LUẬN VĂN TỐT NGHIỆPXÂY DỰNG TÌNH HUỐNG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SINH VIÊN KHOA QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT - CÔNG NGHỆ CẦN THƠ CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: T.S La Bảo Trúc Ly SINH VIÊN T
TỔNG QUAN
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức, chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề được quan tâm hàng đầu Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 -
2030, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển lấy con người làm trung tâm và xác định con người là quan trọng nhất” Từ đó, những cơ hội và thách thức về vai trò của việc phát huy nguồn nhân lực được mở ra khi con người chính là nhân tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững [3] Theo xu hướng phát triển đó, yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp cũng ngày càng khắc khe hơn Nhà tuyển dụng không chỉ yêu cầu trình độ chuyên môn cao mà còn có kỹ năng mềm, trình độ ngoại ngữ, khả năng xử lý tình huống, [24] Theo từ điển tiếng việt, sự thành công ở những doanh nhân đa phần được quyết định bởi những kỹ năng, kinh nghiệm của họ, còn chuyên môn chỉ phụ thuộc 25% [26] Bên cạnh đó, nước ta có hơn 400.000 sinh viên tốt nghiệp nhưng rơi vào tình trạng thất nghiệp ở mỗi năm, 2/3 người lao động thiếu kỹ năng, 55% doanh nghiệp khó tìm được nguồn lao động chất lượng cao [1]. Nguyên nhân chủ yếu là do sinh viên chưa trang bị tốt các kỹ năng, ứng dụng thực tiễn chưa cao, chưa phát huy được hết khả năng của bản thân, không có sự sáng tạo và trao dồi trong học tập cũng như trong công việc
Nhận thức rõ về vấn đề trên, nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng to lớn, đòi hỏi chất lượng đào tạo phải theo kịp với sự phát triển của xã hội Do đó, việc không ngừng cải tiến, đánh giá nâng cao chất lượng dạy và học là yêu cầu tất yếu Đáp ứng những yêu cầu đó, trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ nói chung và khoa Quản lý Công nghiệp nói riêng đã có những thay đổi trong phương án giảng dạy Giáo dục thay đổi theo hướng tiếp cận, phát triển năng lực sinh viên, tạo điều kiện học tập, phát huy khả năng của bản thân không khuôn khổ, khô khan theo lý thuyết Nhằm hỗ trợ, đóng góp cho phương án dạy học của Khoa và nhà Trường đề tài nghiên cứu: “Xây dựng tình huống đánh giá năng lực sinh viên khoa Quản lý
Công nghiệp trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ” được thực hiện để
- Năng lực sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa đáp ứng hoàn toàn yêu cầu của thị trường lao động.
- Phương pháp đánh giá năng lực sinh viên của Khoa còn khái quát chưa cụ thể.
Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng tình huống đánh giá năng lực sinh viên khoa Quản lý công nghiệp trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ.
- Phân tích đánh giá thực trạng kết quả học tập, rèn luyện và thực trạng năng lực của sinh viên khoa Quản lý công nghiệp trường Đại học Kỹ thuật – Công nghệ Cần Thơ.
- Xây dựng tình huống đánh giá năng lực sinh viên.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tình huống đánh giá năng lực sinh viên của khoa Quản lý công nghiệp trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ và những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực.
- Khách thể nghiên cứu: năng lực sinh viên khoa Quản lý công nghiệp trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ.
Phạm vi và giới hạn
- Địa điểm thực hiện đề tài: Khoa Quản lý công nghiệp, trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ.
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 30/12/2020 đến ngày 30/05/2021.
- Không gian nghiên cứu: Do giới hạn về phạm vi, thời gian, chi phí nghiên cứu đề tài và năng lực thực tế của sinh viên nghiên cứu có hạn nên chỉ tập trung vào xây dựng tình huống đánh giá năng lực sinh viên khoa Quản lý công nghiệp trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ Ngoài việc đánh giá thông qua những gì đã xây dựng còn quay quanh việc đánh giá của giảng viên và doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu sau được sử dụng:
-Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tổng hợp và phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa các công trình nghiên cứu có liên quan đến phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực, đánh giá năng lực sinh viên
-Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: sử dụng các số liệu về tình trạng tốt nghiệp của sinh viên, năng lực đầu vào, kết quả học tập, kết quả rèn luyện và tỷ lệ sinh viên có việc làm trong 3 khóa 2014, 2015, 2016 Và một số số liệu về: trình độ lao động, khả năng đáp ứng nhu cầu năng lực, trong giai đoạn từ năm 2018 – 2020.
- Phương pháp mô hình hóa: Xây dựng tình huống giả định để qua đó đánh giá năng lực sinh viên khoa Quản lý công nghiệp, trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ
-Phương pháp case study: Sử dụng lý thuyết để nghiên cứu, phân tích và xây dựng tình huống. Ưu điểm:
+ Mang tính hấp dẫn, cập nhật, điển hình và đại diện
+ Dễ dàng tích hợp, hệ thống kiến thức
+ Giúp người đọc hiểu và ghi nhớ kiến thức
+ Mang tính thực tiễn cao
+ Nâng cao tính chủ động, sáng tạo, hứng thú cho người đọc
+ Phương pháp case stdy thường không xây dựng được quy trình rõ ràng như các phương pháp khác
+ Không mang tính khái quát cao vì chỉ đi sâu vào tình huống của một hoặc một vài đối tượng
+ Kết quả của nghiên cứu ở dạng dữ liệu định tính
+ Đòi hỏi tính tích cực, năng động, sáng tạo, khả năng tư duy độc lập
Cấu trúc và nội dung của luận văn tốt nghiệp
Đề tài nghiên cứu: “Xây dựng tình huống đánh giá năng lực sinh viên khoa
Quản lý Công nghiệp trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ” gồm 5 chương được trình bày cụ thể như sau:
Nội dung chương 1 bao gồm: đặt vấn đề để cho thấy tính cấp thiết cũng như mức độ quan trọng của đề tài Đồng thời cũng nêu rõ mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc đề tài để có cái nhìn tổng quan về vấn đề cũng như việc định hướng đề tài.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Cơ sở lý thuyết
Khái niệm năng lực được xuất hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau và thời điểm khác nhau, cho đến nay tồn tại nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về năng lực, sau đây là một vài khái niệm điển hình:
De Ketele (1995), cho rằng “Năng lực là một tập hợp trật tự các kĩ năng tác động lên một nội dung trong một loạt tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra” [21] Đến năm 2000 Roegier đã nhìn thấy tầm quan trọng to lớn của năng lực đối với bản thân của con người ông cho rằng: “Năng lực, đối với cá nhân là khả năng huy động một cách có ý thức một tập hợp tích hợp các nguồn để giải quyết một gia đình tình huống – vấn đề” [5].
Theo Weinert (2001), “Năng lực là khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của mỗi cá nhân nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể, cũng như khả năng vận dụng các cách xử lý tình huống một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong các môi trường khác nhau” [25] Đối với Scallon (2004), “Năng lực là một khả năng, một tiềm năng hoặc một đặc tính thường trực của một cá nhân Năng lực được phân biệt với khái niệm kết quả biểu hiện của năng lực Song đó, năng lực là khả năng của một người cần huy động, thậm chí cần sử dụng có ý thức những nguồn riêng của mình hay những nguồn đến từ bên ngoài”[24] Tuy nhiên, John Erpenbeck lại cho rằng “Năng lực được tri thức nền tảng, được hoạt động như khả năng, được quy ước bởi giá trị, được phát triển qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua chủ định” [19].
Từ các nhận định trên, ta có thể nhận thấy rằng: “Năng lực là khả năng của mỗi người, cũng chính vì thế nó không có một điểm chung nào giữa người với người Năng lực sẽ ảnh hưởng đến kết quả trong tương lai do cá nhân thực hiện.Hơn thế năng lực là điều kiện để thực hiện, phát triển và tồn tại trong chính cuộc
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Dựa vào cơ sở lý luận nói trên ta có thể rút ra được khái niệm của năng lực như sau:
2.1.1.2 Cấu trúc của năng lực
Theo Cục quản lý nhân sự (Office of Personnel Management), năng lực thường bao gồm 3 nhóm yếu tố: A-S-K tương đương với: Thái độ, kỹ năng, kiến thức, trong đó:
- Thái độ (Attitude): Là thuận ngữ mô tả cách nhìn nhận về công việc, nhiệm vụ, đồng nghiệp và cộng đồng Thái độ chi phối cách ứng xử, hành vi và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ nhân sự.
- Kỹ năng (Skill): Là thuật ngữ mô tả những khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc phát sinh trong thực tế.
- Kiến thức (Knowledge): Là thuật ngữ mô tả những thông tin, sự kiện, quy luật thuộc lĩnh vực được học và nghiên cứu từ trường lớp hoặc được tích lũy từ thực tế, từ các nguồn tư liệu hoặc từ các chuyên gia có kinh nghiệm.
Theo phân tích của TS Nguyễn Văn Tuấn trong chuyên đề bồi dưỡng sư phạm năm 2010 về phương pháp dạy học theo hướng tích hợp đã có đề cập đến phần nhận xét của các nhà sư phạm người Đức về cấu trúc của năng lực, thì cấu trúc chung của năng lực bao gồm 4 nội dung, cụ thể như sau:
Năng lực chuyên môn (Professinal competency)
Năng lực chuyên môn là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực “nội dung chuyên môn”, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp chuyên môn
Nhóm năng lực phương pháp (Methodical competency):
Năng lực phương pháp là khả năng đối với những hành động có kế hoạch,định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề Năng lực
Chương 2: Cơ sở lý thuyết phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức.
Nhóm năng lực xã hội (Social competency):
Năng lực xã hội là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác.
Nhóm năng lực cá thể (Induvidual competency):
Năng lực cá thể là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối cách ứng xử và hành vi
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD, năng lực được chia làm 2 nhóm chính là năng lực chung và năng lực chuyên môn
Năng lực chung bao gồm:
-Khả năng hoạt động một cách độc lập có hiệu quả.
-Khả năng kết hợp các công cụ giao tiếp và tri thức vào thực tiễn
-Khả năng thực hiện đạt hiệu quả trong các nhóm xã hội có điều kiện không đồng nhất
-Năng lực chuyên môn ở mỗi lĩnh vực sẽ khác nhau Vì vậy, đối với từng môn học cũng sẽ hình thành năng lực chuyên môn riêng Ví dụ năng lực bán hàng sẽ bao gồm các năng lực sau đây: Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng thuyết phục khách hàng; Xử lý tình huống.
Tóm lại, năng lực tồn tại rất nhiều dạng khác nhau Mục đích của việc chia nhỏ từng nhóm năng lực giúp quá trình phân tích, đánh giá được khách quan và dễ quản lý Trong giáo dục việc phân tích cấu trúc năng lực sẽ hỗ trợ cho người dạy có được phương pháp tiếp cận người học dễ dàng hơn, kích thích được tinh thần học tập và tăng khả năng sáng tạo Đối với mỗi cá nhân, việc tự đánh giá năng lực theo
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Theo Leen pil (2011), “Đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa” [10].
Lược khảo tài liệu
2.2.1 Những nghiên cứu nước ngoài
Theo nghiên cứu của Bloom (1956) đã chỉ ra rằng phương pháp tình huống có thể giúp cung cấp các kỹ năng nhận thức từ thấp đến cao, bao gồm các kỹ năng như: kiến thức, hiểu biết và áp dụng ngoài ra còn có các kỹ năng như phân tích, tổng hợp và đánh giá [18].
Tác giả Dalal A.Alqiawi & Sawsan M Ezzeldin (2015) đã xây dựng và ứng dụng mô hình đánh giá năng lực cần thiết cho giáo viên trong hệ thống IES (International English Schoool) của bộ giáo dục và đào tạo Ngoài ra, nghiên cứu tóm tắt được các năng lực cần thiết như: năng lực tự học, năng lực chuyên môn, năng lực cá nhân và liên hệ thực tiễn với các xu hướng trong sự phát triển của xã hội như sự tiến bộ và tiếp cận của công nghệ thông tin trong giáo dục dựa vào đó để tiến hành đổi mới và ứng dụng các phương pháp dạy và học [20].
William Osler (1921) đã áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống vào đào tạo y bác sĩ bằng việc sinh viên sẽ bắt đầu làm việc với bệnh nhân, học với bệnh nhân và hoàn thành khóa học với bệnh nhân Kết quả đạt được là chỉ sau hai năm
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Tác giả John Thomas (2003) đã đưa ra quy trình soạn thảo một tình huống gồm 4 bước: Xác định chủ đề, xác định mục tiêu giảng dạy, xây dựng nội dung tình huống, đưa ra nhiệm vụ cho người đọc Đồng thời cũng đưa ra một số lưu ý như: nên viết ngắn gọn, súc tích; dùng ngôn ngữ đơn nghĩa, rõ ràng, nên giải thích những thuật ngữ mới; tình huống phải giữ vai trò trung lập, không đưa ra nhận xét riêng ảnh hưởng đến người học; có thể sử dụng những trích dẫn hài hước [8].
2.2.2 Những nghiên cứu trong nước
Với nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa đã xây dựng một hệ thống các tình huống giáo dục và quy trình áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống trong giảng dạy môn Giáo dục học tại trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội Quy trình được thực hiện với 3 giai đoạn cơ bản: giai đoạn đầu tiên là giai đoạn chuẩn bị giai đoạn này được tiến hành bằng các công việc là giáo viên công bố yêu cầu, giáo viên hướng dẫn tìm hiểu trước nội dung và đưa ra tình huống mẫu sau đó phân nhóm và chuẩn bị theo nhóm; Ở giai đoạn thực hiện thì các nhóm luân phiên trình bày, thảo luận, nhận xét, đánh giá; Cuối cùng là giai đoạn tổng kết, đánh giá, người đóng vai trò chính và thực hiện là giáo viên [7].
Nghiên cứu của tác giả Trịnh Thế Anh (2013) đã xây dựng được phương trình hồi quy nhằm đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học của sinh viên Cho thấy rằng năng lực tự học đã chịu tác động của các yếu tố như: phương pháp giảng dạy, năng lực ngoại ngữ, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, hình thức kiểm tra đánh giá Trong đó năng lực tự học của sinh viên chịu ảnh hưởng mạnh nhất của nhân tố phương pháp giảng dạy của giảng viên [5].
Tác giả Trần Quốc Thao (2020) đã xây dựng khung đánh giá năng lực giảng dạy nhằm đảo bảo chất lượng đào tạo giảng viên theo chuẩn của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã đề ra Sử dụng mô hình ADDIE với ba bước (Analyze: phân tích;Design: thiết kế; Develop: phát triển) để xây dựng khung đánh năng lực giảng dạy tiếng Anh Thu thập, tổng hợp và phân tích dữ liệu với 93 sinh viên chuyên ngành phương pháp giảng dạy tiếng Anh tham gia trả lời bảng câu hỏi và ba chuyên gia tham gia thẩm định khung đánh giá năng lực giảng dạy tiếng Anh Tuy nhiên, khung
Chương 2: Cơ sở lý thuyết đánh giá năng lực lại chưa được đánh giá qua thực tiễn để xác định tính hiệu quả của khung này Song song đó, nội dung các tiêu chí của khung đánh giá năng lực giảng dạy tiếng Anh chưa được thiết kế tương thích với các tiêu chuẩn và tiêu chí của CDIO (Conceive – Design – Implement – Operate: Hình thành ý tưởng, thiết kế ý tưởng, thực hiện và vận hành) hay AUN-QA (Mạng lưới Đảm bảo chất lượng của hệ thống các trường đại học ASEAN: ASEAN University Network - Quality Assurance) [13].
Theo tác giả Dương Minh Thành (2015) việc xây dựng chuẩn đầu ra dựa trên các tiêu chí về phẩm chất và năng lực cần thiết dành cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học, Trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh Thành lập nhóm chuyên gia về giáo dục tiểu học đánh giá tác động của chuẩn đầu ra lên đối tượng sinh viên và giảng viên, thực hiện khảo sát trên 94 sinh viên năm 4 chuẩn bị ra trường và 57 giáo viên đang giảng dạy ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh Nhóm nghiên cứu đã lập được bảng các tiêu chí đánh giá về chuẩn đầu ra cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học [11]. Đối với nghiên cứu của Vi Hạnh Thi, Trần Thị Bích Hường, Nguyễn Minh Lan (2019) đã xây dựng được tình huống dạy học trong đó có sự ủy thác của giáo viên và nêu ra một số cách để ta phân loại tình huống như: dựa vào tính chất, nhiệm vụ, mức độ phức tạp Ngoài ra nghiên cứu còn đề ra các nguyên tắt xây dựng tình huống như: Đảm bảo tính chính xác, khoa học; Đảm bảo tính thực tiễn; Đảm bảo tính giáo dục; Đảm bảo tính sư phạm; Đảm bảo tính kích thích hứng thú, khả năng sáng tạo của người học; Đảm bảo tính liên môn trong môn học [14].
Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu
Những vấn đề đã được nghiên cứu:
Ngoài một số nghiên cứu đã kể ra ở trên thì còn có các giáo trình, sách báo mang tính toàn cầu hơn Thông qua những nghiên cứu đó, từ quy mô và lĩnh vực lớn nhỏ khách nhau nhưng nhìn chung về mục đích nghiên cứu của tác giả là góp phần hoàn thiện hệ thống giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục từ đó xây dựng
Chương 2: Cơ sở lý thuyết chương trình đánh giá năng lực hiện tại của sinh viên, giảng viên, Những vấn đề tác giả đã nghiên cứu bao gồm:
- Cơ sở lí luận về dạy học tình huống.
- Thiết kế tình hống theo hướng dạy học nêu vấn đề, tuy nhiên những tình huống được thiết kế chỉ có nội dung chủ yếu liên quan đến một môn học, một lĩnh vực cụ thể.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu: Đối với đề tài nghiên cứu“Xây dựng tình huống đánh giá năng lực sinh viên tại khoa Quản lý công nghiệp trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ” sẽ xây dựng chương trình đánh giá mở rộng ra quy mô bên ngoài trường học hướng đến nhu cầu của thị trường để hoàn thiện và theo kịp với sự phát triển của thị trường Dựa trên cơ sở lý thuyết và quá trình phát triển của thị trường, định hướng của Bộ Giáo Dục, cùng các cơ sở lý luận, phương pháp như: mô hình hóa, tham khảo việc sử dụng mô hình ADDIE, tập trung nghiên cứu xây dựng tình huống đánh giá năng lực sinh viên.
Chương 3: Phân tích thực trạng
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC SINH VIÊN
KHOA QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆPTRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT - CÔNG NGHỆ CẦN THƠ
Giới thiệu tổng quan về trường đại học kỹ thuật - công nghệ cần thơ
Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ là trường công lập, trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Cần Thơ, là tiền thân của Trung tâm Đại học Tại chức Cần Thơ Trường được thành lập vào năm 1981, là môi trường đào tạo chất lượng nguồn nhân lực tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Ngày 29 tháng 01 năm
2013, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 249/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ trên cơ sở nguồn nhân lực, cơ sở vật chất của Trung tâm Đại học Tại chức Cần Thơ, trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng Với hơn 40 năm hình thành và phát triển, Trường luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị do Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ giao phó, nâng cao dân trí, thực hiện xã hội hóa giáo dục, đóng góp đáng kể vào thành tích phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng
Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ mang sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực có đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn, có khả năng tiếp cận nghiên cứu khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, ứng dụng và tiếp cận với thực tiễn trong các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của thành phố CầnThơ và vùng Đồng Bằng sông Cửu Long Tầm nhìn hướng tới năm 2030, trở thành trường đại học theo định hướng ứng dụng liên ngành kỹ thuật công nghệ phù hợp với xu thế phát triển trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển bền vững, đào tạo có chất lượng theo hướng nghiên cứu, thực hành ngang tầm các trường đại học khối ngành kỹ thuật - công nghệ trong nước Cùng với Giá trị cốt lỗi:Chất lượng - Sáng tạo - Năng động - Phát triển bền vững và triết lý giáo dục: Đức trí - Kỹ năng - Sáng tạo - Hội nhập.
Chương 3: Phân tích thực trạng
Nhằm đảm bảo chất lượng giảng dạy và quản lý, Trường luôn có những quy định, tiêu chí lựa chọn tuyển dụng đội ngũ cán bộ, giảng viên có trình độ chuyên môn cao Và toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, người học của Trường có trách nhiệm quán triệt đầy đủ, chính xác nội dung của Sứ mạng, Tầm nhìn, Giá trị cốt lỗi và Triết lý giáo dục để thực hiện và giới thiệu với các tổ chức, cá nhân ngoài Trường, góp phần nâng cao vị thế của Trường Đại học Kỹ thuật -Công nghệ Cần Thơ Tính đến thời điểm hiện nay, Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ gồm có 7 khoa và 18 chuyên ngành Các khoa, phòng, ban, trung tâm, đoàn thể cùng nhau xây dựng và triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ, kế hoạch hoạt động của từng đơn vị phù hợp với định hướng phát triển của Trường Năm 2018, 2019 và 2020 Trường đã hoàn thành chương trình học và xét tốt nghiệp cho sinh viên khóa 2, khóa 3 và khóa 4 Trong đó, khoảng 81,63% sinh viên tốt nghiệp đã tìm được việc làm (theo số liệu từ phòng Quản lý sinh viên, Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ).
Giới thiệu tổng quan về khoa quản lý công nghiệp
Khoa Quản Lý Công Nghiệp được thành lập theo Quyết định số 66/QĐ- ĐHKTCN ngày 11 tháng 04 năm 2013 của Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ Năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt CTĐT ngành Kỹ thuật hệ thống công nghiệp, khóa đầu tiên của Khoa Quản lý công nghiệp với 65 sinh viên trúng tuyển Năm 2014, Khoa Quản lý công nghiệp tiếp tục được sự cho phép của Bộ giáo dục và Đào tạo mở thêm ngành Quản lý công nghiệp và tuyển sinh khóa đầu với 78 sinh viên Năm 2019, được sự cho phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo Khoa Quản lý công nghiệp mở thêm ngành Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng Tính đến thời điểm hiện tại Khoa Quản lý công nghiệp đã và đang đào tạo được 8 khóa học gồm 3 ngành QLCN; ngành KTHTCN; ngành Logistics vàQuản lý chuỗi cung ứng Kể từ tháng 3 năm 2020 Khoa đã kết thúc CTĐT và xét tốt nghiệp cho 300 sinh viên, trong đó có 143 sinh viên ngành KTHTCN và 157 sinh viên ngành QLCN.
Chương 3: Phân tích thực trạng
Suốt quá trình hoạt động, Khoa cũng thực hiện tổ chức cho sinh viên tham gia những hoạt động như văn nghệ, hội trại truyền thống, mùa hè xanh, giao lưu với sinh Thái Lan, Hàn Quốc, giúp sinh viên năng động, sáng tạo, hòa nhập cộng đồng. Bên cạnh học tập; nhiều sinh viên đạt được các danh hiệu như sinh viên 5 tốt cấp trường, cấp thành phố và cấp trung ương, danh hiệu sao tháng giêng,…Khoa cũng đạt được những thành tích như Đã hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học 2017-2018, Tập thể lao động xuất sắc năm 2017-2018,…
Nhằm đảm bảo chất lượng trong công tác đào tạo, nhà Trường luôn có những chính sách tuyển dụng giảng viên nghiêm ngặt và đạt trình độ chuyên môn cao. Hiện tại, Khoa QLCN đang có 17 cán bộ, giảng viên tham gia công tác gồm có 01 Phó giáo sư, Tiến sĩ; 04 Tiến sĩ; 09 Thạc sĩ và 03 Kỹ sư Trong đó có 15 giảng viên đang giảng dạy tại khoa, 01 giảng viên đang công tác và 01 hiệu trưởng.
Nhận thấy tầm quan trọng của công tác quản lý và đào tạo, Khoa luôn tuân thủ nghiêm những nhiệm vụ đã được đề ra như:
- Xây dựng và tổ chức CTĐT theo kế hoạch chung của nhà Trường.
- Luôn đổi mới chương trình giảng dạy cho phù hợp với nhu cầu của xã hội.
Tổ chức các kế hoạch để phát triển, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên Chuẩn hóa mô hình đào tạo và cơ sở vật chất, tăng cường đảm bảo chất lượng đào tạo đáp ứng hội nhập quốc tế.
- Tổ chức và quản lý các công tác như chất lượng đào tạo, phương pháp đào tạo và các hoạt động khác của Khoa.
- Xây dựng các chương trình khoa học và công nghệ, phát triển các dự án hợp tác quốc tế, tạo sự gắn kết với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, phối hợp với các tổ chức khoa học và công nghệ.
- Đánh giá cán bộ, giảng viên trong Khoa, tham gia đánh giá cán bộ quản lý cấp trên, cán bộ quản lý nâng cấp theo quy định của nhà Trường Quản lý giảng viên, viên chức, người học thuộc Khoa theo phân cấp của Hiệu trưởng.
- Có trách nhiệm quản lý, bảo quản toàn bộ trang thiết bị và cơ sở vật chất thuộc Khoa.
Chương 3: Phân tích thực trạng
- Thi hành chỉ thị khác do Hiệu trưởng giao phó.
3.3 THỰC TRẠNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC VÀ NĂNG LỰC SINH VIÊN KHOA QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
Trong hệ thống giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng, đánh giá không chỉ là sự phản hồi mà còn tác dộng đến chất lượng giáo dục Có thể nói, đánh giá là bộ phận hợp thành rất quan trọng, một khâu không thể tách rời của quá trình giáo dục và đào tạo Đánh giá có vai trò tích cực trong việc điều chỉnh giáo dục, là cơ sở cho việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Ngoài ra, việc đánh giá còn cung cấp những thông tin nhằm kịp thời chỉ đạo các hoạt động ở một đơn vị giáo dục, giúp cho việc điều chỉnh thường xuyên các hoạt động giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục
Bên cạnh đó, đánh giá thúc đẩy quá trình học tập của sinh viên, nâng cao trách nhiệm của học sinh trong học tập Đánh giá thông báo kịp thời giúp sinh viên nhìn nhận quá trình học tập và năng lực bản thân, có ý thức học tập, động viên, khích lệ, tốt hơn, chỉ cho họ thấy những nội dung nào chưa tốt, nội dung nào cần học thêm, học cải thiện, học lại, Đánh giá giúp sinh viên củng cố tri thức, phát triển trí tuệ, hình thành thói quen tự đánh giá, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý chí vươn lên trong học tập và rèn luyện Đánh giá còn tác động đến phương pháp dạy và học. Yêu cầu về nội dung kiểm tra đánh giá đòi hỏi giảng viên và sinh viên phải thay đổi cách học để thể hiện được kết quả học tập thật sự Do đó, đánh giá cần phải mang tính dự đoán, chi tiết, có tác dụng điều chỉnh, phát triển nâng cao Từ những vấn đề trên có thể thấy rằng cần có phương hướng, phương pháp đánh giá hợp lý và khách quan Hiện tại Khoa Quản lý công nghiệp đang áp dụng các hình thức đánh giá năng lực sinh viên như sau:
- Đánh giá năng lực chuyên môn.
- Đánh giá kỹ năng mềm.
Không có một phương pháp hay công cụ nào có thể đánh giá toàn diện năng
Chương 3: Phân tích thực trạng đánh giá chủ yếu như: đánh giá quá trình, đánh giá tổng kết và đánh giá cân bằng. Đối với việc đánh giá năng lực chuyên môn, Khoa Quản lý công nghiệp vận dụng hai phương pháp là đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết Cụ thể thì phương pháp đánh giá được phân chia theo tỷ lệ và trọng số như sau:
Bảng 3.1 Phương pháp đánh giá năng lực chuyên môn của sinh viên
Khoa Quản lý công nghiệp
STT Điểm thành phần Quy định Trọng số
1 Điểm bài tập trên lớp Bài tập nhóm hoặc bài tập cá nhân trên lớp (thay điểm danh)
2 Điển kiểm tra giữa kỳ Kiểm tra trắc nghiệm/tự luận hoặc báo cáo bài tập trước lớp
3 Điểm thi kết thúc học phần
Kiểm tra và thi kết thúc môn bằng các hình thức: báo cáo, tự luận, trắc nghiệm
Nguồn: Chương trình dạy học, Khoa Quản lý công nghiệp, Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ, 2019.
Kết quả của việc đánh giá năng lực chuyên môn với hai hình thức này được biểu hiện cụ thể thông qua kết quả học tập và phân bổ theo bảng 3.1 Trong đó, năng lực được so sánh, đối chiếu bởi các kiến thức, kỹ năng, thái độ thực tế ở người học với các kết quả mong đợi đã xác định trong mục tiêu dạy học Kết quả học tập được phản ánh thông qua kết quả kiểm tra định kì, các kỳ thi, công trình nghiên cứu và được thể hiện chủ yếu bằng điểm số theo thang điểm đã được quy định, bằng xếp loại, thể hiện bằng nhận xét, đánh giá phải dựa vào các bằng chứng được thu thập từ nhiều hoạt động khác nhau Việc đánh giá này đòi hỏi sinh viên phải sử dụng kiến thức thu được để thực hiện những bài kiểm tra, những nhiệm vụ cho từng học phần.Năng lực chuyên môn được đánh giá ở nhiều dạng khác nhau, tùy theo tính chất của từng chuyên ngành đào tạo và tính chất học phần [Phụ lục 6].
Chương 3: Phân tích thực trạng
Kết quả học tập toàn khóa của hai chuyên ngành QLCN và KTHTCN được đánh giá qua hai hình thức chính là đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết Hai hình thức này được thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, đối với đánh giá quá trình được thực hiện trong quá trình giảng dạy chiếm tỷ lệ 40% trong thang điểm đánh giá Việc đánh giá này thông qua các bài tập nhóm, bài báo cáo, bài kiểm tra cá nhân hay những câu hỏi, tình huống được đặt ra Ngoài ra một số trường hợp còn được đánh giá bằng việc điểm danh và chiếm 20%/tổng thang điểm đánh giá (Bảng 3.1) Tuy nhiên phương pháp này chỉ nhằm mục đích đánh giá về thái độ, mức độ tiếp thu bài học của sinh viên Xét theo thang điểm Bloom thì phương pháp đánh giá này chỉ nằm ở cấp độ thứ 1 là nhớ/biết (Remember) Ngoài ra, việc đánh giá này còn rèn luyện, đánh giá một số năng lực như: năng lực giao tiếp, năng lực tự học – tự nghiên cứu, năng lực tư duy, tuy nhiên đối với hình thức đánh giá này lại không được đồng nhất cho tất cả các sinh viên và không được phân biệt cho từng năng lực cụ thể Và phương thức này chỉ mang tính ngắn hạn, mục đích chủ yếu chỉ nhằm nâng cao hoạt động học tập, đánh giá mức độ hiểu và nắm bắt bài học của sinh viên.
Thứ hai, với phương thức đánh giá tổng kết được thể hiện thông qua các bài kiểm tra Phương thức đánh giá này mang tính định kì và được thực hiện ở một thời điểm cụ thể Bao gồm bài kiểm tra giữa kỳ chiếm 20%/tổng thang điểm đánh giá và bài kiểm tra kết thúc học phần chiếm 60%/tổng thang điểm đánh giá (Bảng 3.1). Việc đánh giá định kỳ mang tính tổng hợp, bao quát nhằm cung cấp thông tin về mức độ tiếp thu và ứng dụng giải quyết bài toán theo lý thuyết của sinh viên ở mặt kiến thức Hạn chế của việc đánh giá này chỉ đánh giá được duy nhất về năng lực chuyên môn, ngoài ra vừa mang tính định kỳ, vừa mang tính kết hợp nên việc đánh giá này chỉ mang tính tương chất đối vì một số vấn đề như học vẹt, học tủ còn phổ biến Xét theo thang điểm Boolm thì phương pháp đánh giá này chỉ dừng lại ở cấp độ thứ 2 là cấp độ Hiểu (Understand). Để hiểu rõ những vấn đề và bất cập trong việc đánh giá năng lực sinh viên, đề
Chương 3: Phân tích thực trạng công nghiệp thông qua kết quả học tập toàn khóa của hai chuyên ngành QLCN và KTHTCN như sau:
Biểu đồ 3.1 Thể hiện kết quả học tập toàn khóa của lớp QLCN0114
(Nguồn tự tổng hợp) Đối với kết quả học tập toàn khóa (Biểu đồ 3.1), cho thấy rằng tỉ lệ sinh viên đạt thành tích học tập xuất sắc và giỏi tăng dần qua các năm Đặt biệt vào năm cuối thì có đến 9.21% sinh viên có thành tích xuất sắc, 40.51% sinh viên đạt thành tích giỏi và hơn 78% sinh viên đạt thành tích học tập từ khá trở lên Tuy nhiên tỷ lệ sinh viên xếp loại học tập kém không được cải thiện mà còn có xu hướng tăng dần qua các năm, cụ thể năm thứ nhất có 8.98% đến năm thứ 2, 3, 4 chiếm hơn 17% Ngoài ra ở năm thứ 1 và năm thứ 2 vẫn không có sinh viên nào có thành tích học tập xuất sắc.Đều này cho thấy kết quả học tập của sinh viên chưa được cải thiện và phát triển đúng cách Nguyên nhân có thể là do đây là khóa đầu tiên của chuyên ngành QLCN cho nên định hướng CTĐT còn chưa hoàn thiện, giảng viên chưa có phương hướng đúng đắn cho sinh viên, sinh viên chưa thích nghi với cách học tập mới,…
Chương 3: Phân tích thực trạng
Biểu đồ 3.2 Thể hiện kết quả học tập toàn khóa của lớp QLCN0115
(Nguồn tự tổng hợp) Đối với sinh viên khóa 2015 có thể thấy rằng thành tích học được cải thiện hơn khóa 2014, cụ thể ở năm cuối tỷ lệ sinh viên xếp loại học tập khá trở lên chiếm hơn 85% (Biểu đồ 3.2) Nguyên nhân có thể do CTĐT được cải thiện hơn so với khóa