1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng pháp luật giải quyết các vụ án tranh chấp về hôn nhân, gia đình

6 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 490,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ p, cụ R đều là vợ họp pháp của cụ c hôn nhân xác lập trước khi Luật hôn nhân gia đình năm 1986 có hiệu lực pháp luật nhưng lại không chứng minh được đây là tài sản chung của cụ c với

Trang 1

NGHIÊN CỪU - TRAO DỔI

ÁP DỤNG PHÁP LUỘT GIẢI QUYẾT các vụ ÓN TRANH CHRP vỂ HÔN NHÂN, Gin ĐÌNH

ThS NGUYÊN NAM HƯNG' ThS PHẠM THỊ HÓNG TÁM "

Từ khóa: Tài sản chung của vợ chồng; hôn

nhân thực tế; nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Nhận bài

Biên tập xong

Duyệt bài

: 17/5/2022 : 31/5/2022

: 03/6/2022

Thực tiên công tác kiêm sát giải quyết các vụ việc hôn nhân gia đình cho thấy việc xác định nghĩa vụ chung của vợ chồng, xác định nợ chung của

vợ chồng, nợ riêng của vợ hoặc chồng còn chưa thống nhất; cần được hướng dẫn cụ thể.

Tranh chấp hôn nhân chung và tranh chấp chia gia đình tài sản nói

chung củavợ chồng khi ly hôn nói riêng là loạitranhchấp phổbiến, phức tạp, có nhữngvụ án kéo dài bởi sựchi phối,

ảnh hưởng của các giá trị truyền thống về

văn hóa, đạo lý trong gia đình, dòng tộc

và tài sản tranh chấpthườngcó giá trị lớn,

liên quan đến nhà đất; liên quan đến nhiều

mối quan hệ pháp luật như sở hữu, thừa kế,

tín dụng ngânhàng Qua thực tiễn công tác

kiểm sát việc giải quyết các vụ việc hôn

nhân và gia đình, chúng tôi nhận thấy còn

một số vấn đềcần thống nhất nhận thức

1 về thòi điểm kết hôn, thời kỳ hôn nhân

1.1 Điểm a khoản 3 Nghị quyết số

35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội hướngdẫn về thời kỳ“hôn nhân thực tế”, theo đó “nam nữ sống chung

như vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng

* Viện kiếm sát nhân dân cấp cao tại

Thành phố Hồ Chi Minh.

* * Giảng viên Khoa Luật kinh tế,

Đại học Phan Thiết.

Tạp chí _

KIẾM SẤT SỐ 13/2022

32

Trang 2

ký kết hônthì được khuyến khích đăng ký

kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly

hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyếttheo

quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và

gia đình năm 2000” Tuy nhiên, thực tiễn

có trường hợp thỏa mãn các yếu tố về “hôn

nhân thực tế” theo quy định tại Nghịquyết

sổ 35/2000 nêu trên(nghĩa là tổchức lễcưới

theo tập quán mà khôngđăng ký kết hôn),

nhưng vợchồng sống ly thân, không quan

tâm, chăm sóc, không thực hiện quyền và

nghĩa vụ của vợ chồng Sau đó, một bên vợ

hoặc chồng chét thì có tranh chấp chia di

sản thừa kế của ngườichếtvà cho rằng hôn

nhân của mình với người vợ hoặc chồng

đó là hôn nhân thực tế Thực tiễn xét xử,

một số Tòa án không công nhận hôn nhân

trong trường họp này Như vậy, nam nữ

sống chung nhưng không đăng ký kết hôn

song phải thựchiện nghĩa vụ của vợ chồng,

phải sống chung, yêu thương và có tài sản

tạo lập chung thì mới đủđiều kiện để xác

định “hôn nhân thực tế” như Nghị quyết số

35/2000 đãhướngdẫn

1.2 về chấm dứt hôn nhân thực tế

Theo nội dung Án lệ số 41/2021/AL

được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân

dân tối cao (TAND) tối cao thông qua ngày

23/02/2021: “Nam và nữ chung sống với

nhau như vợ chồng, khôngđăng ký kếthôn

nhưng sau đó họ không còn chung sống và

trước khi Luật hôn nhân và gia đình năm

1986 có hiệu lực, có người chung sống

với nhau như vợ chồng với người khác

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

Trường hợp này, phải xác định hôn nhân thực tế đầu tiên đã chấm dứt” Tuy nhiên,

án lệ này lại không đưa ra được tìnhhuống

người vợ hoặc người chồng đầu tiên chết trước, sau đó người vợ/người chồng tiếp tục chắp nối với người vợ thứ hai Cả hai

quan hệ hôn nhân vàgia đình này đều được

xác lập trước ngày 03/01/1987 (thời điểm Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 vẫn

có hiệu lực) thì khiphân chia di sản thừa kế

sẽ được thựchiện như thế nào?

Tác giả đưa ra tình huống pháp lý sau:

Cácđương sự đều thốngnhấtđất có nguồn gốc của cha, mẹ cụ c để lại cho cụ c Tuy nhiên, nguyên đơn (ông Đ) cho rằng đây

là tài sảnchungcủa cụ c và cụR (cha, mẹ

ông Đ) nên khởi kiện yêu cầu chia thừa

kế là quyền sử dụng đất nói trên Còn ông

N (bị đơn) cho rằng nguồn gốc đất là tài

sản chungcủa cụ c và cụ p (ông, bàngoại

của ông N), cụ c để lại cho cá nhân bà K

(con gái cụ c - mẹ ông N) Sau khi bà K

chết, ông N được nhận thừa kế từ bà K Đến ngày 23/5/2017, ông Nguyễn Văn N được ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất nên không

đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ

Thấy rằng, các đươngsự đều thừanhậnđất

làcủa ông, bà cốđể lại cho cụ c Cụ p, cụ

R đều là vợ họp pháp của cụ c (hôn nhân

xác lập trước khi Luật hôn nhân gia đình năm 1986 có hiệu lực pháp luật) nhưng lại không chứng minh được đây là tài sản chung của cụ c với người vợ nào Tòa án

_ Tạp chí

Số 13/2022 KIE VI SÁT 33

Trang 3

NGHIÊN Cứu - TRAO ĐÓI

hai cấp chỉ căn cứ vào lời khai của ông V

(cũng là nguyên đơn trong vụ án) và lời

trình bày của bàN về việc “xác định cụ p

chết trước cụ M 04 ngày do bệnh dịch tả”

để xác định cụ p chết trước cốM (mẹ ông

C) Từ đó xác định đây không phải là tài

sản chungcủa cụ pvà cụ c là chưa đủcăn

cứ vững chắc Trong trường hợp này, khi

không cótài liệu chứng cứ chứng minhvề

quá trình tạo lập, quản lý tài sản thì cần

côngnhận đây làtài sản chung của cả 03 cụ

là cụ c, cụ p, cụR thì mới đảm bảo quyền

lợi của tất cả các bên và phù hợp với quy

định tại Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình

năm 1959”1 Theotác giả, trường họp này

cần phải công nhận cả hai quan hệ hôn

nhân (quan hệ hôn nhân đầu tiên và quan

hệ hôn nhânthứ hai) đều là hôn nhân họp

pháp Tài sản được tạo lập trong thời kỳ

hôn nhân giữa người vợ/người chồng với

hai cuộc hôn nhân này đềulà tài sản chung

của vợ chồng và khi phân chia di sảnthừa

kế cần phải đảm bảo các quy định về thừa

kế cho các hàng thừa kế hợp pháp của các

đồng thừa kế

1 Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ

và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và

sau khi cưới.

2 Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước

và sau khi cưới”.

3 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản

do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung”.

4 Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng bao gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Đối với quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng

có thỏa thuận”.

2 Xác định tài sản chung của vợ chồng

Theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều

28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014,

vợ chồngcó quyền “thỏa thuận về chế độ

tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản

theo thỏa thuận” Theo đó, chế độ tài sản

của vợ chồng có hai hình thức là chế độ

tài sản theo luật định và chế độtài sản theo thỏa thuận (hay còn gọi là chế độ tài sản ướcđịnh)

- về chế độ tài sản theo luật định: Luật

hônnhân và gia đình năm 2014 trên cơ sở

kế thừa các quy định của Luật hôn nhânvà gia đình năm 19592, 19863, 20 004 Khoản

1 Điều 33 Luật hôn nhân vàgia đìnhnăm

2014 quy định: “Tài sản do vợchồng tạo ra,

thu nhập do lao động, hoạtđộng sản xuất, kinh doanh, hoalợi, lợitức phát sinh từtài

sản riêng vàthu nhập họppháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừtrườnghọp được quy

định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này, tài

sản mà vợ chồng được thừa kế hoặc được

tặng cho chung và tài sản khác mà vợ

chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền

Tạp chí _

KIÊM SÁ I số13/2022

34

Trang 4

sửdụngđấtmàvợ, chồngcó được sau khi

kết hônlàtài sản chung củavợ chồng, trừ

trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế

riêng, được tặng cho riêng hoặc có được

thôngquagiao dịch bằng tài sảnriêng” Cụ

thể hóa quy định này, Điều 9, Điều 10Nghị

định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014

của Chính phủ quy định chi tiết một số

điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân

vàgia đình đãgiảithíchthu nhập hợp pháp

khác củavợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân

bao gồm: Khoản tiền thưởng, tiền trúng

thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp

được quy định tại khoản 3 Điều 11 của

Nghị định này; tài sản màvợ, chồng được

xác lậpquyền sở hữu theo quy định của Bộ

luật Dânsự đối với vậtvô chủ, vậtbị chôn

giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ

quên, gia súc, gỉa cầm bị thất lạc, vật nuôi

dưới nước; thu nhập hợp pháp khác theo

quy định của phậpluật

- về chế độ\ tài sản theo thỏa thuận

(còn gọi chế độ tài sản ước định): Đây là

nội dung mới được ghi nhận trong Luật

hôn nhân và gia đình năm 2014 và đã

được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số

01/201

6/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòaánnhândân

tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,Bộ

Tư pháp hướng dần thi hành một số quy

định của Luật hôn nhân vàgiađình

Chế định tài sản ước định (chế độ tài

sản theo thỏa thuận) bao hàm các chế độ

đặc thù mà vợ chồng thông quahợp đồng

NGHIÊN cúv - TRAO DỐI

hônnhân, lựa chọn quan hệ tài sản tùytheo

hoàn cảnh sống, ý chí chủ quan của chính mình, sau khi đã được thỏa thuận hợp pháp

thì được công nhận; nếu cótranhchấp xảy

ra sẽ căn cứ theo thỏa thuận ban đầu để giải quyết Thỏa thuận xác lập chế độ tài

sản của vợ chồng tồn tại dưới nhiềutêngọi

khác nhau, bao gồm: Hợp đồng tiền hôn nhân, hôn ước hay thỏa thuận trước hôn

nhân Dù tồn tại dưới tên gọi nào thì chế

độ tài sản theo thỏa thuận chỉ có hiệu lực

và được áp dụng khi thỏa thuận này được

xác lập trước khi kết hôn dưới hình thức văn bản được công chứng hoặc chứng thực Thời điểm chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng được xác lập là kể

từ ngày đăng ký kết hôn Theo quy định

của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

thì việc thỏa thuận xác lập chế độ tài sản

chỉ được thể hiện dưới hình thức văn bản

và có chữ ký của vợ và chồng vẫn chưa

đủ để thỏa mãn điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận này mà còn cần phải đượccông chứng hoặc chứng thực Quy định như vậy

để tránh trườnghợp thỏa thuận bị vô hiệu,

không thể thực hiện được trên thực tế do

chứa các nội dung vi phạm điều cấm của

luật vàđể tránhxảy ra các tranh chấp liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng.Việc

thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng dẫn đến sự thay đổi về quyềnđịnh đoạt tài sản của vợ và chồng Do đó để đảm bảo tính

hiệu lực của các giao dịch dân sự đối với người thứ ba, luật cũng quy định nghĩa

_ Tạp chí

SỐ 13/2022 V KI ÊM SÁT 35

Trang 5

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐÓI

vụ cung cấp thông tin liên quan đến thỏa

thuận về tài sản trong trường hợp có giao

dịch vớingười thứba Đây là nghĩa vụ bắt

buộc của vợ, chồng khi thực hiện các giao

dịch dân sự liên quan đến tài sản chung,

tài sảnriêng củamồibên khi áp dụng thỏa

thuận chế độ tài sản Nếu vợ hoặc chồng vi

phạmnghĩa vụ này thì người thứba trong

giao dịch sẽ được xem là ngaytình và được

giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân

sự năm 2015

Nhìn chung, quy định của pháp luật Việt

Nam ưu tiên bảo vệ người thứbangaytình

trong trường hợp phát sinh tranh chấp liên

quan đến tài sản của vợ chồng Mặc dù

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã

quy định cụ thể, song việc áp dụng chế độ

tài sản theo thỏa thuận giữa vợ và chồng,

bất kể có yếu tố nước ngoài hay không

cũng còn nhiều hạn chế Các văn phòng

công chứng thường e ngại đối với việc

chứng thực một văn bản thỏa thuận chế độ

tài sản giữa vợ chồng nếu có tàisản ở nước

ngoài, hoặc nếucó yêucầu chứng thực thì

văn phòng công chứng thường yêu cầu các

bên sử dụng các mẫu thỏa thuận đã được

soạn sẵn với các nội dung không thay đổi

so với quy định của luật để tránh rủiro bị

tuyên vô hiệu Bên cạnh đó, khi chia tài sản

chung của vợ chồng thường xảy ra tranh

chấp giữa hai bên làm cho một bên bị mất

một phần lợi ích hoặc có trường hợp một

bên không chịu chiatài sản mà dẫn đến đổ

vỡtrong hôn nhân

3 về xác định nghĩa vụ (nợ) chung của vợ chồng

Đây là một trong nhữngtình huống thực tiễn xảy ra nhiều tranh chấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Tòaánnhân dân cấp cao tạiThành

phố Hồ Chí Minh đã có nhiều kháng nghị liên quan đến việc xác định nghĩa vụ (nợ) chung của vợ chồng

- về nhu cầu thiết yếu của vợ chồng: Tuy đãđược hướng dẫn tại khoản20 Điều

3 Luật hônnhân và gia đình năm 2014, đó

là “là nhu cầu sinh hoạt thông thường về

ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh,chừa bệnh

và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác

không thể thiếu cho cuộc sống của mồi người, mỗi gia đình” Chỉ khi thỏa mãn là

sử dụng khoản tiền vay vào mục đích thiết

yếu như hướng dẫn đã liệt kê thì mới là căn

cứ để xác định đây là khoản nợchung của

vợ, chồng Nhưng nhiều Tòa án đã không điềutra, xác minh đầy đủ nên dần đến bản

ánbị hủy, sừatheo thủ tục giám đốc thẩm

Ví dụ, quyết định kháng nghị giám đốc

thẩm đã hủy bản án với lý do “phải làm

rõ và thu thập đề xác minh việc bà N sử

dụng khoản vay trên vào mụcđích gì? Có

phải nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của

gia đình hay không?”5 Như vậy, việc điều tra, xác minh về việc sử dụng khoản tiền

(nợ) vay rất quan trọng trong việcxác định

5 Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 171/2021/KN-DS ngày 08/11/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tạp chí _

KIÊM SÁT —/số 13/2022

36

Trang 6

nghĩa vụ chung của vợ chồng Đây là vấn

đề cần lưu ý kt kiểm sát xét xử vụ án dân

sự, Kiểm sát viêncầnphải yêu cầu Tòa án

điều tra, xác minh hoặc yêu cầu Tòa án tạm

ngừng phiên tòa theo quy định của pháp

luậttố tụng dân sự để làm rõ nội dung trên

mới đủ căn cứ để xác định nghĩa vụ liên

đới của vợ chồng hay nghĩa vụ riêng rẽ của

một bên vợ hoặc chồng

Bên cạnh đo, các trường hợp được xác

định là “nhu cầu thiết yếu của gia đình”

như quy định trên, thựctế, có Tòa án đã bổ

sung trường họp là sử dụng tiền vay vào

mục đích kinh doanh của hộ gia đình cũng

thuộc trường họp của Điều 37 Luật hôn

nhân và gia đình năm 2014 Vậy, đây có

thể coi là một tịrong những quan điểm để

mở rộng về nghía vụ chungcủa vợ chồng

haykhông? vấn đềnày cần có hướng dẫn

cụ thể để có sự thống nhất về các trường

hợp được coi là 4đáp ứng nhu cầu thiết yếu

của giađình”

4 về nợ riêng của vợ hoặc chồng

Đối lậpvới việc xác định nghĩavụ (nợ)

chung của vợ chồng thì việc xác định nợ

riêng của vợ hoặc của chồng cũng là một

vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau Có ý

kiến cho rằng, “nợ riêng của vợ hoặc của

chồng làcác khoản nợdo một bênxác lập

không phải là nợ chung Đối với khoản nợ

riêng này, bên xác lập có trách nhiệm trả

toàn bộ khoản nợ mà không được phép tự

ý sử dụng tài sản chung của vợ chồng để

thanh toán chocác khoản nợ này” Tácgiả

NGHIÊN cứu - TRAO DỐI

thấy ý kiến này chưa cụ thể và không thể giải thích cho một loạt cáctranhchấp trên

thực tiễn khi người vợ hoặc người chồng không đồng ý liên đới cùng trả nợ Theo

tác giả, trường hợp này, nếu như vợ hoặc

chồng không thực hiện chế độ tài sản ước định (chế độ tài sản theo thỏa thuận) thì

việc chứng minh là nợ chung haynợ riêng cần phải điều tra, xác minh.Trêncơsở loại trừ các trườnghọp về nghĩa vụ chung của

vợ chồng theo quy định của Điều 37 Luật

hôn nhân và gia đình năm 2014 hoặc nghĩa

vụ bồi thường của vợ chồng, cha mẹ đối

với con theo quy địnhcủa phápluật dân sự

thì nên chăng xác định theo “tình trạng suy đoán” và “người nào yêu cầu vợ chồng có nghĩa vụ liên đới thì phải thực hiện nghĩa

vụ chứngminh”

về xácđịnh giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng: Hiện nay chưa hướng dẫn cụ thể giá thị trường

là giá do Hội đồng định giá của Tòa án

trưng cầu hay giá của các đương sự thống nhất, giádo Trung tâm thẩm định, định giá

tư nhân? Khi có mâu thuẫn trongviệc xác

định giá giữa các bên thì giải quyết như thế

nào? Trường họp vụ việc bị hủy nhiều lần thì lấygiácủathờiđiểmxét xử sơ thẩm lần

đầu hay của lần xét xử sơ thẩm hiện tại?

Đây là những vấn đề cần được hướng dần

cụ thể trong thờigian tới.□

Ngày đăng: 28/10/2022, 19:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w