Vị trí, tên gọi Lăng Ông Bà Chiểu có tên gọi là Thượng Công Miếu, là khu vực miếu thờ và mộ phần của Tả quân Lê Văn Duyệt và Chính thất phu nhân là bà Đỗ Thị Phận.. Cuộc đời của Tả quân
Lý do ch ọn đề tài
Việt Nam ta trải qua 4000 năm lịch sử văn hiến, chịu đựng nhiều mất mát và đau thương từ chiến tranh và bạo động, nhưng những giá trị ngàn đời của ông cha vẫn được lưu truyền cho các thế hệ mai sau Các giá trị văn hóa vật thể là chứng nhân của một thời đại thay đổi, và thành phố Hồ Chí Minh được biết đến như một đô thị phồn hoa, nhộn nhịp với những công trình cao ốc hiện đại, nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp cổ kính vốn có của Sài Gòn Dù nhịp sống đường phố có thể xô đạp mọi thứ, ta vẫn tìm về một khoảng trời yên bình, không gian giản dị mang phong cách hoài cổ; ở Sài Gòn còn có nhiều cơ sở thờ tự lâu đời gắn với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Gia Định Những nơi thờ tự là chốn bình yên để thanh lọc tâm hồn và ngắm nhìn nghệ thuật điêu khắc trên những công trình kiến trúc tinh xảo Ở quận Bình Thạnh, Lăng Ông Bà Chiểu nổi tiếng và được người dân Sài Gòn biết đến như một biểu tượng thiêng liêng; dù trải qua gần 200 năm biến động, Lăng Ông vẫn đứng sừng sững, được trùng tu để phù hợp với thời đại nhưng vẫn gìn giữ giá trị lịch sử và văn hóa Chính vì vậy, nhóm em chọn đề tài “Lăng Ông Bà Chiểu – nơi linh thiêng mang đậm dấu ấn lịch sử giữa đất Sài Gòn” làm đề tài tiểu luận cuối kỳ, nhằm khai thác vẻ đẹp văn hóa vốn có của nơi đây.
M ục đích nghiên cứ u
Mục tiêu nghiên cứu của nhóm là tìm hiểu nguồn gốc lịch sử hình thành Lăng Ông Bà Chiểu, phân tích các yếu tố kiến trúc và vai trò của địa điểm này trong đời sống văn hóa Sài Gòn Kiến trúc tại Lăng Ông được xem như cửa sổ thời Nhà Nguyễn, thu hút du khách và cho họ cảm giác như trở về một thời kỳ lịch sử đặc sắc Lăng Ông Bà Chiểu gắn liền với đời sống tâm linh của người dân Sài Gòn, trở thành tín ngưỡng tôn kính và biểu tượng văn hóa địa phương Ngoài ra, bài viết này làm rõ thực trạng hiện nay của giới trẻ đối với các giá trị văn hóa tồn tại, từ đó gợi ý cách bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống cho thế hệ tương lai.
Lăng Ông Bà Chiểu và tìm ra hướng giải pháp khắc phục những thực trạng không tốt đó.
Đối tƣợ ng và ph ạ m vi nghiên c ứ u
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Lăng Ông Bà Chiểu, một di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu của Việt Nam, nhằm làm rõ giá trị lịch sử, văn hóa và ý nghĩa tâm linh của di tích này Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung vào các khu vực liên quan đến Lăng và sự phát triển của nó trong bối cảnh đô thị hóa, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích nhằm phục vụ cộng đồng và du lịch bền vững.
Phương pháp nghiên cứ u
Trong bối cảnh dịch Covid đang diễn biến phức tạp và khiến việc tìm kiếm thông tin gặp nhiều khó khăn, nhóm 7A chủ động cập nhật và tìm hiểu về Lăng Ông Bà Chiểu chủ yếu thông qua các phương tiện truyền thông như Google, Facebook và YouTube Từ nguồn tin đa dạng và phong phú trên truyền thông đại chúng, nhóm đã lọc thông tin và tổng hợp những nội dung chính về Lăng Ông cùng với hình ảnh sắc nét, đẹp và sinh động Nhờ phương pháp phân tích – tổng hợp, bài tiểu luận được hoàn thiện một cách đầy đủ và mạch lạc, truyền tải đầy đủ ý nghĩa của đề tài cho người đọc.
B ố c ụ c đề tài
Bố cục đề tài của tiểu luận có cơ cấu như sau:
Chương 1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Lăng Ông Bà Chiểu
Chương 2 Đặc điểm kiến trúc nghệ thuật xây dựng Lăng Ông Bà Chiểu
Chương 3 Thực trạng và ý kiến giải pháp
KHÁI QUÁT LỊ CH S Ử HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRI Ể N
Lịch sử nguồn gốc của Lăng Ông Bà Chiểu
Lăng Ông Bà Chiểu, còn được biết đến với tên Thượng Công Miếu, là khu miếu thờ và nơi an nghỉ của Tả quân Lê Văn Duyệt và Chính thất phu nhân Đỗ Thị Phận Nơi đây nằm tại số 1 đường Vũ Tùng, Phường 1, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong thành phố Hồ Chí Minh, Lăng Ông nằm ở vị trí vô cùng thuận lợi, là điểm giao nhau của bốn tuyến đường chính: Lê Văn Duyệt, Trịnh Hoài Đức, Phan Đăng Lưu và Vũ Tùng Vị trí đắc địa này giúp Lăng Ông dễ tiếp cận từ nhiều khu vực, đồng thời làm nổi bật giá trị văn hóa và tín ngưỡng của địa phương.
Ngay cả nhiều người vẫn nhầm rằng Lăng Ông Bà Chiểu là nơi thờ ông và bà mang tên Chiểu, thực tế tên gọi này xuất phát từ nguồn gốc văn hóa và địa danh "Bà Chiểu" là tên vùng đất xuất hiện từ thời vua Tự Đức (1847–1883); "Chiểu" nghĩa là ao nước thiên nhiên, nên Bà Chiểu được cho là nữ thần thờ bên ao Ở Thủ Đức còn có vùng đất tên Linh Chiểu Trong khi đó, "Lăng Ông" là lăng của Tả quân Lê Văn Duyệt, vị trí lăng nằm gần khu chợ Bà Chiểu Do người xưa kiêng nói tên của người có quyền, từ ghép hai từ lại thành "Lăng Ông Bà Chiểu" để chỉ Lăng Ông ở Bà Chiểu.
1.1.2 Cuộc đời của Tảquân Lê Văn Duyệt gắn với những giai thoại lịch sử
Nơi đây là nơi yên nghỉ của Tả quân Lê Văn Duyệt – vị Thần hoàng được người dân Sài Gòn tôn thờ, kính trọng
Tả quân Lê Văn Duyệt sinh năm 1764 và mất năm 1832 Thân phụ ông là Lê Văn Toại, người Quảng Ngãi, sau khi di cư vào Nam đã sinh sống tại vùng Tiền Giang ngày nay Vì thế, sử sách ghi nhận ông là người làng Hòa Khánh.
Ngày xưa, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) đã chứng kiến sự nổi lên của Lê Văn Duyệt, người theo chúa Nguyễn Phúc Ánh từ khi mới 17 tuổi và trở thành Tả Quân Tổng Trấn Xuất thân từ thái giám nhưng là một tướng trẻ gan dạ, ông đã lập được nhiều công lao và được xem là một trong những khai quốc công thần thời Gia Long Lê Văn Duyệt từng đảm nhận chức Tổng Trấn Gia Định Thành hai lần: từ năm 1812 đến 1815 dưới triều Gia Long và từ năm 1820 đến 1832 dưới đời vua Minh Mạng.
Xưa nay, các anh hùng được lưu truyền trong sử sách thường được mô tả là cao 7 thước, lưng rộng 10 gang, tướng mạo phi thường và oai hùng Tuy nhiên, với Tả quân Lê Văn Duyệt, một ngoại lệ nổi bật, vóc người thấp, mặt mũi không mấy khôi ngô, nhưng ông lại có cơ mưu thiên bẩm và sức khỏe vượt trội, khiến trí tuệ và khả năng lãnh đạo của ông được đánh giá cao.
Ông Mai Quốc Trinh, 74 tuổi, người làm công quả tại Lăng Ông hơn một thập kỷ, kể lại rằng khi ở độ tuổi 16–17, Đức Ông (Tả quân Lê Văn Duyệt) thường nhắc bạn bè rằng phận làm trai sanh nhằm thời loạn phải đứng lên dựng cờ đại tướng và ghi danh vào sử sách Nếu không làm được điều ấy, thì không xứng là con trai.
Bình sinh ra tính nóng nảy, không ưa văn chương và chỉ thích võ thuật Vì thế ông ít giao du với đám trai trẻ trong làng, mà dành phần lớn thời gian cho rừng săn bắn Trong nhà ông nuôi nhiều chó săn dữ tợn nhưng được ông dạy dỗ rất khuôn phép.
Một bữa nọ ông đi săn, người cha ra đồng, ở nhà còn mẹ già Hôm ấy, tình cờ Nguyễn Ánh (tức vua Gia Long sau này) cải trang đi với mấy viên quan hầu đến nhà Nhìn thấy bộ ván ngựa có chiếu, gối, liền đến ngồi Mẹ ông lo cho sự táo bạo của khách lạ, bèn đến mời qua ngồi nơi ghế vì chỗ đó Duyệt không cho ai ngồi hết, chính ông cũng không ngồi.
Không thể ngăn nổi nữa, người mẹ đành để Chúa Nguyễn ngồi trên bộ ván Một lát sau, Duyệt đi săn về; bình thường khi gần đến nhà, đàn chó săn lại chạy xuôi chạy ngược quanh vườn, nhưng lần này mọi con đều cụp đuôi, lộ rõ vẻ sợ hãi khi tiến vào sân Duyệt bước vào nhà và bất ngờ nhìn thấy Chúa Nguyễn đang ở đó; dù chưa biết hắn là ai, hắn tự nhiên thấy sợ và quỳ xuống lạy.
Chúa Nguyễn nhìn xuống hỏi có phải ngươi tên Duyệt không; Duyệt thưa đúng Tại sao ngươi lại to lớn mà không chịu lo lắng chuyện đời, trai sanh thời loạn mà cứ để yên thân giữa đám cỏ, rừng cây vậy? Duyệt nói mình không muốn như vậy, nhưng ở đây chẳng có ai để cùng mưu sự Chúa Nguyễn cười, kể sơ qua lai lịch cho Duyệt nghe; khi đã biết người ngồi đối diện là Chúa Nguyễn, Duyệt mừng rỡ và đồng ý xin theo.
Trong thời gian làm quan, ông để lại nhiều công trạng nổi bật: thắng trận Thị Nại trước quân Tây Sơn dù gặp khó khăn, đảm đương vai trò tổng chỉ huy đào kinh Vĩnh Tế từ Châu Đốc đến Hà Tiên, kênh đào song song với biên giới Việt Nam – Campuchia; dẹp loạn thổ phỉ, cứu đói, tha thuế cho dân và chỉ trong vòng chưa đầy một năm đã ổn định được tình hình; dù từng bị nhắc nhở với câu "tiền trảm hậu tấu" Lý Chính Hầu Huỳnh Công Lý vì làm những việc sai trái, ông cuối cùng đã chế phục Chân Lạp và oai trấn Xiêm La.
Quá trình hình thành và phát triển
1.2.1 Quá trình hình thành Lăng Ông Bà Chiểu
Mộ phần của Tả quân Lê Văn Duyệt được dựng sớm nhất tại khu vực này vào năm 1832 Sau thất bại của cuộc nổi dậy do con nuôi ông, Lê Văn Khôi, năm 1835, Lê Văn Duyệt bị lên án và buộc tội đã gián tiếp gây nên biến loạn Vua Minh Mạng đã ra chỉ dụ san bằng mộ và trên bia đá có khắc tám chữ.
Vào năm Tân Sửu 1841, vua Thiệu Trị lên ngôi đã phục hồi thanh danh cho hoạn quan Lê Văn Duyệt bằng cách dẹp bỏ trụ đá hài tội và đắp lại mộ; sang đầu đời Tự Đức (1848), Đông Các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn dâng sớ xin phục hồi quan tước và gia ơn cho con cháu các công thần Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt và Lê Chất; nhà vua xem sớ cảm động, truy phong cho ba ông và ban phẩm hàm cho dòng họ; đồng thời cho đắp phần mộ Lê Văn Duyệt ở Gia Định cao rộng hơn và cho sửa sang miếu thờ Theo nhà văn Sơn Nam, dân làng Long Hưng trình lên quan sở tại một người cháu nội của Lê Văn Phong (Phong là em ruột Tả quân) tên Lê Văn Thi, vốn sợ tội với triều đình nên trốn tránh, sau được phép đến Bà Chiểu chăm sóc Lăng Ông; ngày nay trong miếu vẫn thờ ông Thi làm Tiền hiền.
Ngày 06/04/2020, Phó chủ tịch UBND TP.HCM Võ Văn Hoan ký quyết định phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật công trình "Phục dựng cổng và tôn tạo hàng rào di tích kiến trúc nghệ thuật Lăng Ông - Bà Chiểu", do Trung tâm Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa TP.HCM làm chủ đầu tư Mục tiêu của dự án là phục hồi kiến trúc nguyên trạng và tăng mỹ quan di tích, đồng thời bảo đảm tối đa các yếu tố nguyên gốc và giá trị chân thật của di tích nghệ thuật cấp quốc gia như vị trí, cấu trúc, vật liệu, kỹ thuật truyền thống, chức năng ngoại thất, cảnh quan liên quan và các yếu tố khác nhằm bảo vệ và phát huy giá trị của Lăng Ông - Bà Chiểu Sau quá trình trùng tu, tôn tạo, di tích khoác lên mình diện mạo mới phù hợp với cảnh quan và thời đại, nhưng vẫn giữ được những đặc điểm kiến trúc và các giá trị văn hóa tồn tại từ trước.
1.2.2 Việc thờ cúng Tảquân Lê Văn Duyệt
Kể từ khi thành lập vào năm 1914, Hội Thượng Công Quý Tế đã tổ chức lễ cúng tế đều đặn hàng năm và việc trùng tu khu lăng được tiến hành nhiều lần, thể hiện sự chăm chút và trân trọng di tích Ngày 6 tháng 12 năm 1989, toàn bộ khu lăng được Bộ Văn hóa công nhận là di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia, khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa của nơi này.
Hàng năm, lễ giỗ được tổ chức trọng thể vào các ngày 29-30 tháng 7 và mồng 1-2 tháng 8 âm lịch để tôn kính ông như một vị thần Nghi lễ tại lăng pha trộn giữa thờ cúng ông bà, tổ tiên của người Nam Kỳ với nghi lễ thờ Thần Hoàng Số người dự hội rất đông, gồm cả người địa phương và khách thăm viếng từ xa Trong lễ giỗ, người Hoa chiếm khoảng một nửa số người tham dự nhờ lịch sử họ được cho phép định cư và làm ăn tại Gia Định và vẫn kính trọng ông Người Việt cúng trái cây, bánh và nhang đèn, trong khi người Hoa cúng heo quay theo tục của họ.
Những ngày đầu Xuân, người dân đổ về Lăng Ông để cúng kiếng và xin xăm, khói nhang bay ngợp cả bầu trời, thể hiện niềm tin vào sự linh thiêng của nơi này Dân địa phương cho rằng Lăng Ông rất thiêng và nhiều người khó khăn đến đây cầu phước, giải hạn và mong được bình an cho gia đình Trong thời Pháp thuộc, khi các tranh chấp dân sự vẫn chưa được giải quyết, chính quyền thực dân đã bắt các đương sự đứng trước mộ Ông tuyên thệ để ép họ giải quyết mâu thuẫn.
Hiện nay, Lăng Ông Bà Chiểu là điểm đến của du khách trong và ngoài nước Các ngày húy kỵ và lễ tết nơi đây thu hút hàng chục ngàn người đến chiêm bái, trong khi ngày bình thường có hàng trăm người đến dâng hương để tưởng nhớ công lao của vị khai phá và xây dựng vùng đất Sài Gòn - Gia Định xưa và Thành phố ngày nay.
Hồ Chí Minh hôm nay.
ĐẶC ĐIỂ M NGH Ệ THU Ậ T KI Ế N TRÚC XÂY D ỰNG LĂNG ÔNG BÀ CHI Ể U
Phong cảnh chung của lăng và cổng Tam quan – biểu tượng của vùng đất Gia Định xưa
Khu di tích được bao quanh bởi cây xanh, tọa lạc trên một gò đất cao hình lưng rùa và được xem là vị thế đắc địa Theo quan niệm địa lý Đông phương học, nơi đây được chọn để đặt âm phần của quan Tổng trấn và nằm trên long mạch, hợp với địa linh nhân kiệt Vì thế sẽ mang lại tài lộc, sự an lạc đời đời cho dân chúng cư ngụ trong vùng.
Khu lăng được bao quanh bởi bốn bức tường vàng rực, dài 500 m và cao 1,2 m, với bốn cổng trổ ra các hướng Đông, Tây, Nam và Bắc Công trình mang đậm phong cách Á Đông, thể hiện những nét đặc trưng của kiến trúc cung đình Nhà Nguyễn Thiết kế đối xứng và các chi tiết trang nghiêm thể hiện giá trị văn hóa, lịch sử và di sản của triều đại này.
Cổng Tam quan là lối kiến trúc quen thuộc và đặc trưng của những ngôi chùa, đền và dinh thự cổ xưa Ba lối vào, với lối giữa cao và rộng hơn hai cổng phụ, thể hiện ba quan điểm của Phật giáo là hữu quang, thông quan và trung quan, đại diện cho sự vô thường của Phật Phía trên cổng là dòng chữ Hán được khắc lên có nghĩa là “Thượng Công Miếu”, nơi thờ phụng Thượng Công, một chức quan lớn và quan trọng của thời xưa Cổng Tam quan không chỉ là biểu tượng tôn giáo mà còn phản ánh lối kiến trúc và tầng lớp xã hội thời xưa, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống kiến trúc của các ngôi chùa, đền và dinh thự cổ.
Công trình cổng này được xây dựng theo đồ án của kiến trúc sư Nguyễn Văn Tần vào năm 1949, từng là biểu tượng của Sài Gòn và miền Nam, cùng với tháp Phước Duyên của chùa Thiên Mụ tượng trưng cho Huế và miền Trung, và chùa Một Cột - chùa Diên Hựu tượng trưng cho Hà Nội và miền Bắc.
Xung quanh khu lăng được xây dựng trên một trục đường chính gồm: Nhà bia
2.1.2 Kiến trúc nhà bia đá
Nơi dừng chân đầu tiên khi bước vào Lăng Ông Bà Chiểu là nhà bia đá
Trước bia đá là tượng đôi hạc vàng cưỡi rùa, hình tượng biểu hiện sự hòa hợp âm dương và sự hỗ trợ lẫn nhau giữa muôn loài Theo một truyền thuyết, mùa hạn hán hạc sẽ cắp rùa đến những vùng nước, còn mùa lũ thì rùa trở thành tảng đá vững cho hạc đậu chân Ở giữa tượng đôi hạc cưỡi rùa có chậu lư hương bằng gốm lớn, được điêu khắc hình rồng lượn, một cổ vật thường thấy tại đình miếu chùa, nơi thờ tự xưa.
Nhà bia được xây như một ngôi điện nhỏ với tường gạch chắc chắn và mái lợp ngói âm dương, bố trí theo thế một viên dương hai viên âm và có bốn mái Trên đỉnh mái là hình ảnh lưỡng long chầu nguyệt, đuôi chổng lên, đầu chúc xuống và mắt ngước lên mặt trăng, thể hiện sự thuần phục và thuận phục tâm linh Hình tượng này thường gặp tại các nơi thờ tự cổ xưa, phản ánh tín ngưỡng và truyền thống dân gian về sự tôn kính các vị thần và linh vật.
Bên trong có tấm bia đá khắc văn bia chữ Hán mang tên "Lê công miếu bia", được dựng tại miếu thờ Lê công Tác phẩm này được điêu khắc tinh xảo bởi Kinh lược sứ Hoàng Cao.
Khải viết năm Giáp Ngọ (1894)
Những chữ viết trên nhà bia được khắc bằng chữ Hán, nội dung văn bia ca ngợi công đức của Lê Văn Duyệt đối với triều đình và nhân dân Phía bên hông tường có một bản phiên âm sang tiếng Việt, nhưng chữ in trên bản phiên âm khá mờ.
2.1.3 Mộ Tả quân và vợ
Tiếp bước theo bia đá và men theo lối vào lăng, du khách sẽ đến lăng mộ Tả quân và vợ, nơi ghi dấu sự kính trọng dành cho một vị tướng kiệt xuất Lối vào lăng có hai con sư tử đá trấn giữ, tăng thêm phần long trọng cho khu mộ phần và làm nổi bật giá trị lịch sử, văn hóa của di tích.
Tiến sâu vào khu di tích, toàn bộ khu mộ được xây dựng theo kiểu quách bao kiên cố quanh lăng mộ, tạo nên một công trình trang nghiêm và bền bỉ Lăng Lê Văn Duyệt là công trình có kiến trúc cổ được bảo tồn từ năm 1848 đến nay, nằm song song với mộ của Chánh Thất Tả Quân phu nhân Đỗ Thị Phận Hai ngôi mộ được đặt song song và xây theo hình nửa quả trứng ngỗng xẻ dọc, úp trên bệ lớn hình chữ nhật Ở một khoảng cách nhất định so với nơi an nghỉ của hai vị quan, vẫn còn mộ của hai cô hầu được xem là cổ tích.
Trước mộ có khoảng sân nhỏ để làm lễ Bao quanh mộ là bức tường bằng đá ong dày hình chữ nhật, thông ra tận sân đốt nhang đèn.
2.1.4 Nghệ thuật kiến trúc miếu thờLăng Ông
Vị trí cuối cùng của lăng là miếu thờ Tả quân, được xem là nơi đẹp nhất trong toàn khuôn viên Đây là nơi diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng của người dân để thờ cúng Tả Quân Lê Văn Duyệt, biểu tượng của lòng thành kính và truyền thống văn hóa địa phương Việc tham quan miếu thờ Tả quân giúp du khách hiểu rõ giá trị lịch sử và tâm linh gắn liền với đời sống cộng đồng, đồng thời kết nối với các truyền thuyết và sự tôn kính dành cho Tả Quân Lê Văn Duyệt.
Những cánh cửa miếu thờ được sơn đỏ trang trọng và điểm thêm vàng uy quyền, phản chiếu lối kiến trúc cổ Việt Nam như những cảnh sắc trong phim cung đấu trên truyền hình Bên cạnh miếu thờ, bức tường đá lớn được chạm khắc tỉ mỉ và khảm sành sứ hình con hổ oai vệ, giữ gìn vẻ đẹp cổ kính và độc đáo cho đến hôm nay Tầng mái ngói cong vút, được chạm khắc tinh tế bằng sành sứ và xây theo lối kiến trúc trùng thiềm điệp ốc đặc trưng của Việt Nam xưa.
Bố cục của miếu bao gồm tiền điện, trung điện và chính điện
Tiền điện và trung điện là nơi bá tánh đến cúng bái, quyên góp từ thiện và xin xăm Bước vào miếu thờ, mỗi gian điện thờ được ngăn cách bởi sân thiên tỉnh (giếng trời) Đối xứng hai bên trục nhà chính là hai dãy Đông lang và Tây lang, tạo nên bố cục cân đối cho công trình Công trình mang dấu ấn của lối kiến trúc miếu thờ Nhà Nguyễn với mái trùng thiềm điệp ốc và kỹ thuật kết nối khung nhà bằng các lỗ mộng.
Chính điện là nơi đặt tượng Tả Quân Lê Văn Duyệt, đúc bằng đồng nguyên chất, cao 2,65 m và nặng 3 tấn Ngày 4 tháng 2 năm 2008, tượng Tả Quân Lê Văn Duyệt được trang trọng đặt tại điện thờ.
Miếu thờ này đặt bàn thờ Đại học sĩ Phan Thanh Giản và Tổng Trấn Bắc Thành Lê Chất, tạo nên di tích lịch sử quan trọng Ở khu vực chánh điện, có một góc dựng lại cảnh sống đời thường của Tả quân với chiếc võng đơn sơ, gợi lên sự cô quạnh Vào ngày giỗ của vị quan, khách tham quan chỉ được vào phía ngoài của chánh điện, trung điện và hạ điện mà không thể vào sâu bên trong; chỉ những người có phận sự mới được vào để thực hiện các nghi lễ Những đặc điểm này làm nổi bật giá trị văn hóa, lịch sử và nghi lễ được bảo tồn của miếu thờ.
Giá trị và ý nghĩa của Lăng Ông Bà Chiểu
Người ta từ lâu đã nhìn nhận hình tượng Tả quân Lê Văn Duyệt như một phần không thể thiếu của tâm thức người dân Gia Định và miền Nam Việt Nam, trở thành biểu tượng tín ngưỡng dân gian Dân gian tôn vinh ông như một vị thần, khiến các nghi thức tưởng nhớ ông trở thành hoạt động tín ngưỡng phổ biến Mỗi năm, dân chúng vẫn tổ chức lễ giỗ Đức Thượng Công và lễ khai ấn đầu năm để tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn đối với công lao của ông đối với quê hương và đất nước.
Cho đến nay, lịch sử tuy vẫn có những góc nhìn khác nhau về cuộc đời Lê Văn Duyệt, nhưng công lao của ông trong việc hình thành vùng thành Gia Định tấp nập và hưng thịnh thuở xưa vẫn được nhiều người kính trọng Trải qua bao thăng trầm của thời cuộc, Thượng Công Miếu vẫn sừng sững uy nghi, minh chứng cho một thời kỳ mở cõi hào hùng của dân tộc.
Công trình gắn liền với cuộc đời của Tả quân Lê Văn Duyệt, một người có công lớn trong thời kì xây dựng đất nước thời nhà Nguyễn Không chỉ có tài quân sự, Lê Văn Duyệt còn là một nhà chính trị Làm Tổng trấn Gia Định Thành hai lần (lần 1: 1812 – 1816 và lần 2: 1820 – 1832), ông đã thực hiện chính sách trị an tốt, và có công lớn trong việc giữ gìn an ninh cho xứ sở Ông cho đắp đường, đào kênh, củng cố thành lũy, lập hai cơ quan từ thiện là “Anh hài” và “Giáo dưỡng” Đồng thời ông cũng có cách ứng xử khéo léo, rộng rãi đối với những người phương Tây đến buôn bán ở Sài Gòn Bấy giờ, nhiều người kính phục, gọi ông là “Ông Lớn Thượng”, hay “Đức Thượng Công” Một vài nước lân cận cũng tỏ ra kiêng nể ông Khu di tích lịch sử văn hóa này được xây dựng và tôn tạo lại để tưởng nhớ công đức của các thế hệ tổ tiên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nổi bật là Tả quân Lê Văn Duyệt.
2.2.2 Ý nghĩa văn hóa Đối với Việt Nam ngày nay, Lăng Ông Bà Chiểu là một địa điểm thiêng liêng, gắn liền với đời sống tâm linh của người Sài Gòn Tết Âm Lịch hằng năm, người dân Sài Gòn lại tới đây thăm viếng, đốt nén nhang tỏ lòng thành cầu mong gia đình yên ổn, hạnh phúc, và xin lá xăm vận mệnh trong năm Đây là một nét văn hóa đẹp của người dân Sài Gòn.Lăng Lê Văn Duyệt là một trong những tài sản truyền thống của dân tộc ta mang nhiều giá trị tinh thần đời sống Với những vẻ đẹp vốn có của nơi đây càng tô đậm thêm bản sắc dân tộc Việt Nam, đã đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế giới một kiến trúc nghệ thuật cổ điển cần được giữ gìn và lưu truyền đến các thế hệ con cháu mai sau Đối với thế giới, khu di tích lịch sử văn hóa Lăng Ông Bà Chiểu đã làm đậm đà thêm bản sắc riêng của dân tộc nước nhà, làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa thế giới Thế giới sẽ có cái nhìn thiết thực, mới mẻ đối với các di tích văn hóa vật thể của Việt Nam ta
2.2.3 Lăng Ông mang nhiều giá trị đời sống Đây không chỉ là khu di tích kiến trúc có giá trị nghệ thuật mang đậm nét văn hóa truyền thống Việt Nam mà còn là niềm tự hào của người dân Nam bộ Nhờ vào tài năng điêu luyện của các nghệ nhân Việt Nam mà đồ án trang trí tại đây trở nên rất sinh động, gần gũi với cuộc sống dân gian Những hoa văn trang trí khu lăng mộ vừa mang ý nghĩa phản ánh hiện thực vừa biểu lộ niềm tin và ngụ ý chúc phúc
“Thượng Công Miếu” không chỉ mang những giá trị thiên hướng về nghệ thuật kiến trúc, giá trị lịch sử và văn hóa mà còn mang giá trị tâm linh đối với người dân Sài Gòn Từ lâu, dân trong vùng đã truyền tai nhau kể những câu chuyện có liên quan đến ông mang màu sắc tín ngưỡng, nhiều yếu tố ảo như suốt mấy chục năm khu mả của ông hoang vắng không ai dám đi qua, truyền rằng đêm xuống nghe quân reo ngựa hí, có ma khóc lóc ở đó Tả Quân Lê Văn Duyệt càng bị hạ nhục, bị xử tội khi đã chết thì cái tiếng linh của ông càng lan rộng trong dân gian Vào các dịp lễ, Tết, số lượng người đi Lăng Ông đông gấp nhiều lần đi chùa Sài Gòn còn có mộ và đền thờ của Võ Tánh, Trương Tấn Bửu, Võ Di Ngụy nhưng đông nhất vẫn là Lăng Ông Bà Chiểu Dù gấn đó có đền thờ Trần Hưng Đạo nhưng dân Nam Kỳ ít khi lui tới Với những dẫn chứng thiết thực đưa ra như trên, ta đã thấy được trong lòng người Việt Nam, đặc biệt là người Việt và người Hoa ở vùng đất Sài Gòn này, vị Thần hoàng Lê Văn Duyệt đã đi sâu vào đời sống của người dân trong vùng mà dù ông đã không còn ở trên đời này nữa, người người vẫn tin tưởng, thương yêu ông
Lăng Ông Bà Chiểu là di tích lịch sử có giá trị du lịch rất cao đối với du khách trong nước và quốc tế Ngày nay, không chỉ người cao tuổi hay các bậc lão thành đến thăm mà giới trẻ cũng được truyền cảm hứng về lịch sử khi tham quan Lăng Ông để chiêm ngưỡng vẻ đẹp kiến trúc cổ kính, chụp những bức ảnh lưu giữ ký ức về nơi linh thiêng này Du khách nước ngoài khi đến đây ngạc nhiên trước không gian linh thiêng và hoài niệm của một thời đại đã qua của Việt Nam anh hùng Trải qua gần 200 năm lịch sử với nhiều thăng trầm, Lăng Ông Bà Chiểu vẫn là biểu tượng vừa tôn kính vừa thu hút du khách bằng giá trị văn hóa, lịch sử và tiềm năng du lịch, giúp lan tỏa di sản Việt Nam đến với nhiều người hơn.
Miếu vẫn là một công trình kiến trúc mang đậm nét Sài Gòn xưa, là một nét đặc sắc chấm phá của Thành phố mang tên Bác.
THỰ C TR Ạ NG VÀ Ý KI Ế N GI Ả I PHÁP
Thực trạng hiện nay
3.1.1 Việc ăn mặc, tạo dáng phản cảm tại nơi tôn nghiêm
Lăng Ông Bà Chiểu là một trong những cơ sở thờ tự nổi tiếng tại Thành phố
Lăng Ông Bà Chiểu, một địa danh tâm linh nổi tiếng ở TP Hồ Chí Minh, đón hàng nghìn lượt khách viếng thăm mỗi năm và đang đối mặt với những hình ảnh không đẹp làm mất thẩm mỹ tại nơi linh thiêng Biển báo tại cổng các đền, chùa, di tích và lễ hội đã ghi rõ nơi tôn nghiêm và yêu cầu ăn mặc kín đáo, lịch sự khi vào khu vực thờ tự, nhưng vẫn còn nhiều người vi phạm Những hình ảnh ăn mặc phản cảm ngày càng diễn ra ở Lăng Ông Bà Chiểu và các lễ hội liên quan, gây ảnh hưởng đến sự trang nghiêm và mỹ quan của không gian thiêng.
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển của truyền thông đại chúng cùng mạng xã hội khiến nhiều bạn trẻ bị cuốn hút vào sự nổi tiếng và khoe ảnh chụp tại nơi tôn nghiêm với cách tạo dáng và ăn mặc thiếu ý thức Theo PGS.TS Trịnh Hòa Bình, nhà xã hội học, một bộ phận giới trẻ thiếu giáo dục và kỹ năng sống, thiếu sự học hỏi trong đời sống xã hội về cách ứng xử; họ có kiến thức mỏng, thiếu thái độ sống tích cực và khó tôn trọng các giá trị truyền thống.
3.1.2 Vấn đề chắp vá, lộn xộn tại khu di tích quốc gia
Vào năm 2015, bài viết của báo Thanh Niên đã phơi bày những góc khuất đáng lên án tại Lăng Ông Bà Chiểu, làm suy giảm mỹ quan khu vực quanh khu di tích Tình trạng hàng rong tràn lan và lộn xộn diễn ra ngay trước khu vực thờ tự, khiến các sạp hàng dựng sát lưng các pho tượng, làm mất sự tôn nghiêm và cản trở lối đi Các hộ kinh doanh vừa níu kéo, vừa đeo bám hành hương để mời mua đồ cúng chùa và quà lưu niệm, gây khó chịu cho du khách Có hơn 20 hộ buôn bán không cố định trong khu vực thờ tự; họ có sạp phía dưới nhưng khi bán không được lại mang hàng hóa ra tận Lăng Ông để kinh doanh Lực lượng chức năng đã tổ chức di dời, nhưng nhiều hộ phản ứng bằng lời lẽ thô tục và chửi bới, khiến tình hình trở nên căng thẳng.
Trong năm 2015, di tích cho thấy tình trạng chắp vá giữa kiến trúc xưa và nay, với các đoạn hàng rào được làm bằng sắt xen lẫn với lưới B40 lộn xộn Các đoạn tường cổ có hoa văn rất đẹp nay bị xen kẽ với các công trình xây mới bằng sắt và lưới, khiến giá trị và sự nguyên vẹn của công trình bị ảnh hưởng.
3.1.3 Việc mất cắp tài sản trong lăng
Vụ trộm trái châu cổ vật tại Lăng Ông Bà Chiểu được cho là do một người đàn ông thực hiện, khiến dư luận chú ý Vào sáng 03/09/2020, Công an phường 1, quận Bình Thạnh nhận tin báo từ Ban quản lý lăng Ông Bà Chiểu về việc bộ “Lưỡng long tranh châu” trên nóc bia Đình trước phần mộ Tả quân Lê Văn Duyệt đã bị mất trái châu quý hiếm, có niên đại từ năm 1922.
Công an quận Bình Thạnh chỉ đạo các đơn vị liên quan xuống hiện trường, điều tra truy xét nghi phạm trộm cổ vật Bằng các biện pháp nghiệp vụ, Công an quận Bình Thạnh xác định nghi phạm Trần Văn Thọ, 29 tuổi, trú tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đã trèo lên nóc bia Đình để trộm trái châu vào lúc 0h10 sáng 29/08.
Sau khi trộm cổ vật và tẩu thoát, Thọ đã liên hệ và bán trái châu gần 100 tuổi cho Trần Hiền Sĩ (40 tuổi, ngụ quận Tân Phú, TP.HCM) với giá 13 triệu đồng; theo Tuổi Trẻ Online, sau khi thu hồi trái châu bị trộm, Ban quản lý lăng Ông Bà Chiểu đã báo cáo và nhờ Trung tâm Bảo tồn di tích TP.HCM hỗ trợ chuyên môn để gắn lại vị trí cũ của cổ vật vào trưa ngày 12/09/2020.
3.2 Ý ki ế n gi ả i pháp kh ắ c ph ụ c
Nếp sống tùy tiện và thiếu ý thức của một bộ phận du khách cùng người dân đã bị lộ rõ vì sự buông lỏng quản lý của cơ quan quản lý văn hóa và các cấp chính quyền, gây ra xô bồ, mất trật tự và ảnh hưởng đến an toàn tại các đền thờ, chùa Thực trạng trộm cắp, lừa đảo, ăn xin, ùn tắc giao thông và chen lấn xô đẩy diễn ra phổ biến làm mất tính tôn nghiêm và an ninh ở khu di tích Để khắc phục, cần tăng cường giáo dục ý thức cộng đồng, củng cố quản lý văn hóa và siết chặt công tác an ninh tại các điểm đến tâm linh, đồng thời tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý và cấp chính quyền địa phương Bên cạnh đó, xây dựng các biện pháp tổ chức, quy hoạch khu vực lễ hội và tuyên truyền nâng cao nhận thức về tôn trọng di tích nhằm bảo đảm an toàn cho du khách và người dân.
Nguyên nhân gây mất cắp tài sản tại nơi thờ tự bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về giá trị của hiện vật và cổ vật, khiến người dân không coi trọng và thiếu ý thức bảo vệ Bên cạnh đó, nhiều trường hợp bị lừa gạt đổi những thứ vô giá trị và bị sửa chữa, sơn phết không có căn cứ khoa học dẫn tới biến dạng so với nguyên bản và khó nhận diện giá trị thật Tâm lý chủ quan của chính quyền địa phương và người dân trong công tác bảo vệ di tích và cổ vật cũng góp phần tạo điều kiện cho các hiện tượng trộm cắp xảy ra Do đó, tăng cường nhận thức, quản lý và bảo vệ di tích, cổ vật là cần thiết để ngăn ngừa mất cắp và bảo tồn giá trị văn hóa tại nơi thờ tự.
Thực trạng thất thoát và hư hại di vật, cổ vật đang ở mức báo động, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của công tác quản lý và bảo tồn Nếu tiếp tục buông lỏng quản lý và thiếu kiểm soát chặt chẽ, sẽ thất thoát một khối lượng di sản cổ vật và hiện vật quan trọng đang nằm rải rác trong các di tích và đời sống cộng đồng, gây thiệt hại lớn về giá trị văn hóa và bản sắc địa phương Để ngăn chặn tình trạng này, cần tăng cường bảo vệ di tích, nâng cao ý thức cộng đồng và củng cố hệ thống kiểm soát, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi trục lợi di sản và tăng cường bảo tồn tài sản đặc biệt của di sản văn hóa.
Việc đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế triệt để các trường hợp trên là rất cần thiết và cấp bách Các chính quyền địa phương cần đổi mới cách quản lý khu vực, xóa bỏ hình thức hàng rong kiểu cũ và thay thế bằng các quầy hàng nhỏ có kích thước phù hợp để không chiếm lề đường dành cho khách tham quan Ban quản lý cần quy hoạch các tuyến đường, vạch giới hạn và canh giữ nghiêm ngặt, đặc biệt trong các ngày lễ lớn để đảm bảo lưu thông Các cấp, bộ cần thực thi các chính sách về văn hóa, tín ngưỡng mạnh tay để xóa bỏ hoàn toàn các hình ảnh gây phản cảm nơi công cộng linh thiêng như chùa chiền, đền thờ, lăng tẩm Ở khía cạnh pháp luật, từ ngày 1/6/2021, Nghị định 38/2021/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo sẽ thay thế Nghị định 73/2010/NĐ-CP Nếu như trước đây, với Nghị định 73/2010/NĐ-CP, hành vi không mặc quần, áo hoặc mặc quần áo lót ở nơi hội họp đông người, các địa điểm văn hóa, tín ngưỡng, nơi làm việc của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 60.000-100.000 đồng thì với Nghị định 38 mức phạt sẽ tăng cao hơn từ 200-500 nghìn đồng.
Nếu tình trạng “chảy máu cổ vật” không được ngăn chặn sớm, cổ vật Việt Nam dù phong phú và đa dạng đến đâu cũng có nguy cơ bị mất hết Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nghiên cứu khoa học và làm tổn hại lớn đến văn hóa, lịch sử của nước ta.
Dù các chính sách và biện pháp đã được cụ thể hóa, nhưng thiếu kế hoạch truyền thông đến đại chúng khiến nhiều người không nắm rõ luật pháp và dễ vi phạm Việc thông tin chưa được lan tỏa đầy đủ tạo ra lỗ hổng nhận thức về quy định và thực thi pháp luật Cần xây dựng kế hoạch truyền thông toàn diện, kết nối với cộng đồng qua nhiều kênh và hoạt động giáo dục pháp luật để người dân nắm rõ quy định, tuân thủ đúng và giảm thiểu vi phạm.
Do đó, các cơ quan chức năng thuộc Bộ Văn hóa không chỉ hoạt động độc lập mà cần liên kết chặt chẽ với các bộ phận, cơ quan khác như Bộ Thông tin và Truyền thông để thông tin về cơ chế, chính sách xử phạt đối với phá hoại tài sản văn hóa của cộng đồng và về các hình thức tham gia hoạt động tín ngưỡng được tuyên truyền đến người dân nhằm giúp họ chấp hành đúng luật.
Không chỉ các ban quản lý và chính quyền địa phương cần thay đổi, mà người dân cũng phải có ý thức cộng đồng cao để giữ gìn và bảo tồn các di tích lịch sử và di sản văn hóa của quốc gia Việc giáo dục con em biết tôn trọng các di tích vật thể và phi vật thể là rất quan trọng, và nhà trường kết hợp với phụ huynh đẩy mạnh giảng dạy về văn hóa, xã hội trong chương trình học tập với tính thực tế, đồng thời tổ chức các chuyến ngoại khóa đến di tích để học hỏi và rèn luyện đạo đức cho các em từ khi còn nhỏ Tuyên truyền rộng rãi về giá trị văn hóa và việc bảo tồn các di tích trong kho tàng di sản của nước ta cần được thực hiện sát sao và mang tính cộng đồng Ngoài ra, vai trò của người dân là đồng hành cùng chính quyền, báo cáo lên cơ quan chức năng để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và các yếu tố an ninh, an toàn cần được đảm bảo.