chủ biên);
“Một số giải pháp phát triển khu công nghiệp tập trung tại tỉnh Đồng Nai đến năm
2010 và tầm nhìn 2020 (2009) của tác giả Phạm Văn Thanh; “CNH, HĐH với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Đồng Nai” (2011) của tác giả Nguyễn Văn Long; “Đồng Nai công tác BVMT luôn được quan tâm” (2011) của tác giả Lê Viết Hưng; 30 năm xây dựng và phát triển kinh tế tỉnh Đồng Nai (1975 - 2005) của Ban Kinh tế Tỉnh ủy Đồng
Trang 7đến năm 2010, có tầm nhìn đến năm 2020; Nghị quyết số 125/2008/NQ-HĐND về việc thông qua Đề án BVMT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Quyết định số 2325/QĐ-UBND ngày 25/7/2016 Ban hành Chương trình BVMT tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016 - 2020;…Đây là những văn bản mang tính
chất tổng kết, đánh giá những việc đã làm và hoạch định các đề án, chương trình hoặc quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và BVMT của tỉnh Đồng Nai qua các giai đoạn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án: Trên cơ sở làm rõ mối quan hệ giữa TTKT với BVMT ở tỉnh
Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, chỉ ra nguyên nhân của thành tựu và hạn chế Từ đó đề xuất phương hướng và những giải pháp để thực hiện tốt mối quan hệ giữa
TTKT với BVMT ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH
Nhiệm vụ của luận án: Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận án tập
trung các vấn đề sau đây:
Thứ nhất, trình bày những vấn đề lý luận chung về TTKT, BVMT, đặc điểm
CNH, HĐH và mối quan hệ giữa CNH, HĐH với TTKT và BVMT
Thứ hai, phân tích thực trạng việc thực hiện mối quan hệ giữa TTKT với
BVMT ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH
Thứ ba, đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực
hiện quan hệ giữa TTKT với BVMT ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án: luận án nghiên cứu quan hệ giữa TTKT với
BVMT, trọng tâm là môi trường tự nhiên, sinh thái, trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH
Phạm vi nghiên cứu của luận án: Không gian nghiên cứu ở tỉnh Đồng Nai
Thời gian nghiên cứu giới hạn trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, từ năm 2001
đến nay (từ Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ VII, nhiệm kỳ 2001 - 2005)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận: luận án được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng Cộng sản và pháp luật Việt Nam về mối quan hệ giữa TTKT với BVMT trong
quá trình CNH, HĐH đất nước
Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, luận án đã sử
dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp lịch sử và lôgíc; phương pháp phân tích và tổng hợp; diễn dịch và quy nạp; phương pháp đối chiếu và so sánh; phương pháp văn bản học, hệ thống hóa và khái quát hóa nguồn tài liệu để phục vụ việc nghiên
cứu và trình bày luận án
6 Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về TTKT, BVMT,
đặc điểm CNH, HĐH và mối quan hệ giữa CNH, HĐH với TTKT và BVMT, luận án phân tích làm rõ việc thực trạng quan hệ giữa TTKT với BVMT ở tỉnh Đồng Nai
Trang 8trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và chỉ ra nguyên nhân của nó
Thứ hai, luận án đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả thực hiện quan hệ giữa TTKT với BVMT ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận: luận án góp phần làm rõ những vấn đề lý luận chung về quan hệ
giữa TTKT với BVMT; CNH, HĐH, đặc điểm CNH, HĐH và quan hệ giữa CNH, HĐH với TTKT và BVMT, việc thực hiện quan hệ giữa TTKT với BVMT ở tỉnh
Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH
Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở phân tích, đánh giá về thực trạng quan hệ giữa TTKT
với BVMT ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, luận án đề xuất các khuyến nghị về phương hướng và giải pháp trong việc hoạch định chủ trương, chính sách kết hợp hài hòa giữa TTKT với BVMT trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở tỉnh Đồng Nai vì mục tiêu phát triển bền vững Ngoài ra, luận án còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu về lý luận gắn với thực tiễn xung quanh vấn đề TTKT và BVMT trong quá trình CNH, HĐH đất nước
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án
được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết và 20 tiểu tiết
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1 KHÁI NIỆM TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1.1 Khái niệm kinh tế và tăng trưởng kinh tế
* Khái niệm kinh tế
Kinh tế là hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội; là toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi sản phẩm của một chế độ xã hội; là tổng hòa các mối quan hệ sản xuất dựa trên một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, tạo nên kết cấu kinh tế của chế độ xã hội nhất định
* Khái niệm tăng trưởng kinh tế
TTKT là sự gia tăng sản lượng hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia do thu nhập quốc dân và sản phẩm bình quân đầu người tăng; là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng phát triển, tiến bộ, nhằm mở rộng quy mô về mặt số lượng của các yếu tố hợp thành nền kinh tế trong một giai đoạn nhất định
Cần tách biệt rõ giữa TTKT và phát triển KT TTKT là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng phát triển, tiến bộ, nhằm mở rộng qui mô về mặt số lượng của các yếu
tố hợp thành nền kinh tế trong một giai đoạn nhất định Trong khi đó, phát triển kinh
tế bao gồm TTKT cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế thay đổi về cơ cấu kinh tế Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao
Trang 9gồm kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn
1.1.2 Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường
* Khái niệm môi trường
Có nhiều quan điểm về môi trường được khái lược sau đây: Thứ nhất, môi
trường là tổng thể các yếu tố vật chất, tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người, có
quan hệ mật thiết đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Thứ hai, môi trường là sinh quyển tất yếu cho sự sống tự nhiên của con người Thứ ba, môi trường
là tập hợp các nhân tố xã hội có thể gây ra hậu quả trực tiếp hay gián tiếp tới các sinh
vật sống và các hoạt động của con người ở một thời điểm nhất định Thứ tư, môi
trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động mạnh mẽ đối với sự tồn tại và phát triển của con người
Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích các quan điểm khác nhau về môi trường, có thể định nghĩa môi trường như sau: môi trường là một khái niệm rất rộng, tổng hợp tất cả các yếu tố tự nhiên, vật chất nhân tạo, xã hội bao quanh con người,
có liên quan mật thiết với nhau và quan hệ tới đời sống con người; luôn vận động, biến đổi dưới tác động của các nhân tố tự nhiên, xã hội và nhân tạo
* Khái niệm bảo vệ môi trường
BVMT là hoạt động giữ gìn môi trường, phòng ngừa và hạn chế những tác động xấu đến môi trường; khắc phục ô nhiễm môi trường; phục hồi môi trường; đồng thời khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
Hoạt động BVMT chính là giữ môi trường trong lành BVMT có ý nghĩa tích cực, thể hiện qua việc bảo quản, duy trì, sử dụng hợp lý, hồi phục và nâng cao hiệu suất của môi trường tự nhiên Vấn đề BVMT chính là hướng tới sự phát triển bền vững, đáp ứng những yêu cầu thực tiễn; đó là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người; là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi con người, vì cuộc sống hôm nay và tương lai của thế hệ mai sau
1.2 QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.2.1 Tác động của tăng trưởng kinh tế đến bảo vệ môi trường
Một là, TTKT làm nổi bật các chức năng và vai trò quan trọng của môi trường
Nếu không có hoạt động sản xuất thì các nguồn tài nguyên này mãi mãi nằm trong lòng đất, đáy đại dương hoặc khắp địa cầu mà không thể hiện được giá trị, ý nghĩa nào đối với con người Trải qua quá trình khai thác, sử dụng phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao, con người mới nhận thức được chức năng, tầm quan trọng của môi
trường, từ đó hình thành ý thức BVMT Hai là, tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiên
quyết để giải quyết vấn đề môi trường, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Tăng trưởng và phát triển kinh tế đúng mức, đầu tư tương xứng cho môi trường và BVMT hiệu quả sẽ tạo sự cân bằng trong tương quan giữa quá trình đẩy mạnh phát
Trang 10triển kinh tế với BVMT Ba là, TTKT là động lực để con người cải tiến kỹ thuật,
công nghệ nhằm khai thác tự nhiên một cách khoa học, thông minh Nếu con người,
xã hội loài người không khai thác hết khả năng có thể đáp ứng của tự nhiên cho sự phát triển sẽ làm chậm tiến trình TTKT của mình Ngược lại, nếu con người, xã hội loài người can thiệp vào môi trường tự nhiên quá mức, khai thác ồ ạt, không có kế hoạch sẽ làm cho môi trường tự nhiên “nghèo” nhanh hơn, khả năng phục hồi kém hơn, môi trường sống bị đe dọa nhiều hơn Do đó, trong từng thời điểm lịch sử cụ thể nhất định, với sự cho phép của các điều kiện kỹ thuật không ngừng được cải tiến,
con người luôn tìm cách đẩy mức TTKT lên cao nhất Bốn là, TTKT giúp các quốc
gia đưa ra chiến lược phát triển hợp lý để tạo sự bền vững cho môi trường Sự kết
hợp hài hòa giữa TTKT với BVMT sẽ giúp chúng ta bảo đảm sự tăng trưởng, phát triển bền vững và duy trì sự cân bằng của môi trường xung quanh và môi trường
sống của chính mình Năm là, TTKT có nguy cơ làm tổn hại đến môi trường, làm
cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên TTKT với BVMT luôn nằm trong trạng thái đối lập
nhau, có xu hướng loại trừ lẫn nhau, nhưng đồng thời cũng là tiền đề cho nhau Xu hướng loại trừ nhau thể hiện qua việc khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm đáp ứng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế sẽ làm cho môi trường tự nhiên bị cạn kiệt và nguy cơ bị ô nhiễm trầm trọng
1.2.2 Tác động của bảo vệ môi trường đến tăng trưởng kinh tế
Một là, bảo vệ môi trường để bảo đảm cho tăng trưởng kinh tế Trong quá trình
thực hiện mối quan hệ trong hệ thống thống nhất con người - tự nhiên - xã hội, con người phải có sự quan tâm đến chất lượng môi trường, đặt vấn đề BVMT ngay trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình Con người, xã hội loài người phải hoạch định cho quy trình phát triển kinh tế - xã hội của mình một cách thức nào đó để giữ mối quan hệ với môi trường tự nhiên trong thế cân bằng Tuy nhiên, trạng thái cân bằng đó chỉ được thiết lập và duy trì ở một thời điểm, thời gian nhất định, bởi sau
đó, mối quan hệ này sẽ lại bị thay đổi vì tính tích cực của các yếu tố trong quá trình sản xuất của con người Do đó, sự quan tâm đến vấn đề BVMT tự nhiên trong TTKT
phải là việc làm thường xuyên, liên tục để bảo đảm phát triển bền vững Hai là,
BVMT hợp quy luật là cơ sở tiếp tục TTKT Qua xu hướng này, con người vừa bảo
đảm sự phát triển của mình và của xã hội trong cân bằng, vừa tiếp cận và học hỏi tự nhiên để hoàn thiện quá trình phát triển của mình theo hướng đối xử thân thiện với môi trường tự nhiên, như C.Mác và Ph.Ăngghen (1995b) đã từng khẳng định: Trên thực tế, chúng ta học hỏi để ngày càng hiểu được một cách chính xác những quy luật
đó, và biết được những hậu quả gần gũi cũng như xa xôi của những sự can thiệp tích cực của chúng ta vào trong tiến trình bình thường của các sự vật trong giới tự nhiên Nhất là từ khi khoa học tự nhiên đã thu được những tiến bộ vĩ đại trong thế kỷ hiện thời, thì chúng ta lại ngày càng đi đến hiểu biết được cả những hậu quả tự nhiên xa xôi, ít nhất là của những hành động thông thường nhất của chúng ta trong lĩnh vực
Trang 11sản xuất, và do đó, có thể chi phối những hậu quả đó Nhưng điều đó càng trở thành
sự thật thì con người không những càng cảm thấy mà lại càng hiểu biết thêm rằng
mình với giới tự nhiên chỉ là một (tr.655) Ba là, bảo vệ môi trường chưa đúng mức
sẽ làm giảm sự tăng trưởng kinh tế, thu hẹp khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Nhu cầu của sản xuất càng cao thì các yếu tố đầu vào cũng liên
tục tăng lên Do đó, tự nhiên sẽ ngày càng nghèo đi, khi các giá trị cho sự phát triển
xã hội được chuyển từ tự nhiên vào ngày càng nhiều Sự giàu có của xã hội đồng nghĩa với sự nghèo dần của môi trường tự nhiên Nếu không có sự tính toán kỹ lưỡng, đầu tư hợp lý và biện pháp BVMT, bảo vệ sự cân bằng môi trường trong mối tương quan của xã hội với tự nhiên, con người sẽ gây nên những thảm họa môi trường tự nhiên khủng khiếp Mức độ tác động của tự nhiên đến xã hội lớn đến mức
có thể hủy hoại toàn bộ những thành tựu mà con người đã đạt được, làm tăng nguy
cơ bị diệt vong Bốn là, BVMT trái quy luật kéo theo sự tăng trưởng âm của nền
kinh tế Con người và xã hội loài người đặt ra những chỉ tiêu quá cao cho TTKT; tập
trung cho TTKT mà không chú ý đến BVMT tự nhiên, chỉ chú trọng chiều TTKT để nhanh chóng đạt tới lợi ích, trong khi các điều kiện về kỹ thuật chưa cho phép Chiều hướng tác động này đã làm cho môi trường tự nhiên cạn kiệt nhanh chóng, mất khả năng phục hồi, gây ô nhiễm môi trường
1.3 QUAN HỆ GIỮA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.3.1 Đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH, HĐH là quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm phát triển lực lượng sản xuất và thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế mới hợp lý để đạt tới năng suất lao động xã hội cao; CNH gắn liền với HĐH dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ CNH, HĐH hiện nay có những đặc điểm sau đây:
Một là, CNH gắn liền với HĐH; kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ
hiện đại, tranh thủ tiến nhanh, hiện đại hóa ở những khâu quyết định Hai là, CNH,
HĐH được thực hiện trong điều kiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản Ba là, CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của tất cả các thành phần kinh tế Bốn là, CNH, HĐH gắn liền với việc xây dựng nền kinh tế mở Năm là, khoa học - công nghệ được xác định là nền tảng
và động lực của CNH, HĐH Sáu là, CNH, HĐH phải lấy việc phát huy nguồn lực
con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; CNH, HĐH phải gắn với phát triển bền vững
1.3.2 Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến tăng trưởng kinh tế
và bảo vệ môi trường
Trong tiến trình CNH, HĐH, quá trình kinh tế - kinh tế và kinh tế - xã hội có quan hệ biện chứng với nhau ở tầm vĩ mô và vi mô Quá trình kinh tế - kinh tế tạo
Trang 12điều kiện vật chất - kỹ thuật cho việc thực hiện các nội dung của quá trình kinh tế -
xã hội Đến lượt mình, quá trình kinh tế - xã hội lại góp phần tạo nên động lực cho việc thực hiện quá trình kinh tế - kinh tế Với ý nghĩa đó, khi xem xét tác động và hiệu quả của CNH, HĐH, phải có quan điểm toàn diện, không chỉ dừng lại ở khía cạnh kinh tế kỹ thuật, mà phải xem xét thấu đáo khía cạnh kinh tế - xã hội của nó Nhờ CNH, HĐH, một mặt giúp cho nhân loại đạt được những thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trước hết là chiến thắng nạn đói của mấy nghìn năm trước đây, bình quân hằng năm có tới hàng triệu người chết đói, sau đó là chiến thắng của những căn bệnh truyền nhiễm Tuy nhiên, vì mục đích chạy theo lợi nhuận trước mắt của con người mà môi trường tự nhiên bị tàn phá nặng nề, đã phá hủy sự cân bằng sinh thái của trái đất Chúng là nguyên nhân căn bản khiến cho trái đất ấm dần lên Nếu sự phá hoại này tiếp tục được duy trì, thì sẽ gây ra sự biến đổi khí hậu mang tính hủy diệt, không những làm cho toàn bộ hệ sinh thái không ổn định, thậm chí còn uy hiếp đến nền văn minh nhân loại Về điều này, C.Mác đã từng cảnh báo rằng: “nếu canh tác được tiến hành một cách tự phát mà không được hướng dẫn một cách có ý thức… thì sẽ để lại sau nó đất hoang” (C.Mác và Ph.Ăngghen,
2000, tr.80) Những mối nguy hiểm về môi trường do sự can thiệp của chính con người và chỉ có thể được khắc phục thông qua sự thay đổi thái độ và hành vi của con người với tự nhiên Do đó, TTKT đòi hỏi phải giải quyết hài hòa mục tiêu kinh tế với mục tiêu sinh thái trong quá trình CNH, HĐH, phục vụ không chỉ cho lợi ích trước mắt của thế hệ hôm nay mà còn lợi ích lâu dài của thế hệ tương lai Để đạt được sự phát triển lâu bền trong quá trình CNH, HĐH đòi hỏi sự hiểu biết và tinh thần trách nhiệm cao của người lao động về BVMT, ở họ phải có tư duy sinh thái, văn hóa sinh thái, đạo đức sinh thái, từ đó xây dựng văn minh sinh thái để con người
có cuộc sống hài hòa với tự nhiên, hướng tới sự phát triển bền vững
Kết luận chương 1
Các khái niệm công cụ có tính chất lý luận chung đã được làm rõ gồm: kinh
tế, TTKT, môi trường và BVMT; mối quan hệ giữa TTKT với BVMT; CNH, HĐH; đặc điểm của CNH, HĐH và mối quan hệ giữa CNH, HĐH với kinh tế và môi trường Để đạt được sự phát triển bền vững trong quá trình CNH, HĐH đòi hỏi
sự hiểu biết và tinh thần trách nhiệm cao của người lao động về BVMT, ở họ phải
có tư duy sinh thái, văn hóa sinh thái, đạo đức sinh thái, từ đó xây dựng văn minh sinh thái để con người có cuộc sống hài hòa với tự nhiên Tùy thuộc vào đặc điểm, bối cảnh cụ thể mà mỗi quốc gia hay mỗi địa phương trong một quốc gia thực hiện con đường CNH, HĐH theo những cách khác nhau và có những đóng góp nhất định vào công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó Tại Việt Nam, tỉnh Đồng Nai là một trường hợp như thế, là một trong những địa phương đi đầu trong quá trình CNH, HĐH
Trang 13Chương 2 NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU TÁC ĐỘNG VÀ THỰC TRẠNG QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ở TỈNH ĐỒNG NAI TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
2.1 NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở TỈNH ĐỒNG NAI TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
2.1.1 Đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách, pháp luật của Nhà nước thể hiện tính định hướng, chỉ đạo, quản lý là nhân tố quan trọng hàng đầu tác động quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường
ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chủ trương, chính sách của Đảng về thực hiện TTKT gắn với BVMT trong quá trình CNH, HĐH đã có tác động mang tính định hướng để Đảng bộ tỉnh Đồng Nai vận dụng sáng tạo, đưa ra các quyết sách phù hợp với thực tiễn tỉnh Đồng Nai Trong bối cảnh đất nước còn trong tình trạng trì trệ, kém phát triển, tỉnh Đồng Nai lấy mục tiêu phát triển kinh tế là trọng tâm để cải thiện đời sống nhân dân Khi đất nước có sự chuyển mình mạnh mẽ, ngoài mục tiêu TTKT, tỉnh Đồng Nai còn chú trọng việc giữ vững quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị, đảm bảo trật tự, an toàn
xã hội Giai đoạn kinh tế liên tục tăng trưởng có nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, tỉnh Đồng Nai xác định tăng trưởng cao nhưng phải bền vững, đẩy mạnh CNH, HĐH đi đôi với BVMT; thực hiện tốt và đồng bộ các chính sách an sinh xã hội; nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc sống của nhân dân Thực tiễn cho thấy, những chủ trương, chính sách trên đã giúp tỉnh Đồng Nai trở thành điểm sáng trong quá trình CNH, HĐH, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới, phát triển đất nước
2.1.2 Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình hội nhập quốc tế tác động đến quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường
ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Quá trình đổi mới tư duy và lý luận về KTTT định hướng XHCN của Đảng đã tác động tích cực và tạo sự chuyển biến trong đường lối phát triển kinh tế của tỉnh
Đồng Nai, biểu hiện rõ nét nhất là giai đoạn 1986 - 2000, đánh dấu chuyển biến mới
về nhận thức và quan điểm phát triển kinh tế của tỉnh bằng việc đưa công nghiệp trở lại vị trí số một trong cơ cấu kinh tế bên cạnh việc xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, trong đó nhấn mạnh phát triển theo hướng CNH, HĐH Những chủ trương trên đã tạo ra những thành quả lớn trong thu hút đầu tư và TTKT tại tỉnh Đồng Nai Đến năm 2000, về cơ bản
tỉnh Đồng Nai đã kết thúc giai đoạn khởi đầu CNH, HĐH, tạo tiền đề, điều kiện
cần thiết như tăng tích lũy vốn, phát triển hạ tầng cho giai đoạn tiếp theo, giai