Tuy nhiên, đối với trường hợp người phạm tội muốn lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của bị hại thông qua việc trao đổi vật chất với nhau thì việc xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt vẫn c
Trang 1MỘT SỐ VỐN ĐỀ CỐN mu Ý
KM 1WC HỒNH QUYỐÌ CÔNG Tổ, KỂH SÁT VỆC GÙ QUYẾT VỤ ÁN ùn ĐẢO OỐM ĐOẠT Tin SÒN
ThS PHẠM THỊ THANH HUYÉN *
ThS.LÈBựCSƠN**
* Kiểm tra viên Viện kiểm sát nhân dãn
thành phổ Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
** Vãn phòng Viện kiếm sát nhân dân
tối cao.
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội danh được áp dụng tương đổi phổ biến trong nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu Tuy
nhiên, trong thực tiễn vẫn có những nhầm lẫn khi định tội đối vói các
hành vi tương tự hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản Do đó, khi được
phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết các vụ án
lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Kiểm sát viên cần lưu ý các đặc điểm trong
cấu thành tội phạm của tội danh này.
Từ khóa: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sàn; tội phạm xâm phạm sở hữu.
Nhận bài: 24/5/2022; biên tập xong: 05/6/2022; duyệt bài: 08/6/2022.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa là tội danh được
quy định tại Điều 135 Bộ luật Hình sự (BLHS) đầu tiên của nước ta (BLHS năm 1985) Mặc dù đã được sửa đổi, hoàn
thiện nhiều lần để cá biệt hóa tội danh này,
tránh nhầm lẫn với các hành vi tương tự,
thực tiễn thực hành quyền công tố, kiểm sát
việc giải quyết các vụ án lừa đảo chiếm đoạt
tài sản vần tồn tại những khó khăn, vướng
mắc nhất định Do đó, khi được phân công
thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải
quyết các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Kiểm sát viên cần nghiên cửu kỹ hồ sơ vụ
án, lưu ý các đặc điểm trong cấu thành tội phạm của tội danh này
1 Vướng mắc khi giải quyết vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Thứ nhất, về xác định giá trị tài sản
Tạp chí _
KIỂM SÁT-SỐ 14/2022
24
Trang 2CONG TÁC KIÊM SÁT
chiếm đoạt Đây là một trong những vấn đề
quan trọng khi xử lý hành vi lừa đảo chiếm
đoạt tài sản vì giá trị tài sản bị chiếm đoạt
có ý nghĩa trong Việc định tội và định khung
hình phạt Trong thực tiễn, đối với hành vi
lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà người phạm
tội đưa ra thông tin, nội dung sai sự thật
để bị hại tin tưởng giao tài sản thì việc xác
định giá trị tài sản bị chiếm đoạt để làm căn
cứ xử lý trách nhiệm hình sự tương đối đon
giản Thông qua kết quả định giá tài sản
hoặc giám định, kiểm đếm tài sản là tiền,
cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ để xử
lý hành vi của người phạm tội Tuy nhiên,
đối với trường hợp người phạm tội muốn
lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của bị hại
thông qua việc trao đổi vật chất với nhau
thì việc xác định giá trị tài sản bị chiếm
đoạt vẫn còn tồn tại các quan điểm khác
nhau Ví dụ: Nguyền Văn A vì muốn chiếm
đoạt tài sản nên đóng giả làm người giao
trứng A đem 50 quả trứng bỏ vào các hộp,
đến các nhà đê giao hàng với thông tin là
người nhà đặt trứng gà với giá 1 triệu đồng
Nhiều người cả tin cho rằng người thân đã
đặt số hàng trên nên đã trả tiền, lấy hàng
Đối với những người từ chối nhận hàng, A
liền xin lỗi vì giao nhầm địa chỉ Với thủ
đoạn trên, A đã giao được 12 hộp trứng gà,
thu về 12 triệu động Sau khi phát hiện sự
việc, một số bị hiại đã làm đơn trình báo,
yêu cầu xử lý hành vi của A Đối với vấn
đề về xác định giá trị tài sản chiếm đoạt để
xử lý hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Văn A có hai quan điểm sau:
Quan điêm thứ nhất xác định: số tiền A thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt được
là 12 triệu đồng, tức là số tiền A nhận từ các bị hại
Quan điêm thứ hai xác định: Đê làm rõ
số tiền A chiếm đoạt cần phải yêu cầu định giá số trứng A đã giao cho các bị hại, sau
đó khấu trừ số tiền đó trong 12 triệu đồng Bởi thực tế A đã giao lại tài sản cho các bị hại, một số bị hại đă sử dụng số trứng đó cho mục đích sinh hoạt hàng ngày
Việc xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong trường hợp trên hiện chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, đặc biệt đối với những trường hợp xác định giá trị tài sản trong khoảng trên dưới 02 triệu đồng để xác định có đủ để cấu thành tội phạm hay không khiến các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn lúng túng Theo tác giả, trong trường hợp này có thể áp dụng tinh thần Thông
tư liên tịch số 02/2001/TTLT/TANDTC- VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của BLHS năm 1999 để xác định giá trị tài sản chiếm đoạt Theo đó, tại điểm 2 Mục
II Thông tư liên tịch này quy định: “2 Trong trường hợp có đầy đủ căn cứ chứng
í ụp c)i!
So 14/2022 KI) vị SÁ I 25
Trang 3CÕNG TÁC KIỂM SÁT
minh rằng người có hành vi xâm phạm sở
hữu có ý định xâm phạm đến tài sản có giá
trị cụ thể theo ý thức chủ quan của họ, thì
lấy giá trị tài sản đó để xem xét việc truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người có
hành vi xâm phạm” Theo đó, khi xác định
giá trị tài sản mà người thực hiện hành vi
chiếm đoạt thực hiện, cần khấu trừ số giá trị
mà họ đã đem “trao đổi” cho bị hại
Thứ hai, xác định thẩm quyền giải
quyết theo lãnh thổ trong trường họp sử
dụng mạng máy tính, mạng viền thông
để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt
tài sản Khoản 3 Điều 145 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm
2021 (BLTTHS năm 2015) quy định về
thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo tội
phạm, kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra theo thẩm quyền
điều tra
Khoản 4 Điều 163 BLTTHS năm 2015
quy định thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ
của Cơ quan điều ưa như sau: “Cơ quan
điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ
án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận
của mình Trường họp tội phạm được thực
hiện tại nhiều nơi khác hoặc không xác
định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc
điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan
điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can
cư trú hoặc bị bắt” Đối với cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, thẩm quyền theo lãnh thổ được xác định là “địa bàn do mình quản lý” theo quy định tại Điều 164 BLTTHS năm 2015 Thực tiễn giải quyết các vụ việc, vụ
án lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua phương tiện mạng máy tính, mạng viễn thông đã phát sinh các quan điểm xác định về thẩm quyền giải quyết khác nhau
Cụ thể: Đối với các vụ việc bị hại tố giác
về việc mình bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi các đối tượng sử dụng chiêu thức giả danh cán bộ Công an, Kiểm sát, Tòa án để gọi điện yêu cầu chuyển tiền; lập facebook, zalo “ảo” để yêu cầu bị hại chuyển tiền thì thông thường, Cơ quan điều tra nơi bị hại cư trú sẽ tiếp nhận và giải quyết
Ví dụ: Trần Thị H (có hộ khẩu thường trú tại thành phố Đ, tỉnh Q), sau khi nhận được điện thoại của một người xưng là cán bộ Công an, cần phong tỏa tài khoản
để phục vụ việc điều tra về hoạt động rửa tiền, đã đến cây ATM đặt trước trụ sở ngân hàng tại thành phố Đ, tỉnh Q chuyển tiền qua số tài khoản đã cho trước với số tiền
200 triệu đồng Sau khi phát hiện bị lừa,
H trình báo với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Q Quá trình xác minh tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ xác định Trần Văn T là đối tượng đã thực hiện hành vi gọi điện lừa tiền chị H T hiện sinh sống tại
Tạp chí _
KIÊM SÁT—/So 14/2022
26
Trang 4CONG TAC KIỂM SAT
quận c, thành phố H Khi thực hiện việc
gọi điện thoại, H đang ở quận L, thành phố
H Vì vậy, việcị Cơ quan Cảnh sát điều tra
công an huyện ỉ) thụ lý giải quyết vẫn còn
nhiều quan điểtn, nơi xảy ra tội phạm là
ở đâu vẫn còn (phưa thống nhất, đồng thời
bản thân bị hại không biết rõ nơi cư trú của
người mình đã chuyến tiền Tuy nhiên, đối
chiêu với quy định vê thâm quyên điêu
tra thì nơi cư trii của bị hại không phải là
một trong những căn cứ để xác định thẩm
quyền điều tra po đó, đối với trường hợp
trên, để có cơ sờ pháp lý và áp dụng pháp
luật thống nhất cần có hướng dẫn cụ thể
2 Những vấn đề cần lưu ý khi thực
hành quyền cô^ig tố, kiểm sát việc giải
quyết vụ án lừạ đảo chiếm đoạt tài sản
- Xác định rõ thù đoạn gian dối có trước
hay hành vi chietn đoạt cỏ trước: về mặt lý
luận, Tội lừa đảq chiếm đoạt tài sản chỉ có
một hành vi khách quan duy nhất là chiếm
đoạt Hành vi giạn dối của người phạm tội
được xem là thủi đoạn trong cấu thành tội
danh này, không phải hành vi khách quan1,
về trình tự thời gịan, thủ đoạn gian dối phải
có trước hành vi chiếm đoạt, nếu ngược lại,
người phạm tội có được tài sản một cách
hợp pháp nhưng $au đó mới dùng thủ đoạn
gian dối để chiếmịđoạt tài sản thì hành vi đó
-
, -1 Đinh Văn Quế, Bình luận Bộ luật Hình sự năm
2015, Phần thứ hai 4 Các tội phạm, chương XVI,
XVII, Nxb Thông tinị và Truyền thông, 2018, tr 244
không cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp để có thể định tội hành vi này Trong thực tiễn đấu tranh chống tội phạm, việc xác định vấn đề này phụ thuộc phần lớn vào ý thức chủ quan của người phạm tội Ví dụ: Vì cần tiền để đánh bạc, Nguyễn Văn A nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, lợi dụng Trần Văn B là người cả tin, A đã mượn xe B để đem bán, sau đó báo cho B là đã làm mất xe nhưng không có tiền đền bù Cũng trường họp này, nhưng nếu Nguyễn Văn A vì cần sử dụng
xe nên đã mượn xe của Trần Văn B (xe trị giá 15 triệu đồng) Sau khi sử dụng, A nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên nên mang đi bán để lấy tiền đánh bạc rồi báo với B xe bị kẻ gian lấy mất thì hành vi này lại thuộc hành vi khách quan của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Do đó, trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên cần làm rõ vấn đề này, tránh việc khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử nhầm tội danh
- Người phạm tội thông qua thủ đoạn
gian dối chiếm đoạt được tài sản chứ không cần thực hiện thêm hành vi khách quan nào khác trong nhóm tội xâm phạm
sở hữu: Kiểm sát viên cần xác định rõ hành
vi chiếm đoạt trong Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội thông qua thủ đoạn gian dối để bị hại tự nguyện giao tài sản hoặc nhận tài sản cho người phạm
27
Trang 5CÔNG TÁC KIỂM SÁT
tội và tin rằng việc giao tài sản trên là hợp
pháp Từ việc nhận được tài sản đó, người
phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc
giá trị của tài sản Trường hợp bị hại không
tự nguyện giao tài sản và người phạm tội
phải thực hiện thêm các hành vi khác đế
chiếm đoạt thì không cấu thành Tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản Do đó, quá trình thực
hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đổi
với tội danh này cần làm rõ thủ đoạn gian
dối để chiếm đoạt tài sản và thủ đoạn gian
dổi đề tiếp cận tài sản nhằm tránh nhầm lẫn
về tội danh Ví dụ: Ngày 15/10/2021, vì có
ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của M
nên N (sinh năm 1997, có đủ năng lực trách
nhiệm hình sự) giả vờ mượn điện thoại của
M để gọi nhờ M tin tưởng nên giao điện
thoại cho N, sau đó đứng đợi Sau khi nhận
điện thoại từ tay M, N nhanh chóng giật
lấy điện thoại và bỏ chạy Chiếc điện thoại
trị giá 5,3 triệu đồng Trong thực tiễn đã có
trường họp xác định hành vi trên thuộc tội
danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản và khởi tố2;
Căn cứ việc người phạm tội đã có hành vi
gian dối là giả vờ mượn điện thoại sau đó
bỏ chạy để chiếm đoạt Tuy nhiên, N thực
tế đã có hành vi gian dối là giả vờ mượn
điện thoại với ý định chiếm đoạt, việc M
cho N mượn điện thoại nhưng vẫn đợi để
2 https://cand.com.vn/Ban-tin-l 13/Vo-goi-nho-
dien-thoai-thanh-nien-cuop-luon-dien-thoai-roi-tau-
thoat-i553628/; truy cập ngày 20/5/2022.
lấy lại thể hiện M không có ý chí giao tài sản cho N chiếm hữu Mặt khác, để chiếm đoạt được chiếc điện thoại trên, N phải giật lấy và bỏ chạy Như vậy, hành vi của N đủ yếu tố cấu thành Tội cưóp giật tài sản
- Xác định rõ đoi tượng bị chiếm đoạt
có thuộc trường hợp đặc biệt đê cấu thành các tội danh khác hay không?: Theo quy định của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015), một số trường họp với các đối tượng
bị chiểm đoạt mang tính đặc biệt, thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội ở mức cao hơn
so với các đối tượng thông thường thì người phạm tội khi có thủ đoạn gian dối chiếm đoạt, các đối tượng này sẽ không cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà cấu thành các tội danh khác, cụ thể: Trong việc mua, bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mà có hành vi gian dối như cân, đong, đo, đếm, tính gian hàng hóa, dịch vụ hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác là hành vi khách quan cùa Tội lừa dối khách hàng (Điều 198); hành vi gian dối về chất lượng hàng hóa thông qua việc sản xuất, buôn bán hàng giả tùy từng trường hợp sẽ cấu thành Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192), Tội sản xuất buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193), Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194) hoặc Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức
Tạp chí _
KIÊM SẤT SỐ 14/2022
28
Trang 6CONG TAG KIÊM SAT
ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú
y, thuốc bảo vệịthực vật, giống cây trồng,
giống vật nuôi (£)iều 195); hành vi lừa dối
chiếm đoạt chất ịma túy hoặc tiền chất dùng
vào việc sản xdất chất ma túy là hành vi
khách quan của Tội chiếm đoạt chất ma túy
(Điều 252) hoặứ Tội chiếm đoạt tiền chất
dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma
túy (Điều 253); hành vi lừa đảo chiếm đoạt
đối tượng là vũ khí quân dụng, phương tiện
kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, súng săn, vũ
khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ
trợ tùy từng trưởng hợp là hành vi khách
quan được mô tả tại Điều 304, 305 hoặc
306 với các tội danh: Tội chiếm đoạt vũ khí
quân dụng, phường tiện kỳ thuật quân sự;
Tội chiếm đoạt Ỷật liệu nồ; Tội chiếm đoạt
súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc
công cụ hỗ trợ; hành vi gian dối trong lĩnh
vực bảo hiểm tùy từng dạng hành vi sẽ cấu
thành hành vi khậch quan trong Tội gian lận
trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 213); Tội
gian lận bảo hiếtn xã hội (Điều 214) hoặc
Tội gian lận bảo Ịhiểm y tế (Điều 215)
Như vậy, trổng quá trình thực hành
quyền công tố vồ kiểm sát việc giải quyết
các vụ án, Kiêm ísát viên bên cạnh việc chú
ý đến thủ đoạn gian dối của người phạm
tội, cần xác định rõ đối tượng chiếm đoạt
mà người phạm tội thực hiện để xác định
chính xác tội dainh, tránh nhầm lẫn trong
định tội nếu đối tượng thuộc các trường
hợp đặc biệt nêu trên
-Xác định rõ phương thức gian dối mà người phạm tội thực hiện, cần đặc biệt lưu ý trường hợp người phạm tội sử dụng mạng xã hội hoặc phương tiện điện tử để lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Những năm gần đây, do tác động của việc thực hiện giãn cách xã hội để phòng, chống dịch bệnh Covid-19, hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua phương thức lợi dụng không gian mạng có chiều hướng gia tăng và diễn biến rất phức tạp Đối với các
vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, hiện nay vẫn có sự thiếu thống nhất trong việc xác định giữa Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS năm 2015) và Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 BLHSnăm 2015)
Trong thực tiễn, việc thông qua mạng máy tính, mạng viễn thông để lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện phổ biến dưới các dạng hành vi sau:
Giả danh cán bộ Công an, cán bộ Kiểm sát gọi điện cho bị hại thông báo bị hại có liên quan đến vụ buôn lậu, rửa tiền, mua bán trái phép chất ma túy và yêu cầu bị hại chuyển tiền vào số tài khoản do đối tượng cung cấp để phong tỏa, phục vụ công tác điều tra rồi chiếm đoạt
l ạp chi
Sô 14'2022 KI l'| SÁT 29
Trang 7CÔNG TÁC KIỂM SÁT
Trường hợp khá phổ biến là tạo tài
khoản mạng xã hội facebook đứng tên
người có quốc tịch các nước phát triển như
Mỹ, Thụy Sĩ, Pháp có công việc tốt, có
tiền, có vẻ ngoài ưa nhìn để làm quen
với bị hại Sau một thời gian thì thông báo
gửi quà tặng hoặc quà đính hôn và giả danh
nhân viên hải quan, bưu điện thông báo,
yêu cầu bị hại chuyển các khoản phí như
phí gửi hàng, phí quy đổi ngoại tệ thuế,
phí hải quan rồi chiếm đoạt tiền Hoặc
một dạng hành vi khác là lợi dụng việc bán
hàng livestream, các khách hàng cung cấp
thông tin, người phạm tội liên hệ trước,
giả danh là bên bán hàng yêu cầu chuyển
khoản để gửi hàng
Ngoài ra, các đối tượng còn sử dụng tài
khoản facebook “ảo” liên hệ với các bị hại
đang thực hiện hoạt động kinh doanh đặt
mua hàng hoá, sau đó gửi link, yêu càu bị
hại cung cấp mã OTP gửi đến điện thoại và
chiếm quyền sử dụng tài khoản ngân hàng
của bị hại, chuyển tất cả tiền trong tài khoản
này sang tài khoản khác để chiếm đoạt
Như vậy, các dạng hành vi trên đều sử
dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông
để đưa ra thông tin sai sự thật nhằm chiếm
đoạt tài sản của bị hại, tuy nhiên không phải
hành vi nào cũng cấu thành tội danh quy
định tại Điều 290 BLHS năm 2015 Thực
tiễn vẫn có quan điểm xác định rằng nếu
việc lừa đảo có sử dụng mạng máy tính,
mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử
để thông qua đó chiếm đoạt tài sản đều là hành vi cấu thành Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Đây
là quan điểm không chính xác, gây nhầm lẫn trong việc định tội Bởi theo Điều 290 BLHS năm 2015, có 05 dạng hành vi cấu thành tội danh này như sau: (1) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ; (2) Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ; (3) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản; (4) Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền
tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản; (5) Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản
Do đó, đối với các trường hợp lừa đảo bằng cách thông qua phương tiện là mạng internet hoặc mạng viễn thông như gọi điện giả danh, sử dụng facebook giả để yêu cầu bị hại chuyển tiền rồi chiếm đoạt vẫn phải định tội theo Điều 174 BLHS năm
2015 là Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.n
Tạp chí _
KIẾM SAT số 14/2022
30