1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển theo bộ luật hàng hải việt nam năm 2015

5 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 561,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VE TRÁCH NHIỆM• HÀ VIỆT HƯNG TÓM TẮT: Bài viết phân tích những bất cập của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của người vận chuyểntrong hợp đồngvận chuyển hànghóa quố

Trang 1

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VE TRÁCH NHIỆM

• HÀ VIỆT HƯNG

TÓM TẮT:

Bài viết phân tích những bất cập của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của người vận chuyểntrong hợp đồngvận chuyển hànghóa quốc tế bằng đường biển (VCHHQTBĐB), từ đó

đưa ra một sốkiếnnghị sửađổi,bổ sung nhằm hoànthiệnqui địnhcủa BộluậtHàng hải Việt

Nam năm 2015 liên quan đếntráchnhiệmcủa ngườiVCHHQTBĐBchophù hợp vớicácchuẩn mực quốc tế, nhằmbảo vệ các quyềnvà lợiích chínhđáng cho cácbêntrongcác giaodịch hợp đồng VCHHQTBĐB,thúcđẩyquanhệ hợp tác thương mạihànghảicủa Việt Namvớicác quốc

gia trên thế giới

Từ khóa: vận chuyển hàng hóa quốc tế bằngđường biển, hợp đồng quốc tế, trách nhiệm người vậnchuyển, Bộ luậtHàng hải Việt Nam

1 Đặt vấn đề

VCHHQTBĐB đóng vai trò quan trọng trong

việc phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam Trong

thực tế, Bộ luật Hàng hải Việt Nam đã được ban

hành năm 2015, tuy nhiên pháp luật Việt Nam

trongđiềuchỉnhhoạt độngvận tải hàng hóa quôc tế

bằngđường biển vẫn tồn tại nhữngbấtcập, còncó

những quiđịnh chưa rõ ràng,thống nhất, chưa phù

hợpvớitình hình thực tiễn cũng nhưchưaphù hợp

vớicác công ước quôc tếvề vận tải biển Hiện nay,

khi ViệtNam đã trở thành thànhviêncủa Tổ chức

Thương mại thếgiới, yêu cầu đặt ra đối với Việt

Nam là cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn

thiện các qui định của pháp luật Việt Nam điều

chỉnh hoạt động dịch vụ VCHHQTBĐB cho phù

hỢp hơn với các yêucầuthực tiễn củaViệt Nam và

thực tiễnthươngmại hàng hảiquốc tế

2 Nội dung phân tích

2.1 Quan niệm chung về hợp đồng vận chuyển

hàng hóa quốc tế bằng đường biển

Hợp đồng VCHHQTBĐB là một loại hợp đồng dân sựcó tính chất quốc tế Trong thực tiễn, cách

tiếpcậncủa luật pháp quốc têvề xác định tínhchât quốc tế của một hợp đồng thường được thể hiện

thông quadấuhiệu các chủ thể liên quan có quốc tịchhaytrụ sởthươngmại ở cácnướckhácnhau Theo các quan điểm phổ biến hiện nay, hợp đồng được coilà có tínhchấtquốctế khi cócác dấu

Số6-Tháng 4/2022 13

Trang 2

hiệu sau: có liên quan đến 2 hay nhiều quốc gia,

hàng hóa có sự dịch chuyển qua biên giới Pháp

luật Việt Nam hiệnnay chưa có qui định cụ thể về

hợp đồngcótính chất quốc tế, vì vậy có thể lý giải

tính chất quốc tế trong hợp đồng VCHHQTBĐB

theo quan điểm của Tư pháp quốc tế Tính chất

quốc của hợpđồng liên quan đếncác dấu hiệuchủ

thể,khách thể và sựkiệnpháp lýqui định tạiĐiều

663 Bộ luậtDân sự Việt Nam 2015, theođó yếu tố

quốc tế của hợp đồng VCHHQTBĐB thể hiện ở

cácdấu hiệu sau:

Thứ nhất, có ít nhất một bên chủ thể ký kết

hợp đồng có quốc tịch nướcngoài hay có trụ sở

nướcngoài

Thứ hai, hợp đồng được ký kết hoặcthực hiện ở

nước ngoài;

Thứ ba, đối tượng của hợp đồng là hàng hóa tồn

tại ở nước ngoài;

Ngoài ra, do tính chát đặc thù của hợp đồng,

VCHHQTBĐB có đối tượng hợp đồng là hànghóa

được vận chuyểntừcác cảng biển của quốc giahay

vùng lãnh thổ nàytới các cảng biển của quốc gia

hay vùng lãnh thổ khác Các công ước quốc tế về

vận tải biển cũng qui định hợp đồng vận chuyển

hàng hóa bằng đường biểntừ cảng biển của quốc

gia này đến cảng của một quốc gia khác Chẳng

hạn như theo quiđịnh tại Điều5 Quy tắc Rotterdam

2009, Công ước áp dụng cho hợp đồng chuyên chở

hànghóa mà nơi nhận hàng vànơi giao hàng nằm ở

nhữngnước khác nhau, cảng nhận hàng và cảng dỡ

hàngcũngnằm ởnhững nước khác nhau

Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, Điều

145, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường

biển được định nghĩa như sau: “Hợp đồng vận

chuyển hàng hóa bằng đường biển là thỏa thuận

đượcgiao kết giữa người vận chuyển và ngườithuê

vậnchuyển, theo đóngười vận chuyểnthugiádịch

vụ vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và

dùng tàu biển để vận chuyển hàng hóa từ cảng

nhận hàng đến cảng trả hàng” Từ quy định này,

hoạt độngvận chuyển hàng hóabằngđường biển

của ViệtNamđượchiểu mang tính dịch vụ, là hoạt

động doanh nghiệp khai thác tàubiểncủa mình để

vận chuyển hàng hóa từ cảng nhận hàng đến cảng

trả hàng và thu giá dịch vụ vận chuyển do người

thuê vận chuyển trả Người chuyên chở chính là

người cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa bằng

đường biển

Như vậy, hợp đồng VCHHQTBĐB đượchiểu là

sự thỏa thuận giữa bên vận chuyển hàng hóa và

bên thuê vận chuyểnhàng hóa Theo đó, bên vận

chuyển thu phí dịch vụ vận chuyểndo người thuê vận chuyển trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng hóa từ cảngnhậnhàngđếncảng trả hàng nằm

ở những quốc gia hay vùng lãnhthổ khác nhau Trong thực tế, pháp luật Việt Nam điều chỉnh

hoạt động dịch vụ vận chuyển hàng hóa bằng

đườngbiển vẫn còn tồn tạinhiều bất cập Mặcdù pháp luật Việt Nam đã xây dựng các quy địnhpháp

lý về hợp đồngvận chuyển hànghóa bằng đường biển trên cơ sở thể chế hóa Công ước Brussels 1924

và Công ước Hamburg 1978 trong Bộ luậtHànghải

ViệtNam năm 2015 Tuy nhiên, các qui định liên quan đến hợp đồng VCHHQTBĐB trong Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015vẫn còn tồn tại một sốbât

cập Nhiều nội dung của Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 về trách nhiệm của người vận chuyển

trong hợp đồng VCHHQTBĐB cần tiếp tục được

nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung hoặc cụ thểhóa để

đảm bảo tính khả thi

2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 về trách nhiệm của người vận

chuyển trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc

tế bằng đường biển

Trongthờigiantới, Việt Nam cần bổsung, hoàn thiện một sốnội dung trong Bộ Luật Hàng hảiViệt Nam năm 2015 về trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng VCHHQTBĐB và đẩy mạnh việc ký kết các điều ước quốc tế, cũng như các hiệp địnhsongphươngđiều chỉnh trực tiếp hoạt

động VCHHQTBĐB.Các quy định, hướng dẫn của

Chínhphủ về việc thựchiện hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển còn hạn chế, vì vậy, Chínhphủ cần banhành thêm các văn bản ở mức Nghị định hướng dẫn làmkhung pháp lý cho việc thực hiệncáchoạt động vận chuyển hàng hóa bằng

đường biển Bên cạnh đó, theo tác giả cần hoàn

thiện một số quy định về tráchnhiệm của người vận

chuyển trong Bộ luật HànghảiViệtNam 2015,cụ

thể nhưsau:

14 SỐ6-Tháng 4/2022

Trang 3

Thứ nhất, theo Điều 150,Bộ luật Hàng hảiViệt

Nam 2015 quiđịnh: “Ngườivận chuyểnphải mẫn

cán để trước và khi bắt đầu chuyến đi, tàubiểncó

đủkhảnăng đi biển, có thuyềnbộ thích hợp, được

cung ứng đầy đủ trangthiết bị và vật phẩm dự trữ;

cáchầm hàng,hầm lạnh và khu vực khácdùng để

vận chuyển hànghóa cóđủcácđiềukiện nhận, vận

chuyển và bảoquảnhàng hóa phù hợpvớitínhchất

của hànghóa”

Như vậy, nghĩa vụ cungcâpmột con tàu đủ khả

năng đi biển của người chuyên chở chỉ cần thực

hiện lúc "trước" và "bắtđầu" mỗi chuyếnđi Trong

suốt hành trình đường biển, người chuyên chở

không phải chịu tráchnhiệm về khả năng đi biển

củacontàu, nhưng đây mới làkhoảng thời gian tàu

và hàng gặp nhiều rủi ro nhất, khả năngxảy ra tổn

thấtvới hàng hóa là lớn nhất.Đây là điều khoản

quan trọng và nếu con tầu không được đảm bảo

khả năng đi biển, sẽ dẫn đến thiệt hạirất lớncho

các bên, đặc biệt là chủ hàng Nếu người vận

chuyển việncớrằng, khixuấtphát tàu đảmbảo đủ

khả năng đi biểnnhưng dọc đường lại bị hỏng hóc,

thì quyền lợi của chủ hàng khôngđược đảm bảo

Việc chứng minh rằng người vận chuyển đã không

có nghĩa vụ cần mẫn hợp lý là hếtsức khó khăn

Do đó, nên qui định rằng chủ tàu luôn phải đảm

bảo khả năng đi biển không chỉ trước khi bắtđầu

chặng hành trình mà trong cả quãng đường vận

chuyển Theo Điều 14 của Công ước Rotterdam

2009 qui định “người chuyên chở cam kết trước,

vào lúc bắtđầu và trong suốt hành trình đi biển,

thực hiệncần mẫn hợplý” Việc quy định về tiêu

chían toàn này vữanâng cao đượctráchnhiệmcủa

ngườivận chuyển với chủ tàu,vừa giảm thiểuđược

những thiệt hại không đáng có cho cả hai bên, lại

đảm bảo sự tin tưởng của chủ hàng với doanh

nghiệpvậnchuyển

Thứ hai, Điều 151, Bộ luật Hàng hải Việt Nam

2015 quy định, người chuyên chở được miễn trách

nhiệm do “lỗi của thuyền trưởng, thuyền viên, hoa

tiềuhàng hải hoặc người làm công của người vận

chuyển trong việc điều khiển hoặc quản trị tàu”

Đâylà trườnghợpmiễn trách nhiệm nghiêng nhiều

về,bảo vệ quyền lợi của ngườichuyên chở,không

đảm bảo sự bình đẳng giữa cácbên trong hợp đồng

vận chuyển Trong thựctế, Qui tắc Rotterdam 2009 qui định về các trường hợp miễn trách nhiệm tại điều 17 khôngcó trườnghợp miễn trách nhiệm trên đây Hơn nữa, hiện nay phương tiện liên lạc rất

hiệnđại, người chuyên chở hoàn toàn có khả năng

kiểmsoáttừng bước đi và hành động củacon người

trên tàu Do đó, trường hợp miễntrách nhiệm này hết sức vô lý và cần được loại bỏ

Thứ ba, về giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở quyđịnh tại Điều 152, Bộ luậtHàng hải ViệtNam 2015:“Trong trườnghợptính chất, giátrị của hàng hóa không được ngườigiao hàng khai báo trướckhi bốc hàng hoặc không được ghi rõ trong

vận đơn, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khácthì ngườivận chuyển chỉcó nghĩa

vụ bồi thường mất mát, hư hỏnghànghóa hoặc tổn

thất khác liên quanđếnhànghóa trong giới hạntối

đa tương đươngvới 666,67 đơn vịtínhtoánchomỗi

kiện hoặc cho mỗi đơn vị hàng hóa hoặc 02 đơnvị

tính toán cho mỗi kilôgam trọng lượng cảbì của số

hàng hóa bị mất mát, hưhỏng tùy theo giá trị nào cao hơn” Mức qui định nhưvậy là quá tháp sovới Điều 59 Công ước Rotterdam2009 quy định mức giới hạn bồi thường lên tới 875 SDR cho một kiện

hoặc mộtđơn vị hàng hóa hoặc 3 SDR cho mỗi kg

hàng hóa cả bì, tùy theocách tính nào cao hơn, trừ

khi giá trị hàng hóa đã được kê khai hoặc người chuyên chởvà người gửi hàng thỏathuận một mức giớihạn trách nhiệm cao hơn Mức trách nhiệm này được xem là hợp lý nhằm bảo vệ lợi ích của chủ hàng, đặc biệttronggiaiđoạnhiện nay, một phần

do tiền tệ của các nước bị mấtgiá, phần khác là hàng hóa trongcácgiao dịch muabánhiện nay đều

là thành phẩm có giá trị cao hơn so với trướcđây

Do vậy,pháp luật Việt Nam nên qui địnhtăng mức

giớihạn trách nhiệm của người vận chuyển

Thứ tư, thời hạn tráchnhiệm "từ cảng đến cảng"

khôngphù hợp vớivận tảiđa phương thức đang rất

phổ biến trên thế giới hiện nay Với cáchquy định thờihạn trách nhiệm "từ cảng đến cảng", theo Điều

170, Bộ luật Hàng hải 2015 đã phần nào hạnchế

các doanhnghiệp kinh doanhvậntải biển mở rộng

dịch vụ của mình sang dịch vụ vận chuyển đa phương thức, từ đó làm giảm khả năng cạnh tranh

của doanh nghiệp vận tải biển trong nước với các

SỐ 6-Tháng 4/2022 15

Trang 4

doanh nghiệp nưóc ngoài.Vì vậy,Bộ luậtHàng hải

Việt Nam cần quy địnhrằngngườichuyênchởphải

chịu trách nhiệm những tổn thất xảy ra với hàng

hóa kể từ khingười chuyênchở hoặc người chuyên

chở thực tế nhận hàng ở nơi đi cho đến khi giao

hàng ở nơi đến Nói cách khác, trách nhiệm của

người vận chuyển là từ khinhậnđến khi giao, điều

này hoàn toàn phùhợpvới vậntải đa phương thức

Thứ năm, úy ban Hàng hải quốc tếđã đưa ra

những dự liệu về việc phát triển vận đơn điện tử

trongtương lai, do vậy từ năm 1990đã tồntại Các

quy tắc của úy ban Hàng hải quốc tếvề vận đơn

điện tử Hình thức này đã được quy địnhtrong Công

ướcRotterdam2009và sẽphổ biến trong tương lai

khi các quan hệ thương mại hàng hải quốc tế phát

triển để làm bằng chứng cho việc nhận hàng của

người chuyên chở và cho hợp đồng hay nội dung

của hợp đồng vận tải Vậy nên Bộ luật Hàng hải

Việt Nam cầnđưa ra mộtsô' quy phạm dự liệu điều

chỉnh về vấn đềnày theo hướng: Chứng từ vận tải

điện tử là thông tin trong 1 hoặc nhiều lần bằng

điện tử theo một hợp đồng vận tải bởi một người

chuyênchở, bao gồm cácthôngtin có liên quan đến

chứng từvận tải điện tử bằng cách đính kèm hay

kết nốivới các chứng từ vận tải điện tửđồng thời

hoặc gửi sau chứng từ vận tải điện tửđược người

chuyên chở phát hành, để làm thành một bộ phận

củachứngtừ vận tải điệntử

Thứ sáu,cần đẩymạnhviệc kýkết các điều ước

quốctế cũng như các Hiệp định song phương trong

vấn đề vận chuyển hàng hóa bàng đường biển

Việc ký kết,gia nhập và tổ chứcthựchiệncáccông

ước quốc tếvề vận chuyển hàng hóa bằng đường

biển cũngnhư vận dụng một cách phùhợpcác tập

quán, thông lệ hàng hải quốc tế góp phần quan

trọng trong việc hoàn thiện pháp luật hàng hải của

Việt Nam Thựctế hiệnnay, Công ước Rotterdam

2009 cónhiều ưu điểm hơn cả so với các côngước trướcđây Nhìn chung, Côngước Rotterdam2009

đã có sự cân bằng đáng kể giữa quyền lợi vàtrách

nhiệm của người chuyên chở và chủ hàng so với

Công ước Brussels 1924 và công ước Hamburg

1978.Do đó, Việt Nam xúc tiến gianhập Công ước Rotterdam2009 là một điềucầnthiết, vì đây làmột Côngước tiên tiến, hiệnđại, theokịp với sự phát

triển của khoa học công nghệ trên thếgiới, đảm

bảo côngbằng giữa chủ hàng và người chuyên chở

3 Kết luận

Hợpđồng VCHHQTBĐB là loại hợp đồng phổ biến trongthương mại và hàng hải quốc tế, nhưng cũng là hợp đồng phức tạp, liên quan đến nhiều

khía cạnh khác nhau của quan hệ thương mại và

hàng hải quốc tế Mục tiêu hoàn thiện hệ thông

pháp luật về hợp đồngVCHHQTBĐB là sựnỗ lực

của cộng đồng quốc tế, nhằm tạo thuận lợi và khuyến khích thúc đẩy các quan hệ thương mại hàng hải quốc tế

Trong giai đoạnhiện nay,khi Việt Nam đã trở

thành thành viêncủa Tổ chức Thương mại thế giới, yêu cầu đặtra đối với Việt Nam làcần phải tiếp tục

sửa đổi bổ sung hoàn thiện các qui định của pháp

luật Việt Nam liênquan đến tráchnhiệmcủa người

vận chuyển trong hợp đồngVCHHQTBĐBcho phù

hợp hơn với cácyêucầuthực tiễn của Việt Nam và

thực tiễn thương mại hàng hải quốc tế Qua việc

phân tích những bất cậpcủaphápluật ViệtNam về trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng

VCHHQTBĐB, tác giả đã đề xuất Bộ luật Hàng hải Việt Nam cần tiếp tục hoànthiện, phù hợp với các chuẩnmực quốc tế, nhằm bảo vệ cácquyềnvà lợi íchchínhđáng chocác bên trong các giao dịch hợp đồng VCHHQTBĐB, thúc đẩy quan hệ hợp tác thương mại hàng hảicủaViệt Namvớicác quốc gia trên thế giới ■

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Hoàng Thê Liên Chủ biên (2006), Hội nhập kinh tê' quốc tế (Tài liệu bồi dưởng ngành Tư pháp), Nhà xuất bản Tư

pháp, Hà Nội

2 United Nation (2009) United Nations Convention on Contracts for the International Carriage of Goods Wholly

or Partly by Sea (the Rotterdam Rules). New York, United States: United Nations

16 So 6 -Tháng 4/2022

Trang 5

3 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam 2015, Bộ luật Hàng hải Việt Nam.

4 The International Brussels Convention 1924 as amended by the Protocol signed at Brussels on February 23rd, (1968) - The Hague - Visby Rules

5 United Nations (1978) United Nations Convention on the Carriage of Goods by Sea (1978) (Hamburg Rules)

New York, United States: United Nations

6 Hoàng Văn Châu (2015), Công ước quốc tê' về vận tải hàng hóa bằng đường biển và vấn đề gia nhập của Việt

Nam, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội

Ngày nhận bài: 7/2/2022

Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 17/2/2022

Ngày chấp nhận đăng bài: 27/2/2022

Thông tin tác giả:

TS HÀ VIỆT HƯNG

Khoa Pháp luật quốc tế

Đại học Luật Hà Nội

IMPROVING THE MARITIME CODE

OF VIETNAM 2015’S PROVISIONS OF THE LIABILITY

OF THE CARRIER IN THE CONTRACT OF INTERNATIONAL

CARRIAGE OF GOODS BY SEA

• Ph D HA VIET HUNG

Faculty of International Law Hanoi Law University

ABSTRACT:

This paper analyzes the inadequaciesof Vietnamese law on the liabilityofthe carrier inthe contract of international caưiage of goods by sea The paper also proposes some

recommendations to improve the effectiveness of the Maritime Code of Vietnam 2015’s

provisions ofthe liability of the carrier inthecontract ofinternational carriage ofgoods bysea in

accordance with international standards in order to protectthe legitimate rights and interests of

the parties in the contract, and promote Vietnam’s maritime trade cooperation with countries around theworld

Keywords: international carriage of goods by sea, international contract, carrier liability, Maritime Code of Vietnam

So 6- Tháng 4/2022 17

Ngày đăng: 28/10/2022, 19:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w