1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền yêu cầu thi hành án phần bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

9 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình huống nêu trên đặt ra vấn đề nguyên đơn có hay không có quyền yêu cầu thi hành án đối với phần bản án đã tuyên về việc bị đơn phải thanh toán khoản công nợ cho nguyên đơn nếu hết th

Trang 1

NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÔI

QUYÊN YÊU CẦU THI HÀNH ÁN PHẦN BẢN ÁN sơ THAM

KHÔNG BỊ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ THEO THỦ TỤC PHÚC THAM

bặnc thanhhoa *

* Tiến sã, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

E-mail: dthoa@hcmulaw.edu.vn

Tiến sĩ, Trường Đại học cần Thơ

E-mail: nhatlinh@ctu.edu.vn

CAO NHẤT LINH"

Tóm tắt: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) đều có quy định về “phần ” bản ản sơ thẩm nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thù

tục phúc thấm mà không bị khảng cáo, khảng nghị thì sẽ phát sinh hiệu lực và có giá trị thi hành Tuy nhiên, bản án sơ thấm trong đổ có phần bản án không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm của toà án

cấp cho đương sự lại không được các toà án ghi nhận “Đe thi hành ” mà ghi là “ An chưa có hiệu lực ” nên trong thực tiễn, có cơ quan thi hành án đã từ chối yêu cầu thỉ hành Qua một tình huống thực tiễn

minh họa, bài viết phân tích, luận giải về việc từ choi thi hành án trong trường hợp này cần phải được

xem xét thận trọng vì có thế xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của đương sự.

Từ khoá : Thi hành án; tố tụng dân sự; phần bản án sơ thẩm; kháng cáo; kháng nghị; thủ tục phúc thẩm Nhận bài: 16/11/2021 Hoàn thành biên tập: 29/6/2022 Duyệt đăng: 29/6/2022

THE RIGHT TO REQUEST ENFORCEMENT OF UNAPPEALED PARTS IN FIRST-INSTANCE JUDGMENT UNDER CURRENT APPELLATE PROCEDURES

Abstract: The Civil Procedure Code 2015 and the Law on Enforcement of Civil Judgments 2008

(as amended and supplemented in 2014) both have provisions that the “part” of the first-instance judgment which is not appealed or protested will become valid and enforceable if the time limit to

appeal, protest under appellate procedures expires However, the first-instance judgment, including the part of the judgment not being appealed or protested against, granted to the involved parties by

Courts is not recorded by the later as “ For enforcement ” but as “The judgment has not yet taken

effect” Thus, in reality, there have been cases in which the enforcement of such judgments is refused by the civil judgment enforcement agencies Through an illustrative practical case, this article analyzes and

explains the urgent need to carefully consider the refusal to enforce the judgment in these cases as such refusal might infringe legitimate rights and interests of the litigants.

Keywords : Enforcement; civil procedure; part of the first-instance judgment; appeal; protest; appellate

procedures

Received: Nov 16 th , 2021; Editing completed: June 2f h, 2022; Acceptedfor publication: June 2f h, 2022

1 Tình huống thực tiễn

Nguyên đơn - Công ti A với bị đơn -

Công ti B đã kí kết hợp đồng mua bán dây

chuyền máy móc, thiết bị (sau đây gọi tắt là

“dây chuyền”, “hợp đồng mua bán dây chuyền”) mà nguyên đơn là bên bán hàng có bảo lưu quyền sở hữu đối với dây chuyền cho đến khi bị đơn là bên mua hàng thanh toán đủ tiền hàng Sau khi nguyên đơn đã hoàn tất nghĩa vụ của bên bán theo thoả

Trang 2

NGHIÊN cứu - TRA o ĐỚI

thuận tại hợp đồng, giữa nguyên đơn và bị

đơn cũng đã kí kết một thoả thuận chốt công

nợ của các bên (“thoả thuận chốt công nợ”),

theo đó khoản công nợ bao gồm: 1) khoản

tiền nguyên đơn cho bị đơn vay trong một

hợp đồng nguyên đơn hồ trợ vốn sản xuất

cho bị đơn; và 2) khoản tiền các bên thống

nhất tất toán và thừa nhận nguyên đơn hoàn

thành mọi nghĩa vụ đối với bị đơn trong hợp

đồng này Tuy nhiên, sau đó nguyên đơn phát

hiện bị đơn đã thế chấp dây chuyền được

cung cấp theo họp đồng mua bán dây chuyền

nói trên cho ngân hàng c (người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan) để bảo đảm cho khoản nợ

vay tín dụng của bị đơn tại ngân hàng Chính

vì vậy, nguyên đơn đã khởi kiện để yêu cầu

toà án tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp

giữa bị đơn và ngân hàng đối với tài sản thế

chấp là dây chuyền vẫn còn thuộc quyền sở

hữu của nguyên đơn do bị đơn chưa thanh

toán đủ tiền hàng theo họp đồng mua bán và

theo thoả thuận chốt công nợ

Toà án có thẩm quyền đã thụ lí đơn khởi

kiện của nguyên đơn Trong quá trình chuẩn

bị xét xử sơ thẩm, do đã hết thời hạn trả nợ

theo thoả thuận chốt công nợ mà bị đơn

không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với

nguyên đơn nên nguyên đơn đã bổ sung yêu

cầu khởi kiện đòi bị đơn trả khoản công nợ

giữa nguyên đơn và bị đơn theo thoả thuận

chốt công nợ

Bản án sơ thẩm đã tuyên hợp đồng thế

chấp giữa bị đơn với ngân hàng vô hiệu do

bị đơn không có quyền thế chấp tài sản

không thuộc quyền sở hữu của mình và ngân

hàng cũng không phải là người thứ ba ngay

tình trong trường hợp này Ngoài ra, bản án

sơ thẩm cũng đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu

khởi kiện bổ sung của nguyên đơn đòi bị đơn

thanh toán khoản tiền công nợ còn thiếu theo thoả thuận chốt công nợ

Tình huống nêu trên đặt ra vấn đề nguyên đơn có hay không có quyền yêu cầu thi hành

án đối với phần bản án đã tuyên về việc bị đơn phải thanh toán khoản công nợ cho nguyên đơn nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có đương sự nào kháng cáo, viện kiểm sát cũng không có kháng nghị phúc thẩm

2 Trường họp áp dụng pháp luật từ tình huống minh họa

2.1 Trường hợp thử nhất: Nguyên đơn không có quyền yêu cầu thi hành phần bản

án sơ thẩm, kể cả khỉ không cỏ khảng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Trường họp này được giải thích như sau: Trước tiên, căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 và Điều 27 Luật Thi hành án dân sự (LTHADS):

“Điều 2 Bản án, quyết định được thi hành Những bản án, quyết định được thi hành theo Luật này bao gồm:

1 Bản án đã có hiệu lực pháp luật: a) Bản án hoặc phần bản án, quyết định của toà án cấp sơ tham không bị khảng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm ”.

“Điều 27 Cấp bản án, quyết định Toà án đã ra bản án được quy định tại Điều 2 của Luật này phải cấp cho đương

sự bản án, quyết định có ghi “Đe thi hành ”.

Như vậy, toà án phải cấp cho đương sự toàn bộ hoặc phần bản án có ghi “Để thi hành” thì cơ quan thi hành án mới có cơ sở

để thi hành toàn bộ hoặc phần bản án Nói cách khác, nếu toàn bộ hoặc phần bản án không có ghi “Để thi hành” thì cơ quan thi hành án hoàn toàn có quyền từ chối đơn yêu cầu thi hành án của đương sự

Trang 3

NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÓI

Tiếp đến, thực tiễn xét xử tại các toà án

hiện nay cho thấy nếu toàn bộ hoặc chỉ phàn

bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị

phúc thẩm thì toà án cấp sơ thẩm đều đóng

dấu “Án chưa có hiệu lực” trên bản án sơ

thẩm đó để phát hành và cũng chưa có bản

án sơ thẩm nào ghi rõ phần của bản án sơ

thẩm “Để thi hành”, trừ trường hợp có quyết

định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết

định đó1 và gửi cho các đương sự, viện kiểm

sát và cơ quan thi hành án

1 Xem thêm quy định tại điểm c khoản 2 Điều 266

BLTTDS và Mầu số 52 ban hành kèm theo Nghị

qụyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội

đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về bân án

dân sự sơ thẩm.

2 Xem thêm: Nguyễn Hoà Bình, Đổi mới, tăng

cường hoà giải, đối thoại trong quá trình giải quyết

các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính đáp

ứng yêu cầu cải cách tư pháp, https://www.tapchi

congsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/51654/

doi-moi%2C-tang-cuong-hoa-giai%2C-doi-thoai-

trong-qua-trinh-giai-quyet-cac-tranh-chap-dan-

su%2C-khieu-kien-hanh-chinh-dap-ung-yeu-cau-

cai-cach-tu-phap.aspx# , truy cập 20/9/2021.

3 Xem thêm: Phạm Thị Thuý, Quyền của bị đơn đối

với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn,

https://tap chitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/quyen-cua-

bi-don-doi-voi-viec-rut-don-khoi-kien-cua-nguyen-

don , truy cập 20/9/2021.

Tiếp theo là việc giải quyết theo thủ tục

phúc thẩm dù chỉ có phần (không phải toàn

bộ) bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị

nhưng việc xem xét và chờ toàn bộ bản án có

hiệu lực mới được đưa ra thi hành sẽ giúp

toà án cấp phúc thẩm thuận lợi hơn trong

việc đảm bảo quyền tự định đoạt của các

đương sự thông qua thủ tục hỏi để công nhận

sự thoả thuận của các đương sự1 2 3 và việc rút

đơn khởi kiện tại phiên toà phúc thẩm theo

khoản 1 Điều 298 Bộ luật Tố tụng dân sự

(BLTTDS) năm 2015

Như vậy, theo trường hợp thứ nhất, đối với tình huống minh hoạ, nguyên đơn nếu có yêu cầu thi hành án với phần yêu cầu bổ sung đã được toà án chấp nhận và đương sự không có kháng cáo, viện kiểm sát không có kháng nghị thì toàn bộ bản án sơ thẩm vẫn là

án chưa có hiệu lực thi hành nên sẽ không có

cơ sở để cơ quan thi hành án thi hành

2.2 Trường hợp thứ hai: Nguyên đơn chỉ

có quyền yêu cầu thi hành phần bản án sơ thấm nếu không có kháng cảo, kháng nghị phúc thẩm

Trường hợp này được luận giai như sau:

Một là, phần bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực và đương sự có quyền yêu cầu thi hành án, không phụ thuộc vào việc toà án có ghi “Để thi hành” hay không

Khoản 2 Điều 282 BLTTDS quy định:

" những phần bản án sơ thắm, quyết định của toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cảo, khảng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị” Tiếp đến, điểm a khoản 1 Điều 482 BLTTDS và điểm a khoản

1 Điều 2 LTHADS đều có quy định về những bản án, quyết định được thi hành trong đó có “ phần bản án, quyết định của toà án cẩp sơ thẩm không bị kháng cảo, khảng nghị theo thủ tục phúc thảm

Với các quy định nêu trên đã đủ để xác định phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị sẽ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Ngoài ra, Điều 31 LTHADS về tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án tại khoản 5

có quy định:

Trang 4

NGHIÊN cứư- TRAO ĐÓI

“5 Cơ quan thi hành án dãn sự từ chối

yêu cầu thi hành án và phải thông bảo bằng

văn bản cho người yêu cầu trong thời hạn 05

ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu

thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Người yêu cầu không có quyền yêu cầu

thi hành án hoặc nội dung yêu cầu không liên

quan đến nội dung của bản án, quyết định;

bản án, quyết định không làm phát sinh quyền,

nghĩa vụ của các đương sự theo quy định

của Luật này;

b) Cơ quan thi hành án dân sự được yêu

cầu không có thâm quyền thỉ hành án;

c) Het thời hiệu yêu cầu thi hành án”.

Như vậy, lí do phần hoặc toàn bộ bản án

sơ thẩm không được toà án ghi “Để thi

hành” không phải là căn cứ để cơ quan thi

hành án từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành

án Hơn nữa, nếu việc thi hành án của cơ

quan thi hành án chỉ phụ thuộc vào việc toà

án có ghi nhận “Để thi hành án” là cách hiểu

máy móc và phiến diện

Hai là, cơ quan thi hành án có quyền yêu

cầu toà án giải thích những điểm chưa rõ

trong bản án của toà án để thi hành

Khoản 1 Điều 486 BLTTDS quy định:

“Điều 486 Giải thích, sửa chữa bản án,

quyết định của toà án

1 cơ quan thi hành án có quyền yêu

cầu bằng văn bản toà án đã ra bản án, quyết

định giải thích, sửa chữa những điểm chưa

rõ trong bản án để thi hành ”.

Như vậy, trong trường hợp phần hoặc

toàn bộ bản án sơ thẩm nếu cơ quan thi hành

án cho rằng toà án tuyên chưa rõ hoặc không

có khả năng thi hành thì cơ quan thi hành án

hoàn toàn có quyền yêu cầu toà án phải giải

thích nội dung phần hoặc toàn bộ bản án sơ

thẩm đó để làm cơ sở cho việc thi hành án

Trong tình huống minh hoạ, nếu bản án tuyên chưa rõ về phần bản án để thi hành thì

cơ quan thi hành án có thể gửi văn bản yêu cầu toà án sơ thẩm xác định rõ phần bản án

về đòi khoản nợ theo yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn đã phát sinh hiệu lực

và có giá trị thi hành Như vậy, cơ quan thi hành án sẽ đủ điều kiện để thi hành phần bản

án sơ thẩm trong tình huống này

Ba là, khác với trường hợp thứ nhất, trường họp này cho rằng trong tình huống này vì bản án sơ thẩm đã bị kháng cáo toàn

bộ bởi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ngân hàng c nên bản án sẽ đương nhiên chưa phát sinh hiệu lực thi hành

Điều 271 BLTTDS quy định: “Đương

sự, có quyền khảng cáo bản án sơ thẩm, của toà án cấp sơ thẩm để yêu cầu toà án cấp phúc thâm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm ” Trong đó, đương sự trong vụ án dân sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (khoản 1 Điều 68 BLTTDS) Như vậy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu toà án cấp phúc thẩm giải quyết lại, khi đó bản án

sơ thẩm đương nhiên không thể phát sinh hiệu lực và như vậy thì cũng không có giá trị thi hành

Nói cách khác, trường hợp thứ hai này không đồng quan điểm với trường họp thứ nhất ở chỗ nếu phần bản án sơ thẩm không

bị kháng cáo, kháng nghị thì phải phát sinh hiệu lực và có giá trị để thi hành Do đó, với trường hợp phần bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm thì hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị đương sự có quyền yêu cầu thi hành án và cơ quan thi hành án không được từ chối thi hành

Trang 5

NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÓI

2.3 Trường hợp thứ ba: Phần bản án sơ

thâm không bị kháng cảo, kháng nghị có

hiệu lực nên phải có giá trị thỉ hành Toà án

câp sơ thâm phải cỏ trách nhiệm xác định

phần bản án sơ thẩm “Để thi hành ” làm cơ

sở cho cơ quan thỉ hành án thi hành

Đây cũng chính là quan điểm của nhóm

tác giả vì những lí do sau:

Một là, phần bản án sơ thẩm không bị

kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực và

đương sự có quyền yêu cầu thi hành án,

không phụ thuộc vào việc toà án có ghi “Để

thi hành”

Khoản 2 Điều 282 BLTTDS quy định:

" những phần bản án sơ thẩm, quyết định

của toà án cấp sơ thấm không bị kháng cáo,

kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có

hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn

kháng cảo, kháng nghị” Tiếp đến, điểm a

khoản 1 Điều 482 BLTTDS và điểm a khoản 1

Điều 2 LTHADS đều có quy định về những

bản án, quyết định được thi hành, trong đó

“ phần bản án, quyết định của toà án

cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị

theo thủ tục phúc thẩm ”.

Với các quy định trên đã đủ để xác định

phàn của bản án sơ thẩm không bị kháng

cáo, kháng nghị sẽ có hiệu lực pháp luật kể

từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Ngoài ra, căn cứ tại khoản 5 Điều 31

LTHADS, như đã nói lí do phần hoặc toàn

bộ bản án sơ thẩm không được toà án ghi

“để thi hành” không phải là lí do để cơ quan

thi hành án được từ chối nhận đơn yêu cầu

thi hành án Hơn nữa, nếu việc thi hành án

của cơ quan thi hành án chỉ phụ thuộc vào

việc toà án có ghi nhận “để thi hành án” là

cách hiểu máy móc và phiến diện

Quy định và cách hiểu này cũng phù họp với kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới Chẳng hạn, LTHADS của bang California, Hoa Kỳ cũng có quy định tương tự tại Điều 917.4 khi xác định phần bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm đã có hiệu lực (hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị) như sau: “Việc

kháng cảo, kháng nghị bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm không có hiệu lực làm trì hoãn việc thi hành án đối với phần bản án, quyết định đã có hiệu lực ,A.

Hai là, cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu toà án giải thích những điểm chưa rõ trong bản án của toà án để thi hành

Theo quy định tại khoản 1 Điều 486 BLTTDS: “1 cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu bằng văn bản Toà án đã ra bản án, quyết giải thích, sửa chừa những điểm chưa rõ trong bản án để thỉ hành”

Như vậy, trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu cơ quan thi hành

án cho rằng toà án tuyên chưa rõ hoặc không

có khả năng thi hành thì cơ quan thi hành án hoàn toàn có quyền yêu cầu toà án phải giải thích nội dung phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm đó để làm cơ sở cho việc thi hành án Quy định này cũng có nét tương đồng khi tham khảo pháp luật Nhật Bản Điều

294 BLTTDS Nhật Bản ghi nhận quyền yêu cầu toà án ra quyết định cho thi hành

án đối với phần bản án, quyết định không

bị kháng cáo, kháng nghị như sau: “Theo yêu cầu của đương sự, toà án cấp phúc thẩm có thể đưa ra tuyên bố cho thi hành

4 California Code of Civil Procedure, https://law.jus tia.com/codes/califomia/2007/ccp/916-936.1 html, truy cập 20/9/2021.

Trang 6

NGHIÊN CỨU-TRAO ĐÓI

án, theo hình thức của quyết định, nhưng

chỉ áp dụng đối với phần bản án, quyết định

của toà án cẩp sơ thẩm mà không bị kháng

cáo, khảng nghị ”5.

5 Code of Civil Procedure of Japan, https://www

Japanese lawtranslation.go.jp/en/laws/view/2834/en,

truy cập 20/9/2021.

6 Nội dung này cũng được khẳng định tại các nghiên cứu khác về phạm vi xem xét kháng cáo Tham khảo:

J Dickson Phillips, Jr., The Appellate Review Function: Scope of Review, Law and Contemporary

Problems, Vol 47, No 2, 1984, pp 9, https://scho larship.law.duke.edu/cgi/viewcontent.cgi?article= 3763&context=lcp, truy cập 21/9/2021.

Áp dụng trong tình huống của bài viết,

nếu bản án tuyên chưa rõ về phần bản án để

thi hành thì cơ quan thi hành án có thể gửi

văn bản yêu cầu toà án sơ thẩm xác định rõ

phần bản án về đòi khoản nợ theo yêu cầu

khởi kiện bô sung của nguyên đơn đã phát

sinh hiệu lực và có giá trị thi hành Như

vậy, cơ quan thi hành án sẽ đủ điều kiện để

thi hành phần bản án sơ thẩm trong tình

huống này

Ba là, phạm vi xét xử phúc thẩm của toà

án cấp phúc thẩm chỉ đối với phần bản án sơ

thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên

quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo

kháng nghị

Căn cứ quy định tại Điều 293 BLTTDS

thì toà án cấp phúc thẩm ‘‘chỉ xem xét lại

phần bản án sơ thẩm, của toà án cấp sơ

thẩm có kháng cảo, kháng nghị hoặc có liên

quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo,

kháng nghị ” Như vậy, đối với những phần

bản án sơ thấm không bị kháng cáo, kháng

nghị và cũng không có liên quan đến việc

xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị thì

cũng không thuộc phạm vi xét xử phúc

thẩm Ngược lại, dù không bị kháng cáo,

kháng nghị nhưng phần bản án sơ thẩm đó

có liên quan đến việc toà án cấp phúc thẩm

xem xét kháng cáo, kháng nghị thì toà án

cấp phúc thẩm vẫn có thẩm quyền xem xét

mà không phụ thuộc vào việc có hay không

CÓ kháng cáo, kháng nghị đối với phần bản

án sơ thẩm đó6

Bổn là, đương sự chỉ có quyền kháng cáo

toàn bộ hoặc phần bản án sơ thẩm nếu toàn

bộ hoặc phần bản án sơ thẩm có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của chính đương sự đó

Mặc dù theo quy định tại Điều 271 BLTTDS thì “đương sự” (trong đó bao gồm

cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan)

có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm nhưng điều này không có nghĩa rằng trong mọi trường hợp hay đối với mọi yêu cầu khởi kiện/phản tố/yêu cầu độc lập thì các đương

sự (trong đó có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) đều có quyền kháng cáo Người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người không khởi kiện (nguyên đơn), không bị kiện (bị đơn) nhưng việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ sẽ tham gia vào vụ

án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Xuất phát từ bản chất đó nên rõ ràng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng chỉ tham gia trong giới hạn đối với nội dung và phạm vi yêu cầu có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ

Tham khảo pháp luật tố tụng dân sự của Hàn Quốc quy định phạm vi kháng cáo của đương sự sẽ không được bao gồm vấn đề mà đương sự đó đã không phản đối trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự ở giai đoạn sơ

Trang 7

NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÔI

thẩm Cụ thể, Điều 415 BLTTDS Hàn Quốc

ghi nhận về phạm vi chấp nhận đơn kháng

cáo: “Bản án, quyết định sơ thẩm có thể

được xem xét căn cứ theo yêu cầu khảng cáo

của đương sự, trừ những vẩn đề đã được

thống nhất thông qua tại quá trình xét xử sơ

thẩm”1 Theo đó, có thể nhận định rằng,

pháp luật tố tụng dân sự Hàn Quốc xác định

những vấn đề mà các đương sự không phản

đối tại quá trình xét xử sơ thẩm được xét là

sự thật khách quan, không thể bị thay đổi, do

đó giới hạn việc kháng cáo của đương sự

nhằm đảm bảo sự thống nhất trong quá trình

tố tụng nói chung7 8 Bởi lẽ, pháp luật Hàn

Quốc dường như cho rằng bản chất của việc

kháng cáo là nhằm đảm bảo tính công bằng

của bản án, quyết định sơ thẩm dựa trên

những căn cứ đã được thống nhất9

7 Civil Procedure Act of South Korea (Scope of

Admitting Appeal), https://elaw.klri.re.kr/eng_

mobile/viewer.do? hseq=45913&type=part&key=8,

truy cập 22/9/2021.

8 Worthy, B., Choe, s., Lee, s., NickI, B., Rayward,

E., & Sung-Ae, L., “The Appeal of Korea:

Transnational Korean Screen Culture”,

Autstralasian Journal of American Studies, 39(1),

2020, 149 - 190, https://www.jstor.org/stable/2697

3006, truy cập 22/9/2021.

9 Bộ luật Tố tụng dân sự Hàn Quốc, https://elaw

klri.re kr/eng_mobile/viewer.do?hseq=45913&type=

part&key=8, truy cập 22/9/2021.

Trong tình huống thực tiễn, sẽ là đơn

giản để xác định rõ ràng phần yêu cầu khởi

kiện bổ sung đòi khoản công nợ của nguyên

đơn đối với bị đơn sẽ phát sinh hiệu lực và

có giá trị thi hành nếu không bị kháng cáo

bởi tất cả các đương sự và không bị kháng

nghị bởi viện kiểm sát các cấp Tuy nhiên,

tình huống thực tiễn này có thách thức từ

phía có kháng cáo của người có quyền lợi

nghĩa vụ liên quan là ngân hàng c Vì vậy,

Vấn đề pháp lí tiếp theo cần phải làm rõ là ngân hàng có quyền kháng cáo đối với phần yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn trong tình huống này hay không

Cụ thể trong tình huống này, hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, bị đơn đã không có kháng cáo, viện kiểm sát không có kháng nghị đối với toàn bộ bản án sơ thẩm Tuy nhiên, ngân hàng c kháng cáo toàn bộ bản

án sơ thẩm, trong đó bao gồm cả phần nội dung giải quyết yêu cầu khởi kiện bổ sung chốt công nợ của nguyên đơn và bị đơn Song trong đơn kháng cáo, tại phần yêu cầu toà án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết sửa bản án sơ thẩm, phía ngân hàng chỉ ghi nhận đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên hợp đồng thế chấp tài sản được

kí kết giữa bị đơn với ngân hàng có hiệu lực

mà không có bất kì nội dung nào yêu cầu sửa đổi phần bản án sơ thẩm liên quan đến yêu cầu khởi kiện bổ sung đòi công nợ của nguyên đơn đối với bị đơn Nói cách khác, mặc dù có kháng cáo nhưng phía ngân hàng hoàn toàn không có bất kì nội dung nào đề cập về việc không đồng ý và lí do của việc không đồng ý đối với phần tuyên về chốt công nợ này của bản án sơ thẩm hoặc có yêu cầu toà án cấp phúc thẩm xem xét và bác yêu cầu đòi công nợ giữa nguyên đơn đối với bị đơn

Qua những luận giải nêu trên cùng phân tích nội dung tình huống cho thấy, yêu cầu

bổ sung của nguyên đơn hoàn toàn không có liên quan đến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ngân hàng c

Tóm lại, không thể phụ thuộc vào việc

có hay không có đơn kháng cáo toàn bộ/phần bản án sơ thẩm để xác định phần/toàn bộ bản

án sơ thẩm có hiệu lực hay không mà phải

Trang 8

NGHIÊN CỨU - TR A o ĐÕI

căn cứ vào việc ai kháng cáo và có quyền

kháng cáo toàn bộ/phần bản án sơ thẩm hay

không Đây là điểm rất quan trọng và là

trách nhiệm của toà án10 Theo đó, toà án cấp

sơ thẩm, sau đến là toà án cấp phúc thẩm,

trong từng vụ án phải có sự chủ động xem

xét và xử lí vô cùng thận trọng bởi nếu

không thì hậu quả sẽ rất khó lường và có

thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền

và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác

trong vụ án khi mà vụ án bị kéo dài qua

nhiều lần, nhiều cấp xét xử và việc thi hành

án không thể thực hiện được Xem xét và

vận dụng đúng quy định này cũng sẽ tránh

được cho toà án (thẩm phán) trong việc bồi

thường thiệt hại cho đương sự (nếu có)

trong tương lai

10 Vai trò của toà án là thiết yếu trong quá trình tố

tụng cũng như các quá trình khác liên quan đến thi

hành án nên cần xác định trách nhiệm chủ động của

toà án đối với khả năng thực hiện bản án, quyết

định tuyên ra Tham khào: The Judiciary and Law

Enforcement, pp 10, https://www.unodc.org/pdf7

crime/uncjin/standards/Compendium/ptld.pdf, truy

cập 22/9/2021.

Năm là, toà án cấp sơ thẩm cần ghi nhận

và giải thích rõ quyền yêu cầu thi hành án

dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng

dân sự

Điều 483 BLTTDS quy định:

“1 Trường hợp trong bản án, quyết định

của toà án có quyết định được thi hành theo

quy định tại Điều 482 của Bộ luật này thì

trong phần quyết định của bản án, quyết

định của toà án phải ghi rõ nội dung về

quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành

án, thời hiệu yêu cầu thi hành án.

2 Khi ra bản án, quyết định, toà án phải

giải thích rõ cho đương sự biết về quyền yêu

Cầu thỉ hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự".

Theo quy định này, đây là việc toà án cần thực hiện để có cơ sở không chỉ cho đương sự có quyền yêu cầu thi hành án, cho

cơ quan thi hành án trong việc thi hành phần/toàn bộ bản án có hiệu lực được đưa ra thi hành mà còn có ý nghĩa gián tiếp xác định trường hợp nào người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến yêu cầu vụ án/yêu cầu khởi kiện có quyền kháng cáo và ngược lại, trường họp nào họ không có liên quan và đương nhiên không được quyền kháng cáo đối với phần bản án đó (tương tự như trường họp của ngân hàng trong tình huống)

Tuy nhiên, qua tìm hiểu thì hiện nay ở phần ghi nhận này tại cuối bản án sơ thẩm chỉ nêu chung chung cho trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 LTHADS mà không có sự ghi nhận cụ thể

về phần bản án được quyền yêu cầu thi hành nên mới xảy ra bất cập trong thực tiễn

áp dụng

Tóm lại, quyền yêu cầu thi hành án “phần” bản án sơ thẩm nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mà không

bị kháng cáo, kháng nghị là vấn đề pháp lí đang xảy ra phổ biến trong thực tiễn xét xử hiện nay Bên cạnh đó, quyền được kháng cáo toàn bộ/phần bản án sơ thẩm của người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hiện cũng là vấn đề còn nhiều tranh cãi Vi vậy, Toà án nhân dân tối cao cần sớm có hướng dẫn hoặc lựa chọn làm án lệ về vấn đề này để hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, đảm bảo mọi quyền và lợi ích họp pháp của các đương sự được bảo vệ một cách hiệu quả và hợp pháp./

Trang 9

NGHIÊN cửu - TRAO ĐÔI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Hoà Bình, Đổi mới, tăng cường

hoả giải, đối thoại trong quả trình giải quyết

các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành

chính đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp,

uest/nghien-cu/-/2018/51654/doi-moi%2C

-tang-cuong-hoa-giai%2C-doi-thoai-

trong-qua-trinh-giai-quyet-cac-tranh-

chap-dan-su%2C-khieu-kien-hanh-chinh-

dap-ung-yeu-cau-cai-cach-tu-phap.aspx

https://www.tapchicongsan.org.vn/web/g

2 J Dickson Phillips, Jr., The Appellate

Review Function: Scope of Review, Law

and Contemporary Problems, Vol 47,

No 2, 1984, https://scholarship law.duke

edu/cgi/ viewcontent cgi?article=3 763 &CO ntext=lcp

3 Phạm Thị Thuý, Quyền của bị đơn đối với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn,

quyen-cua-bi-don-doi-voi-viec-rut-don- khoi-kien-cua-nguyen-don

https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/

4 Worthy, B., Choe, s., Lee, s., Nickl, B., Rayward, E., & Sung-Ae, L., “The Appeal

of Korea: Transnational Korean Screen Culture”, Autstralasian Journal of American Studies, 39(1), 2020,

stable/26973006

https://www.jstor.org/

5. The Judiciary and Law Enforcement,

standards/Compendium/pt 1 d.pdf https://www.unodc.org/pdf/crime/uncjin/

PHÒNG, CHÓNG HÀNH VI QUẤY RÔI TÌNH DỤC ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN

TẠI NƠI LÀM VIỆC (tiếp theo trang 32)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

chủ trì, phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao

động Việt Nam và Phòng Thương mại và

Công nghiệp Việt Nam, Bộ quy tắc ứng

xử quấy roi tình dục, 2015

2 Bộ luật Hình sự Thụy Điển 1962, có hiệu

lực năm 1965, sửa đổi năm 1999

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại

hội đại biểu toàn quổc lần thứ VII, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1991

4 Elaine Landau, Sexual harssament, Nxb

Walker and Company New York, 1993

5 Fair Wear, “'Bảo cáo của Tổ chức phi

chính phủ Fair Wear Foundation và Care

International về tình trạng bạo hành và

lạm dụng tình dục phụ nữ trong ngành dệt

may Việt Nam”, 2019

6 Minh Đức, Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh,

hiemxahoi.gov.vn/vi/tin-chi-tiet-giai-cap- cong-nhan-viet-nam-ngay-cang-lon-manh- 106e7f5d.aspx

http://tapchibao

7 Tống cục Thống kê, Báo cáo tình hình lao động việc làm năm 2021

8 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam,

“Các giải pháp nâng cao chất lượng đời sổng hôn nhân, gia đình của công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện nay”, Đe tài khoa học cấp Bộ, 2016

9 Viện Pháp luật ứng dụng Việt Nam, Các nguyền tắc cơ bản của luật lao động hiện nay ”, https://vienphapluatungdung.vn/cac- nguyen-tac-co-ban-cua-luat-lao-dong-hien- nay.html

Ngày đăng: 28/10/2022, 17:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w