Đặc biệt, việc cấp phátvà sử dụng VĐĐB trong hợp đồng VCHHBĐBQT rất quan trọng, bởi nó làbằng chứng xácnhậnquanhệ pháp lý giữa người chuyên chở NCC và người gửi hàng, quy định rõ trách n
Trang 1CÁC ĐẶC TRƯNG Cơ BẢN
• HÀ VIỆT HƯNG
TÓM TẮT:
Trongvận chuyển hàng hóa bằng đườngbiển(VCHHBĐB)quốctế, vận đơn (VĐ) là mộtloại chứng từ hếtsức quan trọng Pháp luật Việt Nam, phápluật và thông lệquốctếđều công nhận VĐ
là chứng từ thể hiện quyền sởhữu hànghóa Trongthương mại và hàng hảiquốc tế, vận đơn đường biển (VĐĐB) không chỉ dùng tronggiao nhận và vận chuyển hànghóa màđược dùng để điềuchỉnh nhiều mối quan hệ, ởcác lĩnhvực khác nhau Vì vậy, nắm bắtvà vận dụng tốt các quy tắcpháp lý về VĐĐB sẽ giúp tránh những tranh chấp có thểphát sinh, bảo vệ được quyền lợi của cácbêntrongcác quan hệthương mại,hànghải quốc tế
Từ khóa: vận đơn đườngbiển, vận chuyểnhànghóa, đường biển quốctế
1 Đặt vấn đề
Việt Nam đang trong quá trìnhphát triển và hội
nhập với nền kinh tế thế giới Trong đó, ngành
Vận tâi đường biểnlàmột trong nhữngngànhkinh
tế mũi nhọn được đặc biệt chú trọng vàphát triển
cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Quan hệ thương
mạihàng hải nói chung, cũngnhư quan hệ vận tải
biển của Việt Nam với thế giới nói riêng cũng
được mở rộng, khôi lượng hànghóa buôn bán quốc
tế tăng lên nhanh chóng và phần lớn khối lượng
hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam được
chuyênchở bằng đường biển quốc tế (ĐBQT) Với
các thủ tụcpháplý liênquan đếnviệc thuê tàu gửi
hàng xuất khẩu, nhận hàng với người nhập khẩu,
nên việc sử dụng các chứng từ vận tải có một ý
nghĩa rấtlớn Đặc biệt, việc cấp phátvà sử dụng
VĐĐB trong hợp đồng VCHHBĐBQT rất quan
trọng, bởi nó làbằng chứng xácnhậnquanhệ pháp
lý giữa người chuyên chở (NCC) và người gửi hàng, quy định rõ trách nhiệm của người chuyên chở đôivớihànghóa.Bàiviếtnày đi sâu phân tích các đặc trưng cơ bản của VĐĐB, nhằm giúp các bênnhậnthức rõvàtránh được các tranh chấp phát sinh từ quan hệ này
2 Nội dung phân tích
2.1 Các tính chất pháp lý cơ bản của vận đơn
đường biển trong vận chuyển hàng hóa bằng đường biển
VĐĐB có thểhiểu là chứng từ chuyênchở hàng hóa bằng đường biển,do người có thẩm quyền ký phát cho ngườigửihàng sau khihànghóa đã được bốc lêntàu hoặc được nhận đểchở
VĐĐB sớm nhát trênthế giới được ghi nhận đã được phát hành từ thếkỷ XIII có nộidung như sau:
Trang 2“Ngày 24 tháng 4 năm 1248, chúng tôi gồm:
Eustace Cazal và Peter Amiel, người chuyên chở
(chủ tàu), cộng nhận Yiệc chuyên chở giữa chúng
tôi với Falcon và John Confortance củahãng Acre
vềviệc xếp 12 chuyên tàu chở gỗ có nguồn gốctừ
Brazil, 9 thùnghạt tiêu và 17,5 tấn gừng với mục
đích đưa những hàng hóa trên từ cảngToulouse đến
hội chợ Provence sẽ được tổ chức trong tháng
5/1248, với mức phí là 04 pound và 15 đồng tiền
Viêncho mỗi chuyến tải trên, ”
Văn bản trên đã thểhiện những đặcđiểm cơ bản
của VĐ như bằng chứng của việc chuyên chở
(nghĩa là sự thừanhận đã nhận hàng để chở giữa
người chuyên chở (NCC) là EustaceCazal và Peter
Amiel với Falcon và John Confortance của hãng
Acre về việc xếp 12 chuyến tàu chở gỗ), là bằng
chứng của hợpđồng chuyên chở với việc mô tả cụ
thể các điều kiện và điều khoản nhưtên hàng,loại
hàng, tuyến đường chuyên chở,phí vận tải,
VĐĐB có thể sử dụng trong nhiều trường hợp
khác nhau:
- Làm căn cứ khai hải quan, làm thủ tục xuất
nhậpkhẩuhànghóa;
- Làm tài liệu về hànghóa kèm theo trong bộ
chứng từthương mại người bán gửi cho người mua
hoặc ngân hàngđể nhận tiền thanhtoán;
- Làm chứng từ để muabán, cầm cố và chuyển
nhượng hànghóa;
- Làm căn cứ xác định số lượng hàngđã được
người bán gửi cho người mua, dựa vào đó người ta
ghi Sổ, thông kê, theo dõi việcthựchiệnhợpđồng
VĐĐB được điều chỉnhbởicác công ước quốc tế
vàtheo pháp luật hànghải của các nước.Hiện nay,
có 2 Công ước quốc tế chínhliênquan đến VĐĐB
là Công ướcquốc tếvề thống nhấtmột số quy tắc
phápluật vềVĐĐBnăm 1924 (Công ướcBrussels)
và Công ước của Liên Hợp quốc về VCHHBĐB
năm 1978 (Công ước Hamburg) Công ước Brussels
đã được sửa đổi bằngNghị định thư năm 1968 và từ
đóđược mang tên Quy tắc Hague Visby.Ngoài ra,
một văn kiệnquốc tếquantrọngkháccũng cần kể
đến là Công ướcquốctê về vận chuyểnhànghóa
một phần hoặc toànbộ bằng đường biển đã được thông qua tạiRotterdam năm 2009
Công ước quốc tế để thống nhất mộtsố quy tắc
về VĐĐB, ký tại Brussels 1924 ngày 25/8/1924 (Công ước Brusselsnăm 1924) không có quy định pháp lý khái niệm về VĐĐB, nhưng ghi nhận VĐĐB dưới hình thức của hợp đồng vận tải theo điểm b Điều 1: “Hợp đồng vận tải chỉ áp dụng cho nhữnghợpđồng vận tải được thể hiện bằng một VĐ hoặc chứng từ tương tựtrong chừng mực chứng từ
đó liên quanđếnCCHHBĐB”
Công ước của Liên hợp quốc về CCHHBĐB (Công ước Hamburg năm 1978) lần đầu tiên nêu định nghĩavề VĐ đường biển tại khoản7 Điều 1:
“VĐĐB là một chứngtừ làm bằng chứng cho một hợpđồng vận tải đường biểnvà cho việc NVC đã nhận hàng để chở hoặc xếp hàng xuống tàu và bằng VĐ này NVC cam kết sẽ giao hàng khi VĐ đượcxuất trình”
VĐĐB còn được điều chỉnh theo các quy định của pháp luật quốc gia Ớ Việt Nam, VĐĐB được quy địnhtrongBộluật Hàng hảinăm 2015
VĐĐB có thểchia thành nhiều loại:
Căn cứ vào phương thức vận chuyển(đa phương thức hay đơn phương thức) có thể đề cậptới VĐ vận tảiđa phương thức (vận tải liên hợp) Đây là vận đơnđược sử dụngtrong trườnghợphànghóa được vậnchuyểntừ nơi điđến nơiđến bằng 2 hay nhiều loạiphương tiện vận tải khác nhau
Loại VĐ tiếp theo là VĐ vận tải đơn phương thức đường biển(từ cảng đếncảng) Đây làloạiVĐ phổbiến nhất, chiếm đại đa số khôi lượng hàng hóa vận chuyển là VĐ dùng để chở hàng bằng đường biển từ cảng biểnđếncảngbiển
- Căn cứ vàotínhđộc lập của VĐ,có thể đề cập tớicácloại sau:
+ VĐ theo hợp đồng thuê tàu chuyến Đây là
VĐ được ký phát trongtrường hợp hàng hóa được vận chuyển theo 1 hợp đồng thuê tàu chuyến và trên đó có ghi câu: (sử dụng với hợpđồng thuê tàu chuyến)
SỐ9-Tháng 5/2022 45
Trang 3+ VĐ Không cấp Ihvv hợp đồng thuê tàu chuỵến:
Đây là loại VĐ độc lập, không phụ thuộc vào hợp
đồng thuê tàu chuyến và có nội dung tương tựnhư
vận đơn vậntải đơn phương thứcbằng đườngbiển
(đã nêuởtrên)
- Căn cứ vào nơi nộp VĐ có cácloạisau:
+ Vận đơn nộptại cảng bốc hàng (Surrendered
B/L): “Surrender” dù là động từ hay danhtừ, đều
có cùng một nghĩalà “giao lại”, “nộp lại” Có thể
là giao lại mộtchứng từ, mộtvănbản hoặc một cái
gì đó cụ thể Trong ngành Hàng hải thương mại
quôc tế, từ này được sử dụng dưới dạng động từ
hoặcdanhtừvàlúc đónó chỉ đơn thuần có nghĩa là
“giaonộp lại chứng từ”, hoặc chứngtừ đó đã “được
thu hồi”
+ VĐ nộp tại cảng trả hàng: Đây là loại VĐ
thông thường, baogồm cả VĐ phụ thuộc vào hợp
đồngthuê tàu chuyến cónội dung tương tựnhư VĐ
vận tảiđơn phương thức bằng đường biển (từcảng
đến cảng)
Ngoài ra, có mộtsố loại VĐ, chứng từ vận tải
khác nhưVĐ bên thứ ba (Third Party B/L), VĐ có
thể thay đổi (Switch B/L), viết tắt là “S/B”, Giây
gửi hàng đường biển (Sea Waybill, Seaway Bill),
VĐĐB có 3chức năng cơ bản, gồm:
- VĐĐBđóngvaitrò là biên lainhậnhàng, theo
đó, VĐ miêu tả đặc điểm lô hàngvề sốlượng, ký
mã hiệu, tình trạng bên ngoàicủa hànghóa được
giao ở cảng hoặc địa điểm bốc hàng Khitàu nhận
hàng nếu tìnhtrạngbênngoàikhông tốt thìNVC sẽ
có những ghi chú phù hợp với tình trạngđó của lô
hàng Tại cảng đíchhoặcđịađiểmgiaohàng, NVC
phải giao hàng cho người nhận theo đúng khôi
lượng và tình trạng như lúc nhận khi người nhận
xuấttrình VĐ phù hợp Các từngữ “đã giao hàng
lênboongtàu trong tình trạng tốt và điều kiệntốt”,
theo tinh thần Điều III, quy tắc 3 của Quy tắc
Hague Visby (và tương tự là Điều 15(l)(b) của
Côngước Hamburg), là hình thức chung nhấtcủa
các từ ngữ đã được sử dụng như là giấy biên nhận
đãgiao lên boong tàu hàng hóa của người chuyên
chở trong tình trạng tốt
- VĐĐB là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển (HĐVC) Theođó, VĐ chứa đựng cắc diêu kiện và điềukhoản của HĐVC.Trong trường hợp
VĐ được cấp theohợp đồng thuê tàu chuyên, VĐ
sẽ dẫn chiếu tới hợpđồngthuê tàu Mặc dù không phải là HĐVCvì chỉcó chữ ký của một bên, nhưng
VĐ có giá trị như một HĐVC Nó không những điều chỉnhmối quan hệ giữa người gửi hàng (NGH) với NVC, mà còn điều chỉnh mối quan hệ giữa NVC với người nhận hàng (NNH) hoặc người cầm
VĐ Trong quátrình vậnchuyểnhàng hóa, cácbên phải tuân thủ theo các quy địnhcủa VĐ
- VĐĐB đóng vai trò là chứng từsở hữu hàng hóa Người nào có VĐ trong tay, người đó cóquyền
sở hữu hàng hóa ghi trênđó.NNH có tên trong VĐ hoặc người được chuyển nhượng VĐ có tên ghi trong VĐ sẽ làngườisởhữu hàng hóa, họ là người được quyền nhận hàng từ NVC Hiểu theo cách khác, VĐ là cơsở pháp lý xácđịnhngười sở hữu đối vớisố hàng hóa ghi trong VĐ Trêncơ sở pháp lý này, VĐ là mộtchứng từcó thể lưu thông chuyển nhượng được; có thể muabán,chuyểnnhượng,cầm
cố, thế chấp hàng hóaghi trên VĐ bằng cách mua bánhay chuyển nhượng VĐ
VĐĐB, dù là theo phương thức tàu chợ (liner bill
of lading) hay VĐ theo hợpđồng thuê tàu (charter bill of lading) đều có 3 chức năng cơbản nêu trên
Sự khác biệt chủ yếu của 2 loại VĐnày nằm ở chức nàng, với tư cách làbàng chứng của hựp đồng VĐ tàu chợ chứa đựng hợp đồng nằm trong các điều khoản thành văn được in trên VĐ Không có văn bảnnào khác cần thiết cho tòa án để xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng Trong khi đó, VĐ được phát hành theo hợp đồng thuê tàu chuyến chứa đựng điều khoản quy định rằng nó đượcphát hành cùng vớihợp đồng thuê tàu chuyến và chứa đựng tất cả các điều kiệnvà điều khoảntrong đó
về mặt nội dung, VĐĐB phải tuân thủ một số yêu cầu nhất định NVC bị ràng buộc bởi các nội dung, cácđiềukiện và điềukhoản đã ghi trong VĐ mặc dù bản thân mình không trực tiếp ký phát
Trang 4Theo thông lệ hàng hải quốc tế chỉcó NVC mớicó
quyền cấp VĐ NVC có thểlà chủ tàu, ngườithuê
tàu định hạn, thuê tàu trần Người giao nhận khi
đóng vai trò là NVCcũng có quyền cấp vận đơn
Trong thực tiễn, NVC có thể tự mìnhký phát VĐ
hoặc ủy quyền cho thuyền trưởng hoặc đại lý ký
phát Khi VĐ do thuyềntrưởng hoặcđại lý ký phát
thì phải hiểu rằng họ luôn luôn hành động nhân
danh và vì quyền lợi của NVC
VĐ thường được in thành hai mặt: mặt trước và
mặt sau MặttrướccủaVĐ bao gồm: tênvàđịachỉ
của NVC, NGH, NNH, người nhận thông báo, tên
tàu, cảng xếphàng, cảng dỡ hàng,kýmã hiệuhàng
hóa,số lượng đơn vị, trọng lượng hoặckhôi lượng
hàng, tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng hóa,
tiền cước vận chuyển và cách thức thanh toán, số
của VĐ ngày cấp, nơicâp, sốlượng bản gốcđược
ký phát, chữ ký của NVC hoặc của thuyền trưởng
hoặccủa đại lý nếu được thuyền trưởngủy quyền
Mặt sau của VĐ thường in sẵn các điều khoản
chuyên chở của hãng tàuquy định rõ quyềnlợi và
tráchnhiệm củacác bên
về mặtpháp lý, mộtVĐ đường biển cần phải
quy địnhmột số nội dung cơ bản sau:
- Tên và trụ sởchínhcủaNVC;
-TênNGH
- Tên NNH hoặc ghi rõ VĐ được ký phát dưới
dạng VĐ theo lệnh hoặcVĐ vô danh;
- Têntàubiển;
- Môtả chủng loại, kích thước,thểtích, sô lượng
đơn vị, trọng lượng hoặc giá trị hàng hoá nếu xét
thấycầnthiết;
- Mô tả tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng
hóa;
- Ký, mã hiệuvà đặc điểmnhậnbiết hàng hóa
mà người giao hàng đã thông báo bằng văn bản
trướckhibốchànglêntàu biển và được đánh dấu
lên từng đơn vị hàng hoá hoặc bao bì;
- Cước vận chuyển và các khoản thu khác của
NVC;phương thức thanhtoán;
- Nơi bốc hàngvà cảng nhận hàng;
- Cảng trả hànghoặcchỉ dẫn thời gian, địa điểm
sẽ chỉđịnhcảng trả hàng;
- Số bản VĐ gốc đãký phát choNGH;
- Thời điểm và địa điểm ký phátVĐ;
- Chữ ký của NVChoặc thuyềntrưởng hoặc đại diện khác có thẩm quyền của NVC
Sở dĩ VĐĐB cần có những điều khoản nêu trên là do VĐĐB đóng vai trò là biên lai nhận hàng, theo đó, VĐ miêu tả đặc điểm lô hàng về
số lượng, ký mã hiệu, tình trạng bên ngoài của hàng hóa được giao ở cảng hoặc địa điểm bốc hàng VĐĐB còn là bằng chứng của HĐVC, theo
đó VĐ chứa đựng các điều kiện và điều khoản của HĐVC
Ngoài ra, VĐ cũng có thể chứa đựng các điều khoản khác, ví dụ: điều khoản tối cao (clause paramount), điều khoản luật áp dụng/trọng tài (governing law/arbitration), điềukhoản 2 tàu đâm vào nhau cùng có lỗi (both to blame to collision clause), Việc sử dụng các điều khoản này cũng khá phổ biến nhưng tùy thuộc vào từng trường hợp
cụ thể Chẳng hạn, điều khoản hai tàuđâm va nhau cùng có lỗi là điều khoản thường thấy trong các HDDVC hàng hóa được sử dụng khi hàng hóa bị tổn thất trong một vụ đâm vavà sửdụng quyền tài phán của Hoa Kỳ
2.2 Mối quan hệ giữa hợp đồng vận chuyển
hàng hóa bằng đường biển và các văn kiện khác với vận đơn đường biển
Trong trường hợp vận chuyển hàng hóa bàng tàu chuyến, cần phân biệt hợp đồng thuê tàu chuyến và VĐ theo hợpđồngthuê tàu.Trên thực tế trong quá trình chuyênchở, nếu cótranh chấp phát sinh từ hợp đồng thuê tàu, người ta sẽ giải quyết tranh châpđó dựa vào VĐhoặc dựa vào hợpđồng thuê tàu NếuNNHđồngthời là người ký hợp đồng, khicó tranh chấp phát sinh đốivới NCC thì sẽ dựa vào hợp đồng thuê tàu để giải quyết tranh chấp Nếu NNH không phải là người ký hợpđồng thuê tàu,khi có tranh chấpphátsinhđôi vớiNCC sẽ lấy
VĐđểgiải quyết tranhchấp Trong trường hợp VĐ
đã chuyển nhượng cho người khác, khi có tranh
SỐ9-Tháng 5/2022 47
Trang 5chấp phátsinh giữa NCC với người cầm VĐ sẽ lấy
vận đơn để giải quyếttranh chấp Trường hợpVĐ
có dẫn chiếu đến các điều khoản củahợp đồng thuê
tàu thì sẽ lấycác điều khoản của hợp đồng thuê tàu
đểgiải quyết tranh châp.Ví dụdưới đây mô tả một
tình huống tranhchấpliên quan tới VĐĐB theo hợp
đồngthuê tàuchuyến:
Những người bán ký hợp đồng để bán cho những
người mua một lượng đường trong khoảng 12.000
tấn và 13.200 tấn theo điều kiện C&F, cảng
Bandarshapur, Iran Các bên tham gia đều có trụ
sở ở New York Đường được vận chuyển từ Kandla
(Ân độ) đi Iran Hợp đồng được ký theo mẫu của
Hiệp hội đường tinh chế và quy định Trọng tài có
quyền giải quyết là Trọng tài Lôn Đôn Hợp đồng
quy định rằng, việc thanh toán sẽ được tiến hành
khi đệ trình một bộ vận đơn hoàn hảo sạch chứng tỏ
rằng cước phí đã được trả Sau khi một phần hàng
hóa đã được bốc lên tàu, lửa đã bùng cháy trên tàu,
thiêu hủy 200 tấn đường đã được bốc Phần còn lại
của hàng hóa đã được bốc lên và được chuyên chở
đến địa điểm đã định Những người bán yêu cầu 2
VĐĐB đối với người mua Một VĐ áp dụng đối với
200 tấn đường đã bị mất và VĐ thứ hai đối với phần
hàng còn lại VĐ thứ nhất ờ phần các điều khoản
được in sẵn cho thấy việc vận chuyển hàng hóa theo
trình tự và điều kiện rõ ràng Tuy nhiên, VĐ lại có
một điều khoản viết nói rằng, hàng hóa quy định
trong VĐ đã được dd vì nó đã bị lửa hoặc nước làm
thiệt hại VĐ thứ hai được kỷ phát và được phía
người bán trả, VĐ đầu tiên bị họ phản đối với lý do
là nó không phải là VĐ sạch Phía người bán viện
lý do là điều khoản viết không thể làm mất đi tính
sạch của VĐ và họ được trao quyền dể trả giá cho
200 tấn đường đã bị mất.
Tinh huống trênchothây, VĐ hoàn hảo (hoặc
VĐ sạch) có ý nghĩaquan trọng trong thanh toán quốc tế Vì VĐ thứ hai nêurõ hànghóa quy định trong VĐ đã đượcdỡđã bịlửa hoặc nước làm thiệt hại, nên VĐ này trở thành VĐ không hoàn hảo NếuVĐ được cung cấpkhông phải là VĐ hoàn hảo thì sẽ không được thanh toán trongthương mại quốc
tế Đây lànguyên nhân căn bản dẫn đếntranh chấp giữa cácbêntrongvụ kiện nêu trên
Mộtvân đề quan trọng khác cũngcầnlàmrõ,đó là:các thỏa thuận mang tínhhợp đồng trước đó (đề nghịgiao kết hợp đồng,châp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, thỏa thuận chuyển tải, quảng cáo, giấy lưukhoang, )liệu có bị thaythế bởi VĐ khivăn bản này được phát hành và được ký hay không? Cần thâyrằng bản thân VĐkhông phải làhợpđồng giữa người chủ tàu và người chuyên chở, mặc dù
VĐ là bằng chứng tốt nhất Vì thế, VĐ không đương nhiên thay thế cho các văn bản nêu trên, ngoạitrừtrườnghợp NCC thểhiệnrõ ràng sựđồng
ý hoặc có hoặc NVC có đầy đủ kiến thức đủ đểxác địnhđốì với nội dung củaVĐ đó
3 Kết luận
VĐĐB là một chứng quan trọng bậc nhất của VCHHBĐBQT Trong thương mại và hàng hải quốctế,VĐĐBkhông chỉdùng trong giao nhậnvà vận chuyển hàng hóa mà được dùngđểđiều chỉnh nhiều mối quan hệ, ở nhiều lĩnh vực khác nhau VĐĐB cũnglàchứng từ không thể thiếu được trong
bộ chứng từ thanh toán tiền hàng, đặc biệt là phương thức thanh toánbằng tín dụng thư Vìvậy, nắm bắt và vận dụng tốt các quy tắc pháp lý về VĐĐB sẽ giúp tránh những tranh chấp có thể phát sinh, bảo vệ đượcquyềnlợi của các bên trong các quanhệ thương mại và hàng hảiquốc tế ■
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Quốc hội (2015), Bộ luật Hàng hải
2 Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2006), Hội nhập kinh tế quốc tế (Tài liệu bồi dưỡng ngành Tư pháp), Nhà xuất bản Tưpháp, Hà Nội.
Trang 63 The International Brussels Convention 1924 as amended by the Protocol signed at Brussels on February 23rd, (1968) - The Hague-Visby Rules.
4 United Nations (1978) United nations Convention on the Carriage of Goods by Sea (1978) (Hamburg Rules) New York, United States: United Nations
5 United Nations.(2009) United Nations Convention on Contracts for the International Carriage of Goods Wholly
or Partly by Sea (The Rotterdam Rules) New York, United States: United Nations
Ngày nhận bài: 5/3/2022
Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 5/4/2022
Ngày chấp nhận đăng bài: 15/4/2022
Thông tin tác giả:
TS HÀ VIỆT HƯNG
Giảng viên Khoa Pháp luật quốc tế,
Trường Đại học Luật Hà Nội
MAIN CHARACTERISTICS
OF AN OCEAN BILL OF LADING
• Ph D HA VIET HUNG Lecturer, Faculty of International Law
Hanoi Law University
ABSTRACT:
Ininternational sea freight transport, ocean bill oflading is a very importantdocument
Vietnamese law,andinternational law and practice all recognizethat the ocean bill of lading
meansright to possession of the goodsfrom the carrier In international trade and maritime,
the ocean bill of lading is not only used for transporting goods but also to regulate many relationships in different fields Therefore, clearly understanding and well applying regulations on the oceanbill of lading willhelpparties avoiddisputes and protect their rights and interests in international trade and maritime relations
Keywords: ocean billof lading,shipping,international sea way
SỐ 9 - Tháng 5/2022 49