Những cải cách ban đầu về kinh tế và sự mở đường cho kinh tế thị trường đã giải phóng những tiềm lực to lớn của đất nước và mở ra trước mắt chúng ta những sự thay đổi thần kỳ trong phát
N I DUNG Ộ
Kinh t ế Việt Nam trướ c khi ti ến hành 30 năm đổ i m ới (trước năm 1986)
Trước Đổi Mới, cơ chế quản lý kinh tế ở Việt Nam là cơ chế kế hoạch hoá tập trung với những đặc điểm sau:
Quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới, trong đó các doanh nghiệp hoạt động dựa trên quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự và tiền lương đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch cấp phát vốn và vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước; lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu.
Thứ hai, sự can thiệp quá sâu của các cơ quan hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh khiến doanh nghiệp mất quyền tự chủ và phải chịu các quyết định của cơ quan này mà không được đền bù về mặt vật chất hay pháp lý Thiệt hại phát sinh từ những quyết định hành chính được ngân sách nhà nước gánh chịu, trong khi doanh nghiệp không có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh và cũng không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất, kinh doanh.
Ở cấp độ thứ ba, các quan hệ hàng hóa – tiền tệ bị xem nhẹ, chỉ là hình thức, còn quan hệ hiện vật mới là yếu tố chủ đạo Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ cấp phát – giao nộp, khiến nhiều hàng hóa thiết yếu như sức lao động, phát minh sáng chế và tư liệu sản xuất không được coi là hàng hóa theo khung pháp lý.
Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh với nhiều cấp trung gian khiến công việc vận hành thiếu sự năng động và sinh ra đội ngũ quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền và quan liêu Họ lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động, dẫn tới bất bình trong tổ chức và làm giảm hiệu quả làm việc.
Trong 10 năm bao cấp, Việt Nam thực hiện hai kế hoạch: 5 năm lần thứ II (1976-1980) và 5 năm lần thứ III (1981 1985) Do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị - trường, nhà nước Việt Nam xem kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu
Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức khác nhau nhằm điều chỉnh chi phí và phân bổ nguồn lực: bao cấp qua giá nhằm giảm gánh nặng chi phí cho người tiêu dùng hoặc doanh nghiệp, bao cấp theo chế độ tem phiếu để kiểm soát phân phối và tiêu thụ hàng hóa, và bao cấp theo chế độ cấp phát vốn nhằm cấp vốn cho hoạt động sản xuất, đầu tư và phát triển kinh tế.
Ban đầu nền kinh tế phát triển theo cơ chế này có tác dụng nhất định, cho phép tận dụng
Ba ngành nghề trọng yếu trong nền kinh tế tuy có vai trò nhất định, nhưng đồng thời thủ tiêu cạnh tranh, kiềm hãm sự phát triển khoa học – công nghệ và triệt tiêu động lực kinh tế của người lao động Khi nền kinh tế phát triển sâu dựa trên sự tiến bộ của khoa học và công nghệ hiện đại, những khuyết điểm của cơ chế này càng lộ rõ Điều này đẩy nền kinh tế Việt Nam vào nguy cơ khủng hoảng và trì trệ nếu không có những điều chỉnh phù hợp.
Sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, nước ta bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế với những khó khăn như cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, năng suất lao động thấp và sản xuất chưa đáp ứng nhu cầu sống và tích luỹ; nguyên nhân sâu xa là nền kinh tế dựa vào sản xuất nhỏ và công tác tổ chức, quản lý kinh tế còn nhiều hạn chế, đồng thời các bất hợp lý trong quan hệ sở hữu vẫn chưa được làm rõ Ở miền Bắc, Đảng chủ trương củng cố và hoàn thiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức toàn dân và tập thể; ở miền Nam, Đảng chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế thông qua các biện pháp như công tư hợp doanh để sử dụng, hạn chế và cải tạo công nghiệp tư bản tư doanh, đồng thời đẩy mạnh hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo thủ công nghiệp bằng hợp tác hoá và chuyển dần thương nghiệp nhỏ sang sản xuất.
Sau năm 1975, Việt Nam đối mặt với hoàn cảnh vô cùng khó khăn khi chiến tranh tàn phá khắp mọi miền đất nước và hàng triệu nạn nhân chiến tranh cần được nuôi sống và hỗ trợ, đồng thời phải chịu ảnh hưởng của chính sách cấm vận của Mỹ Việt Nam còn đối đầu với hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, khiến chi tiêu quốc phòng ở mức cao dù sự giúp đỡ từ các nước đồng minh không còn như trước Vì vậy, việc phân phối hàng hóa thiết yếu theo chế độ tem phiếu bao cấp vẫn được duy trì trên phạm vi cả nước để đảm bảo an sinh cho người dân.
Trong giai đoạn 1976–1980, thu nhập quốc dân tăng rất chậm, thậm chí có năm còn giảm Cụ thể: năm 1977 tăng 2,8%, năm 1978 tăng 2,3%, năm 1979 giảm 2%, năm 1980 giảm 1,4%; bình quân 1977–1980 chỉ tăng 0,4% mỗi năm, thấp xa so với tốc độ tăng trưởng dân số, khiến thu nhập quốc dân bình quân đầu người sụt giảm khoảng 14% GDP bình quân đầu người năm 1980 đạt 80 USD, thấp hơn Lào (94 USD) và Campuchia (191 USD) Theo một số thống kê, kế hoạch 5 năm lần thứ hai đề ra mục tiêu tăng 13–14% mỗi năm, nhưng thực tế chỉ tăng 0,4% mỗi năm, trong đó nông nghiệp tăng 1,9% và công nghiệp tăng 3,3%, còn phân phối yếu kém và lãng phí vốn đầu tư.
Năm 1980, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt khoảng 15% kim ngạch nhập khẩu Cùng năm đó, tổng sản lượng thóc lúa đạt 21 triệu tấn nhưng thu hoạch chỉ đạt 12 triệu tấn Tình hình lương thực thiếu hụt nghiêm trọng khiến lượng gạo mua qua mậu dịch quốc doanh bị hạn chế, tương ứng với thời kỳ chiến tranh khốc liệt nhất ở miền Bắc Khoảng 10-15% lương thực phải nhập khẩu Hàng hóa không đủ để trang trải các khoản nợ từ khối Cộng sản, vì vậy chính phủ Việt Nam xoay sang trả nợ bằng lao động.
Trong giai đoạn 1981–1985, kinh tế Việt Nam không đạt được mục tiêu cơ bản trong nghị quyết đại hội V về ổn định kinh tế xã hội và đời sống nhân dân Sai lầm của tổng điều chỉnh giá – lương – tiền cuối năm 1985 đã đẩy nền kinh tế nước ta vào những khó khăn mới, làm nảy sinh nhiều bất cập trong hệ thống điều hành kinh tế Kinh tế – xã hội rơi vào khủng hoảng trầm trọng, siêu lạm phát xuất hiện và kéo dài từ năm 1985 đến 1988 với mức tăng từ 500% đến 800% Nguyên nhân chính là thâm hụt ngân sách từ các doanh nghiệp nhà nước, và bên cạnh đó bất cập của hệ thống phân phối cũng đóng vai trò đáng kể trong cú sốc kinh tế thời kỳ này.
Kết quả này do nhiều nguyên nhân chồng chéo: nguồn viện trợ nước ngoài suy giảm khiến nguồn lực cho phát triển bị hạn chế; hậu quả của các cuộc chiến tranh làm tăng chi tiêu cho quốc phòng và an ninh, ảnh hưởng đến đầu tư công và hạ tầng; ngân sách quốc phòng lớn khiến nguồn lực dành cho các lĩnh vực khác bị thu hẹp; cấm vận của Mỹ tạo rào cản thương mại và tiếp cận công nghệ; nạn thuyền nhân và chảy máu chất xám khiến lực lượng lao động có trình độ bị thiếu hụt; thiên tai và dân số tăng nhanh càng làm tăng áp lực lên hạ tầng và dịch vụ xã hội, từ đó tác động tới tăng trưởng kinh tế và đời sống người dân.
Bài viết phân tích những khuyết điểm và sai lầm của các cơ quan Đảng và Nhà nước từ trung ương đến cơ sở về lãnh đạo và quản lý kinh tế, quản lý xã hội, dẫn tới chủ quan, nóng vội và đề ra những nhiệm vụ, chỉ tiêu của kế hoạch nhà nước quá cao so với khả năng thực tế; các chủ trương sản xuất, xây dựng, phân phối, lưu thông thiếu căn cứ xác đáng, dẫn đến lãng phí lớn về sức người và vốn; đồng thời duy trì cơ chế quản lý quan liêu bao cấp với kế hoạch hóa gò bó, cứng nhắc, thiếu trách nhiệm và thiếu tập trung mở rộng quyền tự chủ cho cơ sở, địa phương và ngành, chưa tập trung đúng mức những vấn đề Trung ương cần quản lý Những hạn chế này khiến Việt Nam chưa có khả năng hoạch định và quản lý kinh tế tương xứng, do phần lớn cán bộ có trình độ quản lý kém; mô hình kinh tế nặng về tự cung tự cấp, không khai thác hiệu quả các nguồn lực vật chất và con người Thêm vào đó, hai cuộc đổi tiền năm 1975 (do Việt Nam Cộng hòa tiến hành) và năm 1978 trên toàn quốc đã kiệt vốn và xáo trộn kinh tế Sau nhiều năm trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế nước ta vẫn còn ở mức thấp kém, và đến giữa những năm 1980 đã xuất hiện những khó khăn mới gay gắt và phức tạp như hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp, mất cân đối.
Thành t u v kinh t ự ề ế trong 30 năm đổ i m i c a Vi t Nam ớ ủ ệ
kinh tế – xã hội đó đòi hỏi Đảng ta phải có những quyết sách xoay chuyển tình hình, tạo ra một bước ngoặt cho sự phát triển
II Thành tựu về kinh tế trong 30 năm đổi mới của Việt Nam
Trước tình hình nền kinh tế Việt Nam đối mặt khủng hoảng và trì trệ, cùng với chế độ bao cấp lỗi thời, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhận thức được sự cấp thiết của đổi mới và định hướng kinh tế nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và phát triển Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) đã thẳng thắn nêu ra những hạn chế của cơ chế kinh tế cũ và đề xuất chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế nhiều thành phần Trải qua gần 30 năm đổi mới (1986-2016), nước ta đã đạt được nhiều thành tựu ở các lĩnh vực như cải thiện các nhân tố trong nền kinh tế quốc nội, vốn đầu tư, hội nhập kinh tế quốc tế và kim ngạch xuất nhập khẩu.
1 Các nhân tố trong nền kinh tế quốc nội
1.1 Quy mô nền kinh tế
❖ Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
GDP Việt Nam tăng trưởng nhanh và đều qua các năm, từ 30,17 tỷ USD năm 1986 lên 202 tỷ USD năm 2016, tăng 171,83 tỷ USD Giai đoạn 1986–1990 là thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới, nền kinh tế dần khắc phục những yếu kém và có những bước phát triển rõ rệt Tổng sản phẩm quốc nội năm 1986 đạt 30,17 tỷ USD, mở ra quá trình chuyển đổi kinh tế và là nền tảng cho đà tăng trưởng bền vững trong các thập kỷ tiếp theo.
Giai đoạn 1991-1995 đánh dấu đất nước dần thoát khỏi tình trạng trì trệ và suy thoái Nền kinh tế tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng khi đã khắc phục được trì trệ và suy thoái; hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều vượt mức và GDP duy trì mức tăng trưởng tương đối cao so với thời kỳ trước.
Giai đoạn 1996–2000 đánh dấu bước phát triển quan trọng của kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Dù chịu tác động của khủng hoảng tài chính khu vực từ 1997–1999 và liên tiếp xảy ra thiên tai nghiêm trọng, nền kinh tế nước ta vẫn duy trì được mức GDP khá cao, với GDP năm 1996 đạt 59,08 tỷ USD.
Giai đoạn 2001–2005 của sự nghiệp đổi mới đi vào chiều sâu, tập trung triển khai có hiệu quả Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001–2010 và Kế hoạch 5 năm 2001–2005, được Đại hội IX của Đảng thông qua; việc thực hiện hai khuôn khổ này đã mang lại những kết quả đáng kể, trong đó tăng trưởng GDP được ghi nhận và các chỉ tiêu kinh tế – xã hội dần được cải thiện, đặt nền tảng cho sự phát triển ở những năm tiếp theo.
Trong năm 1996, nền kinh tế đạt GDP ở mức 80,82 tỷ USD Đến năm 2005, quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) của nền kinh tế đạt 837,8 nghìn tỷ đồng, tăng gấp đôi so với năm 1995.
GDP các năm sau tiếp tục được ghi nhận với xu hướng tăng trưởng ổn định Năm 2006, GDP đạt 117,52 tỷ USD Đến năm 2010, GDP tính theo giá thực tế đạt 101,6 tỷ USD, cho thấy sự biến động về quy mô nền kinh tế theo thời gian và những thay đổi trong chu kỳ kinh tế.
2000 GDP của Việt Nam đạt 161,36 tỷ USD vào năm 2011 và 202,00 tỷ USD vào năm
❖ Thu nhập bình quân đầu người
Qua 30 năm, Việt Nam từ nước có thu nhập đầu người thấp nhất thế giới trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình
Năm 1986, tổng thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 86 USD mỗi năm; đến năm 1990, GDP bình quân đầu người chỉ ở mức 98 USD, bằng khoảng một phần tư chuẩn của các nước có thu nhập thấp Trong cùng thời kỳ ấy, Lào đạt 186 USD và Campuchia 191 USD.
GDP bình quân đầu người năm 1991 là 188 USD, thuộc nhóm thấp nhất Đến năm 2000, GDP bình quân đầu người đã tăng lên 400 USD/người
Sau 16 năm đổi mới, đến năm 2003 GDP bình quân đầu người của Việt Nam chỉ đạt khoảng 471 USD mỗi năm Đến năm 2015, quy mô nền kinh tế nước ta đã lên khoảng 204 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt gần 2.300 USD.
Vào năm 2008, nước ta đã thoát khỏi nhóm nước và vùng lãnh thổ thu nhập thấp để gia nhập nhóm nước và vùng lãnh thổ thu nhập trung bình thấp, đánh dấu bước ngoặt lớn trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội Sự chuyển đổi này phản ánh nỗ lực cải thiện mức sống, tăng cường năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận nguồn vốn và thị trường quốc tế Nhờ đó đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo đói kéo dài và tạo nền tảng cho sự tăng trưởng ổn định trong những năm tiếp theo.
7 nước trong thời kỳ này Và năm 2010 đã đạt 1.200 USD/người (vượt chuẩn nước thu nhập thấp khoảng 1.000 USD/người)
Năm 2011, GDP bình quân đầu người đã đạt 1.260 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình của thế giới
Năm 2015, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 2.200 USD (tương đương 48,6 triệu đồng/năm), trở thành một nước có thu nhập trung bình khá của thế giới
Và đến năm 2016, GDP bình quân đầu người đạt 2.050 USD, gấp 10,9 lần năm 1991
Nguồn: VNExpress 1.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trong suốt 30 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng, cao hơn hẳn thời kỳ trước đổi mới:
Trong giai đoạn đầu của quá trình đổi mới (1986–1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt khoảng 4,4% Đến giai đoạn 1991–1996, GDP bình quân tăng gấp đôi, vượt trên 8% mỗi năm Các giai đoạn sau đó cũng duy trì mức tăng trưởng khá cao, cho thấy nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phục hồi và phát triển sau cải cách.
Trong giai đoạn từ 1996 đến 2000, mặc dù chịu tác động của khủng hoảng tài chính khu vực (1997–1999), GDP vẫn duy trì mức tăng bình quân 7,6% mỗi năm Thành tựu này cho thấy sự phục hồi và tăng trưởng kinh tế bền vững của đất nước, là một trong những kết quả phát triển kinh tế quan trọng nhất của giai đoạn này.
Trong giai đoạn 2001–2005, GDP tăng bình quân 7,34% mỗi năm; giai đoạn 2006–2010, do suy giảm của kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,32% mỗi năm Trong các năm tiếp theo, do chịu tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và khủng hoảng nợ công 2010, tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011–2015 của Việt Nam tuy chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9% mỗi năm, là mức cao của khu vực và thế giới.
Năm 2008, nền kinh tế Việt Nam chững lại và được cho là bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó khủng hoảng tài chính toàn cầu từ năm 2007–2010 đóng vai trò chủ đạo Từ năm 2007, nền kinh tế đã có dấu hiệu lạm phát ở mức cao Đặc trưng của giai đoạn này là tốc độ tăng trưởng kinh tế chững lại, chỉ đạt khoảng 5–6% mỗi năm so với 7–8% của các năm trước Năm 2008 là một năm không vui với tăng trưởng GDP của Việt Nam, khi tốc độ tăng trưởng chỉ đạt khoảng 6,23%, thấp nhất kể từ năm 1999.
Trong suốt giai đoạn được phân tích, GDP tăng trưởng bình quân gần 7%, với 20 năm liên tục đạt mức tăng trưởng 7,43% mỗi năm Nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao với xu hướng tích cực, khi các năm sau thường cao hơn năm trước Đến năm 2016, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 217 tỷ USD.
Các thị trường vận hành thông suốt tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp (DN) tập trung sản xuất, kinh doanh
Nguyên nhân
1 Về phía Đảng và Nhà nước
Những thành tựu đạt được trong 30 năm đổi mới của Việt Nam (1986-2006) là kết quả của nhận thức đúng đắn và đổi mới tư duy lý luận của Đảng về tính tất yếu của phát triển kinh tế Quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã mở ra động lực tăng trưởng và cải thiện đời sống nhân dân Việc xác định đúng đường lối, cải cách thể chế, tăng cường đổi mới quản lý nhà nước và thu hút nguồn vốn từ khu vực tư nhân và nước ngoài đã thúc đẩy sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu Thành tựu cụ thể gồm tăng trưởng kinh tế ổn định, giảm nghèo nhanh và nâng cao chất lượng sống, đồng thời nâng vị thế Việt Nam trên trường quốc tế Từ kinh nghiệm đổi mới, bài học rút ra là sự kiên định trong lãnh đạo của Đảng, sự tham gia của toàn xã hội và tinh thần đổi mới liên tục sẽ tiếp tục là động lực để Việt Nam phát triển bền vững.
Chỉ đạo thực hiện các quyết sách về kinh tế và nhận được sự đồng thuận ủng hộ, tích cực tham gia của nhân dân Qua 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng trong hoàn thiện thể chế và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đó là bước ngoặt trong đổi mới tư duy kinh tế và trong thay đổi mô hình phát triển xã hội của Đảng ta thời kỳ đổi mới; là bước tiến trong tư duy lý luận kinh tế.
Quá trình đổi mới tư duy kinh tế từ cục bộ lên phạm vi toàn cầu được ghi nhận qua từng kỳ Đại hội Đảng, đặc biệt Đại hội VI xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm và gắn đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, mở ra một thời kỳ mới cho đất nước; đồng thời Đại hội VI thừa nhận sự xuất hiện của sản xuất hàng hóa trong khu vực xã hội chủ nghĩa và kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế quản lý mới, áp dụng các biện pháp kích thích sản xuất, mở rộng giao lưu hàng hóa và xóa bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợ; Nghị quyết Trung ương 2 (tháng 4/1987) về lưu thông phân phối bỏ chính sách hai giá, thực hiện bốn giảm và tiếp tục xóa bỏ ngăn sông cấm chợ; Nghị quyết Trung ương 3 (tháng 8/1987) quyết định chuyển hoạt động của các đơn vị công nghiệp quốc doanh sang kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế và thực hiện tự chủ trong kinh doanh; Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị tiếp tục định hình quá trình đổi mới quản trị kinh tế và thúc đẩy tự chủ doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Quá trình đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp bắt đầu từ khoán nông hộ (khoán 10), tạo động lực thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhanh và toàn diện Đại hội VII (6/1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, khẳng định nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1/1994) tiếp tục phát triển tư tưởng Đại hội VII, xác định mục tiêu phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, đồng thời nêu ra nguy cơ của đất nước và lập luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Đại hội VIII (6/1996) khẳng định sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội và là thành tựu của nền văn minh nhân loại; đặt mục tiêu phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, coi phát triển giáo dục và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu và khâu đột phá trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội IX (4/2001) nhìn lại 15 năm đổi mới (1986-2000), rút ra 4 bài học và xác định chiến lược phát triển đất nước cho hai thập niên đầu thế kỷ XXI, khẳng định phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng thể của thời kỳ quá độ.
Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (tháng 2/2002) đã thông qua các nghị quyết nhằm tiếp tục đổi mới và đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001-2010; đồng thời xác định phát triển kinh tế tư nhân là chiến lược dài hạn, rộng rải trong các ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật cho phép và không hạn chế về quy mô.
Trong tổng kết 20 năm đổi mới (1986-2006), Đại hội X khẳng định: để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đường lối cơ bản này được làm rõ với định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường nước ta, đồng thời nêu rõ các yêu cầu cần thực hiện để nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước; phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành của các thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh; và đẩy mạnh phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh.
Hội nghị Trung ương 6 khóa X xác định kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại được phát triển dưới chủ nghĩa tư bản nhưng không đồng nghĩa với chủ nghĩa tư bản; thực tiễn đổi mới ở Việt Nam cho thấy kinh tế thị trường là phương tiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa tuân theo các quy luật của kinh tế thị trường, vừa chịu sự chi phối của các quy luật của chủ nghĩa xã hội và các yếu tố đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội XI (tháng 01/2011) tiếp tục khái quát thực tiễn, cụ thể hóa mô hình phát triển nền kinh tế thị trường và nhấn mạnh yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội nêu rõ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế được định hình bởi sự kết hợp giữa các quy luật của thị trường và các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cơ chế thị trường được vận dụng đầy đủ và linh hoạt để huy động mọi nguồn lực, phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, xóa đói giảm nghèo và tăng cường đồng thuận xã hội, nhằm đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (sửa đổi, bổ sung năm 2011) nhấn mạnh rằng xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp, với con người sống ấm no, tự do, hạnh phúc và điều kiện phát triển toàn diện Đại hội XII (tháng 01-2016) bổ sung khái niệm và làm rõ mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, xác định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vận hành đầy đủ và đồng bộ theo các quy luật của thị trường đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển, là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, dưới sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Có thể khái quát một số bước chuyển đổi mới tư duy kinh tế đặc trưng ở nước ta trong hơn 30 năm đổi mới như sau:
Chuyển từ tư duy sản xuất theo mô hình kinh tế hiện vật, phi thị trường sang tư duy sản xuất theo mô hình kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường định hướng XHCN, gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách Tư duy kinh tế về bản chất của thị trường và nội hàm của tính định hướng XHCN được xác định và ngày càng cụ thể hóa trong các kỳ đại hội Đảng, thực sự trở thành một tư duy lý luận có sức sáng tạo, không chỉ làm sáng rõ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam mà còn bổ sung cho kho tàng lý luận về CNXH.
Chuyển từ tư duy đơn sở hữu sang tư duy đa sở hữu và đa thành phần kinh tế mang lại một hệ thống nơi các thành phần kinh tế được tự do kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật Đây được xem như một bước đột phá trong nhận thức lý luận kinh tế, cởi trói tư duy và tạo động lực cho công cuộc đổi mới thực hiện thuận lợi và có hiệu quả.
Chuyển từ tư duy quản lý theo cơ chế tập trung bao cấp sang tư duy quản lý theo cơ chế thị trường giúp giảm sự ỷ lại và thụ động của con người, đồng thời mở ra điều kiện để phát huy tính tự chủ và trách nhiệm cá nhân Trong hệ thống quản lý thị trường, mỗi cá nhân và tổ chức phải chủ động đưa ra quyết định, chịu trách nhiệm trước kết quả và liên tục sáng tạo để thích ứng với biến động của thị trường Quá trình này đòi hỏi sự động viên và khuyến khích từ thể chế, minh bạch thông tin và các cơ chế đánh giá hiệu quả, nhằm tối ưu hóa sự phân bổ nguồn lực và tăng trưởng bền vững Như vậy, chuyển đổi sang cơ chế thị trường không chỉ là thay đổi cơ cấu mà còn là thay đổi tư duy, nâng cao tính năng động, sáng tạo và tinh thần tự chịu trách nhiệm của mọi người.
Quá trình nhận thức về phân phối đã chuyển từ tư duy bình quân, cào bằng và thiếu nhận thức về sự đa dạng của các hình thức phân phối sang việc thừa nhận sự đa dạng hóa các hình thức phân phối Tuy nhiên, phân phối thu nhập vẫn chủ yếu dựa trên lao động và gắn với phân phối theo vốn, tài sản, cho thấy sự liên kết giữa sức lao động và nguồn lực tài chính trong cấu trúc phân phối của nền kinh tế.
Chuyển từ tư duy không chấp nhận bóc lột và không chấp nhận phân hoá giàu nghèo sang tư duy chấp nhận bóc lột và chấp nhận phân hoá giàu nghèo ở mức độ nhất định cho thấy một sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận kinh tế - xã hội Trong khuôn khổ này, bóc lột và bất bình đẳng được nhìn nhận có thể tồn tại ở mức độ nhất định trong hệ thống, và mục tiêu là quản lý chúng thay vì loại bỏ hoàn toàn Các chính sách hướng tới cân bằng giữa động lực tăng trưởng và an sinh xã hội được ưu tiên, với công cụ giám sát và điều chỉnh để hạn chế tác động tiêu cực của phân hoá Tuy vậy, sự thay đổi tư duy này đi kèm thách thức về đo lường và kiểm soát mức độ bóc lột sao cho vẫn thúc đẩy phát triển mà không gây thiệt hại cho xã hội.
- Từ tư duy đảng viên không làm kinh tế tư nhân sang đảng viên được làm kinh tế tư nhân
- Từ tư duy kinh tế “khép kín” sang tư duy mở, chủ động hội nhập quốc tế, chấp nhận kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Chuyển từ tư duy “nhà nước làm thay thị trường” và “nhà nước làm tất cả” sang một tư duy mới: nhà nước chủ yếu thực hiện vai trò kiến tạo phát triển, khắc phục khuyết tật của thị trường và khuyến khích sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế Đồng thời, chính sách tập trung đa dạng hóa các chủ thể làm kinh tế, giảm độc quyền nhà nước và xoá bỏ độc quyền doanh nghiệp nhằm tăng cường cạnh tranh, nâng cao hiệu quả nguồn lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo cho nền kinh tế.
Chuyển từ tư duy Nhà nước đóng vai trò phân bổ nguồn lực là chủ yếu sang thị trường đóng vai trò phân bổ nguồn lực là chủ yếu đánh dấu một sự đổi mới căn bản trong cơ chế điều tiết nền kinh tế Sự chuyển đổi này đặt thị trường lên vị trí trung tâm quyết định việc phân bổ nguồn lực, dựa trên cung cầu, giá trị và hiệu quả sản xuất, nhằm tối ưu hóa nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng Để thực thi sự thay đổi này, cần khung pháp lý và thể chế phù hợp cùng các chính sách đi kèm, đảm bảo vừa duy trì sự ổn định vừa bảo đảm công bằng xã hội.
Những hạn chế về kinh tế còn tồn tại sau 30 năm đổi mới của Việt Nam và bài học rút ra sau 30 năm đổi mới kinh tế của Việt Nam
1 Những hạn chế còn tồn tại sau 30 năm đổi mới của Việt Nam
Trong quá trình đổi mới, việc định hướng thực tiễn và cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định đường lối của Đảng và cho chính sách cũng như pháp luật của Nhà nước là nhiệm vụ then chốt Lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn một số vấn đề cấp thiết cần được tổng kết thực tiễn để làm rõ và hoàn thiện cả lý luận lẫn thực tiễn.
Kinh tế Việt Nam vẫn phát triển chưa bền vững và chưa tương xứng với tiềm năng, yêu cầu và nguồn lực được huy động Tốc độ tăng trưởng cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới nhưng chất lượng tăng trưởng còn yếu, tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP còn thấp Trong 10 năm gần đây, nền kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, tốc độ tăng trưởng suy giảm và phục hồi vẫn chậm Chất lượng, hiệu quả và năng suất lao động xã hội cùng với năng lực cạnh tranh quốc gia còn ở mức thấp Phát triển kinh tế thiếu bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, phụ thuộc nhiều vào vốn và nguồn lực, chưa dựa nhiều vào tri thức, khoa học và công nghệ; lao động có kỹ năng còn thiếu và tăng trưởng chịu nhiều ảnh hưởng bởi nguồn lao động giá rẻ, lao động trình độ thấp, còn sự đóng góp chủ yếu từ đầu tư trực tiếp nước ngoài Tái cấu trúc nền kinh tế mới chỉ đạt được bước đầu, chưa đi vào chiều sâu, nhất là ở vấn đề tăng năng suất lao động Nông nghiệp vẫn còn lạc hậu, nhiều nơi vẫn dựa vào sản xuất nhỏ và hộ gia đình là chủ yếu; quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra chậm và kém hiệu quả.
Những vấn đề xã hội và quản lý xã hội còn chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết hiệu quả, dẫn đến các yếu tố bất ổn tiềm ẩn; đồng thời một bộ phận người dân vẫn chưa được thụ hưởng đầy đủ và công bằng các thành quả của công cuộc đổi mới Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, với tỷ lệ nghèo ở hộ dân tộc thiểu số chiếm 12% tổng số hộ và 15% dân số cả nước, hơn 50% hộ nghèo thuộc nhóm này và tỷ lệ tái nghèo 12% theo chuẩn đa chiều kể từ ngày 1/1/2016 Mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ cơ sở vật chất, đào tạo nghề và định hướng nghề nghiệp để các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các hộ kinh tế khó khăn vươn lên gần với nhóm trung lưu và giàu có, khoảng cách thu nhập giữa người giàu và người nghèo vẫn không giảm mà có xu hướng tăng Mức độ bất bình đẳng về thu nhập ở nước ta có xu hướng tăng lên theo thời gian. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Hãy khám phá [Pollinations.AI](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để tạo nội dung chuẩn SEO giúp bạn truyền tải thông điệp xã hội hiệu quả hơn!
Giáo dục – đào tạo và chăm sóc y tế không còn được Nhà nước bao cấp như trước đây, khiến phần đông người nghèo không có đủ tiền chữa bệnh và con em không có tiền đóng học phí phải bỏ học Điều này sẽ dẫn đến một bộ phận lớn lực lượng lao động tương lai không đảm bảo sức khỏe, trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, khó tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và gây áp lực lớn lên việc làm Vấn đề an toàn thực phẩm, an toàn xã hội và vệ sinh môi trường vẫn còn nhiều bức xúc, đồng thời làm tăng nguy cơ vô sinh và ung thư ở mức đáng lo ngại.
Năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nền kinh tế và bối cảnh phát triển hiện nay Đổi mới chính trị đôi khi chưa theo kịp đổi mới kinh tế, dẫn đến nhiều khoảng trống pháp lý và thiếu hụt cơ chế, chính sách Nhiều chính sách hiện hành đã không còn phù hợp; thể chế quản lý còn yếu và có thể cản trở sự phát triển Tình trạng này làm chậm tiến trình cải cách, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và tăng nguy cơ tụt hậu của nước ta so với các nước công nghiệp và các nước trong khu vực.
Việc xây dựng nền tảng công nghiệp để cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đạt được mục tiêu đề ra Chất lượng và tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn thấp so với tiềm năng và chênh lệch so với các nước trong khu vực Năng lực công nghiệp của nước ta vẫn còn yếu và chưa hình thành được các ngành công nghiệp nền tảng cũng như các ngành công nghiệp mũi nhọn Số lượng doanh nghiệp còn ít so với yêu cầu Sản xuất công nghiệp vẫn phụ thuộc nhiều vào đầu tư nước ngoài và nhập khẩu nguyên liệu; gia công, lắp ráp còn lấn át Mức độ nội địa hóa và giá trị gia tăng của nền công nghiệp còn thấp, các ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển Các ngành dịch vụ chất lượng cao chậm phát triển, cạnh tranh còn yếu, chưa thực sự hỗ trợ cho phát triển của doanh nghiệp và nông nghiệp Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn chưa đồng bộ, thiếu tính liên kết và hiện đại Tiến trình đô thị hóa nhanh nhưng thiếu quy hoạch dài hạn và quản lý quy hoạch khiến nhiều đô thị quá tải, chất lượng dịch vụ thấp và mô hình quản lý đô thị chưa hiện đại.
Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm
Việc nêu lên các vấn đề tồn tại và nguy cơ từ diễn biến hòa bình do các thế lực thù địch đẩy tới bằng những thủ đoạn mới tinh vi và thâm độc nhằm chống phá ta, cùng với biểu hiện “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đã làm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và chế độ có lúc bị giảm sút.
Những h n ch , khuyạ ế ết điểm trên có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân ch ủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu
Về khách quan Đổi m i là một sự nghiệp to l n, toàn diện, lâu dài, rất khó khăn, phức tạp, chưa có ớ ớ
Công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn chưa được quan tâm đúng mức; đổi mới tư duy lý luận chưa kiên quyết, mạnh mẽ và vẫn còn nhiều mặt lạc hậu so với nhịp biến đổi nhanh của thực tiễn Việc báo cáo tình hình chậm trễ và thiếu chính xác đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng các quyết sách, chủ trương và đường lối của Đảng Nhận thức và giải quyết các mối quan hệ còn hạn chế, đổi mới chưa đồng bộ và vẫn còn lúng túng ở một số lĩnh vực.
Nhận thức, phương pháp và cách thức tổ chức thực hiện đường lối, nghị quyết, chủ trương của Đảng cùng với hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước còn nhiều hạn chế Quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu chưa được quy định rõ, thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực, khiến việc quản lý và triển khai thực hiện còn bất cập Nhiều chủ trương, nghị quyết đúng đắn song chưa được tích cực triển khai, kết quả đạt được còn thấp Một số chính sách không phù hợp với thực tế, chậm được sửa đổi, bổ sung; cơ sở vật chất, nguồn lực và cơ chế phối hợp giữa các cấp, ngành còn chưa đồng bộ.
Việc quản lý, giáo dục và rèn luyện cán bộ, đảng viên—những người đảm nhận vai trò lãnh đạo, quản lý ở các cấp về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống—vẫn chưa được coi trọng đúng mức, dẫn tới hiệu quả công tác thấp và sự thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động trong Đảng trước những biến động phức tạp của tình hình chưa đạt yêu cầu Đánh giá, bố trí và sử dụng cán bộ còn tồn tại hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới và chưa chú trọng xây dựng cơ chế, chính sách trọng dụng người có đức, có tài.
3 Bài học rút ra sau 30 năm đổi m i kinh tớ ế
Ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của đất nước, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệ ểt đ , là s nghi p cách m ng to l n cự ệ ạ ớ ủa toàn Đảng, toàn dân vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" Có thể khẳng định rằng bài học kinh nghiệm trong các văn kiện của Đảng là kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân; là sự tổng k t lý lu n và thế ậ ực tiễn, được đúc rút từ nh ng kữ ết quả, thành công và nh ng y u ữ ế kém, khuyết điểm, thậm chí cả thấ ại Trên cơ sở đó, nhìn lại 30 năm đổi m i, tt b ớ ừ những thành tựu cũng như những h n ch , khuyạ ế ết điểm, Đại hội XII của Đảng đã nhấn mạnh m t s bộ ố ài học kinh nghiệm:
Một là, trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân t c và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển ch ộ ủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc t phù h p vế ợ ới Vi t ệNam
Hai là đổi mới và luôn quán triệt nguyên tắc “dân là gốc”, lấy lợi ích của nhân dân làm trọng tâm, tăng cường sự tham gia của nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; từ đó phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ba là đổi mới phải toàn diện, đồng bộ và có bước đi phù hợp; phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn và bám sát thực tiễn, coi trọng thực tiễn; nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời các vấn đề do thực tiễn đặt ra.
Ta phải luôn đặt lợi ích quốc gia và dân tộc lên trên hết, kiên định độc lập và tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi; không thể tách rời hợp tác, phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.