1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở việt nam hiện nay luận văn ths kinh doanh và quản lý 60 34 05

141 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Phạm Hồng Nhung
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Phi Nga
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế
Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh
Thể loại Luận văn Thạc sỹ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 586,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thị trường bảohiểm nhân thọ ở Việt Nam với một lượng dân số trên 80 triệu người, là một thịtrường đầy tiềm năng nhưng mức độ khai thác thị trường còn rất nhỏ bé, chưađáp ứng đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ PHI NGA

Hà Nội – 2010

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẲNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ 5

1.1 T ổng quan về bảo hiểm nhân thọ 5

1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên thế giới 5

1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của bảo hiểm nhân thọ 6

1.1.3 Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm nhân thọ 9

1.2 Thị trường bảo hiểm nhân thọ 11

1.2.1 Khái niệm về thị trường bảo hiểm 11

1.2.2 Các bên tham gia vào thị trường bảo hiểm nhân thọ 13

1.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường bảo hiểm nhân thọ 18

1.2.4 Phân loại thị trường BHNT 20

1.2.5 Những đặc trưng cơ bản của thị trường bảo hiểm nhân thọ 21

1.3 Xác định thị trường mục tiêu của thị trường bảo hiểm nhân thọ 25

1.3.1 Sự cần thiết phải xác định thị trường mục tiêu 25

1.3.2 Các yếu tố xác định thị trường 26

1.4 Quy luật chung của thị trường bảo hiểm nhân thọ 28

1.5 Xu thế phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ trên thế giới 29

1.5.1 Xu thế gia tăng các khối “liên minh chiến lược” 29

1.5.2 Xu thế hình thành “ngân hàng – bảo hiểm” 29

1.5.3 Xu thế mở cửa, tự do hóa thị trường nội địa 30

1.6 Kinh nghiệm phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở một số nước trên thế giới 31

1.6.1 Kinh nghiệm phát triển bảo hiểm ở các nước Châu Âu… …… 31

Trang 4

1.6.2 Kinh nghiệm phát triển bảo hiểm ở Trung Quốc 35

Chương 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở

2.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của thị trường bảo hiểm

nhân thọ ở Việt Nam trong thời gian qua 47

2.2.1 Nhân tố tích cực 47 2.2.2 Nhân tố tiêu cực 52

2.3 Phân tích thực trạng thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt nam trong

thời gian qua 57

2.3.1 Các bộ phận cấu thành của thị trường bảo hiểm nhân thọ 57 2.3.2 Kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại của thị trường bảo hiểm Nhân thọ Việt Nam 87

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG

BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM 1013.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam 101

3.2 Triển vọng phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam

trong thời gian qua 102

3.3 Các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam107

3.3.1 Nhóm giải pháp chính sách và quản lý nhà nước 107

3.3.2 Nhóm giải pháp về chiến lược phát triển sản phẩm của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm

111 3.3.3 Nhóm giải pháp nâng cao giá trị xã hội của hiệp hội bảo hiểm 127

KẾT LUẬN 130 TÀI LIỆU THAM KHẢO 131

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Asia-Pacific Economic Cooperation

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu

Á – Thái Bình Dương

Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 6

Organization Tổ chức thương mại thế giới

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 2.1 Thu nhập bỡnh quõn đầu người một thỏng theo vựng năm

2009 (theo giỏ hiện hành) đối với lao động khu vực nhà nước

4 Bảng 2.4 Số hợp đồng, sồ tiền bảo hiểm và số phớ bảo hiểm của cỏc

doanh nghiệp khai thỏc năm 2009

67

5 Bảng 2.5 Nhu cầu đ•ợc thỏa mãn và tốc độ tăng của các sản phẩm bảo

hiểm nhân thọ trên thị tr•ờng (theo số hợp đồng bảo hiểm

đang duy trì có hiệu lực)

69

6 Bảng 2.6 Nhu cầu đ•ợc thỏa mãn và tốc độ tăng của các sản phẩm bảo

hiểm nhân thọ trên thị tr•ờng (theo số hợp đồng bảo hiểmkhai thác mới)

71

7 Bảng 2.7 Số lượng đại lý và tốc độ tăng trưởng đại lý hoạt động đến

31-12 hàng năm của cỏc doanh nghiệp bảo hiểm nhõn thọ ởViệt Nam (2006-2009)

77

9 Bảng 2.9 Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động của thị tr•ờng bảo

hiểm nhân thọ Việt Nam (2006-2009)

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

2 Hình 2.1 Thị phần doanh thu phí bảo hiểm năm 2006 và 2009 63

Trang 9

1.Tính cấp thiết của đề tài

MỞ ĐẦU

Bắt đầu từ năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ, từ

cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản

lý vĩ mô của Nhà nước Từ một nền kinh tế yếu kém, vừa thoát khỏi chiến tranh,

sức mạnh nội sinh thấp, lạm phát cao và liên tục, các thành phần kinh tế đượcgiải phóng, phát triển năng động, đưa đất nước ta ra khỏi khó khăn, đời sống củangười dân từng bước được nâng cao

Trong sự phát triển chung của nền kinh tế, lĩnh vực tài chính ngân hàng bảo hiểm nói chung và ngành bảo hiểm nhân thọ (BHNT) nói riêng cũng đã cónhững bước phát triển đáng kể Doanh thu từ các loại hình BHNT ngày càng tăngcao và ổn định Hơn nữa, với tính chất ưu việt riêng có, BHNT đã góp phần ổnđịnh kinh tế - xã hội thông qua công tác bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm, giảiquyết công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn lao động

-Cùng với việc ký Hiệp định thương mại Việt - Mỹ năm 2000 và chính thứcgia nhập WTO vào tháng 11 năm 2006, gắn liền với việc mở cửa thị trường Bảohiểm nhân thọ Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam đã và đang phát triển với tốc độtăng trưởng cao, quy mô thị trường ngày càng mở rộng, mạng lưới hoạt độngđược triển khai ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước Tuy nhiên, thị trường bảohiểm nhân thọ ở Việt Nam với một lượng dân số trên 80 triệu người, là một thịtrường đầy tiềm năng nhưng mức độ khai thác thị trường còn rất nhỏ bé, chưađáp ứng được nhu cầu vể bảo hiểm của các tầng lớp dân cư trong xã hội Thực tế

đó, đòi hỏi phải nghiên cứu và đưa ra những giải pháp nhằm phát triển thị trườngbảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam Đó là việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa cả về

mặt lý luận và thực tiễn Và là lý do chúng tôi chọn đề tài: “Các giải pháp phát

triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn

thạc sỹ chuyên ngành Quản trị kinh doanh

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trang 10

Phát triển thị trường bảo hiểm đã được đề cập nhiều trên sách báo, tạp chí

và các diễn đàn khoa học Có thể thống kê một số công trình sau:

- Đề tài khoa hoc cấp Bộ của trường đại học Ngoại thương: Thị trường bảohiểm và các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm ở Việt Nam do PGS - TSNguyễn Như Tiến làm chủ nhiệm đề tài, bảo vệ năm 2005

- Nghi định số 175/2003 QĐ-TTg Chiến lược phát triển thị trường Bảohiểm Việt Nam từ 2003 đến 2010

- Đề tài: Nghiên cứu khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hóa thươngmại dịch vụ tại Việt Nam: Ngành Bảo hiểm (Dự án VIE/02/009 của Bộ kế hoạchđầu tư, xuất bản tháng 10/2005)

- Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Bảo Việt Nhân PGS.TS Nguyễn Văn Định Tạp chí bảo hiểm Số 5 (tháng 5/2005)

thọ Giáo trình “Quản trị kinh doanh Bảo hiểm” thọ trường Đại học kinh tế quốcdân - Nguyễn Văn Định chủ biên, năm 2004

Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung phân tích những cơ hội vàthách thức đối với thị trường bảo hiểm ở Việt Nam, thực trạng ngành dịch vụbảo hiểm, phân tích khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hóa ngành dịch

vụ bảo hiểm Việt Nam và đề ra một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểmViệt Nam hiện nay Nhưng chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu vềphát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ một cách có hệ thống và toàn diện Vìvậy, việc nghiên cứu nhằm phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam

là một yêu cầu cấp thiết hiện nay

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

- Mục tiêu: Vận dụng và làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hiểm

nhân thọ, thị trường bảo hiểm nhân thọ, để phân tích đánh giá thực trạng thịtrường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam Và đề xuất những giải pháp nhằm pháttriển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập hiệnnay

- Nhiệm vụ đề tài tập trung vào một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

Trang 11

+ Tổng quan một số vấn đề lý luận về bảo hiểm nhân thọ và thị trường bảohiểm nhân thọ.

+ Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở một sốnước trên thế giới, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm phát triển thị trườngbảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam

+ Đánh giá thực trạng thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam từ năm 2006đến năm 2009 Xác định những vấn đề cần giải quyết trong quá trình phát triển.+ Đề xuất những giải pháp phát triển thị trường BHNT ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Thị trường bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm nhânthọ ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọtrên thị trường Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2009

5 Các phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu

cơ bản sau:

5.1 Phương pháp điều tra chọn mẫu

Đề tài lựa chọn một số doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tiêu biểu để phântích các đối tượng, rút ra những nhận xét ban đầu

5.2 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

Việc thu thập tài liệu có liên quan đến nội dung của đề tài, có ý nghĩa quantrọng trong nghiên cứu Tác giả đã thu thập tài liệu, tư liệu về thị trường bảohiểm nhân thọ từ nhiều nguồn khác nhau, tiến hành xử lý bằng phương phápnghiên cứu trong phòng để đưa ra những nhận định có cơ sở

5.3 Phương pháp thống kê

Là phương pháp quan trọng trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực kinh tế

-xã hội Đề tài sử dụng số liệu thống kê từ các niên giám thống kê, các cơ quan cóliên quan Với sự hỗ trợ của các phần mềm xử lý số liệu để có thể đánh giá có hệthống, đủ độ tin cậy phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài

5.4 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

Trang 12

Phương pháp phân tích giúp tìm ra được những điểm cụ thể, chi tiết của thịtrường bảo hiểm nhân thọ Phương pháp so sánh thấy được những nét khác biệttrong quá trình phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ Kết quả phân tích, đánhgiá, tổng hợp các thông tin thu được chính là kết quả nghiên cứu đáp ứng đượcmục tiêu và nhiệm vụ của đề tài.

Trong nghiên cứu, các phương pháp này được sử dụng linh hoạt để giảiquyết vấn đề một cách hiệu quả nhất

6 Đóng góp mới của luận văn:

- Tổng quan các lý luận cơ bản về bảo hiểm nhân thọ, về thị trường Bảo hiểmnhân thọ nhằm đưa ra cơ sở lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về thị trường trongkinh doanh sản phẩm bảo hiểm nhân thọ

- Rút ra một số bài học kinh nghiệm qua việc nghiên cứu sự phát triển của cácthị trường bảo hiểm trên thế giới

- Phát hiện, phân tích và đánh giá ưu nhược điểm của thị trường hiểm nhânthọ ở Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện thị trường bảo hiểm nhân thọ ởViệt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiểm nhân thọ và thị trườngbảo hiểm nhân thọ

Chương 2: Thực trạng thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu phát triển thị trường bảo hiểm nhânthọ ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ

THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

1.1 Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ

1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên thế giới

Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) là sự cam kết giữa người bảo hiểm và ngườitham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặcngười thụ hưởng) một số tiền nhất định khi có các sự kiện đã định trước xảy ra(người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), cònngười tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn Nói cách khác, bảohiểm nhân thọ là quá trình bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộcsống và tuổi thọ của con người [9, tr.432]

Hợp đồng BHNT đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1583, do công dânLondon là ông Willian Gybbon tham gia Phí bảo hiểm ông phải đóng lúc đó là

32 bảng Anh, khi ông chết, cũng trong năm đó, người thừa kế của ông đượchưởng 400 bảng Anh Tuy nhiên, BHNT sau đó bị cấm do nó không có đầy đủ

cơ sở kỹ thuật Chỉ đến thế kỷ 17, khi Pascal, Ferma và sau đó là Bernoullichứng minh Quy luật số đông, khai sinh và phát triển ra môn toán xác suất thống

kê, thì cơ sở kỹ thuật của bảo hiểm nhân thọ mới hình thành Kể từ đó BHNTphát triển mạnh trên tất cả các quốc gia có đủ các điều kiện

Năm 1759, công ty bảo hiểm nhân thọ ra đời đầu tiên ở Philadelphia (Mỹ).Công ty này đến nay vẫn còn hoạt động, nhưng lúc đầu nó chỉ bán bảo hiểm chocác con chiên nhà thờ của mình Năm 1762, công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable

ở nước Anh được thành lập và bán bảo hiểm nhân thọ cho mọi người dân Công

ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ở Đức năm 1828, ở Pháp ra đời năm 1878

Ở Châu Á, các công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời ở Nhật Bản Năm

1868 công ty bảo hiểm Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, hai công

ty khác là Kyoei và Nippon thành lập và phát triển cho đến ngày hôm nay

Theo thời gian, BHNT phát triển rất nhanh Vai trò của BHNT không chỉthể hiện trong từng gia đình và đối với từng cá nhân trong việc góp phần ổn định

Trang 14

cuộc sống, giảm bớt khó khăn về tài chính khi gặp phải rủi ro, mà còn thể hiện rõgiá trị xã hội của nó Trên phạm vi xã hội, BHNT góp phần thu hút vốn đầu tưnước ngoài, huy động vốn trong nước từ những nguồn tiền mặt nhàn rỗi nằmtrong dân cư Lượng vốn huy động từ ngành BHNT được đầu tư trở lại nền kinh

tế qua hình thức mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp này mở rộng quy mô sản xuất Với nhiều hình thức khác nhau,hoặc là góp vốn liên doanh, hoặc là cho chính phủ vay thông qua mua trái phiếuchính phủ; hoặc tạo điều kiện cho chính người tham gia BHNT vay lại từ hợpđồng BHNT của mình giúp trang trải những chi phí bất ngờ trong đời sống…Rõràng, BHNT không chỉ có chức năng bảo vệ, mà còn có chức năng của một địnhchế tài chính trung gian, huy động có hiệu quả nguồn vốn trung và dài hạn trongnước và nước ngoài Đặc biệt, chức năng này càng thể hiện rõ hơn trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế

1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của bảo hiểm nhân thọ

1.1.2.1 Bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính ruỉ ro

Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với bảohiểm phi nhân thọ Thật vậy, mỗi người mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoảntiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho công ty bảo hiểm Ngược lại, công ty bảohiểm có trách nhiệm trả một số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người thụhưởng quyền lợi bảo hiểm, như đã thỏa thuận trước khi có các sự kiện bảo hiểmxảy ra Số tiền bảo hiểm (STBH) được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một

độ tuổi nhất định và được ấn định trong hợp đồng Hoặc số tiền này được trả chothân nhân và gia đình người được bảo hiểm, khi người được bảo hiểm khôngmay bị chết sớm Ngay cả khi, họ mới tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ quaviệc đóng phí bảo hiểm Số tiền này giúp những người còn sống trang trải nhữngkhoản chi phí cần thiết như thuốc men, chi phí mai táng, chi phí giáo dục concái.v.v…Chính vì vậy, BHNT vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro.Tính tiết kiệm thể hiện ngay ở từng cá nhân, từng gia đình một cách thườngxuyên, có kế hoạch và có kỷ luật Nội dung tiết kiệm khi mua BHNT khác vớihình thức tiết kiệm khác ở chỗ, người bảo hiểm đảm bảo trả cho người tham gia

Trang 15

bảo hiểm hay người thân của họ một số tiền rất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệmđược một khoản tiền nhỏ Có nghĩa là khi người được bảo hiểm không may gặprủi ro trong thời hạn bảo hiểm đã được ấn định, những người thân của họ sẽ nhậnđược những khoản trợ cấp hay STBH từ công ty bảo hiểm Điều đó thể hiện rõtính chất rủi ro trong BHNT.

1.1.2.2 Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau cho người tham gia bảo hiểm

Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mụcđích là góp phần khắc phục hậu quả của rủi ro Từ đó, góp phần ổn định tài chínhcho người tham gia Thì BHNT, ngoài mục đích đó, còn đáp ứng nhiều mục đíchkhác Mỗi mục đích được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng Chẳng hạn,hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) hưu trí đáp ứng nhu cầu của người tham gia nhữngkhoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, góp phần ổn định cuộc sống của họ khi giàyếu HĐBH tử vong sẽ giúp người được bảo hiểm để lại cho gia đình một STBHkhi họ bị tử vong Số tiền này đáp ứng được rất nhiều mục đích của người quá cốnhư: Trang trải nợ nần, giáo dục con cái, phụng dưỡng bố mẹ già v.v…HĐBHnhân thọ, đôi khi, còn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốn; hoặc BHNTtín dụng thường được bán cho các đối tượng đi vay để họ mua xe hơi, đồ dùnggia đình hoặc dùng cho các mục đích cá nhân khác v.v…Chính vì đáp ứng đượcnhiều mục đích khác nhau, nên loại hình bảo hiểm này có thị trường ngày càngrộng và được rất nhiều người quan tâm

1.1.2.3 Các loại hợp đồng trong bảo hiểm nhân thọ rất đa dạng và phức tạ

p

Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thể hiện ởcác sản phẩm bảo hiểm nhân thọ Mỗi sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợpđồng khác nhau, chẳng hạn BHNT hỗn hợp có các hợp đồng 5 năm, 10 năm.Mỗi hợp đồng lại có sự khác nhau về STBH, phương thức đóng phí, độ tuổi củangười tham gia…Ngay cả trong một bản hợp đồng, mối quan hệ giữa các bêncũng rất phức tạp Khác với các bản HĐBH phi nhân thọ, trong mỗi HĐBH nhânthọ có thể có 4 bên có liên quan: Người bảo hiểm, người được bảo hiểm, người

Trang 16

tham gia bảo hiểm và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm Người bảo hiểmchính là các công ty BHNT, còn người được bảo hiểm là người có tính mạng,tình trạng sức khỏe và những sự kiện có liên quan đến tuổi thọ của họ được bảohiểm hoặc là người giao tên tuổi của mình cho người khác đi ký HĐBH Cònngười tham gia BHNT, thực chất là những người trực tiếp đứng ra ký kết hợpđồng và nộp phí bảo hiểm Người tham gia bảo hiểm phải có đầy đủ năng lựcpháp lý và hành vi Trong mỗi hợp đồng BHNT còn có người thụ hưởng quyềnlợi bảo hiểm Thông thường người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm do người thamgia chỉ định Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm là người sẽ nhận được mọiquyền lợi từ người bảo hiểm chi trả.

1.1.2.4 Phí bảo hiểm nhân thọ chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố và quá trình định phí khá phức tạp

Theo tác giả Jean- Claude Harrari “Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ không gìhơn chính là kết quả của một tiến trình đầy đủ để đưa sản phẩm tới côngchúng”[26, tr.23] Trong tiến trình này, người bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chiphí để tạo nên sản phẩm như: Chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồngv.v…Nhưng những chi phí đó chỉ là một phần để cấu tạo nên giá cả sản phẩmBHNT, một phần chủ yếu khác lại phụ thuộc vào độ tuổi của người được bảohiểm, tuổi thọ bình quân, số tiền bảo hiểm, thời hạn tham gia, phương thức thanhtoán, lãi suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát và thiểu phát của đồng tiền…

Điều đó khác với việc định giá cả của một chiếc xe ô tô Chiếc xe ô tô làsản phẩm của một dây chuyền sản xuất, để sản xuất ra nó người ta phải chi ra rấtnhiều khoản như, chi phí nguyên, nhiên, vật liệu, chi phí lao động sống, khấuhao tài sản cố định v.v…Những khoản chi này là chi phí thực tế phát sinh vàthực chất chúng là những khoản chi phí “đầu vào” được hạch toán một cách chitiết, đầy đủ và chính xác để phục vụ cho quá trình định giá Thế nhưng, khi địnhgiá phí BHNT, một số yếu tố nêu trên phải giả định, như tỷ lệ chết, tỷ lệ hủy bỏhợp đồng, lãi suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát v.v…Vì thế, quá trình định phí ở đây rấtphức tạp, đòi hỏi phải nắm vững đặc trưng của mỗi loại sản phẩm, phân tích

Trang 17

dòng tiền tệ, phân tích được chiều hướng phát triển của mỗi sản phẩm trên thịtrường.

1.1.2.5 Bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh

tế - xã hội nhất định

Ở các nước có nền kinh tế phát triển, BHNT ra đời và phát triển hàng trămnăm nay Ngược lại, có một số quốc gia trên thế giới hiện nay vẫn chưa triểnkhai được bảo hiểm nhân thọ, mặc dù người ta hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của

nó Để lý giải vấn đề này, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, cơ sở chủ yếu đểBHNT ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế - xã hội phải phát triển

Mức độ phát triển của các điều kiện kinh tế xã hội Từ tốc độ tăng trưởngGDP, thu nhập dân cư, tỷ lệ lạm phát, đến mật độ dân số, tuổi thọ bình quân…cótác động quyết định sự phát triển của bảo hiểm nhân thọ

Bên cạnh các điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường pháp lý cũng có ảnhhưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT Thông thường, ở cácnước, luật kinh doanh bảo hiểm, các văn bản, quy định có tính pháp quy ra đờitrước khi ngành bảo hiểm phát triển Luật bảo hiểm và các văn bản có liên quan

sẽ đề cập cụ thể đến các vấn đề tài chính, đầu tư, hợp đồng, thuế v.v…Đây lànhững vấn đề mang tính chất sống còn cho hoạt động kinh doanh BHNT Chẳnghạn, ở một số nước phát triển, nhà nước thường tạo điều kiện thuận lợi cho cácdoanh nghiệp BHNT bằng các chính sách thuế ưu đãi Mục đích nhằm tạo ra chocác cá nhân cơ hội để tiết kiệm, tự mình lập nên quỹ hưu trí, từ đó cho phépgiảm bớt phần trợ cấp từ Nhà nước Mặt khác, còn đẩy mạnh được quá trình tậptrung vốn cho nền kinh tế Cũng vì những mục đích trên mà một số nước châu Á,như Ấn Độ, Hồng Kông, Singapore…không đánh thuế doanh thu đối với cácnghiệp vụ BHNT Sự ưu đãi này là đòn bẩy tích cực để BHNT phát triển

Trên thế giới, BHNT là loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và phát triểnnhất Doanh thu phí BHNT toàn cầu năm 1993 đạt 943 tỷ USD, năm 1999 là1.412,2 tỷ USD đến năm 2002 con số này là 1.536 tỷ USD

1.1.3 Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm nhân thọ

Trang 18

(Nguồn: Sách nhập môn toán học bảo hiểm nhân thọ, trung tâm phát triển

nhân thọ Phương Đông, Tokyo, Nhật Bản)

Thoạt đầu, sự may rủi mà bề mặt có số 6 xuất hiện là 1/6 (tần suất xuất hiện

là 0,167), đây là xác suất lý thuyết, qua nhiều lần thử nghiệm, tần suất xuất hiệncủa mặt số 6 sẽ dần vế xác suất lý thuyết (0,167) Nói một cách khác, nếu chúng

ta thực hiện việc nghiên cứu trên một đám đông đủ lớn, chúng ta sẽ có xác suấtxảy ra một biến cố nào đó ở mức độ đủ chính xác và nói chung, chúng ta có thểlàm chủ được biến cố ngẫu nhiên đó Ứng dụng Quy luật số đông vào bảo hiểmnhân thọ, yêu cầu các công ty bảo hiểm phải triển khai các sản phẩm bảo hiểmnhân thọ trên số đông người càng lớn càng tốt Vì khi có số đông người, xác suất

tử vong (hoặc còn sống) xảy ra trong thực tế và xác suất tử vong (hoặc còn sống)

dự kiến khi định phí sẽ tiến dần về với nhau và điều này cũng có nghĩa là công tybảo hiểm với số phí thu trước, đủ chi trả cho các trường hợp tử vong hoặc cònsống xảy ra trong thực tế

Trong thực tế, khi ứng dụng nguyên tắc số đông, các công ty bảo hiểm phảituân thủ một hệ quả của nguyên tắc số đông, đó chính là nguyên tắc phân chia

Trang 19

Theo nguyên tắc này, các công ty bảo hiểm phải tránh chấp nhận bảo hiểm chonhững rủi ro có giá trị quá lớn vượt quá khả năng tài chính của từng công ty bảohiểm Trong trường hợp rủi ro có giá trị lớn, cần phải sử dụng một trong hai kỹthuật phân chia là đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm Trong đó, kỹ thuật tái bảohiểm được sử dụng phổ biến nhất.

1.1.3.2 Nguyên tắc khoán

Trong đa số các nghiệp vụ về bảo hiểm nhân thọ, số tiền bảo hiểm, cáckhoản trợ cấp được ấn định trước trên hợp đồng Những khoản tiền này được xácđịnh dựa vào sự lựa chọn của người được bảo hiểm Khi xảy ra các sự kiện bảohiểm, số tiền bảo hiểm hay trợ cấp được công ty bảo hiểm thanh toán khôngnhằm mục đích bồi thường thiệt hại, đây là một số tiền mang tính chất khoán.Cũng vì thế, những giả thuyết về bảo hiểm trên giá trị, dưới giá trị và bảo hiểmtrùng không được đề cập trong bảo hiểm nhân thọ

1.1.3.3 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối

Nguyên tắc này được thể hiện ngay từ khi người bảo hiểm nghiên cứu đểsoạn thảo một hợp đồng bảo hiểm đến khi phát hành, khai thác bảo hiểm và thựchiện giao dịch kinh doanh với khách hàng

Trước hết, nguyên tắc trung thực tuyệt đối đòi hỏi người bảo hiểm phải cótrách nhiệm cân nhắc các điều kiện, điều khoản để soạn thảo hợp đồng bảo đảmcho quyền lợi của cả hai bên Chất lượng sản phẩm bảo hiểm có đảm bảo haykhông, giá cả có hợp lý hay không, quyền lợi của người được bảo hiểm có đảmbảo đầy đủ, công bằng hay không…đều chủ yếu dựa vào sự trung thực của phíabên bảo hiểm

Ngược lại, nguyên tắc này cũng đặt ra một yêu cầu với người tham giabảo hiểm là phải khai báo rủi ro trung thực khi tham gia bảo hiểm để giúp chongười bảo hiểm xác định mức phí phù hợp với rủi ro mà họ có trách nhiệm.Thêm vào đó các hành vi gian lận nhằm trục lợi bảo hiểm khi thông báo, khaibáo các thiệt hại để đòi bồi thường sẽ được xử lý theo pháp luật

1.2 Thị trường bảo hiểm nhân thọ

1.2.1 Khái niệm về thị trường bảo hiểm

Trang 20

Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất hàng hóa Cónhiều quan điểm về thị trường và cũng đã có nhiều tài liệu bàn về thị trường Cóthể nói quan điểm chung nhất là “thị trường bao gồm toàn bộ các hoạt động traođổi hàng hóa được diễn ra trong sự thống nhất hữu cơ với các mối quan hệ dochúng phát sinh gắn liền với một không gian nhất định” [8, tr.25]

Hành vi cơ bản của thị trường là hành vi mua và bán Thông qua hoạt độngmua và bán hàng hóa (sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ), người mua tìmđược cái đang cần và người bán bán được cái mình có với giá thỏa thuận Hành

vi đó diễn ra trong một không gian nhất định và tạo ra những mối quan hệ kinh

tế trong nền kinh tế: Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng; quan hệ giữa cung vàcầu; quan hệ giữa đối tác và cạnh tranh.v.v…

Quan hệ cạnh tranh diễn ra gay gắt giữa các đối thủ: Cạnh tranh giữa ngườibán với người mua, cạnh tranh giữa người mua với người mua, cạnh tranh giữangười bán với nhau về chất lượng, mẫu mã, về giá cả sản phẩm v.v…Cuộc cạnhtranh này phức tạp, sôi động, hấp dẫn mang lại niềm vinh quang cho các đối thủbiết tận dụng mọi khả năng lợi thế của mình và biết loại trừ rủi ro

Theo đặc trưng của sản phẩm - sản phẩm vật chất, sức lao động và sảnphẩm dịch vụ, thị trường cũng hình thành: thị trường hàng hóa, thị trường sứclao động, thị trường dịch vụ Trong đó, thị trường hàng hóa là nơi mua bán cácsản phẩm dịch vụ nhằm thỏa mãn các nhu cầu về vốn (thị trường chứng khoán,thị trường tiền tệ, thị trường bảo hiểm), nhu cầu nghỉ dưỡng (thị trường du lịch).Thị trường bảo hiểm là thị trường dịch vụ Theo thuật ngữ bảo hiểm, thịtrường bảo hiểm là nơi mua và bán các sản phẩm bảo hiểm Sản phẩm bảo hiểm

là loại sản phẩm đặc biệt; là loại sản phẩm vô hình không thể cảm nhận đượchình dáng, kích thước, màu sắc v.v…SPBH là sản phẩm không được bảo hộ bảnquyền; là sản phẩm mà người mua không mong đợi sự kiện bảo hiểm xảy ra đốivới mình để được bồi thường hay trả tiền bảo hiểm (trừ bảo hiểm hưu trí, bảohiểm nhân thọ) v.v…

Trang 21

1.2.2 Các bên tham gia vào thị trường bảo hiểm nhân thọ

Từ khái niệm thị trường ở trên, thị trường bảo hiểm nhân thọ là nơi mua vàbán các các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ Từ đó ta thấy thị trường muốn tồn tại

và phát triển phải có đủ các điều kiện sau đây:

+ Phải có người cung ứng, tức người bán các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ.+ Phải có khách hàng, tức người mua các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ

+ Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ

1.2.2.1 Người cung ứng các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ

Các bên tham gia vào quá trình cung ứng các sản phẩm bảo hiểm nhân thọbao gồm: Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, các đại lý bảo hiểm nhân thọ,các môi giới bảo hiểm nhân thọ Ngoài ra, còn có các cộng tác viên cũng thamgia vào quá trình cung ứng.Trong đó:

- Doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ: Là doanh nghiệp được tổ chức và hoạt

động theo luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liênquan để kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ [8, tr.47]

Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thường cung ứng các sản phẩm củamình một cách gián tiếp qua các đại lý của công ty, qua các công ty môi giới, cáccộng tác viên, đôi khi cũng cung cấp trực tiếp tới khách hàng ở các trụ sở, chinhánh của mình

- Đại lý Bảo hiểm nhân thọ: Là tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo

hiểm nhân thọ uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm theo quy định củaluật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan [8,tr.100]

Đại lý bảo hiểm nhân thọ có thể coi là người cung cấp chính các sản phẩmbảo hiểm nhân thọ trên thị trường Đại lý bảo hiểm nhân thọ được các doanhnghiệp bảo hiểm nhân thọ uỷ quyền tiến hành các hoạt động giới thiệu, chào báncác sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, thu xếp, giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ,thu phí bảo hiểm, thu xếp giải quyết bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi xảy

ra các sự kiện bảo hiểm, thực hiện các hoạt động khác có liên quan đến thực hiệnhợp đồng bảo hiểm

Trang 22

- Môi giới Bảo hiểm: là người trung gian bảo hiểm tư vấn cho khách hàng

của mình (người tham gia bảo hiểm) và thu xếp bảo hiểm cho khách hàng đó [8,tr.133]

Doanh nghiệp môi giới Bảo hiểm cũng có vai trò rất quan trọng trong việcđưa sản phẩm của các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ tới khách hàng Cáccông việc mà các doanh nghiệp môi giới Bảo hiểm phải làm là: Cung cấp thôngtin về loại hình Bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, phí Bảo hiểm, doanh nghiệpBảo hiểm cho bên mua Bảo hiểm; Tư vấn cho bên mua Bảo hiểm trong việcđánh giá rủi ro, lựa chọn loại hình Bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, biểu phí Bảohiểm và doanh nghiệp Bảo hiểm; Đàm phán, thu xếp hợp đồng giữa doanhnghiệp Bảo hiểm và bên mua Bảo hiểm; Thực hiện các công việc khác có liênquan đến việc thực hiện thực hiện hợp đồng Bảo hiểm theo yêu cầu của bên muaBảo hiểm;

1.2.2.2 Khách hàng

Khách hàng là yếu tố quan trọng nhất không thể thiếu được, nó có vai tròquyết định cho sự tồn tại và phát triển của thị trường Nếu không có khách hàngcũng đồng nghĩa với việc không có thị trường Có khách hàng hiện tại và kháchhàng tiềm năng

- Khách hàng hiện tại là khách hàng đang tham gia vào quá trình mua và sửdụng sản phẩm của các doanh nghiệp BHNT

- Khách hàng tiềm năng là khách hàng có thể tham gia vào quá trình mua và

sử dụng sản phẩm BHNT trong tương lai Khách hàng tiềm năng phải thoả mãncác điều kiện có nhu cầu về sản phẩm, có khả năng tài chính, là đối tượng thoảmãn các điều kiện của sản phẩm, có thể tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp vớingười bán

Khách hàng của thị trường Bảo hiểm nhân thọ là những cá nhân, các tổchức, các hộ gia đình, không phân chia giầu nghèo, giai cấp Miễn là đối tượng

đó có nhu cầu và quan tâm đến sản phẩm, thì doanh nghiệp Bảo hiểm sẵn sàngcung cấp các sản phẩm của mình

Trang 23

1.2.2.3 Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ

Khác với các loại sản phẩm khác trên thị trường, sản phẩm BHNT khôngtồn tại hữu hình, không có hình dáng, kích thước, trọng lượng, mà nó là loại sảnphẩm dịch vụ đặc biệt Sản phẩm BHNT là sản phẩm vô hình, sản phẩm khôngđược bảo hộ bản quyền và là sản phẩm mà người mua không bao giờ muốn nóxảy ra với mình để được thực hiện quyền đòi bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm.Người mua sản phẩm BHNT, chỉ với mục đích đề phòng khi sự kiện bảo hiểmxảy ra vẫn đảm bảo được an toàn về mặt tài chính và mục đích tiết kiệm để thỏamãn các nhu cầu khác trong tương lại Do vậy, nhà bảo hiểm đã thực hiện đadạng hóa các sản phẩm BHNT, thực chất là đa dạng hóa các loại hợp đồng nhằmđáp ứng và thỏa mãn mọi nhu cầu của người tham gia bảo hiểm Trong thực tế,

có 3 loại hình BHNT cơ bản:

- Bảo hiểm trong trường hợp tử vong

Đây là loại hình phổ biến nhất trong BHNT và được chia thành 2 nhóm:

+ Bảo hiểm tử kỳ (còn được gọi là bảo hiểm tạm thời hay bảo hiểm sinh

mạng có thời hạn):

Loại hình này được ký kết bảo hiểm cho cái chết xảy ra trong thời gian đãquy định của hợp đồng Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó, thì ngườiđược bảo hiểm không nhận được bất kỳ một khỏan hoàn phí nào từ số phí bảohiểm đã đóng Điều đó, cũng có nghĩa là người bảo hiểm không phải thanh toánSTBH cho người được bảo hiểm Ngược lại, nếu cái chết xảy ra trong thời gian

có hiệu lực của hợp đồng, thì người bảo hiểm phải có trách nhiệm thanh toánSTBH cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm được chỉ định

Đặc điểm: Thời hạn bảo hiểm xác định, trách nhiệm và quyền lợi mangtính tạm thời, mức phí bảo hiểm thấp vì không phải lập quỹ tiết kiệm cho ngườiđược bảo hiểm;

Mục đích: Đảm bảo các chi phí mai táng, chôn cất, bảo trợ cho gia đình vàngười thân trong một thời gian ngắn, thanh toán các khỏan nợ nần về nhữngkhoản vay hoặc thế chấp của người được bảo hiểm

+ Bảo hiểm nhân thọ trọn đời (bảo hiểm trường sinh)

Trang 24

Loại hình bảo hiểm này cam kết chi trả cho người thụ hưởng bảo hiểm mộtSTBH đã được ấn định trong hợp đồng, khi người được bảo hiểm chết vào bất cứlúc nào kể từ ngày ký hợp đồng Phương châm của người bảo hiểm ở đây là:

“Bảo hiểm đến khi chết” Ngoài ra, có một số trường hợp loại hình bảo hiểm nàycòn đảm bảo chi trả cho người được bảo hiểm ngay cả khi họ sống đến 100 tuổi

Đặc điểm: Số tiền bảo hiểm trả một lần khi người được bảo hiểm bị chết;Thời hạn bảo hiểm không xác định, phí bảo hiểm có thể đóng một lần hoặc đóngđịnh kỳ và không thay đổi trong suốt quá trình bảo hiểm, phí bảo hiểm cao hơn

so với bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, vì rủi ro chết chắc chắn sẽ xảy ra, nênSTBH chắc chắn phải chi trả

BHNT trọn đời là loại hình bảo hiểm dài hạn, do đó đã tạo nên một khoảntiết kiệm cho người thụ hưởng bảo hiểm, vì chắc chắn người bảo hiểm sẽ chi trảSTBH

Mục đích: Đảm bảo chi phí mai táng, chôn cất, bảo đảm thu nhập để ổnđịnh cuộc sống gia đình, giữ gìn tài sản, tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh chothế hệ sau

- Bảo hiểm trong trường hợp còn sống (còn gọi là bảo hiểm sinh kỳ)

Thực chất của loại hình bảo hiểm này là người bảo hiểm cam kết chi trảnhững khoản tiền đều đặn trong một khoảng thời gian xác định hoặc trong suốtcuộc đời người tham gia bảo hiểm Nếu người được bảo hiểm chết trước ngàyđến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ một khoản tiền nào

Đặc điểm: Trợ cấp định kỳ cho người được bảo hiểm trong thời gian xácđịnh hoặc cho đến khi chết, phí bảo hiểm đóng một lần, nếu trợ cấp định kỳ đếnkhi chết thì thời gian không xác định

Mục đích: Đảm bảo thu nhập cố định sau khi về hưu hay tuổi cao sức yếu,giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi xã hội hoặc con cái khi tuổi già, bảo trợmức sống trong những năm tháng còn lại của cuộc đời

Như vậy, với một khoản phí bảo hiểm phải nộp khi ký hợp đồng mà ngườitham gia lựa chọn, người bảo hiểm sẽ thanh toán một khoản trợ cấp định kỳ hàngtháng cho người được bảo hiểm Nếu khoản trợ cấp này thanh toán định kỳ cho

Trang 25

đến hết đời, người ta gọi là “bảo hiểm niên kim nhân thọ trọn đời” Nếu chỉ đượcthanh toán trong một thời kỳ nhất định người ta gọi là “bảo hiểm niên kim nhânthọ tạm thời”.

Các khoản trợ cấp định kỳ chỉ bắt đầu được thanh toán vào một ngày ấnđịnh và chỉ được trả khi người được bảo hiểm còn sống Tuy nhiên, có một sốcông ty bảo hiểm còn áp dụng các điều khoản bổ sung để hoàn phí bảo hiểm chongười thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm, khi người được bảo hiểm bị tử vong,trường hợp này rất ít thấy Loại hình bảo hiểm với những khoản trợ cấp định kỳhàng tháng rất phù hợp với những người hết tuổi lao động hoặc những ngườikhông được hưởng tiền trợ cấp hưu trí từ BHXH Vì vậy, tên gọi “bảo hiểm trợcấp hưu trí”, “bảo hiểm tiền hưu”; “niên kim nhân thọ” v.v…được các công tybảo hiểm vận dụng linh hoạt

- Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp

Thực chất của loại hình bảo hiểm này là bảo hiểm cả trong trường hợpngười được bảo hiểm bị tử vong hay còn sống Yếu tố tiết kiệm và rủi ro đan xennhau Vì thế, nó được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới

Đặc điểm: STBH được trả khi hết hạn hợp đồng hoặc người được bảo hiểm

bị tử vong trong thời hạn bảo hiểm Thời hạn bảo hiểm xác định thường là 5năm, 10 năm, 20 năm…; Phí bảo hiểm đóng định kỳ và không thay đổi trongsuốt thời hạn bảo hiểm Có thể được chia lãi thông qua đầu tư phí bảo hiểm vàcũng có thể được hoàn phí khi không có điều kiện tiếp tục tham gia

Mục đích: Đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình và người than, tạo lập quỹgiáo dục, hưu trí, trả nợ, dùng làm vật thế chấp vay vốn hoặc khởi nghiệp kinhdoanh…

- Các điều khoản bảo hiểm bổ sung

Khi triển khai các loại hình BHNT, doanh nghiệp bảo hiểm còn nghiên cứu,đưa ra các điều khoản bổ sung để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tham giabảo hiểm Các điều khoản bổ sung sau đây thường hay được vận dụng

+ Bảo hiểm nằm viện phẫu thuật: Có ý nghĩa là nhà bảo hiểm cam kết trả

các chi phí nằm viện và phẫu thuật cho người được bảo hiểm khi họ bị ốm đau,

Trang 26

thương tích Tuy nhiên, nếu người được bảo hiểm tự gây thương tích, tự tử,mang thai và sinh nở…thì không được hưởng quyền lợi bảo hiểm Mục đích củađiều khỏan này nhằm trợ giúp người tham gia giảm nhẹ gánh nặng chi phí trongđiều trị phẫu thuật, đặc biệt là trong các trường hợp ốm đau, thương tích bất ngờ.

+ Bảo hiểm tai nạn: Nhằm trợ giúp thanh toán chi phí trong điều trị thương

tật Từ đó, bù đắp sự mất mát hoặc giảm thu nhập do bị chết hoặc thương tíchcủa người được bảo hiểm Điều khoản bảo hiểm này có đặc điểm khá toàn diện,bao gồm nhiều hậu quả tai nạn như (Người được bảo hiểm bị tàn phế, thương tậttoàn bộ, thương tích tạm thời và bị tai nạn sau đó bị chết) Những trường hợp tựthương, tai nạn do nghiện rượu, ma túy, tự tử…sẽ không được hưởng quyền lợibảo hiểm

+ Bảo hiểm sức khỏe: Thực chất của điều khoản này là doanh nghiệp bảo

hiểm sẽ cam kết thanh toán khi người được bảo hiểm bị các chứng bệnh hiểmnghèo

Mục đích tham gia bảo hiểm nhằm có được những khoản tài chính nhấtđịnh, để trợ giúp thanh toán các khoản chi phí y tế lớn và góp phần giải quyết, loliệu các nhu cầu sinh hoạt ngay trong thời gian điều trị

Ngoài ra, trong một số hợp đồng BHNT, các công ty bảo hiểm còn đưa ranhững điểm bổ sung khác như: Hoàn phí bảo hiểm, miễn thanh toán phí khi bịtai nạn, thương tật…nhằm tăng tính hấp dẫn để thu hút người tham gia

Mặc dù, khi áp dụng các điều khoản bổ sung thì mức đóng cao hơn nhưngcác HĐBH nhân thọ đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người tham gia bảohiểm

1.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường bảo hiểm nhân thọ

Về mặt lý luận và thực tiễn, người ta coi thị trường bảo hiểm nhân thọ làmột tổng thể Nên các nhân tố ảnh hưởng nên thị trường này rất phong phú và đadạng Để đạt được hiệu quả cao trong việc nghiên cứu thị trường bảo hiểm nhânthọ, cần phải phân loại các nhân tố trên các góc độ thích hợp

Trên góc độ sự tác động của các lĩnh vực và thị trường, có thể phân thànhcác nhóm sau:

Trang 27

- Các nhân tố kinh tế: Đây là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối

với thị trường bảo hiểm nhân thọ Bởi vì, nếu một nước có nền kinh tế phát triển,thu nhập của người dân được nâng cao, lúc đó người ta mới nghĩ đến tiết kiệm

và các hình thức khác để đảm bảo cuộc sống Đây là điều kiện để họ tìm đến cácsản phẩm bảo hiểm nhân thọ, với mục đích góp phần làm ổn định cuộc sống,giảm bớt khó khăn về tài chính khi gặp các rủi ro, đảm bảo cho con cái có thể đihọc, có nguồn thu nhập khi về già

Và thực tế cũng cho thấy hầu hết các nước phát triển là những nước có thịtrường bảo hiểm nhân thọ phát triển lớn nhất thế giới hiện nay Đó là Mỹ, Nhật,Đức, Anh và Pháp

- Các nhân tố chính trị - xã hội: Các nhân tố này ảnh hưởng tới thị trường

Bảo hiểm nhân thọ thông qua các chủ trương chính sách của nhà nước về chínhtrị, trình độ văn hoá của nhân dân và cả thói quen của người dân

Các chủ trương chính sách của Nhà nước có thể là chính sách đối nội, đốingoại, chính sách mở cửa kinh tế, chính sách hội nhập…các chính sách này cóảnh hưởng tới sự phát triển hay thu hẹp thị trường bảo hiểm nhân thọ của nướcđó

Trình độ văn hoá, mức sống dân cư cũng ảnh hưởng tới nhận thức củangười dân về các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, mức độ hiểu biết về vai trò củaBảo hiểm nhân thọ đối với các cá nhân, các gia đình và toàn xã hội

- Các nhân tố tâm sinh lý cũng là yếu tố quan trọng Bởi vì, nếu các doanh

nghiệp bảo hiểm nhân thọ, cũng như các loại hình bảo hiểm nhân thọ, tạo rađược niềm tin, tạo ra được cảm giác an toàn cho người tham gia bảo hiểm thì sẽdẫn tới các quyết định mua của khách hàng

- Các nhân tố quản lý vĩ mô: Như các chiến lược và kế hoạch phát triển

kinh tế, các chính sách về pháp luật, các chính sách thuế, lãi suất tín dụng Cácnhân tố này tạo nên môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp Và các doanhnghiệp bảo hiểm nhân thọ, cũng như các doanh nghiệp khác, muốn làm ăn cóhiệu quả, con đường quan trọng nhất là phải vận dụng một cách thích hợp cácnhân tố này

Trang 28

- Các nhân tố vi mô là các công cụ để quản lý các doanh nghiệp nhằm tạo ra

các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ với chất lượng cao và giá cả phù hợp, đáp ứngnhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất, dẫn tới mở rộng thị trường của doanhnghiệp bảo hiểm nhân thọ

1.2.4 Phân loại thị trường BHNT

Thị trường bảo hiểm rất đa dạng và phong phú, người ta có thể đưa ra cáctiêu thức khác nhau để phân loại thị trường tùy theo mục đích nghiên cứu Songđiều cốt lõi của phân loại thị trường là nhằm phục vụ cho việc khai thác, thâmnhập thị trường, thu hút khách hàng để nâng cao thị phần, đạt hiệu quả trongkinh doanh Thị trường BHNT thường được phân loại theo các tiêu thức sau đây

1.2.4.1 Phân loại theo địa lý

Cách phân loại này là chia thị trường theo các đơn vị địa lý khác nhau nhưthị trường BHNT trong nước, thị trường BHNT quốc tế Ngay thị trường BHNTquốc tế cũng có thể chia thành thị trường bảo hiểm khu vực như Châu Á, ĐôngNam Á, Châu Âu, Bắc Mỹ…Hay thị trường bảo hiểm trong nước cũng có thểchia ra thị trường vùng, tỉnh…

1.2.4.2 Phân loại theo nhân khẩu học

Đây là phương pháp phân loại thị trường tiên tiến và tổng hợp Phươngpháp này dựa trên cơ sở về tuổi, giới tính, quy mô gia đình, thu nhập, nghềnghiệp, trình độ văn hóa hay tôn giáo, dân tộc…Những yếu tố này là cơ sở thôngdụng nhất để phân biệt nhóm khách hàng này với nhóm khách hàng khác Bởi vìnhu cầu mong muốn và mức độ sử dụng một loại sản phẩm của các nhóm có sựkhác nhau Chẳng hạn, nữ giới luôn có ý thức tiết kiệm và quan tâm nhiều đếngiáo dục và con cái, vì vậy sản phẩm BHNT an sinh giáo dục là rất phù hợp với

họ Hoặc những người có thu nhập cao rất quan tâm đến các sản phẩm BHNTtrọn đời, bởi đây là những sản phẩm đáp ứng được các nhu cầu giữ gìn tài sản vàkhởi nghiệp kinh doanh của con em họ

1.2.4.3 Phân loại theo tâm lý người tiêu dùng

Cách phân loại này là dựa vào đặc tính của các tầng lớp dân cư trong xã hội.Tầng lớp xã hội là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu và sở

Trang 29

thích trong tiêu dùng sản phẩm Vì vậy, trong kinh doanh, các doanh nghiệpthường quan tâm đến thiết kế sản phẩm và dịch vụ hướng theo nhu cầu của từngtầng lớp, tạo ra những sản phẩm phù hợp với yêu cầu của từng tầng lớp trong xãhội để thu hút khách hàng Chẳng hạn, tâm lý của những người cao tuổi là khôngmuốn sống phụ thuộc vào con cái và phúc lợi xã hội, nên các sản phẩm niên kimnhân thọ là rất phù hợp với họ Hoặc những người có thu nhập rất cao, họ luônmong muốn được bảo vệ, được an toàn khi phải đối mặt với những bệnh hiểmnghèo như ung thư, thần kinh, tim mạch v.v…Chính vì thế, các nhà BHNT nênkhéo léo đa dạng hóa sản phẩm bằng các điều kiện bổ sung sẽ đáp ứng được nhucầu của họ.

1.2.4.4 Phân loại theo hành vi của người tiêu dùng

Theo cách phân loại này thì khách hàng được chia thành các nhóm dựa trênkiến thức, thái độ, mức độ sử dụng và phản ứng của họ đối với một loại sảnphẩm Căn cứ vào hành vi người tiêu dùng sẽ biết được sản phẩm nào đượckhách hàng ưa chuộng, sản phẩm nào cần phải cải tiến, hoàn thiện cho phù hợpvới thị hiếu của đa số khách hàng

Việc phân loại thị trường tạo cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp ở từngloại thị trường Vấn đề đặt ra là phải đánh giá từng loại thị trường để có sáchlược hợp lý Quyết định tập trung vào thị trường nào, loại khách hàng nào phảicăn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trưởng của thị trường, mức độ hấp dẫn của thịtrường và vào mục tiêu cũng như nguồn lực của công ty

1.2.5 Những đặc trưng cơ bản của thị trường bảo hiểm nhân thọ

1.2.5.1 Đặc trưng chung của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Thị trường bảo hiểm cũng như các loại thị trường khác đều có những đặctrưng chung Đó là:

- Cung, cầu về các loại sản phẩm luôn biến động

Cung trên thị trường BHNT chính là các sản phẩm bảo hiểm do các doanhnghiệp kinh doanh trên thị trường cung cấp để phục vụ khách hàng của mình.Các doanh nghiệp tham gia kinh doanh bảo hiểm trên thị trường BHNT có thểtăng hoặc giảm tùy theo nhu cầu của thị trường và sức cạnh tranh Sản phẩm

Trang 30

BHNT ngày một nhiều và ngày càng được hoàn thiện cùng với sự phát triển củanền kinh tế - xã hội và mức sống của người dân ngày càng cao Sản phẩm BHNTluôn được cải tiến, hoàn thiện và đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú củathị trường.

Cầu của thị trường BHNT chính là nhu cầu về bảo hiểm của dân cư, của các

tổ chức xã hội, của các đơn vị sản xuất và kinh doanh…Khi nền kinh tế xã hộiphát triển thì các tổ chức kinh tế xã hội cũng phát triển theo, đời sống vật chất,tinh thần của dân cư cũng được cải thiện…do đó nhu cầu đa dạng về dịch vụ bảohiểm cũng tăng lên Những năm đầu của thế kỷ XX, trên thị trường BHNT mớichỉ có vài chục sản phẩm, nhưng đến nay con số này đã lên tới hàng trăm và đã

đi sâu vào từng ngõ ngách của đời sống kinh tế - xã hội, cũng như của mọi tầnglớp dân cư

- Giá cả của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ luôn luôn biến động và phụ thuộc vào nhiều yếu tố

Trên thị trường, giá cả của sản phẩm BHNT chính là phí bảo hiểm Phí bảohiểm là một khoản tiền mà người mua bảo hiểm phải trả cho người bán để đượcchi trả khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra Phí bảo hiểm được xác định dựa trênnhững cơ sở chủ yếu như số tiền bảo hiểm, số năm của một hợp đồng bảo hiểm,tuổi của người được bảo hiểm, lãi suất kỹ thuật mà các doanh nghiệp BHNTdùng để tính phí

Tuy nhiên, phí BHNT luôn thay đổi theo thời gian Bởi vì, mỗi thời gian cóxác suất rủi ro, chi phí quản lý, chi phí khai thác, lãi suất đầu tư v.v…khác nhau.Ngoài những yếu tố trên, phí bảo hiểm nhân thọ còn phụ thuộc vào quy luật cạnhtranh, cung cầu trên thị trường

- Cạnh tranh và liên kết diễn ra liên tục

Thị trường bảo hiểm nhân thọ cũng như thị trường khác, đều có sự cạnhtranh diễn ra liên tục, gay go và quyết liệt giữa các doanh nghiệp để giành kháchhàng, để thu lợi nhuận Cạnh tranh trên nhiều khía cạnh với nhiều thủ thuật Bởi

lẽ, sản phẩm bảo hiểm không có bảo hộ bản quyền và dễ bắt chước, cho nên cácdoanh nghiệp bảo hiểm thường tập trung vào kinh doanh các sản phẩm được thị

Trang 31

trường chấp nhận bằng cách cải tiến, hoàn thiện sản phẩm đó tốt hơn các doanhnghiệp khác, bằng cách quảng cáo sâu rộng, hấp dẫn để thu hút khách hàng, bằngcách giảm phí, tăng tỷ lệ hoa hồng đề giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thịtrường…Thực tế sôi động đó đã được chứng minh khi thị trường bảo hiểm ViệtNam có nhiều doanh nghiệp của các thành phần kinh tế tham gia.

Cùng với sự cạnh tranh là liên kết Cạnh tranh càng mạnh thì hợp tác càngphát triển Liên kết thường diễn ra giữa các doanh nghiệp mới, còn yếu kém vềtiềm lực để tạo ra sức mạnh cạnh tranh Liên kết giữa các doanh nghiệp có thếmạnh để hòa hoãn, cùng phát triển tránh gây thiệt hại cho nhau…Liên kết còndiễn ra giữa các doanh nghiệp nhỏ với các doanh nghiệp lớn để tăng sức mạnhcho doanh nghiệp nhỏ, để đảm bảo an toàn trong cạnh tranh và để tăng thêmđồng minh cho doanh nghiệp lớn

Liên kết còn là nhu cầu của thị trường bảo hiểm mới hình thành và pháttriển trong điều kiện thị trường thế giới đã ổn định, có tiềm lực Liên kết cũng là

xu hướng của hội nhập và toàn cầu hóa

- Thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ luôn thay đổi

Thị phần BHNT là tỷ lệ phần trăm của mỗi doanh nghiệp BHNT chiếm lĩnhtrên thị trường Thị phần càng lớn chứng tỏ vị thế của doanh nghiệp càng cao,sức cạnh tranh và hiệu quả cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh Nói đến thịphần là nói đến thị trường cạnh tranh không mang tính độc quyền Trên thịtrường các doanh nghiệp bảo hiểm có cơ hội như nhau, doanh nghiệp nào giànhđược thị phần nhiều hơn chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó tốthơn trên mọi lĩnh vực Trên thị trường BHNT thị phần của các doanh nghiệpluôn thay đổi, do số lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường thay đổi, dochiến lược kinh doanh thay đổi, như chiến lược marketing, chiến lược sản phẩm,chiến lược giá cả…để giữ vững thị phần và giành giật thị phần của các doanhnghiệp khác hoặc mở rộng thị phần bằng việc tung ra thị trường những sản phẩmmới phù hợp nhu cầu của xã hội với chất lượng cao, giá thành hạ

Trang 32

Thị phần của công ty bảo hiểm được thể hiện qua sơ đồ sau:

Tổng dân cư địa phương - Toàn bộ thị trường

Hình 1.1: Thị phần của các công ty bảo hiểm

(Nguồn: Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm –

ĐHKTQD)

Ở đây, bộ phận không tiêu dùng tuyệt đối là nhóm dân cư không có nhu cầubảo hiểm theo loại hình của doanh nghiệp Do đó để thu hẹp bộ phận này, doanhnghiệp cần đa dạng hóa sản phẩm để thu hút nhiều loại nhu cầu khác nhau

Bộ phận không tiêu dùng tương đối là nhóm dân cư có nhu cầu bảo hiểmtheo loại hình của doanh nghiệp nhưng chưa có biện pháp để thực hiện nó.Chẳng hạn như chưa biết, chưa hài lòng về phí, về chất lượng phục vụ Muốntranh thủ bộ phận này, doanh nghiệp phải tăng cường tuyên truyền quảng cáo,nâng cao chất lượng dịch vụ, có những đợt phí khuyến mại

Thị phần của doanh nghiệp khác là bộ phận khách hàng mua bảo hiểm củadoanh nghiệp khác do doanh nghiệp đó làm tốt hơn về chất lượng dịch vụ caohơn, phí bảo hiểm thấp hơn, mua bảo hiểm thuận tiện hơn, quảng cáo mạnh hơn.Các doanh nghiệp bảo hiểm muốn tăng lợi nhuận thì phải mở rộng thị phầncủa mình, tức là phải giành được khách hàng của đối thủ và thu hẹp bộ phậnkhông tiêu dùng tuyệt đối, tương đối Muốn vậy, ngoài việc đa dạng hoá sảnphẩm, giảm phí, công ty phải làm tốt hơn đối thủ về tổ chức bán, về tuyên truyềnquảng cáo và chất lượng phục vụ phải cao hơn

Trang 33

Một điểm cần lưu ý là, khi nghiên cứu về thị trường bảo hiểm phải gắn vớinghiên cứu khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp bảo hiểm Cụ thể là nghiêncứu về thói quen mua bảo hiểm, động cơ - thái độ của khách hàng và những đặcđiểm tâm lý của khách hàng Trên cơ sở định vị được nhóm khách hàng trọngđiểm của doanh nghiệp và hiểu rõ khách hàng thì việc triển khai một chiến lượcxúc tiến hỗn hợp trên thị trường mục tiêu sẽ đem lại kết quả khả quan nhất.

1.2.5.2 Những đặc trưng riêng của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Ngoài những đặc trưng chung giống thị trường khác đã đề cập trên đây, thịtrường BHNT còn có những đặc điểm riêng như sau:

- Thị trường bảo hiểm có dung lượng lớn, đối tượng khách hàng rộng

- Thị trường bảo hiểm phát triển phụ thuộc vào sự phát triển của điều kiệnkinh tế - xã hội Khi xã hội phát triển, thì nhu cầu an toàn trong sản xuất kinhdoanh, cũng như đời sống sinh hoạt của người dân được đặt ra cao hơn, do đótạo điều kiện thúc đẩy thị trường bảo hiểm nhân thọ phát triển

- Thị trường bảo hiểm nhân thọ là nơi cung cấp các sản phẩm đặc biệt, liênquan đến rủi ro, nguy hiểm Bảo hiểm nhân thọ ra đời do sự tồn tại khách quancủa rủi ro Rủi ro là những đe dọa nguy hiểm, bất ngờ mà con người khônglường trước được; là nguyên nhân gây ra tổn thất, thiệt hại cho đối tượng bảohiểm

- Thị trường bảo hiểm nhân thọ là thị trường dịch vụ tài chính Nó chịu sựkiểm tra, kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước Nhà nước có thể can thiệp khá sâuvào hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước có quyền xét duyệtbiểu phí, xác định giới hạn trách nhiệm bồi thường…của các doanh nghiệp bảohiểm

1.3 Xác định thị trường mục tiêu của thị trường bảo hiểm nhân thọ

1.3.1 Sự cần thiết phải xác định thị trường mục tiêu

Theo lý thuyết Marketing, thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm cáckhách hàng có nhu cầu hoặc mong muốn, mà doanh nghiệp có khả năng đápứng; đồng thời, các hoạt động marketing của doanh nghiệp có thể tạo ra ưu thế

so với đối thủ cạnh tranh và đạt được các mục tiêu kinh doanh đã định

Trang 34

Như vậy, thị trường mục tiêu là thị trường, mà ở đó, doanh nghiệp có thểbán sản phẩm của mình cho số đông khách hàng; khách hàng mua và sử dụngsản phẩm vì lợi ích của mình Thị trường mục tiêu là hết sức cần thiết, vì:

- Nhận thức của khách hàng là không giống nhau từ thấp đến cao, từ đơngiản đến phức tạp Do đó, DNBH phải có thông tin rõ ràng về sản phẩm định bántrên thị trường, hình ảnh gây ấn tượng để thu hút khách hàng, làm cho kháchhàng ghi nhớ đậm nét hình ảnh của doanh nghiệp, các sản phẩm của doanhnghiệp

- Muốn xác định được thị trường mục tiêu, thì thông tin quảng cáo phải cótính độc đáo, khác biệt với thị trường khác, khác với đối thủ cạnh tranh, nhằmlàm cho khách hàng trong thị trường nhận biết sản phẩm của doanh nghiệp, quantâm đến sản phẩm của doanh nghiệp

Trong thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, việc xác định thị trường mục tiêu

là vô cùng quan trọng Xác định đúng thị trường mục tiêu sẽ có chiến lược quảngcáo hợp lý, gây ấn tượng về lợi ích của sản phẩm mà khách hàng mong đợi Cónhư vậy, mới thu hút được khách hàng, giữ vững và mở rộng thị phần của doanhnghiệp

1.3.2 Các yếu tố xác định thị trường

Nhà kinh tế học Philip Kotler đưa ra phương pháp xác định thị trường củadoanh nghiệp Theo đó, thị trường là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và pháttriển Vậy làm cách nào để xác định thị trường? Thị trường sẽ được xác định saukhi làm rõ 6 câu hỏi sau: Mua cái gì? (Đối tượng mua); Tại sao mua? (Mục đíchmua); Ai mua? (Khách hàng); Mua bao nhiêu? (Số lượng); Mua như thế nào?(Cách mua); Mua ở đâu? (Nơi mua)

- Câu hỏi thứ nhất: Cái gì, có nghĩa phải xác định đối tượng mua Hàng hoá

phải được giới thiệu cụ thể: tên gọi, mẫu mã, chất lượng, các thông số kỹ thuật

về trọng lượng, kích thước, mức độ tiện lợi…

- Câu hỏi thứ hai: Tại sao người ta mua sản phẩm của mình? Phải trả lời

được câu hỏi này Có như vậy, mới quyết định được kế hoạch tiếp thị và tươnglai sản phẩm đó như thế nào Trong cơ chế thị trường cạnh tranh, có thể chỉ sau 3

Trang 35

năm, có công ty phát đạt, có công ty sẽ phá sản Vì vậy, mỗi công ty nhất thiếtphải trả lời được câu hỏi này.

- Câu hỏi thứ ba: ai mua, công ty phải biết rõ khách hàng của mình là ai.

Phải nêu được cụ thể tên, địa chỉ của đơn vị hay cá nhân mua hàng Không thểnói chung khách hàng hay cá nhân mua hàng, biết rõ khách hàng còn giúp cáccông ty có cách ứng xử thích hợp với từng đối tượng khách hàng

- Câu hỏi thứ tư: mua số lượng bao nhiêu? Phải trả lời được câu hỏi này là

tất nhiên Bởi vì nhờ đó, công ty có thể lập kế hoạch sản xuất kinh doanh mộtcách đúng đắn

- Câu hỏi thứ năm: mua như thế nào? Có bao nhiêu loại khách hàng là có

bấy nhiêu cách mua khác nhau Trong cơ chế thị trường, khách hàng là thượng

đế Vì vậy các công ty phải nắm được cách mua của khách hàng để chiều ý họ

- Câu hỏi thứ sáu: mua ở đâu? Doanh nghiệp phải biết được nơi ký kết hợp

đồng mua bán, giao hàng Đối với các loại mặt hàng thuộc nhu cầu phổ thông,khách hàng thường mua ở các siêu thị

Trên đây là những câu hỏi chủ yếu để xác định thị trường của một doanhnghiệp Cần nhớ rằng, trong nền kinh tế thị trường, chỉ có công ty nào xác địnhđược thị trường, thì mới tiêu thụ được sản phẩm Thị trường chỉ được coi là xácđịnh khi doanh nghiệp trả lời được 6 câu hỏi trên

Từ nhận định đó, cho phép khái quát: Thị trường của một công ty chỉ tồn tạikhi các yếu tố cơ bản sau được xác định và tổng hợp Đó là:

+ Một tập khách hàng có nhu cầu chưa thoả mãn về mặt hàng cụ thể được

Trang 36

1.4 Quy luật chung của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Cũng như các thị trường khác, thị trường bảo hiểm nhân thọ cũng bị chiphối bởi các quy luật chung của thị trường và quy luật riêng của thị trường bảohiểm nhân thọ Đó là các quy luật: Cung cầu, quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh

và liên kết, quy luật số đông bù số ít v.v…

- Quy luật cung – cầu về sản phẩm bảo hiểm nhân thọ luôn tồn tại songhành Cung phát triển trên cơ sở cầu; cầu dựa vào khả năng cung để thỏa mãn.Cung – cầu cùng phát triển trên cơ sở kinh tế xã hội phát triển Do đó, cung –cầu phát triển nhịp nhàng, cân đối

Quy luật cung – cầu có ảnh hưởng tới quy luật giá cả, tức phí bảo hiểm củacác dịch vụ bảo hiểm Giá cả bảo hiểm được điều tiết theo quan hệ cung – cầu vềbảo hiểm của thị trường, theo xác suất rủi ro thời gian qua, theo chính sách quản

lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước, như chính sách thuế, chính sách đầu tư, tỷ giá, lãisuất v.v…

- Thị trường bảo hiểm nhân thọ với sự tham gia của nhiều doanh nghiệpthuộc các thành phần kinh tế thì sự cạnh tranh để thu hút khách hàng, để chiếmlĩnh thị trường, nâng cao thị phần…giữa các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọcàng gay gắt, càng quyết liệt Cạnh tranh càng mạnh thì liên kết càng phát triển.Liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau, liên kết giữa các doanhnghiệp trong nước với nước ngòai v.v…Cạnh tranh và liên kết là quy luật vốn cócủa thị trường Do đó, thị trường bảo hiểm nhân thọ cũng không vượt ra ngoàiquy luật ấy

- Quy luật “số đông bù số ít” là quy luật đặc thù của thị trường bảo hiểm.Các DNBHNT vận dụng quy luật này một cách nhuần nhuyễn vào hoạt độngkinh doanh của mình Điều đó có nghĩa là các DNBHNT phải có chiến lược tiếpthị, tuyên truyền quảng cáo thật sinh động để thu hút đông khách hàng tham giamua sản phẩm của mình với giá chấp nhận Nhiều khách hàng mua sản phẩmbảo hiểm nhân thọ cũng có nghĩa là doanh nghiệp thu được nhiều phí bảo hiểm

Trang 37

Quy luật số đông bù số ít được tận dụng triệt để trong hoạt động của cácdoanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Nếu quy luật này không phát huy tác dụng thìhoạt động bảo hiểm không tồn tại.

1.5 Xu thế phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ trên thế giới

1.5.1 Xu thế gia tăng các khối “liên minh chiến lược”

Thị trường bảo hiểm nhân thọ với các hoạt động kinh doanh của nó cũngkhông nằm ngoài xu thế này Nước Anh, một trong những nước có thị trườngbảo hiểm nhân thọ phát triển sớm nhất thế giới cũng vậy Mở đầu là sự kết hợpcủa Royal Insurance với Sung Alliance – hai tập đoàn bảo hiểm hàng đầu châu

Âu mang tên Royal & Sun Alliance Tiếp theo đó là cuộc hôn phối củaCommerial Union (CU) và General Acciden (GA) thành tập đoàn CGUInsurance Những năm đầu thế kỷ XXI lại có thêm một công ty nữa là NorwichUnion thông báo dự định sáp nhập với CGU để thành lập một tập đòan bảo hiểmmới lấy tên CGUN, với tổng doanh thu phí bảo hiểm trên tòan thế giới và thunhập từ đầu tư sẽ vào khoảng 26 tỷ bảng Anh Tập đoàn này sẽ trở thành công tyđầu tư vốn, bảo hiểm nhân thọ và hưu trí lớn thứ hai ở Anh, thứ năm ở Châu Âu.Thị trường bảo hiểm ở Nhật Bản ra đời muộn hơn so với nhiều nước, songđến nay đã đạt được vị trí thứ hai thế giới về tổng doanh thu phí bảo hiểm Sựsáp nhập giữa các công ty bảo hiểm để trở thành tập đoàn lớn hơn lại diễn ratheo các hình thức khác nhau Xu hướng của thị trường Nhật Bản là khuyếnkhích việc liên minh chiến lược vượt xa các tổ chức Kereitsu hiện tại, đó là mạnglưới của các hãng có sự chia sẻ cổ phần, thỏa thuận kinh doanh với nhau và sápnhập, mua lại vượt ra ngoài khuôn khổ của bảo hiểm nhân thọ

Trên thị trường bảo hiểm thế giới, xu thế sáp nhập, mua lại đã mang lại chocác công ty bảo hiểm nhiều cơ hội trong kinh doanh, các nhà bảo hiểm gọi đó làcác cuộc “liên minh chiến lược” Hiện tại xu thế này vẫn đang và sẽ tiếp tục pháttriển trong nhiều năm tới

1.5.2 Xu thế hình thành “ngân hàng – bảo hiểm”

Mô hình “ngân hàng – bảo hiểm” đã xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới vàtrở thành xu hướng phát triển của thị trường bảo hiểm thế giới, đặc biệt là thị

Trang 38

trường bảo hiểm nhân thọ những năm gần đây Sự phát triển của mô hình kinhdoanh ngân hàng – bảo hiểm nổi bật những năm qua, phải nói tới thị trường bảohiểm khu vực Mỹ latinh và thị trường bảo hiểm nhân thọ Châu Á Thực chất của

mô hình này chính là sự liên minh, liên kết hay sáp nhập giữa ngân hàng vớidoanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nhằm mục đích mở rộng phạm vi kinh doanh,tăng thêm sức mạnh cũng như cơ hội trong kinh doanh

1.5.3 Xu thế mở cửa, tự do hóa thị trường nội địa

Trên thị trường bảo hiểm nhân thọ thế giới, ngoài xu thế liên minh, sápnhập, mua lại…thì các quốc gia đang có xu hướng mở cửa và tự do hóa thịtrường bảo hiểm nhân thọ nội địa Xu thế mở cửa, tự do hóa thị trường bảo hiểmnội địa hiện nay cũng có hai cấp độ:

1.5.3.1 Mở cửa hạn chế thị trường bảo hiểm

Điển hình nhất cho hình thức này là Nhật Bản và các nước trong khối liênminh Châu Âu Nhật Bản thường khuyến khích người dân của mình tiêu dùnghàng nội địa, nên không muốn mở cửa thị trường của bất kỳ ngành nào Song,trong những năm gần đây, do sức ép của tình trạng kinh tế suy thoái và xu hướngquốc tế hóa, toàn cầu hóa, Nhật Bản đã dần mở cửa thị trường trong nước, trong

đó có thị trường bảo hiểm nhân thọ Khác với Nhật Bản, các nước trong khốiliên minh Châu Âu mở cửa hoàn toàn thị trường bảo hiểm đối với các thànhviên, song lại có một số hạn chế đối với các công ty bảo hiểm nhân thọ ở nướcngoài

Nếu như Nhật Bản và các nước thành viên EU mở cửa hạn chế thị trườngbảo hiểm nội địa chủ yếu do không muốn chia sẻ thị phần bảo hiểm trong nướccho các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài Thì một số nước đang phát triển,chủ yếu là các quốc gia ở Đông Nam Á, lại hạn chế mở cửa thị trường bảo hiểm,nhằm bảo hộ ngành bảo hiểm còn non trẻ trong nước

1.5.3.2 Mở cửa triệt để thị trường bảo hiểm

Trong xu thế toàn cầu hóa, đứng trước tình trạng yếu kém về năng lực, hạnchế về nguồn bảo hiểm trong nước, đồng thời lại bị sức ép của các nước pháttriển đòi mở cửa thị trường bảo hiểm, một số nước đang và kém phát triển đã

Trang 39

phải dành cho công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài được hưởng ưu đãi vềquyền hoạt động kinh doanh trong quá trình mở cửa thị trường.

Chilê không có giới hạn gì đặc biệt đối với các công ty nhân thọ nước ngoàiđược hưởng ưu đãi trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại nước mình Namphi không hạn chế hoạt động tham gia thị trường bảo hiểm nhân thọ, đồng thờicòn có chế độ đãi ngộ đối với các công ty bảo hiểm nhân thọ này, chỉ hạn chế vềmặt môi giới và tái bảo hiểm đối với bảo hiểm nhân thọ

Đài Loan có nền kinh tế và ngành bảo hiểm nhân thọ phát triển rất nhanh,

đã bắt đầu mở cửa với Mỹ năm 1986 Đến năm 1995 Đài loan đã mở cửa toàn bộthị trường bảo hiểm nhân thọ Bất cứ công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài nàođều có thể đặt chi nhánh hoặc thành lập công ty 100% vốn nước ngòai hay liêndoanh…

Ở Hồng Kông, chính quyền cũng ủng hộ tuyệt đối nền kinh tế thị trường tự

do nên ngành bảo hiểm nhân thọ ở Hồng kông đã thực sự được quốc tế hóa Đến1-1-1998 Hồng kông đã có 45 công ty bảo hiểm nhân thọ thuần túy, trong đó có

8 công ty bảo hiểm nhân thọ đăng ký thành lập ở Hồng Kông, các công ty còn lạiđăng ký thành lập ở các nước Anh, Pháp, Mỹ, Canada và một số nước khác

1.6 Kinh nghiệm phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở một số

nước trên thế giới

Nền kinh tế Việt Nam mới bắt đầu phát triển từ sau khi Đảng và Nhà nước

đề ra chính sách đổi mới hơn 20 năm Đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu,nhiều lĩnh vực kinh tế vẫn còn rất mới mẻ với nước ta, do vậy, việc học hỏi kiếnthức, kinh nghiệm từ các nước đi trước là hết sức quan trọng Bảo hiểm là mộtngành kinh tế mới mẻ, đang trong quá trình định hình, lại đóng vai trò quantrọng đối với nền kinh tế quốc dân, do vậy, chúng ta cũng cần thận trọng nghiêncứu quá trình phát triển của ngành bảo hiểm ở các nước có nền bảo hiểm pháttriển để từ đó có những áp dụng thích hợp vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam

1.6.1 Kinh nghiệm phát triển bảo hiểm ở các nước Châu Âu.

Các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU) có lịch sử rất lâu đời về phát triểnbảo hiểm Những đơn bảo hiểm đầu tiên được tìm thấy ở Châu Âu, và những

Trang 40

nghiệp vụ bảo hiểm đầu tiên cũng được ra đời ở đây Tính đến nay, qua nhiềubước phát triển thăng trầm, bảo hiểm đã khẳng định vai trò quan trọng trong nềnkinh tế nhiều nước EU Hàng năm, doanh thu từ phí bảo hiểm của các nướcchiếm khoảng 8% GDP (tương đương 670 USD) Để có được sự phát triển mạnh

mẽ và vững chắc đó, vai trò của hệ thống pháp luật cùng các hoạt động quản lýNhà nước đóng một vai trò rất quan trọng

Do các yếu tố lịch sử và truyền thống pháp lý khác nhau, ở Châu Âu tồn tạisong song hệ thống pháp luật chung (Common Law) và hệ thống pháp luật Châu

Âu lục địa (Continental Law) Tuy nhiên, dù theo hệ thống pháp luật nào, cácnước Châu Âu đều chú trọng xây dựng Luật bảo hiểm từ rất sớm Đến nay, vớimục tiêu xây dựng một thị trường bảo hiểm chung, về cơ bản, các nước EU đãthống nhất các quy định pháp luật về quản lý, giám sát, cấp giấy phép cho cáccông ty bảo hiểm thông qua việc ban hành các chỉ thị về bảo hiểm nhân thọ vàphi nhân thọ mà tất cả các nước thành viên đều phải tuân thủ Nhìn chung, hoạtđộng bảo hiểm ở hầu hết các nước EU đều chịu sự điều chỉnh của Luật về doanhnghiệp bảo hiểm (hay Luật về quản lý, giám sát bảo hiểm) và Luật về hợp đồngbảo hiểm Một số loại bảo hiểm đặc thù như bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hàngkhông, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, tái bảo hiểm thường đượcđiều chỉnh bằng các văn bản luật riêng Trong các chừng mực khác nhau và tuỳtheo trường hợp cụ thể, các luật khác liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng,thương mại, lao động cũng có thể được dẫn chiếu

Các nước EU đều nhất trí rằng một thị trường cạnh tranh và ít có sự canthiệp của Nhà nước sẽ có lợi cho người tham gia bảo hiểm cũng như có lợi chonền kinh tế Tuy nhiên, nhận thức rõ tầm quan trọng của bảo hiểm đối với đờisống kinh tế - xã hội và sự phát triển của mỗi quốc gia, ngay từ khi mới ra đời,hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở các nước EU đã chịu sự quản lý chặt chẽ củaNhà nước Ở nhiều nước, cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanhbảo hiểm trực thuộc các bộ Tài chính, Kinh tế, Thương mại như Bồ Đào Nha,Tây Ban Nha, Ý hoặc Cơ quan quản lý Dịch vụ tài chính như Anh, có những

Ngày đăng: 28/10/2022, 21:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. David A.Aaker (2005), Triển khai chiến lược kinh doanh, Nxb Trẻ, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai chiến lược kinh doanh
Tác giả: David A.Aaker
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
2. Nhóm Actury Trung tâm OLICD (1997), Nhập môn toán học Bảo hiểm Nhân thọ,Trung tâm Phát triển Bảo hiểm Nhân thọ Đông Phương, Tokyo, Nhật Bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn toán học Bảo hiểmNhân thọ
Tác giả: Nhóm Actury Trung tâm OLICD
Năm: 1997
3. Bộ Tài Chính (2004), Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Bộ Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thihành
Tác giả: Bộ Tài Chính
Nhà XB: Nxb Bộ Tài Chính
Năm: 2004
4. Bộ Tài Chính (2007), Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2006, Nxb Bộ Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2006
Tác giả: Bộ Tài Chính
Nhà XB: Nxb Bộ TàiChính
Năm: 2007
5. Bộ Tài Chính (2008), Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2007, Nxb Bộ Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2007
Tác giả: Bộ Tài Chính
Nhà XB: Nxb Bộ TàiChính
Năm: 2008
6. Bộ Tài Chính (2009), Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2008, Nxb Bộ Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2008
Tác giả: Bộ Tài Chính
Nhà XB: Nxb Bộ TàiChính
Năm: 2009
7. Bộ Tài Chính (2010), Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2009, Nxb Bộ Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2009
Tác giả: Bộ Tài Chính
Nhà XB: Nxb Bộ TàiChính
Năm: 2010
8. Nguyễn Văn Định chủ biên, (2005), Giáo trình quản trị kinh doanh bảo hiểm, Nxb Thống kê và Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị kinh doanh bảo hiểm
Tác giả: Nguyễn Văn Định chủ biên
Nhà XB: Nxb Thống kê và Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2005
9. Nguyễn Văn Định chủ biên, (2008), Giáo trình bảo hiểm, trường đại học Kinh tế quốc dân, Nxb thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bảo hiểm
Tác giả: Nguyễn Văn Định chủ biên
Nhà XB: Nxb thống kê
Năm: 2008
10. Học viện Bảo hiểm Hoàng gia Anh (1998), Bảo hiểm: Nguyên tắc và thực hành, David bland biên soạn, bản dịch, Nxb tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc và thựchành
Tác giả: Học viện Bảo hiểm Hoàng gia Anh
Nhà XB: Nxb tài chính
Năm: 1998
11. Dương Hữu Hạnh (2005), Quản trị tài sản thương hiệu, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài sản thương hiệu
Tác giả: Dương Hữu Hạnh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2005
12. Vũ Quế Hương (2001), Quản lý đổi mới và phát triển sản phẩm mới, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đổi mới và phát triển sản phẩm mới
Tác giả: Vũ Quế Hương
Nhà XB: NxbKhoa học và kỹ thuật
Năm: 2001
13. Trương Mộc Lâm (2001), Một số vấn đề về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về pháp lý trong kinh doanh bảohiểm
Tác giả: Trương Mộc Lâm
Năm: 2001
14. Đỗ Văn Phức (2006), Quản lý doanh nghiệp, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý doanh nghiệp
Tác giả: Đỗ Văn Phức
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w