Bảng 1: Các công ty, xí nghiệp chính thuộc khu vực nhà nước của 5 nhóm ngành sản xuất và sử dụng lượng lớn và nhiều chủng loại hoá chất STT Ngành Nhà máy và khu vực chủ yếu 1 Ngành ho
Trang 1HộI HOá HọC VIệT NAM
Báo cáo Đề Tài
Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây
dựng giáo trình đào tạo và tổ chức đào tạo
về an toàn hoá chất cho
một số doanh nghiệp hoá chất
6805
17/4/2008
Hà Nội, tháng 12/2007
Trang 2Cơ quan chủ quản: BỘ CÔNG THƯƠNG
Cơ quan chủ trì: Hội Hoá học Việt Nam
Chủ nhiệm đề tài: Thạc sỹ Công nghệ Môi trường Đỗ Thanh Bái - Hội Hoá học Việt Nam
Các cán bộ tham gia thực hiện:
1 Kỹ sư Lê Quốc Khánh - Hội Hoá học Việt Nam
2 Tiến sỹ Chử Văn Nguyên - Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam
3 Tiến sỹ Đặng Xuân Toàn – Công ty Thiết kế Công nghiệp Hoá chất
4 Kỹ sư Trần Quang Hân - Hội Hoá học Việt Nam
5 Cử nhân Nguyễn Khánh Hằng - Hội Hoá học Việt Nam
6 Cử nhân Vũ Quế Hương - Hội Hoá học Việt Nam
Trang 3Mục lục
Mở ĐầU 6
PHẦN 1:TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG HOÁ CHẤT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP HOÁ CHẤT VÀ NHỮNG RỦI RO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HOÁ CHẤT 7
1.1 Hiện trạng sản xuất và sử dụng hoá chất của các doanh nghiệp thuộc ngành hoá chất 7
1.1.1 Ngành sản xuất hoá chất vô cơ cơ bản: 12
1.1.2 Ngành sản xuất phân hoá học: 13
1.1.3 Nghành sản xuất và pha chế thuốc trừ sâu: 15
1.1.4 Ngành sản xuất sơn, vecni và dầu bóng: 24
1.1 5 Ngành pin và acquy: 25
1.1.6 Ngành sản xuất các sản phẩm cao su: 26
1.1.7 Ngành sản phẩm chất dẻo 28
1.2 Tình hình tai nạn, sự cố hóa chất và những thiệt hại liên quan đến hoá chất trong và ngoài nước 29
1.2.1 Tình hình tai nạn, sự cố hóa chất trong nước 29
1.2.2 Tình hình tai nạn, sự cố hóa chất trên thế giới 31
1.3 Kết luận rút ra từ các kết quả điều tra về hiện trạng về sản xuất, sử dụng hoá chất và an toàn hoá chất 39
1.4 Cơ sở khoa học cho việc xây dựng giáo trình đào tạo về an toàn hoá chất và tổ chức đào tạo về an toàn hoá chất 41
PHẦN 2: GIÁO TRÌNH ĐÀO TẠO VỀ AN TOÀN HOÁ CHẤT CHO CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH HOÁ CHẤT 44
2.1 ẢNH HƯỞNG CỦA HÓA CHẤT 44
2.1.1 Tác hại của hóa chất đối với sức khỏe con người 44
2.1.1.1 Sự độc hại của hóa chất 44
2.1.1.2 Loại hóa chất tiếp xúc 46
2.1.1.3 Nồng độ và thời gian tiếp xúc 48
2.1.1.4 Ảnh hưởng kết hợp của các hóa chất 48
2.1.1.5 Tính mẫn cảm của người tiếp xúc 48
2.1.1.6 Các yếu tố làm tăng nguy cơ người lao động bị nhiễm độc 48
2.1.2 Tác hại của hóa chất đối với cơ thể con người 49
2.1.2.1 Kích thích 49
2.1.2 2 Dị ứng 52
Trang 42.1.2.3 Gây ngạt 52
2.1.2.4- Gây mê và gây tê 53
2.1.2.5- Gây tác hại tới hệ thống các cơ quan của cơ thể 53
2.1.2 6- Ung thư 55
2.1.2.7- Hư thai (quái thai) 55
2.1.2.8- Ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai 56
2.1.2.9- Bệnh bụi phổi 56
2.1.3 Những nguy cơ cháy nổ 56
2.1.3.1 Cháy 56
2.1.3.2 Nổ 63
2.2 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA 65
2.2.1 Nguyên tắc thay thế 66
2.2.2 Bao che hoặc cách ly nguồn phát sinh hóa chất nguy hiểm 68
2.2.3 Thông gió 69
2.2.4 Phương tiện bảo vệ cá nhân 70
2.3 KIỂM SOÁT HỆ THỐNG 76
2.3.1 Nhận diện hóa chất 76
2.3.2 Nhãn dán 77
2.3.3 Bản dữ liệu an toàn hóa chất 78
2.3.4 Bảo quản hóa chất 79
2.3.5 Các nguyên tắc vận chuyển hóa chất an toàn 83
2.3.6 An toàn trong sản xuất và sử dụng hóa chất 85
2.3.7 Lau chùi, thu dọn 88
2.3.8 Thủ tục tiêu hủy,thải bỏ hóa chất 88
2.3.9 Giám sát sự tiếp xúc 89
2.3.10 Giám sát về y tế 90
2.3.11 Lưu giữ hồ sơ 90
2.3.12 Đào tạo và huấn luyện 91
2.4 CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP 93
2.4.1 Kế hoạch khẩn cấp 94
2.4.2 Những đội cấp cứu 94
2.4.3 Sơ tán 95
2.4.4 Sơ cứu 95
2.4.4.1 Bộ phận sơ cứu 95
2.4.4 2 - Sơ cứu cho những người bị nhiễm độc 96
2.4.4.3 Vai trò của các trung tâm thông tin về độc chất 99
2.4.5 Phòng cháy, chữa cháy 100
2.4.5.1 Chuẩn bị kế hoạch chữa cháy 100
2.4.5.2 Tổ chức các đội chữa cháy trong nhà máy 102
2.4.5.3- Phòng chống cháy tự động 102
Trang 52.4.5.4.- Lựa chọn thiết bị chữa cháy 102
2.4.5.5 Chữa cháy 103
2.4.6 Quy trình xử lý rò rỉ hoặc tràn đổ hóa chất tại nơi làm việc 104
2.5 QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH KIỂM SOÁT HÓA CHẤT TẠI DOANH NGHIỆP 105
2.5.1 Thiết lập mục tiêu 106
2.5.2 Thiết lập chương trình 107
2.5.2.2 Thống kê hóa chất 109
2.5.2.3 Thủ tục mua bán 109
2.5.2.4 Đánh giá, phân loại và dán nhãn 109
2.5.2 5 Quản lý hóa chất hàng ngày 110
2.5.3- Hợp tác nhằm làm tốt hơn nữa sự kiểm soát ATHC 116
2.5.4 - Quản lý việc cấp, sử dụng và bảo quản phương tiện bảo vệ cá nhân 117
2.5.5 Triển khai, đánh giá và định kỳ luyện tập phương án khẩn cấp 118
2 5.6 Thiết lập và duy trì những quy trình giám sát sự tiếp xúc và việc kiểm tra sức khỏe 119
2.5.7 Lập kế hoạch và thực hiện chương trình huấn luyện 120
2 6 ĐIỀU TRA BÁO CÁO TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP VÀ CÁC SỰ CỐ KHÁC 120
2.6.1 Điều tra tai nạn lao động và các sự cố khác 120
2.6.2 Báo cáo tai nạn, bệnh nghề nghiệp và các sự cố khác 120
PHẦN 3 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 121
Tài liệu tham khảo 122 PHỤ LỤC THUẬT NGỮ SỬ DỤNG TRONG GIÁO TRÌNH ĐÀO TẠO 124
Trang 6Mở đầu
Ngành công nghiệp hoá chất được đánh giá là ngành công nghiệp gây ô nhiễm lớn đồng thời cũng là ngành tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro và xảy ra nhiều tai nạn hoá chất Để bảo vệ môi trường, cũng như đảm bảo an toàn cho người lao động, nâng cao nhận thức là yếu tố then chốt Nếu các doanh nghiệp hoá chất đều quan tâm đến vấn đề an toàn hoá chất thì sẽ tránh hoặc giảm thiểu được những rủi ro gây ra bởi hoá chất
Một giáo trình đào tạo thiết thực về an toàn hoá chất là điều cần thiết, đã có một
số cơ quan như Viện Hoá học công nghiệp, Viện Bảo hộ Lao động xây dựng giáo trình và tổ chức đào tạo về an toàn hoá chất, nhưng cũng chưa có một bộ giáo trình hoàn thiện để các doanh nghiệp hoá chất có thể sử dụng Trong bối cảnh Luật Hoá chất ra đời và sẽ có hiệu lực vào năm 2008, các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp hoá chất nói riêng sẽ phải có những thay đổi để thích ứng
Vì vậy, xây dựng một giáo trình đào tạo cho ngành hoá chất phù hợp với thực tế hiện nay càng cần thiết hơn bao giờ hết
Phần 1 của bản báo cáo này sẽ trình bày các kết quả của chương trình điều tra khảo sát về thực trạng sản xuất và sử dụng hoá chất của các doanh nghiệp hoá chất, đồng thời cũng đưa ra những nguy cơ tiềm ẩn của từng ngành sản xuất trong công nghiệp hoá chất Những kết luận về mức độ nhận thức, hiện trạng quản lý an toàn hoá chất cũng được đưa ra Đây là cơ sở để có thể xây dựng giáo trình đào tạo về an toàn hoá chất phù hợp với điều kiện Việt Nam Nội dung chi tiết của giáo trình được trình bày trong Phần 2 của báo cáo Giáo trình này được viết dựa trên giáo trình đào tạo của Tổ chức Lao động quốc tế, đồng thời cũng được lồng ghép với các nội dung của Chương trình Chăm sóc Trách nhiệm và tham khảo nhiều giáo trình tương tự trong nước và quốc tế Sản phẩm này đã được sử dụng cho các lớp tập huấn, đào tạo cho các doanh nghiệp thuộc ngành hoá chất Và hy vọng rằng đây là sẽ là một tài liệu thiết thực, đáp ứng được nhu cầu nâng cao nhận thức về an toàn hoá chất, góp phần tạo nên sự phát triển bền vững cho ngành công nghiệp hoá chất Việt Nam
Trang 71.1 Hiện trạng sản xuất và sử dụng hoá chất của các doanh nghiệp thuộc ngành hoá chất
Trong sự phát triển mạnh mẽ của các ngành và các khu vực kinh tế trọng điểm, công nghiệp hoá chất Việt Nam cũng có tốc độ tăng trưởng cao, từ 15-20% Hoá chất được sử dụng ở hầu như tất cả các ngành kinh tế: năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, nông nghiệp, thuỷ sản, xây dựng, cũng như các hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ khác Đặc biệt trong các ngành chủ chốt như điện tử, cơ khí, giầy da, giấy, bột giấy, in ấn, mạ, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, sản xuất và chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến các loại lâm sản, thuỷ sản khác với số lượng lớn về cả số lượng và chủng loại hoá chất
Trên thế giới, hàng năm có khoảng 400 triệu tấn hoá chất được sản xuất với khoảng 80.000 loại hoá chất khác nhau được sử dụng và bán trên thị trường Ước tính khoảng 5.000 đến 10.000 hoá chất thương mại độc hại, trong đó có khoảng
150 - 200 hoá chất được coi là nguyên nhân gây ung thư
Trong những năm gần đây công nghiệp Việt Nam đã và đang phát triển với nhịp
độ cao Cả nước có đến trên dưới 60 khu công nghiệp tập trung, và nhìn chung do định hướng quy hoạch chưa rõ hay vấn đề quản lý địa chính chưa tốt nên các khu công nghiệp đều gần khu dân cư Công nghệ và thiết bị hiện đang sử dụng tại hầu hết các cơ sở công nghiệp kể cả mới và cũ đều có chung một đặc trưng là hiệu suất các quá trình công nghiệp thấp, sử dụng nhiều lao động Từ đó dẫn đến việc
rò rỉ hoá chất độc và chất thải vào môi trường lao động mà còn tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới các hệ sinh thái, kể cả con người Trên thực tế những tai nạn tràn dầu trên sông, biển tác động đến hệ sinh thái trên một diện rộng đã xảy ra những rủi ro do hoá chất gây nên, chủ yếu là cháy, nổ trong sử dụng, lưu giữ và bảo quản hoá chất, các tai nạn và bệnh nghề nghiệp do tiếp xúc với hóa chất, những vụ ngộ độc hóa chất mà thông thường do ngộ độc thuốc trừ sâu thường xuyên xảy ra đã làm cho các nhà quản lý, dư luận cộng đồng đặc biệt quan tâm Rủi ro do hóa chất và những vấn đề về độc học môi trường cần được nghiên cứu
và đánh giá nhằm giảm thiểu các tác động đó
Ở Việt Nam, theo con số thống kê chưa đầy đủ, số lượng các chủng loại hoá chất được sử dụng mỗi năm khoảng 9 triệu tấn, trong đó có tới 3 triệu tấn phân bón và
4 triệu tấn sản phẩm dầu lửa Những loại hoá chất khác được sử dụng với lượng
Trang 8Bảng 1: Các công ty, xí nghiệp chính thuộc khu vực nhà nước của 5 nhóm ngành
sản xuất và sử dụng lượng lớn và nhiều chủng loại hoá chất
STT Ngành Nhà máy và khu vực chủ yếu
1 Ngành hoá chất cơ bản
và dân dụng Cty CP Hoá chất Việt Trì, Cty CP Hoá chất Vinh, Cty CP Hoá chất Quảng Ngãi, Cty CP
Hoá chất cơ bản Miền nam, Cty CP Công nghiệp hoá chất Đà Nẵng, Cty CP Công nghiệp Hoá chất và vi sinh, Cty CP Bột giặt
và Hoá chất Đức Giang, Cty CP Hoá chất Vĩnh Thịnh, Cty CP Phương Đông, Cty CP
Xà phòng Hà Nội, Cty CP Bột giặt Lix, Cty
CP Bột giặt NET…
2 Ngành phân bón Cty TNHH 1 thành viên Apatit VN, Cty
TNHH 1 thành viên Phân đạm và hoá chất
Hà Bắc, Cty Supe Phốt phát và Hoá chất Lâm Thao, Cty Phân Lân nung chảy Văn Điển, Cty CP Phân lân Ninh Bình, Cty Phân bón Miền Nam, Cty Phân bón Bình Điền, Cty CP Phân bón và Hoá chất Cần Thơ
3 Sản xuất, gia công
thuốc bảo vệ thực vật Cty CP Thuốc sát trùng Việt Nam
4 Ngành sơn, cao su và
chất dẻo
Công ty CP Sơn Tổng hợp Hà Nội, Công ty
CP Sơn - Chất dẻo, Cty CP Công nghiệp cao su Miền Nam, Cty CP Cao su Đà Nẵng, Cty CP Cao su Sao vàng
5 Ngành hoá dầu và khí
công nghiệp Cty CP Phát triển phụ gia và sản phẩm dầu mỏ, Cty TNHH 1 thành viên Hơi kỹ nghệ
Que hàn, Cty CP Que hàn điện Việt Đức
Hoá chất được cung cấp từ hai nguồn, một là tự sản xuất trong nước, hai là nhập khẩu Ngành công nghiệp hoá chất của Việt Nam, nhất là ngành sản xuất hoá chất
vô cơ cơ bản và phân bón đã hình thành từ rất sớm của thời kỳ công nghiệp hoá
Trang 9và theo hệ thống công nghệ và thiết bị của Liên Xô và Trung Quốc từ những năm
1960 nên hầu hết các thiết bị của ngành hoá chất Việt Nam đã quá cũ hoặc nếu mới cũng không đồng bộ (do thiếu kinh phí để đầu tư) Trong những năm gần đây, nhiều cơ sở công nghiệp hoá chất đã đầu tư trang thiết bị, đổi mới công nghệ, tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu của thị trường
Một đặc điểm quan trọng của các cơ sở sản xuất hoá chất ở Việt Nam là hiệu quả
sử dụng nguyên liệu và năng lượng thấp Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thất thoát hoá chất vào môi trường lao động và môi trường chung, gây tác động trực tiếp đến sức khoẻ và môi trường
Hoá chất nhập khẩu chiếm một tỉ lệ khá cao so với khối lượng sản xuất trong nước.Theo số liệu thống kê, kim ngạch nhập khẩu hoá chất tháng 12 năm 2007 đạt 167.625.789 USD, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu hoá chất cả nước năm
2007 lên 1.466.198.890 USD, tăng 40,7% so với cùng kỳ năm 2006 Nguồn hoá chất được nhập khẩu nhiều nhất là Đài Loan, Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản, Malaysia…
Bảng 2: Thống kê hoá chất nhập năm 2007
Nước Kim ngạch nhập khẩu năm 2007 (USD)
Ấn Độ 27.841.754Anh 2.790.006
Áo 238.807
Bỉ 8.810.760Brazil 308.091Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất 1.956.258Canada 394.644
CH LB Đức 21.265.074Extônia 359.666
Hàn Quốc 92.329.784
Hungary 283.559Indonesia 56.855.185Italia 3.679.500Malaysia 109.812.927
Trang 10Pháp 8.309.787Philippine 903.968Singapore 178.449.106
Thổ Nhĩ Kỳ 2.525.743Thuỵ Điển 1.134.086Thuỵ Sĩ 848.379Trung Quốc 303.468.196Tổng 1.466.198.890
(Nguồn: Vinanet, 20/3/2008)
Các loại thuốc Bảo vệ thực vật lượng nhập khẩu lên đến 90% Kim ngạch nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu trong năm 2007 đạt 382.830.015 USD Hoá chất dùng trong y tế cũng phải nhập khẩu phần lớn Các loại hoá chất khác cũng nhập khẩu ít nhất là 50-60% nhu cầu sử dụng
Theo số liệu của Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 tăng 15.4% so với năm 2006, doanh thu đạt 17.799 tỷ đồng Sản lượng của một số sản phẩm chính của Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam (VINACHEM) trong những năm gần đây được dẫn ra trong bảng dưới đây
Bảng 3: Sản xuất của VINACHEM năm 2006 và 2007
Axit sunphuric nghìn tấn 368 368
Trang 11Lốp ôtô triệu chiếc 1,28 1,70
Ắc quy triệu KWh 1,03 1,29 Pin triệu viên 192,91 201,42 Chất tẩy rửa nghìn tấn 241,49 281,70 Nitơ lỏng nghìn lít 4.872 7.230 Phốtpho vàng tấn 5.884 6.000
Axit clohydric tấn 50.558 59.772 Axit phốtphoric tấn 4.599 7.608
Việc tăng trưởng công, nông nghiệp với tốc độ cao thường dẫn đến khả năng xảy
ra các sự cố rủi ro tăng lên kèm theo ô nhiễm môi trường trầm trọng nếu không có những giải pháp kiểm soát hợp lý Nguyên nhân rủi ro gây tác động trầm trọng tới môi trường rất nhiều và đa dạng, trong đó rất nhiều trường hợp là do hoá chất Bản thân bất kỳ một hoá chất nào nếu vượt quá một giá trị ngưỡng nồng độ nào
đó cũng sẽ trở thành nguy hại hay có thể có tiềm ẩn những ảnh hưởng tới sức khỏe con người, môi trường, và trong nhiều trường hợp có thể dẫn đến những hậu quả khó có thể kiểm soát được Để hiểu được khả năng gây ra những tác động tới sức khoẻ và môi trường bởi những sự cố rủi ro do việc sản xuất, vận chuyển, bảo quản, sử dụng hoá chất cần phải có nhiều loại thông tin trong đó các thông tin về hoá chất, về quản lý và sử dụng hoá chất là những thông tin cơ bản
Những kết quả điều tra nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy việc sử dụng hoá chất thiếu sự kiểm soát hợp lý, thiếu hiểu biết và hoặc không có trách nhiệm đã và đang gây ra những nguy cơ cho sức khoẻ và môi trường Đặc biệt khi xảy ra các
sự cố rủi ro của một cơ sở sản xuất hay sử dụng hoá chất khi bị cháy, nổ, rò rỉ, thất thoát một lượng lớn hoá chất Những tác động do hoá chất có thể là trực tiếp, cấp tính, nhưng cũng có thể là tiếp diễn và tiềm ẩn lâu dài Những con số thống
kê về bệnh nghề nghiệp do sử dụng hoá chất được trình bày trong phần đã nói lên thực tế rất đáng lo ngại về tính độc hại do quá trình sử dụng hoá chất ở Việt Nam Những rủi ro do tai nạn, sự cố trong quá trình sản xuất và sử dụng hoá chất, hiện trạng về nhiễm độc, ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật đã là những cảnh báo cho các nhà sản xuất, quản lý và sử dụng hoá chất
Ngành công nghiệp hoá chất Việt Nam khá đa dạng, bao gồm nhiều loại hình công nghiệp sản xuất ra các sản phẩm liên quan đến hoá chất rất khác nhau
Các loại hình công nghiệp hoá chất phổ biến nhất ở Việt Nam gồm:
- Sản xuất phân bón
Trang 12- Sản xuất sản phẩm cao su
- Sản xuất hoá chất cơ bản
- Sản xuất chất giặt rửa
- Sản xuất thuốc bảo vệ thực vật
- Sản xuất sản phẩm điện hoá ( pin và acquy)
- Sản xuất sơn và chất dẻo
- Sản xuất sản phẩm từ công nghệ hoá dầu
- Sản xuất sản phẩm phục vụ ngành cơ khí và xây dựng ( que hàn và khí công nghiệp)
Ngành công nghiệp hoá chất là một trong các ngành sử dụng nhiều hoá chất nhất,
đa dạng nhất và về phương diện thải độc chất vào môi trường thì ngành hoá chất
là ngành đóng góp nhiều nhất ở Việt Nam Tuy nhiên do giới hạn mục tiêu của nhiệm vụ, ở đây chỉ đề cập tới những lĩnh vực có tiềm ẩn khả năng rủi ro lớn cũng như tương đối đại diện về mặt công nghệ sản xuất- sử dụng hoá chất của ngành hoá chất của nước ta
1.1.1 Ngành sản xuất hoá chất vô cơ cơ bản:
Ở Việt Nam hoá chất vô cơ cơ bản được sản xuất là Axit Sunfuric (H2SO4) Axit sulfuric là nguyên liệu sản xuất nhiều hoá chất vô cơ và được dùng phổ biến cho nhiều ngành sản xuất khác Ba đơn vị sản xuất Axit Sunfuric của Tổng Cty Hoá chất Việt nam là Cty Supe photphat và Hoá chất Lâm Thao, Nhà máy Supe photphat Long Thành (thuộc Công ty Phân bón miền Nam), Nhà máy Hóa chất Tân Bình (thuộc Công ty TNHH một thành viên HCCB miền Nam) đều có mức tăng trưởng cao Hiện nay tất cả các dây chuyền sản xuất axit sunfuric của VINACHEM đều hoạt động theo công nghệ sử dụng nguyên liệu lưu huỳnh (trước đây là công nghệ đốt pirit) tiếp xúc kép và hấp thụ 2 lần, nên đảm bảo tốt hiệu suất chuyển hoá và đạt được các chỉ tiêu về khí thải sản xuất theo quy định
Về phương diện đánh giá rủi ro, đáng chú ý đối với ngành sản xuất Axit sulfuric
là sự rò rỉ khí độc SO2, SO3, HF, H2SO4 đặc (98%), Oleum (30% SO3) khi sản xuất gặp sự cố và đặc biệt là trong quá trình vận chuyển axit Hiện tại ở Việt Nam, Cty Supe photphat và Hoá chất Lâm Thao là Công ty sản xuất H2SO4 lớn nhất của Việt Nam đã chuyển hoàn toàn sang sản xuất bằng Lưu huỳnh thay vì nguyên liệu quặng Pyrit đã cạn kiệt và cũng vì lợi ích bảo vệ môi trường nữa do
về cơ bản môi trường không bị tác động bởi vấn đề phế thải rắn chứa một lượng lớn Flo và nhiều kim loại nặng có độc tính cao như As, Cd, Pb Tuy nhiên sản phẩm H2SO4 và Oleum là mối quan tâm về mặt độc học do khả năng gây cháy, bỏng nặng bởi tính chất oxy hoá mạnh của axit và Oleum Mặc dù vậy, nhu cầu
H2SO4 và Oleum rất lớn tại Việt Nam vượt quá khả năng sản xuất của hai công ty
Trang 13chính là Cty Supe photphat và Hoá chất Lâm Thao, Nhà máy Supe photphat Long Thành nên hàng năm hai công ty này vẫn phải nhập một lượng lớn Axit sunfuric Toàn bộ lượng axit nhập khẩu đều qua đường biển vào cảng Hải phòng và cảng Vũng tầu vào sông Thị Vải tới cảng riêng của Nhà máy Supe photphat Long Thành
Sản phẩm Xút -Clo được đi từ công nghệ điện phân muối ăn NaCl, với điện cực than hay điện cực titan, từ Clo sẽ sản xuất HCl và các hợp chất khác của Clo Đặc biệt hiện nay nó được dùng phổ biến cho việc sát trùng nước và sản xuất chất tẩy trắng Có một số ít cơ sở sản xuất một vài loại bột mầu, muối vô cơ như: bột ôxyt sắt đỏ, crôm oxyt, kalicromat, di cromat, kẽm oxyt, phèn nhôm
Ngành công nghiệp điện phân sản xuất Xút -Clo quy mô lớn ở Việt Nam về cơ bản chỉ có hai nơi là Cty CP Hoá chất Việt Trì (Phú Thọ) và Nhà máy Hoá chất Biên Hoà (Đồng Nai) và một dây chuyền sản xuất của công ty VEDAN có trụ sở tại khu công nghiệp Long Thành - Đồng Nai Trước đây trong công nghệ Cty CP Hoá chất Việt Trì và Nhà máy Hoá chất Biên Hoà, sử dụng màng ngăn là bìa Amiang, nhưng hiện đã thay thế bằng hệ bể điện phân mới dùng màng Polimer (membran), với công nghệ này đã hạn chế tối đa sự thất thoát Clo trên dây chuyền sản xuất và loại bỏ việc dùng tấm ngăn Amiang Tuy nhiên, bởi sản phẩm của quá trình điện phân là Clo khí, là một trong những khí rất độc cả cho sức khoẻ và môi trường Những năm trước đây, do nhu cầu sử dụng NaOH rất lớn so với nhu cầu sử dụng Clo nên rất khó giải quyết vấn đề cân bằng Clo trong ngành này, và trong một thời gian khá dài, để giải quyết vấn đề dư thừa Clo đã buộc phải thải vào môi trường Tuy nhiên, hiện nay nhu cầu clo và các hợp chất của Clo tăng rất mạnh, đặc biệt được sử dụng nhiều trong công nghệ xử lý nước nên ngành này không phải chịu sức ép về dư thừa Clo mà mối quan tâm chính là quản
lý và sử dụng sản phẩm Clo và các dẫn xuất như thế nào
Từ Clo khí, để sản xuất HCl, các cơ sở sản xuất Xút -Clo phải đốt khí H2 và Cl2
trong tia hồ quang Cl2 khí là nguồn gây ô nhiễm hoá chất quan trọng trong khâu này Từ Cl2, người ta sản xuất các dẫn xuất khác của Clo như Javen, Hypoclorua canxi, Clo hoá latex để sản xuất sơn gốc cao su clo …, đây chính là nguồn gây ô nhiễm khí Clo và hợp chất Clo mang tính ôxy hoá mạnh và chứa đựng nhiều nguy
cơ rủi ro
1.1.2 Ngành sản xuất phân hoá học:
Sản xuất phân bón của Việt Nam về cơ bản là sản xuất phân lân, phân đạm và phân hỗn hợp NPK
Trang 14Phân lân sản xuất ở Việt Nam có hai dạng là phân Supe photphat đơn và phân lân nung chảy Nguyên liệu chủ yếu để sản xuất phân lân là quặng apatit, trong thành phần quặng có flo là nguồn gây ra ô nhiễm các hợp chất chứa flosilisic có độc tố cao Trong công nghệ supe đơn, chất phân giải quặng apatit là axit sulfuric, còn trong công nghệ phân lân thuỷ nhiệt, người ta sử dụng phụ gia nung chảy là các quặng chứa canxi, magie, silic ở nhiệt độ cao Như vậy cả hai phương pháp đều tạo ra những chất độc từ Flo và Florosilisic Hiện tại ở Việt Nam chỉ có hai cơ sở sản xuất phân Supe photphat là Cty Supe Phốt phát và Hoá chất Lâm Thao và Nhà máy Supe photphat Long Thành Công nghệ phân lân nung chảy được một
số cơ sở khác sử dụng như Công ty Phân lân Văn Điển, Công ty Phân lân Ninh Bình… Tương tự như ngành điện phân xút clo, sản xuất phân lân luôn song hành với việc tạo thành các sản phẩm flo Trong thành phần khí sau lò có chứa tới 30% khí CO và một lượng hydro phụ thuộc vào độ ẩm của nguyên liệu đưa vào lò Hỗn hợp này thường được tận dụng lại để sấy nóng không khí trước khi vào lò
CO là khí cực độc, khi được đốt cháy hoàn toàn trong hệ kín chỉ còn thải ra môi trường CO2 và H2O Tuy nhiên đây là hỗn hợp rất dễ gây nổ và khi có sự cố lò, sự
cố rủi ro có thể xảy ra, khí sau lò không được đốt cháy để tận dụng nhiệt và có khả năng gây nổ Nhìn chung trong loại hình công nghệ này luôn tạo ra dãy các sản phẩm độc cho sức khoẻ và môi trường và tiềm ẩn sự cố rủi ro Trong công nghệ, Flo hình thành và tồn tại ở cả pha khí lẫn pha lỏng (nước thải), tác động trực tiếp đến con người và môi trường Dù muốn hay không, flo và dẫn xuất của chúng vẫn hình thành Các nhà nghiên cứu cũng đã đặt vấn đề thu gom và chuyển hoá flo thành các sản phẩm thương mại hoá được Trước đây Công ty Supe photphat và Hoá chất Lâm Thao đã chuyển hoá chất này thành sản phẩm thuốc bảo quản gỗ là Na2SiF6 để bán cho Trung Quốc Đây cũng là một sản phẩm rất độc, tuy nhiên hiện thị trường này đang bế tắc, do đó flo vẫn phải thải vào môi trường Một trong những hướng giải quyết là chuyển vào phân bón supe dưới dạng CaF2, tuy nhiên chưa được khẳng định về tác động của hàm lượng cao flo trong phân bón đối với môi trường đất nên về cơ bản vẫn chưa phải là hướng thương mại Do chưa giải quyết được vấn đề thị trường flo nên vấn đề flo vẫn còn
bỏ ngỏ, và sự thất thoát flo vào môi trường lao động và môi trường tự nhiên vẫn đang tiếp tục xảy ra
Trong ngành sản xuất phân đạm của Việt Nam hiện nay, nguyên liệu cơ bản là than và không khí Quá trình sản xuất CO, H2 và N2 dựa vào phản ứng của hơi nước ở nhiệt độ cao sẽ là nguồn tạo ra một lượng lớn các chất độc như các dẫn xuất phenol, cyanua … và đặc biệt là các hợp chất dạng PAH rất phức tạp trong pha khí và pha lỏng Do đặc trưng công nghệ, quá trình khí hoá than để sản xuất
CO, H2; quá trình sản xuất Nitơ, ôxy từ không khí cũng như quá trình tổng hợp Amoniac, urê đều sử dụng nhiệt độ cao, áp suất cao nên đều tiềm ẩn nguy cơ rủi
ro cháy, nổ, dò rỉ hóa chất độc mà đặc biệt là khí Amoniac ở cả pha khí lẫn pha lỏng
Trang 151.1.3 Nghành sản xuất v à pha chế thuốc trừ sâu:
Ở Việt Nam về cơ bản mới chỉ có công nghiệp pha chế và đóng gói hoá chất bảo
vệ thực vật (chủ yếu là thuốc trừ sâu) từ nguyên liệu (hoạt chất) được nhập từ nước ngoài Hoá chất bảo vệ thực vật khi đó có hai dạng sản phẩm: dạng dung dịch hoặc nhũ- huyền phù trong nước, dầu hay trong dung môi hữu cơ, và loại thứ hai là dạng bột Khi các hoạt chất được pha chế thành sản phẩm và đóng gói, người ta đã phải sử dụng nhiều dung môi hữu cơ hay một số chất tạo nhũ có thành phần phức tạp và độc tố cũng thay đổi Hoạt chất và các chất tạo nhũ cùng với dung môi chính là nguồn gây ô nhiễm hoá chất đáng kể trước khi sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật được đem ra sử dụng trong thực tế Hiện nay do cơ chế thị trường và do không kiểm soát được, nên khó ước tính được lượng HCBVTV sử dụng cụ thể Pha chế, đóng gói và sử dụng không hợp lý HCBVTV đã và đang gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và cộng đồng Các dung môi pha chế là dầu khoáng, xylen, benomyl, metyl clorua Đây đều là những chất nguy hại hoặc dễ cháy
Tại Hà Nội, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, có rất nhiều cơ sở đóng gói sang chai hoá chất BVTV Một số ít là cơ sở vốn đầu tư nước ngoài có trang bị tự động, có đội ngũ công nhân được đào tạo và có hệ thống quản lý hoá chất độc và chất thải nguy hại rất nghiêm ngặt, còn một số là vốn trong nước và nhiều nơi còn rất thủ công Tuy công nghệ rất đơn giản, nói chung chỉ bao gồm kỹ thuật pha trộn, sang chai, đóng gói nhưng đây chính là nguy cơ tiềm tàng rủi ro bởi các sự
cố rò rỉ, thất thoát một lượng đáng kể các hoạt chất thuốc trừ sâu ở dạng có nồng
độ rất cao, đồng thời trong công nghệ phải sử dụng nhiều dung môi hữu cơ để pha thuốc, do đó nếu trang thiết bị và trình độ hiểu biết của người công nhân không tốt, và nhất là khâu quản lý hoá chất và chất thải kém thì công nghệ này sẽ chứa đựng những tiềm ẩn về rủi ro do cháy- nổ làm thất thoát thậm chí biến đổi bản chất độc học của một số hoạt chất được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất, gây nên sự cố hoá chất khó lường
Công ty CP Thuốc sát trùng Việt Nam (VIPESCO) là cơ sở lớn sản xuất cácửan phẩm thuốc trừ sâu, thuốc sát trùng gia dụng, thuốc trừ bệnh, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ chuột và thuốc điều hoà sinh trưởng Công ty có 7 cơ sở sản xuất và nghiên
cứu, trong đó có 3 cơ sở liên doanh với nước ngoài
VIPESCO sản xuất tới khoảng trên dưới 120 loại sản phẩm dựa trên 50 loại hoạt chất khác nhau, bao gồm phospho hữu cơ, carbamate, pyrethroide, vi sinh, muối
vô cơ … Dạng sản phẩm bao gồm dạng lỏng (23%), dạng bột (5%), dạng hạt (70%) và một số dạng khác (2%) Các sản phẩm đều có công dụng chống nhiều loại sâu và rầy, trừ nấm, trừ cỏ, kích thích điều hoà sinh trưởng và hoá chất vệ sinh dịch tễ và sản phẩm gia dụng (hương chống muỗi, thuốc chống mốc ) Các
Trang 16- Isoprothiolane 40% ( Kofujy-Gold 40 EC)
- Difenoconazole 15% +Propiconazole 15% ( Super-Kostin 300EC)
- Surfactant series ( Kosunpol )
Có thể nói đây là một trong những cơ sở ít ỏi của Việt nam tổng hợp các hoạt chất dùng sản xuất thuốc bảo vệ thực vật VIPESCO cũng đã và đang đầu tư những dây chuyền thiết bị hiện đại như :
- Dây chuyền gia công thuốc dạng huyền phù (Suspension Concentrate) với sản phẩm Vicarben
- Dây chuyền gia công thuốc hạt Carbofuran xuất khẩu với sản phẩm VIFURAN 3,5, 10 hạt xuất khẩu và tự động hóa khâu đóng gói thuốc hạt
- Dây chuyền gia công đóng gói thuốc bột nước (Wetable Powder) với công nghệ Jet-mill (nghiền siêu mịn bằng khí động)
Theo quy định của Nhà nước Việt Nam, các cơ sở sản xuất thuốc trừ sâu không được phép sản xuất và lưu hành các thuốc trong danh mục cấm và khuyến khích thay thế dung môi hữu cơ bằng dung môi nước Tuy nhiên trên thực tế còn lưu hành nhiều loại trong danh mục cấm, và lượng thuốc dung môi sử dụng khá lớn Thuốc trừ cỏ trên cơ sở 2,4D vẫn được sản xuất và lưu hành khá phổ biến
Trang 17Bảng 4: Các loại thuốc bảo vệ thực vật được sản xuất và phân phối bởi công ty VIPESCO
STT Tên thuốc Thành phần-Hoạt chất và phụ gia hoạt chất Nồng độ
1 Tiller S Fenoxaprop- P- Ethyl 45 g/l
(2.4)- Dichlorophenoxy Acetic acid 70 g/l
2 Tiller S Fenoxaprop- P- Ethyl 45 g/l
(2.4)- Dichlorophenoxy Acetic acid 70 g/l
3 VIFOSAT 480DD Glyphosate-isopropylamine salt (muối) 480 g/l
4 VIFOSAT 480DD Glyphosate-isopropylamine salt (muối) 480 g/l
Trang 18Basic cupric cloride 16%
24 VIKITA 10H (S-benzyl)-O,O-di-isopropyl phosphorothioate 10%
Trang 19dihydroxy-6-hydroxymethyl-4-4,5,6 enylamino]cyclohexyl
Trang 2040 ViBAM 5H 2-(1-methylethyl) phenyl methyl carbamate 2%
methylcarbamoyl)phosphorodithioate 3%
51 VIBAM 5H 2-(1-methylethyl) phenyl methyl carbamate 2%
O,O- Dimethyl-S-(N-methylcarbamoyl methyl)phosphorodithioate 3%
2-N-N-dimethylamino-1-sodium thiosulfonic acide propane 5%
Trang 2156 ViSUMIT 50 ND O,O-Dimethyl-O-4nitro-m-tolyl phosphorothioate 50%
67 ViBASA 50ND 2-(1-methylethyl) phenyl methyl carbamate 50%
Trang 22(RS)-alpha-cyano-3-phenoxybenzyl tetramethyl-
Trang 23Trộn tạo hạt
Kho sản phẩm
Đóng bao
Khuấy trộn Nghiền siêu
mịn
Kho sản phẩm
Đóng chai tự động Bồn chứa
Phân
lập
giống
Nhân giống
Cô đặc
Lên men
chế
Thành phẩm
Không khí
Không khí
Trợ lọc Pha chế: axit, mầu, Chất bảo quản
Môi trường
Trang 241.1.4 Ngành sản xuất sơn, vecni và dầu bóng:
Ngành sản xuất sơn, verni và mực in của Việt Nam rất đa dạng Ở Hà Nội có hai
cơ sở sản xuất lớn là Công ty CP Sơn tổng hợp Hà Nội và Công ty Hoá chất Sơn
Hà Nội Khu Đồng Nai có cơ sở liên doanh Sơn Đông Á Trong thành phố Hồ Chí Minh có ít nhất 10 cơ sở sản xuất sơn với quy mô khác nhau Các cơ sở tư nhân ở quy mô vừa và nhỏ rải rác trong cả nước nhưng chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn chiếm một thị phần đáng kể Công nghệ cơ bản để sản xuất sơn là chế tạo ra nhựa gốc, sau đó nhựa gốc được nghiền rất mịn và cùng với pigment màu được pha trong dung môi thành sơn Nhựa gốc được sản xuất từ dầu thực vật, hoặc từ polimer tổng hợp
Việc sản xuất sơn alkyd ở Việt Nam trên cơ sở dầu thực vật nói chung còn rất thủ công Quá trình hình thành nhựa alkyd từ dầu thực vật khá phức tạp, tuy nhiên có thể biết chắc rằng có nhiều loại dầu thực vật sử dụng để nấu sơn có khả năng gây
dị ứng cho người lao động Hiện nay, do nguyên liệu dầu thiếu và cũng vì lý do kinh tế, kỹ thuật, nhựa gốc alkyd ít được nấu mà chủ yếu nhựa sơn gốc sử dụng ở Việt Nam chủ yếu là nhập khẩu các monomer, bán polimer hay polimer, do đó rủi
ro do dị ứng dầu không hay xảy ra
Chủng loại cũng như lượng hoá chất sử dụng trong pha chế sơn khá nhiều và phức tạp: các loại bột mầu, các loại dung môi, các chất phụ gia hoá dẻo, chống lão hoá, điều chỉnh tính cơ lý của màng sơn :
• Các loại nhựa gốc: alkyd resine, acrylic resine, epoxy, PU, ABS
• Các loại bột mầu: trắng titan(titan oxit), trắng kẽm(oxyt kẽm), đỏ sắt (oxit sắt III), vàng kẽm (cromat kẽm), thái thanh lục, thái thanh lam (gốc Ftalocyanyl)
• Các chất độn: CaCO3, Talc, BaSO4
• Các loại dung môi: xylene, toluene, butyl acetate, white spirit, metyl etyl xeton, dung môi hỗn hợp
• Các chất phụ gia như: chống lắng, chống tạo bọt, chống mốc, tạo nấm, diệt khuẩn
Tuy nhiên khó có thể có được các thông tin của các chất chống lắng, chống tạo bọt, chống mốc, tạo nấm, diệt khuẩn Lượng dung môi sử dụng để pha sơn như toluen, xylen, butyl acetat được biết là khá lớn
Chỉ tính riêng khu vực Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh, trung bình hàng năm sử dụng khoảng 4.000 tấn hoạt chất và khoảng 16.000 tấn hoá chất khác bao gồm: dung môi, chất độn, phụ gia…
Trang 25Theo thống kê tại Hà Nội với hai công ty sơn (Công ty CP Sơn tổng hợp Hà Nội
và Công ty Hoá chất Sơn Hà Nội), lượng sơn alkyd sản xuất khoảng trên 5.000 tấn, sơn epoxy khoảng gần 1.000 tấn, riêng sơn cao su vòng hoá, sơn chống hà đã lên tới trên 400 tấn/ năm
Công đoạn nghiền sơn gốc và pha chế sơn từ sơn gốc, pigment, phụ gia và dung môi là nguồn quan trọng phát tán hơi dung môi và bụi hoá chất độc đồng thời cũng tạo nên môi trường cực kỳ dễ phát hoả hoạn Những nguy cơ này tuỳ thuộc rất nhiều vào hệ thống thiết bị và ý thức thực hiện các biện pháp an toàn Hiện tại hầu hết các cơ sở khảo sát đều đã có hệ thống tự động trong các khâu này và nhìn chung là theo nguyên lý hệ thống kín
1.1 5 Ngành pin và acquy:
Tại Hà Nội hiện có một cơ sở sản xuất pin điện là Công ty CP Pin Hà Nội, sản phẩm chủ yếu là pin với hệ điện cực Zn/MnO2/Graphit Trong công nghệ này người ta sử dụng một lượng nhỏ muối thuỷ ngân (HgCl2) để làm chất chống phân cực, tuy nhiên lượng sử dụng hiện tại chỉ vào khoảng trên dưới 300 kg/năm và đã được quản lý hết sức nghiêm ngặt Việc sản xuất điện cực than bằng công nghệ thiêu kết hiện được chuyển lên Công ty Acquy Vĩnh phú Thiêu kết điện cực than
là thiêu kết lõi điện cực từ bột graphit được kết dính bằng nhựa than đá Nhựa than
là tổ hợp của rất nhiều các hợp chất hữu cơ, đặc biệt là các hợp chất đa vòng nên khi nung sẽ xẩy ra quá trình cháy Nếu quá trình cháy không hoàn toàn thì công nghệ này chính là nguồn đẩy các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC) và các hợp chất đa vòng thơm (PAH) vào môi trường không khí, gây tác động trực tiếp cho sức khoẻ và môi trường Hiện tại do công suất lò còn nhỏ nên về cơ bản lõi than vẫn được nhập khẩu là chính
Công đoạn trộn bột dương cực từ than là nguồn gây ô nhiễm không khí rất đáng chú ý do sự phát tán của các hạt than có kích thước rất nhỏ Tại Công ty CP Pin Hà Nội, việc trộn bột dương cực hiện đang được hiện đại hoá để hạn chế tác động của bột hoá chất đến con người Ngoài ra còn có một số hóa chất có độc tính nhất định đối với sức khỏe và môi trường như muối amoni, muối kẽm và hơi kẽm kim loại
Ba cơ sở sản xuất Acquy thuộc VINACHEM là Công ty CP Acquy-Pin Vĩnh Phú, Cty CP Acquy Tia Sáng (Hải Phòng) và Cty CP Pin-Acquy Miền Nam
Ngành sản xuất ắc quy chì bao gồm hai công đoạn quan trọng liên quan đến hoá chất là:
• công đoạn chuẩn bị bản cực chì (đúc bản cực, nghiền bột chì, tạo và trát cao chì chứa bột chì, bột oxyt chì và axit H2SO4 đặc)
Trang 26• công đoạn chế tạo vỏ bình bằng cao su ebonit, trong đó có giai đoạn luyện cao su và lưu hoá (tương tự ngành cao su sẽ phân tích sau); tuy nhiên hiện nay hầu hết các cơ sở sản xuất ắc quy đều nhập vỏ bình nhựa)
• công đoạn hoá thành bình điện khi đó có hơi axit bốc lên khá mạnh
1.1.6 Ngành sản xuất các sản phẩm cao su:
Số các cơ sở sản xuất các sản phẩm cao su dân dụng và công nghiệp tại các thành phố trong khu vực nghiên cứu khá nhiều; về quy mô lớn đáng chú ý là Công ty CP Cao su Sao Vàng tại Hà Nội, Công ty CP Cao su Đà Nẵng, Công ty Cao su màu Đồng Nai ở Đồng Nai, Công ty CP Cao su Miền Nam và khá nhiều cơ sở khác ở
TP Hồ Chí Minh
Nguyên tắc công nghệ của ngành sản xuất sản phẩm cao su là từ cao su sống (tự nhiên hoặc nhân tạo), luyện (nghiền trộn) với chất phụ gia để tạo một hệ vật chất đồng nhất trước khi đưa cao su đã luyện vào khuôn ép thực hiện quá trình lưu hoá
Về cơ bản cao su sống dù là cao su tự nhiên (butadien) hay nhân tạo (rất đa dạng: nitril, butyl, silicon hay acrilic …) khi nhập về là những vật chất trơ trong điều kiện thông thường, chỉ có nguy cơ dễ bắt cháy Nhưng hoá chất và phụ gia cho quá trình hình thành sản phẩm cao su thì rất phức tạp, bao gồm:
• Lưu huỳnh là một á kim tồn tại dưới dạng bột, không tan trong nước, nhưng thuộc loại nguyên liệu dễ bốc cháy, dễ thăng hoa trong điều kiện tự nhiên
• Các hoá chất làm tăng tốc độ quá trình lưu hoá, được gọi là chất xúc tiến, được đưa vào sản phẩm cao su ở một tỷ lệ nhỏ hơn nhiều so với lưu huỳnh,
cỡ 0.62 – 0.64% lượng cao su Chất xúc tiến có nhiều dạng khác nhau, nhưng về cơ bản đều là những chất có dạng amin hay carbamat (sulfua) hữu
cơ mạch vòng Các hợp chất này tồn tại ở dạng bột rắn, và có mùi đặc trưng
• Chất làm giảm khả năng bị oxy hoá của sản phẩm cao su hay còn được gọi
là chất phòng lão, được sử dụng với khối lượng lớn cỡ trên dưới 3.5% đối với tổng lượng cao su Hầu hết chúng là sản phẩm hữu cơ dạng dẫn xuất của phenol có khả năng làm giảm hoặc ngăn ngừa quá trình oxy hoá, không tan trong nước Thông thường chúng tồn tại dưới dạng bột rắn
• Các chất độn và dầu hoá dẻo, chất làm mềm, acid stearic, chất chống tự lưu Tổng lượng các chất này so với cao su là vào khoảng trên dưới 20% Trong số các chất này thì kẽm oxyt được sử dụng với khối lượng lớn nhất,
cỡ 8% so với tổng khối lượng cao su Oxýt kẽm là loại chất dễ phân tán vào
Trang 27môi trường không khí do rất nhẹ, đồng thời cũng là loại chất dễ hoạt động trong môi trường dù chỉ hơi mang axít hay kiềm, do đó có ý nghĩa nhất định đối với ô nhiễm nước Một tác nhân nữa là dầu hoá dẻo Khác với chất hoá dẻo dùng cho nhựa, dầu hoá dẻo dùng cho sản phẩm cao su, đặc biệt từ cao
su thiên nhiên, người ta thường sử dụng sản phẩm của công nghệ chế biến dầu thông (được gọi là dầu tùng tiêu) Loại chất này dưới dạng dầu quánh, không tan trong nước, không bay hơi mạnh, nhưng dễ cháy
• Loại chất độn quan trọng nhất và sử dụng với khối lượng rất lớn và cũng có tác động đến sức khoẻ và môi trường nhiều nhất là muội than đen Trong trường hợp sản xuất sản phẩm lốp ôtô chịu lực cao và cần độ chống mài mòn cao, chúng được sử dụng với tỷ lệ khối lượng cỡ trên dưới 60% so với cao su Muội than có đặc trưng là rất mịn và nhẹ nên là một tác nhân ô nhiễm môi trường không khí rất quan trọng
• Một loại nguyên liệu hoá chất quan trọng ở dạng chất lỏng là xăng công nghệ, sử dụng với tỷ lệ cỡ 2,5 % so với tổng lượng cao su Xăng công nghệ
là chất rất dễ bay hơi, dễ cháy, nhiệt độ sôi đối với xăng dùng cho công nghệ cao su là 80-110OC, hàm lượng lưu huỳnh nhỏ hơn 0,025%, hydro carbon thơm nhỏ hơn 3% , không được có Pb trong xăng Vì được sử dụng trong quá trình công nghệ chứ không phải trong động cơ kín nên xăng tác động trực tiếp đến môi trường lao động như các hoá chất khác Mức độ tác động cũng phụ thuộc vào loại máy, thao tác và môi trường
Các dung môi được sử dụng với khối lượng rất lớn trước khi lưu hoá và sẽ chuyển hoàn toàn vào môi trường không khí dưới tác dụng của nhiệt độ lưu hoá (khoảng trên 100oC), gây ra nguy cơ nhiễm dung môi trực tiếp đối với người lao động và dân cư xung quanh Đặc biệt nếu cơ sở sử dụng xăng chì thì ngoài dung môi còn
có nguy cơ nhiễm chì
Hiện nay ở các công ty sản xuất các sản phẩm cao su, khâu tháo và lắp khuôn hầu hết còn ở mức thủ công hay bán tự động, do đó người công nhân phải đứng ở tư thế tiếp xúc trức tiếp với hơi hay khí thoát ra từ quá trình lưu hoá, đặc biệt là với công nghệ sản xuất săm lốp ô tô Với các loại sản phẩm này, keo và xăng được sử dụng rất nhiều để gắn kết các lớp cao su và vải bố với nhau Toàn bộ lượng dung môi cho keo sẽ thoát vào môi trường lao động, khác với trường hợp của công nhân sản xuất sơn, lượng dung môi pha sơn chỉ thoát ra khi sử dụng sơn Nếu như không có một kiến trúc công nghiệp hợp lý thì lượng dung môi này sẽ tác động trực tiếp tới người lao động đang thao tác trên khuôn sản phẩm cao su mỗi khi tháo dỡ khuôn
Khu vực cán luyện cao su là khu vực mà người lao động phải tiếp xúc với các hoá chất dạng bột như muội than đen (Carbon black), các oxyt kim loại, các chất màu,
Trang 28các chất phụ gia cho cao su khác … Vì các hoá chất này cần phải rất mịn để có thể phân tán đều trong cao su sau khi luyện nên nếu các quá trình cân, đong và nhập liệu vào máy luyện và cán được tiến hành thủ công thì đây chính là nguồn tiếp xúc rất nguy hiểm với hệ hô hấp của công nhân Các hoá chất này đều là những hoá chất có tính phản ứng cao như oxýt kim loại, dễ tác động đến hệ hô hấp như muội than, lưu hùynh
Lượng sử dụng than và lưu huỳnh cũng như xăng trong công nghệ sản phẩm cao
su là rất cao, thí dụ xăng là khoảng 2,5 %, muội than là khoảng 40-60%… sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm đối với công nhân trong ngành
1.1.7 Ngành sản phẩm chất dẻo (gồm các sản phẩm nhựa, mút, tấm bông
PE ):
Ngành sản xuất các sản phẩm chất dẻo là một trong những ngành có số lượng các
cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ tương đối lớn VINACHEM có 1 cơ sở sản xuất sản phẩm chất dẻo là Cty CP Sơn – Chất dẻo tại Tp Hồ Chí Minh, chuyên sane xuất bao bì chất dẻo, chi tiết, phụ tùng, ống dẫn bằng nhựa PVC Ngoài ra VINACHEM còn có 2 Công ty liên doanh sản xuất nhựa PVC và chất hoá dẻo Đó
là Cty TNHH Nhựa và Hoá chất TPC VINA và Cty Liên doanh hoá chất LG VINA
Hoá chất sử dụng trong ngành này chia làm 3 loại:
- Nhựa hạt: PP, PE, PVC, TDI
- Phụ gia: DOP
- Bột mầu cho nhựa
- Ngoài công đoạn đùn ép, thổi màng nhựa một số cơ sở còn thêm các công đoạn tạo hình, in trên nhựa hoặc hoàn thiện các sản phẩm nhựa và công đoạn này có sử dụng các loại dung môi như: toluen, butyl axetat, isopropyl ancol, metyl chlorua, MEK, DMF, DOP
- Đối với các cơ sở sản xuất mút xốp trên cơ sở poly uretan, nguyên liệu để chủ yếu để sản xuất là TDI (toluene diisocyanate) là một hoá chất cần quan tâm vì bản thân đây là hoá chất độc và được sử dụng với số lượng lớn
Trang 291.2 Tình hình tai nạn, sự cố hóa chất và những thiệt hại liên quan đến
hoá chất trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình tai nạn, sự cố hóa chất trong nước
Theo thống kê chưa đầy đủ, trong công nghiệp hoá chất hiện nay được sử dụng với
một lượng khổng lồ, với trên 900.000 tấn hoá chất công nghiệp và hơn 4 triệu tấn
hoá chất là sản phẩm xăng dầu, mỡ bôi trơn và hàng ngàn tấn hoá chất dùng trong
mục đích khác, kể cả sản xuất, pha chế thuốc bảo vệ thực vật Công nhân trực tiếp
sản xuất hoá chất là những người có nguy cơ nhiễm ở mức độ cao nhất do thời
gian tiếp xúc lâu dài Với khoảng 50 công ty, cơ sở sản xuất phân bón, cao su, chất
dẻo, chất tẩy rửa, hoá chất bảo vệ thực vật và 30.000 lao động với 11.600 công
nhân phải tiếp xúc với hoá chất hàng ngày, thiết bị cũ kĩ, công nghệ sản xuất lạc
hậu, lao động thủ công phổ biến, công nhân luôn phải làm việc trong môi trường
độc hại cao mà không có đầy đủ tranh thiết bị an toàn lao động, phòng độc, số
công nhân mắc bệnh nghề nghiệp tương đối cao và luôn tiềm ẩn khả năng xảy ra
tai nạn, rủi ro nghiêm trọng (bảng 4 và 5) Do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên
nhân chủ yếu là do trang thiết bị an toàn lao động không đầy đủ và đảm bảo, nội
quy an toàn lao động không chặt chẽ và không được tuân thủ nghiêm ngặt, cùng
với trình độ hiểu biết có hạn, hàng năm con số tai nạn do hoá chất gây ra ở nước ta
tương đối nhiều (bảng 4) Trong đó, các vụ cháy, bỏng do hoá chất chiếm tỉ lệ cao
nhất so với các sự cố khác
Bảng 5: Thống kê tai nạn hoá chất trong 5 năm 1995 - 1999
Năm Số vụ tai nạn Số người bị tai
nạn Bỏng hoá chất, xăng dầu
Ở Việt Nam, một sự cố hoá chất lớn đầu tiên vào năm 1981 tại thành phố Hồ Chí
Minh gây sự chú ý của dư luận là vụ nhiễm độc do sử dụng phấn rôm có Wafarin
trong thành phần thương phẩm với hậu quả 177 người chết và 564 người bị tổn hại
sức khỏe mà chủ yếu là trẻ em
(Số liệu của IAEA-TECDOC994/1998 VIENA)
Năm 1997, một vụ ngộ độc hoá chất tại một trường tiểu học ở Thái Nguyên do
một học sinh nhặt được một bình khí nén chứa khí độc Clo dùng trong chiến tranh
Trang 30của quân đội Mỹ đã đem đến trường đùa nghịch xịt vào lớp học làm hơn hai chục
em học sinh phải cấp cứu tại bệnh viện Bạch Mai
Năm 2000, một vụ cháy kho hoá chất tại quận 11 thành phố Hồ Chí Minh, các lực lượng ứng cứu phải làm việc suốt 56 giờ mới dập tắt được ngọn lửa, các thiệt hại
về tài sản được đánh giá là lớn (không có số liệu thống kê), thiệt hại về môi trường chưa được tính đến
Tại Bình Dương, một xe chở bao bì phế thải còn tồn dư Carbofuran (liên doanh KOSVIDA thuê xử lý) khi chạy trên quốc lộ 58 để rơi bao bì tạt vào mặt người đi đường gây ngộ độc nặng phải cấp cứu tại bệnh viện
Vào tháng 10/2002, một vụ ngộ độc do sử dụng chất bảo quản da giày tại công ty liên doanh giầy Nam Cương tại khu CN tỉnh Bình Dương làm hơn 100 công nhân
bị nhiễm độc phải tới bệnh viện điều trị, ảnh hưởng tới sức khỏe
Ngày 11 tháng 1 năm 2003, một vụ nổ tại kho chứa dung môi, hoá chất của một công ty TNHH Long Tre, khu CN Tràng Bảng- Tây Ninh (của chủ Đài Loan) đã làm 11 người chết và hơn 30 người bị thương Nguyên nhân chưa được làm rõ nhưng người ta nghi ngờ nguyên nhân nổ do hỗn hợp hơi dung môi pha chế véc ni dùng cho hàng thủ công mỹ nghệ đã bị bắt cháy gây nổ và cháy lan truyền cả kho hoá chất bao gồm dung môi, nhựa sơn- vécni, chất bảo quản chống mốc
Trong báo cáo nghiên cứu về Y học lao động của Tiến sỹ Nguyễn Thị Hồng Tú -
Vụ Y tế Dự phòng (Bộ Y tế) đã đưa ra những con số về các ca nhiễm bệnh nghề nghiệp liên quan đến hoá chất như sau:
Trang 31Chưa có thống kê đầy đủ về các sự cố gây rủi ro do hoá chất gây nên, đặc biệt đối với các xí nghiệp vừa và nhỏ bởi rất nhiều lý do Những rủi ro liên quan đến hoá chất chủ yếu là do ngộ độc do sử dụng thuốc trừ sâu, ngộ độc thực phẩm và một vài vụ ngộ độc lớn đã được thống kê ở trên Số người chết và ngộ độc ảnh hưởng đến sức khỏe có thể thống kê nhưng những thiệt hại về mặt môi sinh thì chưa có trường hợp nào được đánh giá mang tính định lượng Vụ vứt 6 bao Natri Xianua (NaCN) xuống sông của người buôn hóa chất tại Quảng Nam là một ví dụ Một số
vụ tràn dầu ngoài khơi được một số cơ quan có trách nhiệm đánh giá thiệt hại tiến hành để làm cơ sở tính bồi thường thiệt hại vật chất và chi phí khắc phục hậu quả Những rủi ro do hoá chất gây thiệt hại lớn chủ yếu do cháy kho lưu giữ còn nói chung chỉ nằm trong giới hạn tai nạn lao động trong khu vực sản xuất gây chết người hoặc tàn phế Tại công ty Supe phốtphát Lâm Thao hầu như năm nào cũng
có tai nạn lao động do axit sunphuric gây ra từ bỏng nhẹ tới chết người
Theo số liệu từ VINACHEM, theo thống kê từ 25 doanh nghiệp trực thuộc VINACHEM trong năm 2007 số tai nạn lao động lên tới 70 vụ, trong đó 22 vụ nặng Tại nạn lao động đã làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của 72 người, thiệt hại vật chất khoảng 200 triệu đồng và 2.000 ngày công lao động Vụ tai nạn nghiêm trọng nhất phải kể đến vụ tai nạn làm chết 1 công nhân tại Nhà máy sản xuất Phốtpho vàng – Công ty Hoá chất cơ bản Miền nam, nguyên nhân là do bỏng Phốtpho Một
vụ ngộ độc hoá chất khác đã xảy ra tại Công ty Phân lân nung chảy Văn Điển Theo thống kê những doanh nghiệp xảy ra nhiều tai nạn lao động nhất là các Công
ty cao su miền nam, cao su Đà Nẵng, cao su Sao vàng, Công ty Apatít Việt Nam
và Công ty Bột giặt Lix
1.2.2 Tình hình tai nạn, sự cố hóa chất trên thế giới
Trên thế giới, chính phủ và nhiều tổ chức hoạt động trong lĩnh vực an toàn và phòng ngừa rủi ro do các sự cố hoá chất đặc biệt quan tâm đến việc thống kê và phân tích các tai nạn rủi ro do hoạt động công nghiệp, đặc biệt là trong một số ngành tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao là: Hoá chất, khai thác và chế biến dầu khí, khai thác mỏ Số liệu thống kê và phân tích sự cố rủi ro là hoạt động quan trọng cho quá trình đánh giá và quản lý rủi ro vì vậy có khá nhiều cơ quan nghiên cứu và hợp tác tầm cỡ thế giới chuyên hoạt động trong lĩnh vực này Dưới đây giới thiệu một bảng thống kê các sự cố rủi ro liên quan tới hoá chất xảy ra trên thế giới từ
1950 đến 1988 do cơ quan phòng ngừa và chuẩn bị ứng cứu các sự cố hoá chất đưa ra (CEPPO- Chemical Emergency Preparedness and Prevention Office)
Trang 320 2000
1960 Ấn độ Bombay Nhiễm độc thực phẩm
(dầu)
Nhiễm độc thực phẩm (cá)
0 58
1965 Anh Epping Nhiễm độc thực phẩm
(bột mì)
Methylenedianiline
1972 Mỹ St.Luis Tai nạnđường sắt (cháy) Propylene 250
1973 Mỹ Market Treo Tai nạn đường sắt
Fort Wayne Tai nạn đường sắt
(cháy)
Trang 33Michigan Nhiễm độc thực phẩm
(thức ăn gia súc)
1974 Anh Flixborough Nhà máy(nổ) Cyclohexane 28 89 3000
Mỹ Decatur Tai nạn đường sắt
1975 Đức Helmstetlen Kho tàng Nitrogen oxyde 10000
Đanmạch Beek Tai nạn
giao thông
Mỹ Eagle Pass Tai nạn
ThácNiagara Tai nạn đường sắt Chlorine 4 176
hoá chất (nổ) Dioxin(TCĐ)/2,4,5T 0 193 730 Jamaica Nhiễm độc thực phẩm
(bột mì)
Mỹ Houston Tai nạn giao thông Amonia 17 34
Deer Park Tai nạn đường sắt Amonia 6 178
1978 Đức Regensburg Nhà máy
(cháy)
Nitrogen oxide 0 40 2000
Mexico Xilatopec Tai nạn giao thông (nổ) Khí 100 150
Taybanha Los Alfaques Tai nạn
vận chuyển
Trang 34Crest View Tai nạn đường sắt Chlorine/
Liên xô Novóimbirsk Tai nạn của nhà máy 300
1980 Ấn độ Mandir asod Nổ nhà máy 50
Malaysia Cảng Kelang Nổ, cháy Amonia/
oxyacetylene 3 200 3000
1980 Anh Barking Cháy nhà máy Sodium Cyanide 12 3500
Mỹ Muldraugh Tai nạn đường sắt
(trật bánh)
Vynyl chloride 4 6500
Sommerville Tai nạn đường sắt Phosphorous
Nowark Tai nạn đường sắt Ethylene oxide 4000
1981 Mexico Montana Tai nạn đường sắt Chlorine 29 1000 5000
Puerto Rico San Juan phát thải do vỡ bồn chứa Chlorine 200 2000
Trang 3581-83 Tâybanha Madrit Nhiễm độc thực phẩm không rõ nguyên
nhân
340 20000
Việt Nam TPHCM Sản phẩm nhiễm độc
(bột phấnrôm)
1982 Canada Tai nạn đường sắt Hydrofluoric 0 0 1200
Mỹ Livingstone Tai nạn đường sắt dầu nhiên liệu 3000
Mỹ Denver Tai nạn đường sắt Nitric acide 43 2000
Ấn độ Bhopal Nhà máy hoá chất Methyl
izocyanate
2500 50000 200000 Mêxicô St.J.ixhuatepec Nổ bồn chứa Khí 452 4248 31000 Matamoas Nhà máy s.x
phân bón
Pakistan Garhl Dohda Nổ đường ống khí Khí tự nhiên 60
Mỹ Middleport Nhà máy Methyl izocyanate 110
1985 Ấn độ Bombay Tai nạn CN (vỡ ống) Chlorine 1 110
Trang 36New Delhi Tai nạn CN
rò rỉ
Sulphuric Acid 0 49 5000 Mexico Gualajara Tai nạn đường sắt Sulphuric Acid 0 49 5000
Mỹ Viện nghiên
cứu
1986 Ucraina Chemobyl Nổ lò phản ứng hạt nhân Phóng xạ 31 300 135000
1987 Trung quốc Quảng Tây Methyl alcohol 55 3600
Hồ Nam Nhiễm độc nước uống Amonium
bicarbonate
0 15400
Mỹ Wilson country Tai nạn đường sắt Sulphuric acid 0 0 3000
Nanticote Cháy nhà máy Sulphuric acid 18000 Ohio Tai nạn giao thông Phosphorous
trichloride
0 6 2000 Confluence Tai nạn đường sắt khí propan 0 0 1000
Trang 37Cú thể lấy Đài Loan – Trung Quốc làm vớ dụ về tai nạn hoỏ chất liờn quan đến phỏt triển cụng nghiệp Hai ngành cụng nghiệp mũi nhọn của Đài Loan là cụng nghiệp hoỏ chất và cụng nghệ viễn thụng- tin học Đài Loan cũng cú xuất phỏt điểm là nền cụng nghiệp lạc hậu, với thời kỳ cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ kộo dài hơn 30 năm Theo cỏc phõn tớch mang tớnh thống kờ của Đài Loan về tai nạn rủi ro chung cho hoạt động cụng nghiệp cú liờn quan đến hoỏ chất về số lượng, loại hỡnh và nguyờn nhõn cú thể cho hỡnh ảnh khỏi quỏt gần với thực tiễn hoạt động cụng nghiệp của chỳng ta hiện tại cũng như trong tương lai
Tỉ lệ tai nạn do hóa chất
Nguyên liệu hoá chất
In ấn và sp giấy Thực phẩm
Điện, điện tử và thiết bị cơ khí Sản phẩm hoá chất
Các SP dầu mỏ và than đá
SX kim loại cơ bản Dịch vụ công cộng Giao thông, liên lạc và kho Ngành khác
Hỡnh 1: Tỷ lệ tai nạn do hoỏ chất của Đài Loan
Trang 38Hình 2: Phân tích nguyên nhân của 59 tai nạn trong 87 sự cố công nghiệp
trong 3 năm của Đài Loan
Qua biểu đồ hình số 1 cho thấy, rủi ro do hoá chất chiếm tới hơn 60% các tai nạn công nghiệp, trong đó với ngành hóa chất, tỷ lệ các tai nạn hoá chất chiếm tới 20,2% Biểu đồ hình số 2 cho thấy trong số 87 sự cố công nghiệp xảy ra thì có tới
31 sự cố là do vận hành sai nguyên tắc an toàn, 28 sự cố do hoạt động vận chuyển hoá chất, 19 sự cố là do bảo quản lưu giữ và 9 sự cố do đường ống công nghệ bị
hư hỏng Trong tổng số 87 sự cố công nghiệp này thì có 59 tai nạn xảy ra
ăn mòn
1.Nguyên nhân khác 2.Rò rỉ hoá chất 3.Cháy 4.Nổ
Số sự
kiện
Trang 39Về loại hình rủi ro trên biểu đồ hình 3 cho thấy đứng đầu vẫn là rủi ro do sự cố nổ (50,6 %), rò rỉ hoá chất (41,3 %) sau đó là cháy (27,1% ) còn lại là các loại hình khác (21,9 %)
1.3 Kết luận rút ra từ các kết quả điều tra về hiện trạng về sản xuất, sử dụng hoá chất và an toàn hoá chất
Công nghiệp hoá chất được đánh giá là ngành công nghiệp gây ô nhiễm lớn đồng thời cũng là ngành công nghiệp tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro và xảy ra nhiều tai nạn hoá chất Do đặc thù của ngành công nghiệp hoá chất bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau nên quá trình công nghệ và các hoá chất tham gia vào các quá trình công nghệ này cũng rất khác nhau Một số hoá chất tham gia vào các quá trình công nghệ này có thể là chất tiềm tàng gây cháy và nổ
Qua chương trình điều tra về an toàn hoá chất và an toàn lao động có thể thấy rằng:
• Ngành hoá chất là nhà sản xuất hoặc sử dụng những nhóm hoá chất dưới đây với số lượng tương đối lớn
- Nhóm chất gây ăn mòn: axit nitric, axit sulphuric, natri hydroxit (xút), axit phốtphoric, natri hypoclorit
- Nhóm chất dễ cháy, nổ: Axeton, benzen, etyl acetat, formaldehit, metanol, styren, toluen, xylen, butanol, n-hexan, n-heptan, DMF, phốtpho
- Nhóm chất độc (độc cấp tính và độc mãn tính): 2,4-TDI, thiram, amoniac, cypermethrin, diphenyl guanidine và các hợp chất vòng thơm như phenol, benzen, toluen, xylen, trichloroethylen
• Hoá chất thuộc nhóm dễ cháy, nổ theo kết quả điều tra có mặt chủ yếu tại các cơ sở sản xuất gia công thuốc trừ sâu, sản xuất sản phẩm cao su, chất dẻo
• Các hoá chất gây ăn mòn có mặt ở hầu hết các ngành thuộc công nghiệp hoá chất ở các mức độ khác nhau
• Các hoá chất độc cũng được sử dụng ở các cơ sở sản xuất sơn hoặc pha chế thuốc bảo vệ thực vật
Theo thống kê điều tra của cơ quan y tế, quản lý vệ sinh và an toàn lao động cho thấy các doanh nghiệp hoá chất còn tồn tại những vấn đề lớn như quy phạm an toàn vận hành, nội quy an toàn lao động, phòng cháy - chữa cháy, trang bị bảo hộ lao động tuy đủ nhưng còn ở mức tối thiểu Tại tất cả các đơn vị sản xuất quy mô
Trang 40lớn và vừa đều có tổ chức đội cứu hoả bán chuyên nghiệp cùng y tế cơ sở chịu trách nhiệm ứng cứu các loại sự cố gây tai nạn Hàng năm các cơ sở này cũng được tham gia tập huấn về các hoạt động phòng chống cháy, nổ với đội phòng chống cháy, nổ trong khu vực Tuy nhiên trên thực tế, khi tai nạn hoá chất xảy ra tại cơ sở sản xuất, với sự cố ở mức độ nhỏ thì thường các cơ sở tổ chức hoạt động ngăn chặn và cấp cứu tại chỗ kịp thời nhưng với sự cố lớn thường lúng túng và bị động Một vài rủi ro hoá chất lớn đã xảy ra cho thấy tình hình ứng phó đối với các
sự cố hoá chất nói chung còn nhiều bất cập
• Các hoạt động về nâng cao nhận thức về an toàn hoá chất và phòng ngừa rủi ro của các doanh nghiệp thuộc ngành hoá chất:
Để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, đồng thời đóng góp cho sự phát triển bền vững trong ngành hoá chất, một chương trình mang tính toàn đã được triển khai vài năm trở lại đây Đó là chương trình “Chăm sóc Trách nhiệm” (Responsible Care, viết tắt là RC)
Nguyên tắc hoạt động của RC là một hoạt động tự nguyện của các doanh nghiệp hoá chất toàn cầu nhằm:
- hoàn thiện liên tục các hoạt động của chính mỗi doanh nghiệp hoá chất phục vụ cho việc bảo vệ con người và môi trường thông qua việc quản
lý toàn bộ vòng đời của chính sản phẩm họ sản xuất ra cũng như toàn bộ quá trình sản xuất ra nó
- đóng góp cho sự phát triển bền vững của cộng đồng và xã hội
- tăng cường các quá trình thông tin cho cộng đồng và xã hội các kế hoạch và kết quả thực hiện của mình nhằm hoàn thiện quá trình sản xuất, thành tựu và thách thức của sự phát triển của doanh nghiệp liên quan đến tăng trường kinh tế, bảo vệ môi trường và con người, phục vụ lợi ích xã hội
- chia sẻ với các đối tượng liên quan (bạn hàng, khách hàng, nhà cung cấp, nhà quản lý và cộng đồng) ở cả quy mô quốc gia và quốc tế về những mối quan tâm cũng như những ý thức của các bên để cùng giải quyết các mối quan tâm này
- tăng cường hợp tác với các cơ quan chính phủ trong việc xây dựng và thực thi các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe hơn để đảm bảo an toàn cho con người và môi trường hiện nay và tương lai
- mở rộng mạng lưới những tổ chức và cá nhân tham gia Chương trình
RC toàn cầu
Hội đồng RC Việt Nam đang được xúc tiến thành lập tại Hội Hoá học Việt Nam Chương trình RC đã có những hoạt động bước đầu như hoạt động thí điểm về RC