Chính trong thời điểm này nhu cầu được giáo dục sức khỏe sinh sản SKSS ở trẻ vị thành niên là rất cao đặc biệt là giai đoạn đầu của tuổi dậy thì - giai đoạn trẻ rất cần được sự giúp đỡ,
Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng giáo dục SKSS cho học sinh THCS An Lạc, xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình.
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS An Lạc, Xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình
- Phạm vi về thời gian: Số liệu về đặc điểm đơn vị thực tập đƣợc thu thập trong 3 năm học, từ năm học 2017- 2018 đến năm học 2019 – 2020 Số liệu phiếu khảo sát đƣợc thu thập trong khoảng thời gian từ ngày 20 tháng 4 năm
- Phạm vi về không gian: Trường TH và THCS An Lạc, xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình
- Phạm vi về nội dung: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở tại trường tiểu học và THCS An Lạc, Xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình.
Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở
- Tìm hiểu thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình.
Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận chung về vấn đề giáo dục SKSS cho học sinh trung học cơ sở
- Thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình
- Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình
Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
6.1.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát Đây là phương pháp chủ yếu sử dụng trong đề tài để thu thập thông tin về giáo dục SKSS cho học sinh THCS tại trường TH và THCS An Lạc, Xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình với khách thể nghiên cứu là học sinh THCS trường tại trường tiểu học và THCS An Lạc, Xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình Bao Gồm:
- 120/180 chiếm 66,7%học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 trường TH và THCS An Lạc Trong đó:
Khảo sát bằng hình thức phát phiếu trên lớp
+ 1 lớp 9 tổng số 33 học sinh chiếm 27% tổng số phiếu khảo sát Khảo sát
Bằng hình thức phát phiếu điều tra tại nhà là
+ Lớp 8 với tổng số 35 học sinh chiếm 29,1 % tổng số phiếu khảo sát
+ Lớp 7 với tổng số 30 học sinh chiếm 25% tổng số phiếu khảo sát
+ Lớp 6 với tổng số 22 học sinh chiếm 18,3 % tổng số phiếu khảo sát
- 41/41 chiếm cán bộ, giáo viên, công nhân viên trường TH và THCS An Lạc Khảo sát bằng hình thức phát phiếu trực tiếp đến giáo viên tại trường
6.1.3.Phương pháp phỏng vấn Đây là phương pháp thu thập thông tin một cách trực tiếp về việc GD SKSS cho học sinh THCS, và phương pháp này còn nhằm bổ trợ cho quá trình sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Thu thập những tài liệu, số liệu sẵn có tại cơ sở thực tập nhƣ: Báo cáo tổng kết năm học, đặc điểm địa bàn nghiên cứu…
6.2 Phương pháp xử lý dữ liệu
6.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết để xây dựng hệ thống khái niệm làm cơ sở lý luận cho đề tài; đƣa ra những nhận định, phân tích vấn đề nghiên cứu
6.2.2.Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này được sử dụng để xử lý số liệu thu được và đưa ra những kết quả chính xác, khách quan cho đề tài nghiên cứu: tỉ lệ %, giá trị trung bình, tốc độ phát triển…
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE
Cơ sở lý luận về giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
Thuật ngữ “Giới tính” có nguồn gốc Latinh là Sectus (nghĩa là chia cắt) thể hiện chính xác ý định phân chia loài ra làm hai Khi nói đến giới tính là nói đến những khác biệt đƣợc xác định về sinh học giữa nam và nữ
“Giới tính là sự khác biệt giữa nam và nữ về phuơng diện sinh học, bao gồm sự khác nhau về giải phẫu (kích thước, hình dạng cơ thể…), đặc điểm sinh lý (hoạt động hoóc mon, chức năng của các bộ phận…) Giới tính có các đặc trƣng có bản sau đây:
- Tính bẩm sinh: về mặt sinh học, nam và nữ đã mang những đặc điểm khác nhau (bộ phận sinh dục, hoóc môn, nhiễm sắc thể) đƣợc xác định bởi tự nhiên
- Tính đồng nhất: nam giới hay nữ giới ở bất kỳ nơi nào, trong bất kỳ nền văn hóa nào đều có cấu tạo giống nhau về mặt sinh học (nữ có khả năng mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ, )
- Không biến đổi: Giới tính nói lên tính ổn định và tương quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản Chức năng sinh sản của nam hay nữ là không thể thay đổi hay chuyển dịch cho nhau chẳng hạn nhƣ nam có tinh trùng và nữ có trứng và dạ con, vẫn không hề biến đổi Tuy nhiên, hiện nay do sự trợ giúp của y học thì đã có sự can thiệp ở giới hạn nhất định trong những thay đổi về giải phẫu và nội tiết, còn chức năng sinh sản cơ bản của nam và nữ là không thay đổi
Với ý nghĩa đó, giới tính là một phạm trù cơ bản của đời sống xã hội Giới tính gần nhƣ là kiểu phân nhóm xã hội dễ nhận thấy nhất mà chúng ta có thể dùng để nhận dạng mình và người khác giới
Giới tính gắn liền với sự hình thành và phát triển của mỗi con người Ngay từ lúc lên 3 lên 4, trẻ đã bước đầu ý thức được giới tính của mình, biết mình là trai hay gái Đây là kết quả của quá trình tự nhiên nhằm nhận thức thế giới xung quanh Sự nhận thức về giới tính ngày càng rõ nét hơn Cùng với sự thay đổi sâu sắc về giới tính thì kéo theo sự biến đổi to lớn về đời sống tâm lí của mỗi cá nhân Ở tuổi dậy thì giới tính có sự biến đổi rất rõ rệt, cơ thể đạt đến sự trưởng thành về sinh dục – tức là có khả năng sinh sản, và nếu không có sự nhận biết đầy đủ về đặc điểm giới tính cũng như sự phát triển của nó thì ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển nhân cách của con người Vì vậy, việc giáo dục giới tính đặc biệt là cho trẻ là một điều rất cần thiết trong sự hình thành và phát triển nhân cách của các em, để mang lại cho các em cuộc sống tốt đẹp
Chúng ta thấy rằng, hai khái niệm giới và giới tính có sự khác biệt về bản chất, mặc dù những quan niệm về giới đƣợc hình thành trên cơ sở giới tính cụ thể – là nam hay nữ Các đặc điểm giới tính là một phần quan trọng trong cấu thành nên các đặc điểm giới, nhƣng nó không phải là thành phần quan trọng nhất hoặc duy nhất Trong nhiều bối cảnh văn hóa, một người được xếp loại là phụ nữ hay đàn ông không chỉ dựa trên những đặc điểm về cơ thể, mà dựa trên cơ sở của những dữ kiện văn hóa Có thể thấy giới biến đổi nhiều, còn giới tính hầu nhƣ không thay đổi, và một điều sai lầm là lấy sự khác biệt giới tính là nguồn gốc duy nhất để giải thích cho sự khác biệt về giới và hợp lý hóa sự bất bình đẳng dựa trên một căn cứ duy nhất là yếu tố sinh học
Tác giả Võ Thị Ngọc Lan và Nguyễn Văn Tuấn đƣa ra định nghĩa giáo dục là một quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho họ tham gia vào đời sống xã hội, lao động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người (Võ Thị Ngọc Lan,
Theo tác giả Phạm Viết Vƣợng (2012) khái niệm giáo dục đƣợc hiểu theo 2 nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng: Giáo dục là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các đối tƣợng giáo dục nhằm hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách toàn diện (trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ, thể chất, kĩ năng lao động…)
Theo nghĩa hẹp: Giáo dục đƣợc hiểu là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các đối tƣợng giáo dục để hình thành cho họ ý thức, thái độ và hành vi ứng xử với cộng đồng xã hội… Đề tài sử dụng khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp của tác giả Phạm Viết Vƣợng để thực hiện nghiên cứu
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: Sức khoẻ là một trạng thái hoàn hảo cả về mặt thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh tật hoặc tàn phế Nhƣ vậy có thể thấy, khái niệm sức khoẻ là một khái niệm rộng hơn nhiều so với những quan niệm đơn giản nhƣ: sức khoẻ là có một cơ thể cường tráng, sức khoẻ là không ốm đau, sức khoẻ là người lành lặn, không bị tàn phế…
Tương tự như vậy, sức khoẻ sinh sản là trạng thái khoẻ mạnh, hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thương ở bộ máy sinh sản
Sức khoẻ sinh sản bao gồm nhiều khía cạnh, trong đó có cả khía cạnh liên quan đến sức khoẻ tình dục Hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản của con người được hình thành, phát triển, và tồn tại trong suốt cuộc đời Sức khoẻ sinh sản có tầm quan trọng đặc biệt đối với cả nam giới và nữ giới Quá trình sinh sản và tình dục là một quá trình tương tác giữa hai cá thể, nó bao hàm sự tự nguyện, tinh thần trách nhiệm và sự bình đẳng
Trong xã hội ta còn tồn tại nhiều quan điểm sai, hoặc hiểu biết chƣa đầy đủ về khái niệm cũng nhƣ các lĩnh vực liên quan đến sức khoẻ sinh sản, đặc biệt là quan niệm về vai trò của nam giới Trong những năm gần đây, vai trò của nam giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản đã đƣợc đánh giá đúng mức hơn Trong một số chiến lƣợc quốc gia nhƣ “Chiến lƣợc truyền thông Dân số/ Sức khoẻ sinh sản/ Kế hoạch hoá gia đình giai đoạn 2006 – 2010” của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Việt nam, “Chiến lƣợc Chăm sóc sức khoẻ sinh sản” của
Bộ Y tế… cũng đã nêu rõ nam giới là một thành phần quan trọng và có tác động lớn đến việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Một số lý thuyết chủ yếu ứng dụng trong nghiên cứu
Abraham Maslow sinh ngày 1-4-1908, mất năm 8-5-1970 Ông là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Ông là người đáng chú ý nhất với sự đề xuất về
Tháp nhu cầu và ông đƣợc xem là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong Tâm lý học Maslow bắt đầu sự nghiệp giảng dạy tại Brooklyn College Trong suốt thời gian này ông đã gặp gỡ nhiều nhà tâm lý học hàng đầu Châu Âu nhƣ Alfred Adler và Erich Fromm Năm 1951, Maslow trở thành trưởng khoa Tâm lý học tại Brandeis University, nơi mà ông bắt đầu với công tác nghiên cứu học thuyết của mình Ông đã gặp Kurt Goldstein, người đã giới thiệu ông ta về ý tưởng của sự tự nhận thức về nhu cầu Ông về hưu tại California Chết vì đau tim năm
1979, thọ 62, sau nhiều năm sức khoẻ kém
Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao
Bậc 1 Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục
Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Đặc biệt là với trẻ em vì chúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu cơ bản này Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chƣa đƣợc thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa
Bậc 2 Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác nhƣ an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự,…Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được Do đó chúng ta có thể hiểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quy tắc bị mọi người căm ghét vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác
Bậc 3 nhu cầu xã hội: Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý nhƣ: Đƣợc dƣ luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý lưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại
Bậc 4 nhu cầu được tôn trọng: Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại:
Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành đƣợc lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành đƣợc uy tín, đƣợc thừa nhận, đƣợc tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc đƣợc giao Do đó nhu cầu đƣợc tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người
Bậc 5 nhu cầu thể hiện bản thân: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành đƣợc mục tiêu nào đó Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành đƣợc mục tiêu nào đó Đối với thuyết nhu cầu của Maslow có thể ứng dụng vào trong nghiên cứu vì xã hội ngày càng phát triển vì vậy các nhu cầu cơ bản của con người cũng sẽ thay đổi theo Với đề tài này tôi có thể dựa vào thuyết nhu cầu của Maslow để xác định xem sử dụng rượu có phải là một nhu cầu cơ bản của người dân tại địa bàn hay không, nếu thiếu đi việc sử dụng rƣợu họ có thế tiến đến các nhu cầu cao hơn hay không Thậm chí việc sử dụng rƣợu của họ rất có thể không chỉ dừng lại ở mức nhu cầu cơ bản mà còn ở các bậc cao hơn nhƣ là các nhu cầu về xã hội hay là nhu cầu về tôn trọng Đó là những điều mà thuyết nhu của Maslow có thể giúp tôi ứng dụng và làm rõ những điều trên Ứng dụng vào đề tài: Ngày nay, cuộc sống ngày càng phát triển Học sinh được tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng rất sớm Ngoài nhu cầu cơ bản nhƣ ăn mặc, ở… học sinh THCS còn cần đƣợc đáp ứng nhu cầu về giáo dục
SKSS Đề tài sử dụng thuyết nhu cầu của Maslow để xem xét học sinh THCS có nhu cầu đƣợc hiểu biết về các vấn đề SKSS là tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu của các em Trong đó nhu cầu giáo dục SKSS trong tháp nhu cầu đƣợc xếp ở nhu cầu an toàn Chính vì thế, học sinh THCS rất cần đƣợc trang bị những kiến thức liên quan về giáo dục CSSKSS nhƣ quan hệ tình dục, kiến thức sinh sản… đúng cách, đúng hướng để phát triển bản thân tốt nhất Ứng dụng lý thuyết này cũng giúp nhà nghiên cứu nhìn nhận đánh giá mức độ quan trọng của nhu cầu đƣợc giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS Từ đó có giải pháp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục SKSS cho học sinh, gia đình, nhà trường và cộng đồng nhằm tác động tích cực hơn góp phần thúc đẩy sự phát triển lành mạnh cho các em.[13]
1.2.2 Thuyết nhận thức- hành vi
Thuyết nhận thức hành vi đƣợc xây dựng và phát triển bởi nhiều nhà khoa học nhƣ Scott và Drylen, Goldstein, Glasser, Gambrill… Thuyết nhận thức hành vi nêu thêm yếu tố nhận thức trong quá trình tạo ra hành vi Tác nhân kích thích không trực tiếp tạo ra hành vi mà thông qua nhận thức của con người Thuyết này đƣợc phát triển trên nền tảng lý thuyết về quá trình nhận thức, thuyết học tập và phân tích hành vi Thuyết này cho rằng nguyên nhân của những hành vi chƣa tốt hay không tích cực bắt nguồn từ những nhận thức và suy nghĩ sai lệch
Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi
(S là tác nhân kích thích, C là nhận thức, R là phản ứng, B là kết quả hành vi)
Theo sơ đồ thì S không phải là nguyên nhân trực tiếp của hành vi mà thay vào đó chính nhận thức C về tác nhân kích thích và về kết quả hành vi mới dẫn đến phản ứng R Quan điểm về nhận thức - hành vi chỉ ra: Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức - hành vi thì các vấn đề nhân cách hành vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương tác với môi trường bên ngoài Con người nhận thức lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những niềm tin, hình tƣợng, đối thoại nội tâm tiêu cực Suy nghĩ không thích nghi tốt đƣa đến các hành vi của một cái tôi thất bại Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thể học tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức Ứng dụng vào đề tài: Giáo dục SKSS của học sinh THCS trong sự phát triển về nhận thức hành vi của các em Trong giai đoạn này các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc thích nghi với môi trường học tập, có quan điểm, sự nhìn nhận, đánh giá riêng về các vấn đề SKSS dẫn đến những hành vi không phù hợp, nếu không đƣợc phụ huynh và giáo viên hỗ trợ sẽ dẫn tới những hành vi, tình cảm lệch chuẩn Mặt khác, quá trình xã hội hóa cá nhân là kết quả của sự trưởng thành sinh học – phát triển tâm sinh lý ở lứa tuổi dậy thì và những kinh nghiệm mà các em học sinh có đƣợc qua việc học tập cũng nhƣ tham gia các hoạt động xã hội Đề tài áp dụng lý thuyết hành vi nhằm đƣa nghiên cứu sự quan tâm, mức độ hiểu biết và nhận thức của học sinh THCS về giáo dục SKSS Học sinh THCS là lứa tuổi đã chín muồi về sinh lí nếu nhận thức đúng về nội dung giáo dục SKSS sẽ giúp các em có những hành vi đúng đắn phù hợp trong các mối quan hệ nhƣ: Biết từ chối quan hệ tình dục không an toàn, biết sử dụng các biện pháp phòng tránh thai an toàn, biết cách sử dụng bao cao su, Từ đó nghiên cứu hiệu quả của giáo dục SKSS (nhận thức tốt dẫn tới hành vi tốt và ngƣợc lại).[12]
Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.3.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trên Thế giới nghiên cứu về sức khỏe vị thành niên có từ rất sớm nhƣng đƣợc gọi với các cái tên khác nhau, chẳng hạn sức khỏe vị thành niên hay giới tính tình dục thanh thiếu niên Từ sau hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ICPD tại Cairo (4/1994) định nghĩa chính thức về sức khỏe sinh sản đƣợc thống nhất và phổ biến đến mọi quốc gia trên thế giới và là mối quan tâm của toàn xã hội Vấn đề sức khỏe sinh sản đƣợc đẩy lên một trình độ mới
Tại Châu Phi: Giáo dục sức khỏe sinh sản ở châu lục này tập trung vào đẩy lùi nạn dịch AIDS và cố gắng thiết lập những chương trình giáo dục về AIDS hợp tác với tổ chức y tế thế giới (WGO) và các tổ chức phi chính phủ (NGO)
Những chương trình này dạy cho họ và con em họ các cách “ABC” với A để phòng chống AIDS B – Chung thủy và C – Dùng bao cao su Ở Ai Cập, trẻ từ 12 – 14 tuổi đƣợc giáo viên giảng dạy những kiến thức giải phẩu sinh học nhƣ cấu tạo cơ quan sinh dục nam nữ, cớ chế hoạt động, quan hệ tình dục, nguyên nhân có thai, các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục Tại các quốc gia Châu Á: Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc và Sri LanKa là những nước đã thực hiện chính sách riêng về giáo dục giới tính trong các trường học về giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên
Tuy nhiên ở Bangladesh, Myanmar, Nepan và Pakistan thì không có những chương trình giáo dục giới tính như vậy
Ngay các nước Đông Nam Á như: Thailand, Malaysia, Indonesia, Singapore, Phihppines… cũng đã thực hiện nội dung giáo dục này Ở Philippines, giáo dục giới tính đã được đưa vào chương trình nội khoá của trường phổ thông cơ sở và trường trung học phổ thông, và là một bộ phận của giáo dục dân số và kế hoạch hoá gia đình Nội dung giáo dục giới tính đã đƣợc lồng ghép một cách hợp lí vào nhiều bộ môn văn hoá khác, chủ yếu là môn kế hoạch hoá gia đình qua các giờ chính khoá và qua các hoạt động ngoại khoá, theo mức độ khác nhau ở các lứa tuổi khác nhau Ở nước này, việc nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học, những phương pháp và những phương tiện dạy học về SKSS rất đƣợc quan tâm và cuốn hút học sinh, làm cho quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao Việc giáo dục nội dung này cũng đã đƣợc mở rộng ra ngoài nhà trường, đến các tầng lớp nhân dân khác nhau qua rất nhiều hình thức giáo dục phong phú, qua các trung tâm tƣ vấn và đã đƣợc xã hội ủng hộ Đối với các quốc gia Châu Âu: Nhƣ Pháp 2/2020, chính phủ Pháp quyết định đƣa kiến thức giới tính và SKSS lên đài truyền hình và phát thanh, đồng thời phát khoảng 5 triệu tờ rơi cho học sinh phổ thông và trung học về các phương pháp tránh thai an toàn hiệu quả Ở Đức hiện nay, có rất nhiều các nhà khoa học nổi tiếng với những công trình nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính nhƣ: R Neubert, Aresin, Smolka, Hopman và Klemm, Linser, Polte, Dierl, Grassel… Một cuốn bách khoa toàn thƣ về giới tính đƣợc biên soạn để giảng dạy và giáo dục giới tính cho học sinh
Các quốc gia Châu Mỹ : Các trường học đều đưa giáo dục giới tính và SKSS vào chương trình học của học sinh lớp 7 -12, có nơi bắt đầu học từ lớp 5, lớp 6 Học sinh tiếp cận với kiến thức giới tính thuộc hai kiểu: Toàn diện kiến thức chung chiếm 58% hoặc kiến thức sâu về một khía cạnh, vấn đề chiếm 34% Tuy nhiên, Mỹ lại là một trong những nước có tỷ lệ sinh ở trẻ vị thành niên cao nhất thế giới, Tỷ lệ nhiễm bệnh qua đường tình dục ở thanh thiếu niên cũng cao nhất Điều này cho thấy người ta nên chú trọng vào phương pháp hơn là xác định ở cấp độ giáo dục nào
( Theo giáo dục giới tính toàn cầu của trang Tailieu.vn)
1.3.1.2 Ở Việt Nam Ở Việt Nam ta, trong thời gian gần đây, cùng với giáo dục dân số, giáo dục giới tính và SKSS đã bắt đầu đƣợc quan tâm rộng rãi
Trong Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trình chính khoá và ngoại khoá nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái” Bộ
Giáo dục đã đƣa ra Chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước
Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, về tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu đƣợc công bố Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Tràn Trọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức… đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính Nhiều công trình nghiên cứu về giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình, nhiều cuộc điều tra về tình yêu và đời sống hôn nhân gia đình đã được tiến hành từ năm 1985 đến nay, bước đầu làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh Những công trình này đã nêu lên nhiều vấn đề rất phong phú đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục SKSS ở Việt Nam Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh (gọi tắt là Giáo dục đời sống gia đình) có kí hiệu VIE/88/P09 (gọi tắt là đề án P09) đã đƣợc Hội đồng Chính phủ,
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Trần Trọng Thuỷ và Giáo sư Đặng Xuân Hoài, đề án đã đƣợc tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề nhƣ: quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân; nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáo viên, học sinh, phụ huynh… ở nhiều nơi trong cả nước, để chuẩn bị tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12
Từ khoảng năm 1990 đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia, nhiều đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và những vấn đề có liên quan nhƣ: Giáo dục sức khoẻ sinh sản; Giáo dục về tình yêu trong thanh niên, học sinh; Giáo dục đời sống gia đình; Giáo dục giới tính cho học sinh… Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã đƣợc sự quan tâm nhiều của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậc phụ huynh
Công trình nghiên cứu xây dựng chương trình thử nghiệm giáo dục dân số, SKSS trong trường phổ thông do Viện khoa học Giáo dục thực hiện, đã tập trung chủ yếu vào hai chủ điểm về tâm lý giáo dục và sinh học Lần đầu tiên trong nhà trường phổ thông ở nước ta HS được học có hệ thống về “những điều bí ẩn” của chính mình và mối quan hệ với người khác giới, bằng cách dạy tích hợp vào các môn học từ bậc tiểu học đến trung học với 5 chủ đề: Nhân khẩu học, môi trường, gia đình, giới và dinh dưỡng, trọng tâm là GDSKSS cho vị thành niên, coi đầu tƣ giải quyết vấn đề về SKSS vị thành niên là một yêu cầu quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước Tuy nhiên, nội dung còn quá thiên về dân số phát triển, chƣa coi SKSS nhƣ một mục tiêu ƣu tiên trong chính sách quốc gia
Nhiều tác giả đã lựa chọn vấn đề GDSKSS làm Luận văn tốt nghiệp đại học, thạc sỹ, tiến sỹ, nhƣ: “Thực trạng và các biện pháp nâng cao nhận thức về SKSS cho học sinh các trường THPT các huyện miền núi Phú Thọ” (Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của tác giả Hoàng Thị Lợi, năm 2000); “Các biện pháp giáo dục SKSS vị thành niên cho HS THPT thành phố Nam Định” (Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của tác giả Lê Thị Kim Hoa, năm 2003) ; Luận án Tiến sỹ của tác giả Trần Thị Minh Ngọc với đề tài “Nghiên cứu nhận thức của sinh viên đại học sƣ phạm về SKSS” năm 2006 Nhìn chung, các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về lý luận sự cần thiết phải quan tâm đến vấn đề giáo dục SKSS, thực trạng nhận thức về SKSS mà tập trung vào dân số, kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), đời sống tâm, sinh lý tuổi vị thành niên [4]
Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI TRƯỜNG TH VÀ THCS AN LẠC -
XÃ THỐNG NHẤT - HUYỆN LẠC THỦY -TỈNH HÒA BÌNH
Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Xã Thống Nhất là một xã trung du vùng núi thấp có độ dốc trung bình 15 0 , cao nhất 40 o Địa hình đồi núi chiếm đa số có độ cao từ 120m đến 270m so với mực nước biển Tỉnh lộ 438B đi qua với tổng chiều dài 5km, xã cách trung tâm huyện 18 km ở phía Tây nam của huyện Lạc Thủy với tổng diện tích tự nhiên 2.380,37 ha, với 861 hộ cùng 2893 nhân khẩu Chủ yếu là dân tộc Mường chiếm
70%, còn lại là dân tộc kinh
Do sản xuất phát triển, cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực nên đời sống của nhân dân ngày càng đƣợc cải thiện, bộ mặt nông thôn xã thay đổi nhanh chóng, cơ sở hạ tầng đƣợc chỉnh trang, nâng cấp ngày càng hoàn thiện, xứng đáng với danh hiệu xã đạt chuẩn Nông thôn mới Năm 2019 thu nhập bình quân đầu người đạt 35,6 triệu đồng/người/năm, tổng giá trị sản xuất năm 2019 ƣớc đạt 319,6 tỷ đồng Chính sách xã hội đƣợc quan tâm nhƣ gia đình con thương binh liệt sĩ, ủng hộ đồng bào bị thiên tai bão lũ, xóa đói giảm nghèo đã đƣợc thực hiện tốt Những chính sách đó tạo điều kiện cho các hộ nghèo đƣợc vay vốn phát triển sản xuất để vƣợt nghèo thông qua các đoàn thể nhân dân nhƣ: hội Cựu chiến binh, hội Nông dân, hội Phụ nữ Hiện toàn xã có 49 hộ nghèo = 1,9% tổng số hộ trong xã, giảm 0,34% so với năm 2018
Trong những năm qua, bằng nhiều hình thức, xã Thống Nhất đã có những biện pháp tích cực để giải quyết việc làm cho người lao động như hỗ trợ, đầu tư xây dựng các mô hình kinh tế, phối hợp với các ngành liên quan để xúc tiến việc làm cho người lao động góp phần giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp Trong những năm tới, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, cần đặc biệt chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, nhằm nâng cao đời sống của nhân dân và ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn xã
Lĩnh vực văn hóa - xã hội có chuyển biến tích cực; chất lƣợng giáo dục toàn diện và mũi nhọn đƣợc nâng lên; đội ngũ giáo viên đƣợc chuẩn hóa, cơ sở vật chất trường học được tăng cường; kết quả phổ cập tiểu học đúng độ tuổi được giữ vững; đã hoàn thành mục tiêu phổ cập trung học cơ sở Mạng lưới y tế được tăng cường cả về cán bộ và cơ sở vật chất; điều kiện chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày càng tốt hơn Hoạt động văn hóa, thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục, thể thao đƣợc đẩy mạnh, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân
Tình hình chính trị ổn định; an ninh nông thôn miền núi đƣợc giữ vững; trật tự an toàn xã hội đƣợc bảo đảm Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có chuyển biến tích cực Số chi bộ trong sạch, vững mạnh hàng năm đều tăng Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chỉ đạo điều hành của chính quyền các cấp từ huyện đến xã đƣợc nâng lên Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đƣợc phát huy
2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu
Trường tiểu học và THCS An Lạc thuộc huyện miền núi Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình Xã đời sống còn rất khó khăn, địa hình hiểm trở, phức tạp, đi lại khó khăn, dân cư thưa thớt Trường tiểu học và THCS An Lạc cũng đã đạt được nhiều thành tích trong giáo dục Trường tiểu học và THCS An Lạc mỗi năm có tổng 440 học sinh theo học, mặc dù khó khăn nhưng các em học sinh ở trường rất ngoan ngoãn chịu khó siêng năng trong học tập Phụ huynh của các em đa số là làm nông, có một số ít là công nhân viên chức Đội ngũ giáo viên hầu hết đều có trình độ đại học, cao đẳng với chuyên môn vững vàng
Trang thiết bị dạy học gần nhƣ là đầy đủ về phòng học, các tài liệu học trong thƣ viện nhƣ: sách, báo và dụng cụ học tập… bên cạnh đó còn hạn chế về số lƣợng máy tính không đủ để học môn tin học, và đội ngũ giảng viên dạy ngoại ngữ còn ít
Nội dung đào tạo chủ yếu là các kiến thức chung về văn hóa, đạo đức làm người trong xã hội, giáo dục thể lực và sức khỏe cho học sinh
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
- Về học sinh: Báo cáo tổng kết năm học 2019 – 2020
Bảng 2.1: Báo cáo số học sinh trường TH và THCS An Lạc năm học 2019 – 2020
Tổng số hs Nữ Dân tộc
Tỷ lệ tăng giảm so với đầu năm Ghi chú
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
- Về đội ngũ cán bộ giáo viên:
Bảng 2.2 : Báo cáo số giáo viên trường TH và THCS An Lạc năm học 2019 – 2020
Tổng BC HĐ68 Nữ DT Nữ
DT ĐH CĐ TH Chƣa ĐT Đảng viên
( Báo cáo sơ kết năm học 2019 – 2020)
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất – huyện Lạc Thủy – tỉnh Hòa Bình
2.2.1 Thực trạng nhận thức của học sinh THCS An Lạc về giáo dục sức khỏe sinh sản
Trải qua một thời gian dài, thậm chí cho đến hiện nay trong xã hội nói chung và ở góc độ cá nhân chúng ta vẫn còn né tránh khi đề cập đến vấn đề giới tính, tình dục Và đây là một trong những nguyên nhân quan trọng của những hậu quả không mong muốn nhƣ: lối sống buông thả, quan hệ tình dục sớm, sống thử, mang thai ngoài ý muốn… ở tuổi vị thành niên Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ sự hiểu biết chƣa đúng về kiến thức giới tính của học sinh, có quan niệm chưa đúng đắn như: GDSKSS là con dao hai lưỡi, là vẽ đường cho hươu chạy… Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi muốn tìm hiểu sự hiểu biết của học sinh về những nội dung trong môn GDGT trên cơ sở các em đã được học ở tại trường Qua khảo sát 180 học sinh ở trường tiểu học và THCS An Lạc hiểu về nội dung GDGT thu đƣợc kết quả nhƣ sau:
Nhận thức của học sinh về khái niệm giáo dục sức khỏe sinh sản
Biểu đồ 2.1 Hiểu biết của học sinh về nhận thức giới tính
(Nguồn khảo sát thực tế) Nhận xét biểu đồ 2.1
+ Có 79,2% đã nhận thức chƣa đầy đủ về khái niệm giới tính Các em chỉ nhận thức đƣợc một mặt nào đó trong các khái niệm về giới tính nhƣ: Giống đực và giống cái (37,5%), các đặc điểm khác nhau về sinh lí cơ thể (25,8%), con trai
+ Chỉ có 83,3% học sinh chọn khái niệm về giới tính là “Những đặc điểm khác nhau về tâm sinh lí con người” Đây là nhận thức khái niệm tương đối đầy đủ về giới tính
Nhận thức về nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản
Qua khảo sát 120 học sinh thcs ở trường tiểu học và THCS An Lạc hiểu về nội dung GDGT, kết quả thu đƣợc nhƣ sau:
So với nội dung GDGT được đưa vào trường, các em có cách hiểu về nội dung GDGT với tỉ lệ khá cao Các em hiểu GDGT bao gồm những nội dung: Quan hệ tình bạn, tình yêu; Tâm sinh lí tuổi vị thành niên; Quan hệ tình dục; Các bệnh lây truyền qua đường tình dục; Các biện pháp tránh thai; Hậu quả của việc nạo phá thai; Vấn đề sinh sản; Vấn đề sinh sản; Hôn nhân gia đình Trong đó, những nội dung đƣợc các em đề cập đến nhiều nhất là: “Quan hệ tình dục” chiếm 85,5% ý kiến học sinh; “Các bệnh lây truyền qua đường tình dục” chiếm
80,7% ý kiến học sinh; “Cách phòng tránh thai và hậu quả của việc phá thai” với tỉ lệ học sinh lựa chọn là 75,7% Mô tả số liệu cụ thể ở biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.2 Nhận thức về nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản
(Nguồn khảo sát thực tế)
- Lí giải về sự chọn lựa trên, chúng tôi thấy rằng những vấn đề liên quan đến tình dục, tình dục an toàn của VTN đang đƣợc xã hội quan tâm và đề cập đến nhiều Bởi hiện nay một bộ phận học sinh có những hành vi yêu đương quá sớm, quan hệ tình dục không an toàn gây ra những hậu quả nghiêm trọng nhƣ: mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai Theo thống kê của Uỷ ban dân số Gia đình và Trẻ em, các trường hợp nạo phá thai ở độ tuổi vị thành niên chiếm tới 30% tổng số các ca nạo phá thai, trong khi đó 50% các ca nhiễm HIV/AIDS là dưới độ tuổi 25 và nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu kiến thức về tính dục và sinh sản Hay theo Báo Hà Nội mới, ở trung tâm SKSS Hà Nội mỗi tháng có 150-180 người nạo phá thai, trong đó 30% chưa lập gia đình Chúng ta đều biết rằng, vị thành niên là chủ tương lai của đất nước, họ luôn là đối tượng được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện cho các em phát triển một cách tốt nhất cả về thể chất lẫn tinh thần Chính vì vậy, các trường ở Hoà Bình cũng chú trọng đƣa vào những nội dung liên quan đến lĩnh vực tình dục khi giảng dạy GDGT cho học sinh Từ những điều trên, nên các em có sự lựa chọn về các vấn đề liên quan đến tình dục nhiều hơn
- Còn nội dung khác liên quan với tỉ lệ thấp hơn, tuy vậy tỉ lệ lựa chọn cũng khá cao nhƣ: “Quan hệ tình bạn, tình yêu” chiếm 46,7% ý kiến của học sinh, hay “Thay đổi tâm sinh lý vị thành niên” chiếm tỉ lệ 58,3% số ý kiến Học sinh THCS là lứa tuổi đang hoàn thiện về mặt cơ thể, trong khi sự hiểu biết, vốn sống chưa hoàn thành trưởng thành Bên cạnh đó, những mối quan hệ tình bạn, tình yêu có ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động của các em Chính vì vậy, đây là những những kiến thức rất gần gũi với lứa tuổi học sinh THCS và cũng là nội dung quan trọng trong GDSKSS cho các em tại trường Hầu hết khi phỏng vấn các giáo viên đều nhấn mạnh tới những nội dung này Cô LTT có nói: “Theo tôi thì đối với lứa tuổi học sinh THCS thì các em quan tâm đến nhiều tới làm thế nào để xây dựng mối quan hệ tình bạn tốt, hay cũng nhiều em băn khoăn về bạn khác giới, tình yêu tuổi học trò Vì vậy, những kiến thức về tình bạn, tình yêu trong môn GDSKSS là hoàn toàn phù hợp với các em” (giáo viên dạy Sinh của trường)
- Nội dung “Sinh sản”, “Bình đẳng nam nữ và trách nhiệm của nam giới” và “Hôn nhân gia đình” là những nội dung đƣợc các em đề cập tới ít hơn cả Lí giải điều trên, chúng tôi cho rằng đây là những nội dung trong GDSKSS cho học sinh đƣợc cho là còn xa vời với lứa tuổi học sinh THCS, vì vậy không nhiều em học sinh lựa chọn nhƣ những nội dung khác (nhƣ Quan hệ tình dục tuổi VTN, tình bạn, tình yêu ) Một em học sinh có nói: “Theo em chƣa cần thiết phải học về những vấn đề liên quan đến hôn nhân gia đình, để sau học vẫn chƣa muộn”
- Có thể nói, nhìn chung là các em đã hiểu đƣợc khá đúng đắn về những nội dung đƣợc trong môn giáo dục SKSS Nhƣ vậy, các em đã nhận thức đƣợc những kiến thức giới tính nào cần đƣợc trang bị cho lứa tuổi các em để phục vụ cho cuộc sống hiện tại và tương lai của các em Tuy nhiên, sự hiểu biết kiến thức về giới tính ở những vấn đề cụ thể của học sinh là thấp Điều này làm cho chúng ta suy nghĩ về hiệu quả việc dạy giáo dục SKSS hiện nay trong trường
Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục SKSS:
GDSKSS có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Vì vậy việc đưa GDSKSS vào trong nhà trường THCS luôn cần thiết, nhất là khi xã hội đang rung lên những hồi chuông báo động về những hậu quả của việc thiếu những kiến thức về giới tính mang lại cho học sinh, thì việc GDSKSS càng trở nên cấp thiết Các em học sinh là những người trong cuộc sẽ nói gì về vai trò của GDSKSS sau khi đã được học trong nhà trường và thông qua các kênh thông tin khác Kết quả thu đƣợc về sự đánh giá về sự cần thiết phải GDSKSS đƣợc chúng tôi mô tả số liệu cụ thể ở biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.3: Sự cần thiết của giáo dục SKSS
(Nguồn khảo sát thực tế)
Số liệu ở biểu đồ trên cho thấy, có 29% học sinh cho rằng giáo dục SKSS là cần thiết, trong đó với mức độ “Rất cần thiết” chiếm tỉ lệ 18%, và “bình thường” là 28% Với số liệu này khẳng định một lần nữa rằng: Các em học sinh đã nhận thấy đƣợc tầm quan trọng của GDGT đối với chính bản thân các em Cụ thể dưới đây là một số ý kiến của học sinh về vấn đề này:
“ Giáo dục SKSS thực sự cần thiết, nó đem lại những hiểu biết cho học sinh về giới tính, từ đó có thể phòng tránh đƣợc những rủi ro ngoài ý muốn” (Học sinh nam, phiếu 25)
“Cứ tưởng đó là cái xa vời, không bao giờ quan trọng, đó là chuyện của người lớn Thế mà khi học rồi mới biết rằng nó rất cần thiết, và nếu được học sớm hơn thì tốt” (Học sinh nữ, phiếu 89)
“ Giáo dục SKSS giúp học sinh tránh được những hậu quả sau này, hướng học sinh tới một cuộc sống tốt hơn Đó là mục đích tốt và rất cần thiết” (học sinh nữ, phiếu 17)
“ Em thấy vấn đề này học cũng đƣợc mà không học cũng đƣợc lứa tuổi này em thấy chƣa phù hợp cho lắm vì bọn em còn quá trẻ để cần biết” ( Học sinh nữ phiếu 52)
Cơ sở đề xuất giải pháp
Giáo dục SKSS là bộ phận quan trọng của nội dung giáo dục toàn diện, có ý nghĩa rất thiết thực, cần được nhà trường phối hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội thực hiện nghiêm túc, phù hợp với tâm sinh lý từng lứa tuổi để đào tạo cho xã hội một thế hệ công dân mới có đầy đủ kiến thức về giới, về giới tính, có quan niệm sống đúng đắn, tiến bộ, coi trọng tình bạn, tình yêu chân chính, trong sáng, sống có trách nhiệm với gia đình, xã hội
Qua quá trình khảo sát thực tế mong muốn của học sinh THCS tại trường
TH và THCS An Lạc, tác giả thu đƣợc kết quả nhƣ sau
3.1.1 Mong muốn của học sinh về nội dung giáo dục SKSS
Nhƣ tác giả đã trình bày, giáo dục SKSS là vấn đề nhạy cảm, vì vậy lựa chọn nội dung dể giáo dục cho học sinh là điều khó khăn Để tháo gỡ đƣợc vấn đề này thì việc hiểu học sinh có nhu cầu đƣợc học những nội dung nào là rất cần thiết Khảo sát về vấn đề này tác giả thu đƣợc kết quả ở biểu đồ 3.8
Biểu đồ 3.1 Mong muốn của học sinh về nội dung giáo dục SKSS
- Thứ nhất, sự thay đổi tâm sinh lý tuổi VTN chiếm 90% ý kiến của học sinh Ở lứa tuổi này, những đặc điểm thay đổi to lớn về mặt cơ thể, cũng nhƣ tâm lý làm cho các em không tránh khỏi sự tò mò, những băn khoăn và lo lắng nhƣ: liệu có vấn đề gì không nếu cơ thể dậy thì nhanh hay chậm, điều đó có ảnh hưởng gì tới hình dáng và sự hoạt động của cơ thể, hay các em cũng thường lo lắng khi thấy cơ thể của mình không giống bạn….bởi vậy, các em rất muốn tìm hiểu và khám phá để lý giải những điều đã và đang xảy ra với bản thân, nên việc các em mong muốn đƣợc học nội dung “tâm sinh lý tuổi vị thành niên” cũng là phù hợp
- Thứ hai, “Cách cƣ xử với bạn khác giới, tình bạn, tình yêu” chiếm 85% mong muốn của học sinh Sự thay đổi tâm sinh lý tuổi dậy thì đối với các em tình bạn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi các em đang có khát vọng tự khám phá, tự kiểm tra bản thân mình, chính tình bạn chân thành sẽ giúp các em đối chiếu được những ước mơ, lý tưởng của mình với bạn bè và giúp các em học đƣợc cách nhận xét đánh giá về mình thông qua sự đánh giá, nhận xét của bạn bè Vì thế, nhu cầu quan hệ với bạn bè là nhu cầu rất cần thiết của các em để khẳng định bản thân
- Nội dung thứ ba đƣợc các em lựa chọn chiếm tỉ lệ cao là: “Vẻ đẹp và cách chăm sóc” với 85% ý kiến của học sinh Lứa tuổi học sinh là thời kỳ mà các em muốn khẳng định bản thân rất mạnh mẽ và để ý đến bạn khác giới cũng nhiều hơn, nên các em có nhu cầu làm đẹp và chăm sóc bản thân cao hơn trước Vì vậy, các em có nhu cầu đƣợc cung cấp những kiến thức về cách chăm sóc bản thân là điều dễ hiểu
- Những nội dung còn lại, như tình dục và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, sinh sản, bình đẳng nam nữ….có sự lựa chọn ít hơn, nhƣng đều chiếm tỉ lệ rất cao trên 60% ý kiến học sinh Có thể lí giải điều này từ những suy nghĩ rằng đây là những nội dung mang tính chất “tế nhị” và khó nói hơn
3.1.2 Mong muốn của học sinh về hình thức giáo dục SKSS
Giáo dục SKSS luôn là nhu cầu cấp bách của xã hội và đã đƣợc chú trọng đưa vào trong nhà trường, nhưng vẫn còn băn khoăn trong việc chọn lựa hình thức nào phù hợp Một số quan điểm thì cho rằng nên đƣa vào học nhƣ một môn học chính khoá Liệu các em học sinh có cùng suy nghĩ nhƣ vậy hay có những mong muốn khác Để biết đƣợc suy nghĩ của học sinh vấn đề này, chúng tôi quan tâm đến ý kiến của học sinh về các hình thức giáo dục SKSS trong các trường TH và THCS An Lạc Kết quả được chúng tôi mô tả cụ thể ở biểu đồ sau
Biểu đồ 3.2 Mong muốn của học sinh về hình thức giáo dục SKSS
(Nguồn khảo sát thực tế)
- Trên cơ sở những số liệu từ biểu đồ, chúng ta thấy có 77.5% học sinh mong muốn tổ chức thành các buổi học ngoại khoá, và đây cũng là sự lựa chọn cao nhất của các em trong các hình thức mà chúng tôi đƣa ra Và học ngoại khoá cũng là hình thức chủ yếu mà hiện nay ở các trường THCS ở Hoà Bình đang thực hiện để tổ chức giảng dạy giáo dục SKSS cho học sinh Hình thức học ngoại khoá là các hoạt động nằm ngoài chương trình chính khoá, thường mang tính chất tự nguyện hơn là bắt buộc, nên học ngoại khoá sẽ tạo ra cảm giác thoải mái, ít bị căng thẳng Với tính chất nhƣ vậy, khi học kiến thức về giới tính theo hình thức học ngoại khoá các em học sinh không bị ràng buộc về kết quả học tập, không yêu cầu phải hoàn thành môn học, bởi vậy các em học sinh mong muốn hình thức này hơn cả
- Mong muốn thứ 2 của học sinh là, tổ chức theo hình thức lồng ghép vào các môn học khác chiếm 69,2 % Học sinh mong muốn đƣợc lồng ghép vào các môn học sẵn có nhƣ sinh học, giáo dục công dân, sinh hoạt để học sinh có cái nhìn tổng thế hơn về chương trình học nhưng không phải học quá nhiều kiến thức về phần này
- Việc tổ chức giáo dục SKSS thành môn học chính thức trong nhà trường đƣợc những nhà quản lý và giáo dục rất quan tâm nhƣng tỉ lệ học sinh lại lựa chọn khá thấp (chỉ có 46,7% ý kiến mong muốn) Có lẽ những giờ học chính khoá vẫn gây nhiều áp lực với các em, đồng thời thì giáo dục SKSS vẫn chƣa đƣợc coi ngang bằng nhƣ các môn học khác mặc dù các em đều nhận biết đƣợc tầm quan trọng của nó
- Hình thức phát tài liệu đƣợc các em mong muốn với tỉ lệ thấp 20,8 % ý kiến Bởi nếu chỉ cần có tài liệu không các em có thể tự tìm hiểu qua sách, báo, internet… để có kiến thức sâu hơn thì hình thức này không đáp ứng đƣợc
- Tổ chức theo hình thức sinh hoạt câu lạc bộ chiếm tỉ lệ là 17,5% Theo các em học sinh, hình thức sinh hoạt câu lạc bộ cũng đem lại tâm lý thoải mái khi trao đổi về giới tính và quan trọng, giúp các em không cảm thấy e ngại khi nói tới những vấn đề nhạy cảm
3.1.3 Mong muốn của học sinh về đối tượng tham gia giáo dục SKSS
Sự thành công và hiệu quả của việc giáo dục SKSS cho học sinh còn phụ thuộc vào ai là người giáo dục các kiến thức, kĩ năng về giới tính mà các em mong đợi Vì thế, chúng tôi đã khảo sát sự mong muốn về đối tƣợng tham gia giáo dục SKSS thông qua những đánh giá của học sinh Kết quả khảo sát đƣợc trình bày ở biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 3.3 Mong muốn của học sinh về đối tƣợng tham gia giáo dục SKSS
(Nguồn khảo sát thực tế)
- Có 39,2 % số học sinh lựa chọn những người truyền đạt kiến thức là n”hững chuyên gia về lĩnh vực này’ là những bác sĩ, những nhà tâm lý đây là đội ngũ đƣợc đào tạo rất sâu những tri thức về giới tính, tình dục, về tâm lý lứa tuổi nên có thể mang đến cho các em niềm tin trong việc cung cấp cũng nhữ giải đáp những thắc mắc về vấn đề giới tính, đồng thời uy tín của họ dẫn tới mong muốn này của học sinh
- Nhóm giáo viên tiếp theo mà các em có sự tin tưởng là đội ngũ giáo viên chuyên về lĩnh vực này của trường chiếm 29,2 %, tuy nhiên đây cũng không phải là sự lựa chọn cao Cũng nhƣ các môn học khác thì môn giáo dục SKSS cũng có đội ngũ giáo viên đảm nhận giảng dạy về môn học này trong nhà trường, được đào tạo theo chuyên sâu những tri thức về giới tính Thực tế ở Việt Nam chƣa có nơi nào đào tạo đội ngũ giáo viên dành riêng cho môn giáo dục SKSS, có lẽ vì vậy mà các em cũng khó có thể nhận biết đƣợc năng lực của đội ngũ này nhƣ thế nào nên sự mong muốn ở họ không cao
Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục sức khỏe
Căn cứ vào thực trạng và nhu cầu về giáo dục SKSS cho học sinh trường tiểu học và THCS, tác giả xin đề xuất một số giải pháp nhƣ sau để nâng cao chất lượng cũng như đáp ứng nhu cầu giáo dục SKSS cho học sinh tại trường:
3.2.1 Đổi mới chương trình giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản cho học sinh trường TH và THCS An Lạc
3.2.1.1 Về nội dung Giáo dục sức khỏe sinh sản
- Đưa các nội dung về SKSS lồng ghép vào các chương trình bộ môn chính khóa nhƣ sau: Sinh học, Giáo dục công dân Nội dung những câu hỏi về chủ đề SKSS cần phải dễ hiểu, gần gũi, liên quan đến học sinh Những kiến thức nội dung phải nhằm mục đích giúp các em học sinh hiểu biết về SKSS để nâng cao nhận thức cho bản thân các em Từ đó giúp các em có thể tự chăm sóc, bảo vệ SKSS cho bản thân
- Chú trọng giảng dạy những nội dung cơ bản “Tâm lý tuổi dậy thì”, “Các biện pháp phòng tránh thai an toàn”, “Cách phòng tránh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây nhiễm đường tình dục”, “ Cách sử dụng bao cao su đúng cách an toàn”
- Đồng thời, nhà trường cần chú trọng đặc biệt vào chương trình và biên soạn tài liệu giảng dạy Nội dung chương trình giáo dục cần được đổi mới theo hướng thiết thực, sát với nhu cầu của học sinh Bên cạnh đó, liên tục cập nhật những tài liệu liên quan để gửi tới giáo viên Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt về chủ đề SKSS để các em không chỉ dừng ở mức độ hiểu mà còn có thể áp dụng những kiến thức đã được dạy vào thực tế Ngoài ra, nhà trường cần tìm hiểu những nguồn thông tin (các trung tâm giáo dục kỹ năng sống, cộng đồng…) mà trẻ đƣợc cung cấp nội dung giáo dục SKSS để xem họ bố trí nội dung nhƣ thế nào là phù hợp nhất và đầy đủ nhất cho một buổi học SKSS
- Đối với giáo viên: nâng cao kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn giáo dục SKSS Ngoài những buổi trao đổi kinh nghiệm giữa các giáo viên để chia sẻ kiến thức, chuyên môn Giáo viên cần chủ động cập nhật các thông tin mới về nội dung giáo dục CSSKSS cũng nhƣ trau dồi thêm kỹ năng của bản thân
3.2.1.2Về phương pháp Giáo dục sức khỏe sinh sản
- Nhà trường nên mời các báo cáo viên của Trung tâm kỹ năng sống hoặc cán bộ ý tế, hoặc giáo viên nguồn bồi dƣỡng để họ có kiên thức, kỹ năng, phương pháp giảng dạy tốt hơn Từ đó sẽ tạo hứng thú tính hiệu quả cho buổi học hơn.
- Nhà trường tổ chức hoặc giới thiệu giáo viên đến các lớp tập huấn về giáo dục SKSS Bên cạnh đó, cần tăng cường cán bộ, nhân viên chuyên trách về việc giáo dục SKSS cho học sinh
- Các chuyên viên/ giáo viên cần thay đổi cách giảng dạy SKSS trong nhà trường theo hướng cởi mở hơn, thẳng thắn trao đổi cùng học sinh, biết ứng dụng các công nghệ hiện đại và phương pháp giảng dạy hiện đại
- Tiếp tục kết hợp với các ban nghành, đoàn thể tổ chức thực hiện các buổi ngoại khóa nói chuyện chuyên đề với nội dung giáo dục cho toàn trường với những hình thức khác nhau nhƣ thể là đóng tiểu phẩm chẳng hạn……
- Các phương tiện dạy học cần được sử dụng thường xuyên hơn, đưa các phương tiện dạy học vào bài giảng một cách linh hoạt : xem tranh, ảnh, video, sử dụng trực quan sinh động Ví dụ khi giảng về các biện pháp tránh thai an toàn thì giáo viên hay báo cáo viên cần có dụng nhƣ : bao cao su, các loại thuốc tranh thai an toàn, mô hình các bệnh lây lan qua đường tình dục,…
3.2.1.3 Về thời gian tổ chức Giáo dục sức khỏe sinh sản
- Bố trí sắp xếp lịch học ngoại khóa kỹ năng sống linh hoạt nhất cho giáo viên và cả học sinh Giáo viên cần chủ động sắp xếp lịch giảng dạy của mình để tránh tình trạng dạy chậm chương trình dẫn đến làm mất tiết dạy về kỹ năng sống cho học sinh
- Tăng cường kết hợp tổ chức giao lưu giữa học sinh với cán bộ y tế, cán bộ dân số truyền thông về CSSKSS
- Tăng thời gian tổ chức GDCSSKSS cho học sinh trong trường Tăng thời lƣợng số tiết học, số buổi học GD CSSKSS trong năm học
3.2.1.4 Về hình thức tổ chức Giáo dục cho học sinh Trung học phổ thông
- Tiến hành tổ chức các lớp học giáo dục SKSS theo nhu cầu của học sinh
Tổ chức các hoạt động ngoại khóa lồng ghép với SKSS Cần mở rộng đa dạng hóa hình thức tổ chức trong hoạt động ngoại khóa để thu hút các em học sinh tham gia hơn nhƣ: Tổ chức các cuộc thi, hoạt động tập thể văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí lành mạnh, bổ ích cho học sinh
- Tiếp tục lồng ghép, tích hợp nội dung SKSS vào các môn học và có kế hoạch cụ thể rõ dàng về tài liệu, phương tiện , kinh phí phục vụ cho hoạt động này Tạo điều kiện nhất có thể để giáo viên tham dự các hội thảo, các lớp bồi dƣỡng về SKSS
- Hoặc có thể đƣa nội dung về SKSS thành một môn học kỹ năng sống cho các em học sinh, không tính điểm, không kiểm tra mà chỉ trao đổi, chia sẻ, làm bài thu hoạch để thấy đƣợc sự nhận thức, hiểu biết của học sinh về nội dung CSSKSS Tăng thời lượng dạy trong nhà trường Hạn chế hình thức dạy tập chung toàn trường là vì nhiều bị nhiễu, các em không tập chung, tranh thủ nói chuyện riêng, quá đông người Nên đưa ra hình thức dạy theo lớp, hoặc tách theo nam – nữ để học sinh có thể chia sẻ thoải mái hơn Từ đó phát huy tính hiệu quả, điều chỉnh kịp thời
- Tăng cường hình thức tổ chức các trò chơi, tìm hiểu kiến thức về SKSS cũng đồng thời lồng ghép các chuyên đề giới tính, SKSS vào các môn học.
3.2.2 Giải pháp về tuyên truyền nâng cao về nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản
Một số mô hình áp dụng
3.3.1 Xây dựng phòng công tác xã hội
Công tác xã hội đƣợc coi là ngành khoa học khá mới ở Việt Nam, do vậy công tác xã hội trường học được hình thành và phát triển dần dần với sự tác động của ngành khoa học này đến các lĩnh vực của đời sống xã hội và với các đối tƣợng khác nhau Trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, khi công tác xã hội là ngành mới đang được quan tâm và phát triển, đã có hơn 40 trường Đại học – Cao đẳng trong cả nước được mở mã ngành đào tạo Công tác xã hội – có thể thấy rõ rằng đội ngũ nhân viên công tác xã hội đang đƣợc bổ sung và lớn mạnh, mạng lưới công tác xã hội chuyên nghiệp đang hình thành trên khắp cả nước Và thiết nghĩ, để nghề công tác xã hội trong trường học được phát triển hơn đòi hỏi dự quan tâm của các nhà quản lý ở các Bộ, ngành để đƣa vào chiến lược phát triển giáo dục của nước nhà
Tuy nhiên, ở tỉnh Hòa Bình nói chung và trường TH và THCS An Lạc nói riêng công tác xã hội học đường là gì rất mới mẻ và xa lạ tuy nhiên, nhưng đi cùng với sự phát triển của xã hội ngành công tác xã hội tại địa phương ngày càng đƣợc chú trọng và phát triển phù hợp với tình hiện tại
Như chúng ta đã thấy, hiện nay tại trường TH và THCS An Lạc chưa có NVCTXH Trong khi đó vai trò, nhiệm vụ của NVCTXH trong trường học ngày càng vô cùng quan trọng và rất cần thiết Chính vì thế, nhà trường nên có những giải pháp để khắc phục vấn đế đó thông qua nhƣ: tuyển NVCTXH làm việc trong trường học theo như “Đề án 32 Phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2020” được phê duyệt vào ngày 25/03/2010, nhân viên CTXH trong trường học có kiến thức, kỹ năng, chuyên môn về các vấn đề liên quan đến chăm sóc SKSS VTN; tổ chức thêm lớp tập huấn thực hành ngoại khóa để nâng cao kiến thức , kỹ năng cho nhân viên CTXH trong trường học, đẻ họ được cung cấp nhưng kỹ năng, phương pháp giảng dạy, hình thức dạy tốt hơn Và quan trọng cung cấp thông tin kiến thức đầy đủ và phù hợp về những vấn đề SKSS cho các em trong trường Công việc của NVXH là giúp thân chủ đối phó với những tình huống khó khăn trong cuộc sống và gắn kết họ với những nguồn lực trong cộng đồng có thể giúp họ vượt qua được khó khăn Ở trường học, cần có NVXH để xây dựng một môi trường thân thiện giúp học sinh thành công trong học tập và hoàn thiện nhân cách Vì vậy, NVXH học đường sẽ đóng vai trò như cầu nối giữa phụ huynh, nhà trường và cộng đồng; cũng như xây dựng cùng lúc nhiều hoạt động như tổ chức (và thực hiện) những buổi tập huấn kỹ năng hoặc tham vấn cho những người có nhu cầu, phát triển những chương trình ngăn ngừa những hành vi xấu có khuynh hướng phát triển trong trường học, thực hiện những hoạt động can thiệp nhằm giảm thiểu những vấn đề gây cản trở việc học tập của học sinh,… cụ thể vai trò và nhiệm vụ của NVCTXH trong trường học được thể hiện như sau:
- Vai trò là người kết nối Đối với học sinh, để nâng cao kiến thức, kỹ năng, sự hiểu biết về SKSS của sinh THCS thì không chỉ nhà trường mà còn tác động từ rất nhiều phía như: gia đình, bạn bè, xã hội và các phương tiện truyền thông khác nữa
Nhưng quan trọng đó là do gia đình và nhà trường đây là hai yếu tố tác động mạnh nhất và có ảnh hưởn lớn nhất đối với sự hiểu biết hay nhận thức của trẻ, đây chính là cái nôi để hướng dẫn các em, cung cấp kiến thức về SKSS cho con, em mình
Nhân viên CTXH trong trường học có thể đề xuất các biện pháp khắc phục nhƣ: tổ chức các buổi tập huấn hoặc tƣ vấn cho phụ huynh học sinh, đề các bậc phụ huynh thấy đƣợc vấn đề đó rất quan trọng và cần thiết đối với con em mình đặc biệt là ở lứa tuổi này Việc cung cấp kiến thức này không chỉ cung cấp kiến thức cho chính bố mẹ, mà còn là cung cấp kiến thức cho các con từ đó giúp trẻ tránh được những hậu quả đáng tiếc như: quan hệ tình dục trước hôn nhân, các phòng tránh thai an toàn, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, kết hôn sớm do có thai ngoài ý muốn
Với vai trò là người kết nối, nhân viên CTXH kêt nối với cán bộ y tế trường học, cán bộ dân số huyện, cán bộ trung tâm y tế, báo cáo viên từ trung tâm kỹ năng sống để có thể tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề về SKSS hoặc “Vì sự an toàn của phụ nữ và trẻ em” Và đặc biệt hơn, để nắm bắt những vấn đề của học sinh, nhân viên CTXH kết nối giữa giáo viên chủ nhiệm, cán bộ y tế để nắm bắt rõ hơn những khó khăn mà các em đang gặp phải Hiểu đƣợc nhu cầu và mong muốn của các em để từ đó đƣa ra các biện pháp phù hợp cho các em Cung cấp các kiến thức, các kỹ năng để các em có thêm hiểu biết về các vấn đề của chính bản thân mình Từ đó các em biết cách chăm sóc bảo vệ SKSS cho bản thân mình Tránh những khủng hoảng tâm lý để không ảnh hướng hay gián đoạn công việc học hành
Gia đình học sinh có nhiều vấn đề sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập cũng nhƣ giáo dục nhân cách và SKSS của các em Vì vậy, NVXH có thể sắp xếp những buổi gặp gỡ với phụ huynh – theo nhóm hoặc cá nhân tùy theo từng trường hợp cụ thể – giúp họ trang bị kỹ năng làm cha mẹ, hoặc tham vấn cho họ khi cần Việc giúp cho phụ huynh hiểu đƣợc những hoạt động hỗ trợ học sinh ở trường học và kêu gọi được sự phối hợp của họ cũng là phần rất quan trọng đối với sự thành công của các chương trình ngăn ngừa hoặc can thiệp nhằm giúp trẻ đƣợc giáo dục SKSS một cách đúng đán và toàn diện hơn
Có những trường hợp, NVXH còn phải tìm kiếm và phối hợp với những dịch vụ hỗ trợ trong cộng đồng để giúp gia đình các em giải quyết khó khăn và đáp ứng được nhu cầu học tập của các em thí dụ như các chương trình an sinh xã hội, học bổng, các dịch vụ sức khỏe tâm thần, chương trình nhà ở cho người nghèo, chương trình hỗ trợ thực phẩm, …
- Tham vấn nhóm, cá nhân
Làm việc nhóm là cách hiệu quả nhất để giáo dụng cũng nhƣ chia sẻ các vấn đề thầm kín lứa tuổi học sinh, để xây dựng mối quan hệ tốt với học sinh, giúp các em trang bị kỹ năng chăm sóc SKSS, và hỗ trợ các em đúng lúc Khi tham gia nhóm, học sinh có cơ hội thực tập kỹ năng mới và xây dựng đƣợc cho mình những mối quan hệ lành mạnh Nhóm có thể cùng làm việc để giúp nhau giải quyết những vấn đề cá nhân nhƣ học yếu môn học, bất hạnh hoặc mất mát, gia đình bất hòa, ly dị, … Nhóm tập trung vào mối quan tâm hoặc vấn đề chung mà các thành viên gặp phải và cùng nhau xây dựng mục tiêu và chương trình hành động phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nhóm và nhà trường Khi cần thiết, NVXH có thể trao đổi với giáo viên hoặc phụ huynh để cùng phối hợp giúp các em
NVXH tham vấn riêng cho từng em học sinh khi các em gặp phải khó khăn gây cản trở trong việc chia sẻ những điều khó nói, NVCTXH sử dụng các kỹ năng chuyên môn để giúp các em vấn đề đó một cách có hiệu quả và chuyên nghiệp nhất Nhu cầu tham vấn của các em có thể là những vấn đề cá nhân, vấn đề thuộc gia đình hoặc trường học hoặc cả 3 Tùy theo đánh giá ban đầu mà NVXH xây dựng kế hoạch tham vấn cho các em, cùng với gia đình các em hoặc giáo viên nếu cần thiết
3.3.2 Xây dựng kênh kết nối nhà trường – phụ huynh – học sinh – xã hội
SKSS thực chất là sức khỏe liên quan trực tiếp đến sự phát triển của một con người từ lúc VTN và liên quan đến sự duy trì nòi giống của họ sau này Tuổi trẻ là tương lai của dân tộc sau này Vấn đề SKSS liên quan đến sự tồn vong của một dân tộc Trách nhiệm GD SKSS là của mọi người, của các cấp các ngành tại địa phương Huy động rộng rãi các lực lượng tham gia vào công tác giáo dục sức khỏe sinh sản Sẽ tạo đƣợc sức mạnh tổng hợp, tạo đƣợc dƣ luận xã hội chú ý của cả cộng đồng, đồng thời tận dụng được các nguồn lực từ các chương trình khác Việc thống nhất trong gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội về nhận thức, thái độ hành vi, giáo dục và chăm sóc sức khỏe sinh sản là biện pháp rất cơ bản và lâu dài, cần đƣợc thống nhất
Nhà trường đóng vai trò trung gian quan trọng trong việc tập hợp và phát huy thế mạnh của các yếu tố xã hội, phối hợp với các đoàn thể trong xã hội để tổ chức các hoạt động giáo dục SKSS Gia đình chủ động kết hợp với gia đình nhằm phát huy vai trò của gia đình nhằm phát huy vai trò của gia đình trong việc phối hợp tham gia công tác giáo dục Thông qua các hoạt động thực tiễn, sau khi đã có thời giạn tổng kết các kinh nghiệm, đánh giá, tìm ra những nguyên nhân thiếu sót, để từ đó có những đề xuất kiến nghị với các cơ quan chức năng, tăng cường công tác quản lý lãnh đạo, phối hợp các nguồn lực giáo dục đảm bảo giáo dục hiệu quả cho học sinh
- Mở các cuộc vận động chính trị, các hoạt động xã hội, cung cấp thông tin để thu hút sự quan tâm và trách nhiệm giáo dục SKSS cho học sinh
- Xây dựng và kế hoạch hoạt hoạt động về dân số và phát triển và chăm sóc SKSS
- Phát động các cuộc truyền thông rộng rãi, kết hợp cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS tại cộng đồng
- Tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa có sự tham gia đầy đủ các bên nhà trường – phụ huynh – học sinh – xã hội
- Lực lượng nhà trường – gia đình – xã hội cần có sự phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác như: cơ sở y tế, ban ngành đoàn thể tại địa phương, các trung tâm câu lạc bộ đóng trên địa bàn,… để giáo dục cho học sinh Theo chức năng của mình, các cơ sở y tế tham gia vào các dịch vụ tƣ vấn để chăm sóc SKSS và các vấn đề liên quan phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuồi học sinh Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, chúng ta có thể gửi các thông điệp nhanh nhất tới đông đảo các đối tƣợng phù hợp
KẾT LUẬN
Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giáo dục SKSS của học sinh trường
TH và THCS An Lạc, xã Thống Nhất – Huyện Lạc Thủy- Tỉnh Hoà Bình Tôi rút ra những nhận định có tính kết luận sau:
Thứ nhất: Nhu cầu giáo dục SKSS là nhu cầu tất yếu của các em học sinh trong quá trình phát triển nhân cách toàn diện Nhu cầu giáo dục SKSS của các em cần đƣợc đáp ứng, bởi thông qua đó các em có đầy đủ những kiến thức về giới tính cũng nhƣ những kĩ năng sống cần thiết cho bản thân, nhằm phục vụ cho cuộc sống hiện tại và chuẩn bị sẵn sàng cho một tương lai tốt đẹp
Thứ hai: Hầu hết học sinh có sự hiểu biết khá tốt về những nội dung giáo dục SKSS mà các em đã được học trong nhà trường hiện nay Tuy nhiên, các em lại chƣa có sự hiểu biết sâu sắc ở những nội dung cụ thể, sự hiểu của các em dừng lại ở mức độ thấp Học sinh đều cho rằng giáo dục SKSS có thể tìm hiều ở rất nhiều kênh thông tin khác, biểu hiện ở việc lựa chọn rất cao ở tất cả các cách thức mà chúng tôi đƣa ra Và đa số học sinh đều cho rằng giáo dục SKSS là rất cần thiết trong trường Điều trên còn được thể hiện qua việc các em khẳng định sẽ gặp những khó khăn khi không đƣợc trang bị đầy đủ những kiến thức về SKSS
Thứ ba: Học sinh đều mong muốn đƣợc học tất cả những nội dung giáo dục SKSS, điều này cho thấy hầu hết các em học sinh đều có nhu cầu đƣợc trang bị những kiến thức về SKSS Các em lựa chọn hình thức giáo dục SKSS là học ngoại khoá Bởi theo các em, học ngoại khoá vừa là hình thức phù hợp về mặt thời gian, vừa mang đến cho các em cảm giác thoải mái trong việc tiếp thu tri thức giới tính, thông qua các hoạt động phong phú và đa dạng Đa phần các em học sinh có kì vọng vào đội ngũ chuyên gia là những người sẽ thực hiện công tác giáo dục SKSS trong nhà trường THCS Bởi các em cho rằng, chỉ có đội ngũ chuyên gia mới có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu về kiến thức giới tính của các em Điều đó, xuất phát từ niềm tin vào trình độ chuyên môn cũng nhƣ khả năng hiểu đƣợc nguyện vọng của học sinh
Thứ tƣ: Tìm hiểu hứng thú của học sinh khi học giáo dục SKSS, chúng tôi thấy rằng: Rất nhiều học sinh tỏ thái độ “Bình thường” với giáo dục SKSS
Chứng tỏ rằng, hầu hết các em chƣa hứng thú với môn học này Lý do chủ yếu dẫn tới thái độ trên của học sinh là: nội dung giáo dục SKSS nghèo nàn, chƣa sâu gây nhàm chán, cách thức truyền đạt của người dạy chưa phù hợp Ở từng nội dung cụ thể, các em sự biểu hiện cảm xúc của các em khác nhau Học sinh hứng thú hơn cả với những nội dung mà các em cho rằng gần gũi với lứa tuổi nhƣ: tình bạn, tình yêu, thay đổi tâm sinh lý VTN
Thứ năm: Chính sự không hứng thú với môn học là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc học sinh tham gia học môn giáo dục SKSS còn hạn chế, điều này cho chúng tôi thấy rằng giáo dục SKSS chƣa thu hút đƣợc sự quan tâm của các em Tuy nhiên, việc các em học giáo dục SKSS do thấy đƣợc lợi ích của môn học, khẳng định sự hiểu biết đúng đắn của các em về vai trò của môn GDGT
Từ những điều trình bày ở trên, chúng tôi cho rằng: Chính từ việc nhận thức đƣợc ý nghĩa của giáo dục SKSS, cũng nhƣ hậu quả của việc không đƣợc trang bị những nội dung của môn học này tới cuộc sống của các em học sinh THCS Và hứng thú của các em với giáo dục SKSS là phụ thuộc và người dạy, cách thức cũng nhƣ nội dung truyền đạt cho học sinh
KHUYẾN NGHỊ 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Cần có thái độ tích cực hơn trong việc học môn giáo dục SKSS nhƣ: thường xuyên tham gia các buổi học môn giáo dục SKSS, chủ động trong việc nắm bắt tri thức về giới tính để bổ sung những thiếu hụt của mình, tích cực tham gia các hoạt động liên quan đến việc học môn giáo dục SKSS do nhà trường cũng nhƣ ngoài xã hội tổ chức…
- Cần mạnh dạn và cởi mở hơn để chia sẻ và nói ra những khó khăn, vướng mắc của mình để tƣ vấn kịp thời
2.2 Đối với phụ huynh học sinh
- Cha mẹ cần nâng cao những hiểu biết của mình về vấn đề giới tính, SKSS để có thể giải đáp kịp thời và hướng dẫn được con em mình trong quá trình phát triển
- Cha mẹ phải là người thực sự hiểu, gần gũi và tôn trọng đặc điểm phát triển lứa tuổi của các em, sẵn sàng chia sẻ với các em những bức xúc của lứa tuổi, đem lại cho các em cảm giác an toàn trong gia đình của mình
- Cha mẹ không e ngại khi trả lời những thắc mắc của con Thường xuyên lắng nghe những chia sẻ của con để nắm bắt đƣợc tâm tƣ, nguyện vọng của con Đồng thời, cha mẹ cần cổ vũ, động viên, ủng hộ con tham gia các hoạt động giáo dục chăm sóc SKSS trong nhà trường và cộng đồng
2.3 Đối với thầy cô, cán bộ công nhân viên trong nhà trường
- Quan tâm nhiều hơn nữa tới công tác giáo dục SKSS nhƣ: tổ chức thêm những buổi học ngoại khoá với nhiều hoạt động phong phú và đa dạng nhƣ: đóng kịch, thi tìm hiểu về giới tính, giao lưu, toạ đàm với các chuyên gia (như bác sỹ, nhà tâm lý)… nhằm tạo ra môi trường giáo dục SKSS tích cực, lành mạnh cho học sinh
- Cung cấp và giới thiệu cho các em những tài liệu, sách báo, kể cả những tài liệu trên mạng…phù hợp với nhu cầu và đặc điểm lứa tuổi để các em tìm hiểu và tham khảo, để hạn chế các em tiếp xúc với những sách, phim ảnh
“đen”…làm ảnh hưởng tới suy nghĩ, hành động và lối sống của các em
- Giáo viên tự nâng cao cho mình những kiến thức và phương pháp giáo dục SKSS để nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục SKSS cho học sinh Bên cạnh đó, thầy cô giáo cần gần gũi, cởi mở để hiểu các em hơn nữa, xây dƣng niềm tin ở các em học sinh việc chia sẻ những vướng mắc, khó khăn trong học tập cũng nhƣ trong cuộc sống
2.4 Đối với Ban giám hiệu
- Nhà trường cần tổ chức lồng ghép vào buổi họp phụ huynh của lớp, hoặc tổ chức những buổi sinh hoạt trao đổi về giáo dục giới tính với phụ huynh để hình thành nhận thức cho phụ huynh học sinh Có thể mời những chuyên gia cùng trò chuyện về giới tính với phụ huynh
- Ban giám hiệu còn có nhiều cách thức để truyền thông đến phụ huynh những kiến thức về giới tính thông qua những trang web của trường có nội dung về giáo dục giới tính, hoặc tổ chức những câu lạc bộ giúp phụ huynh có thể trao đổi, tác động qua lại giữa những phụ huynh có thái độ tích cực và những phụ huynh có nhận thức còn tiêu cực
- Giáo dục giới tính tuy chưa trở thành môn học chính thức trong trường THCS tuy nhiên nhà trường cũng đã có những hành động giáo dục giới tính bước đầu cho các em học sinh Do vậy nhà trường cũng cần quan tâm đến thời lượng và chương trình đào tạo đã đủ và đạt yêu cầu cho công tác giáo dục giới tính, đồng thời Ban giám hiệu cần quan tâm đến tâm tƣ nguyện vọng của các em học sinh như thế nào để có chương trình giảng dạy phù hợp
Hiện nay lứa tuổi học sinh THCS phát triển mạnh mẽ về thể chất và tinh thần hơn các thế hệ trước, nên chăng để đáp ứng được phần nào nhu cầu của các em nhà trường nên tổ chức một ban tư vấn tâm lý do những người có chuyên môn được đào tạo kỹ càng về giáo dục giới tính trước khi môn giáo dục giới tính được ứng dụng vào trong trường
Gia đình và nhà trường là nơi có điều kiện giáo dục tốt nhất cho học sinh THCS, tuy nhiên các tổ chức xã hội cũng mang lại sự hỗ trợ không nhỏ cho quá trình thay đổi nhận thức của mọi người về giáo dục SKSS theo phương thức thẩm thấu từ ngoài vào trong Đây là nguồn ảnh hưởng mạnh mẽ có tác dụng thay đổi điều chỉnh lại từng cá nhân, nhóm xã hội theo sự phát triển hợp lý của xã hội đó là nhìn nhận về giáo dục SKSS một cách tích cực và khoa học hơn
Do vậy cần xây dựng nhiều chương trình, sự kiện về giáo dục SKSS nhằm thu hút sự tham gia của mọi tầng lớp để tác động đến thái độ của mọi người đối với giáo dục SKSS một cách tích cực hơn
1 Dự án giáo dục giới tính tình dục và sức khỏe sinh sản dành cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn- Quỹ dân số thế giới, Trung tâm giáo dục đạo đức công dân, viện khoa học giáo dục cục V26 - Bộ công an, trung tâm dạy nghề KoTo
2 Phạm Hoàng Gia và Minh Đức, Vấn đề giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên, Tạp chí nghiên cứu giáo dục
3 Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc,(2004), Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách, NXB Chính trị quốc gia
4 Phạm Thị Lệ Hằng, (2009), Nhu cầu GDGT của học sinh THPT ở Hòa Bình, Luận văn thạc sĩ tâm lý học Hội CTXH trường học Mỹ
5 Nguyễn Linh Khiếu, Lê Ngọc Hân, Nguyễn Phương Thảo (2005), Gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, nhà xuất bản Trung tâm
6 Trần Thị Loan (2002), Nhu cầu giáo dục kiến thức SKSS của học sinh
THPT, Trường ĐH khoa học xã hội và nhân văn
7 Lê Thị Thoa ( 2014 ) Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Yên sơn, tỉnh Tuyên Quang
8 Thủ Tướng Chính Phủ.(2011) QĐ số 2474/ QĐ- TTG Chính Phủ phê duyệt
“ Chiến lƣợc phát triển thanh niên giai đoạn 2011 – 2020”
9 Thuyết Nhu cầu của Maslow và vận dụng thuyết Nhu cầu trong Tham vấn
10 Bùi Văn Vân - Lê Thị Phi (2001), Đề cương bài giảng giáo dục giới tính
11 Hạ Vũ, Giáo dục giới tính trong trường học, truy cập 10h ngày 05/03/2019, 12.https://text.123doc.org/document/1733152-ba-nac-thang-phat-trien-ly- thuyet-ve-vi-the-va-vai-tro-cua-con-nguoi-trong-cau-truc-xa-hoi-ppt.htm