Hiệp định RCEP: Bối cảnh, tác động và những vấn đềđặt ■ ■ ra đổi với Việt Nam Lê Thu Hà Viện Kinh tế và Chính trị thế giới Ngày15/11/2021, Hiệp định Đối tác kinhtế toàn diện khu vực RCEP
Trang 1Hiệp định RCEP: Bối cảnh, tác động và những vấn đề
đặt ■ ■ ra đổi với Việt Nam
Lê Thu Hà
Viện Kinh tế và Chính trị thế giới
Ngày15/11/2021, Hiệp định Đối tác kinhtế toàn diện khu vực (RCEP) đã chínhthức được ký kết sau 8
năm đàm phán.RCEP hiện là hiệp định thương mạitự do (FTA) lớnnhất thếgiới với quymôthịtrường 2,3
tỷngười, chiếm 29%GDP và 25% thương mại toàn cầu.Dự kiến khi có hiệu lực thực thi, RCEPsẽ tạo ra kết nối cung ứng lớntrongkhu vực, đặc biệt trong bối cảnhdịch Covid-19 tiếptục diễn biển phức tạp RCEP cũngđược kỳvọng sẽthúc đẩyđộng lực đổi mớicho thương mại nộivùng và tăng cườngchuỗigiá trị giữa Nhật Bản,Trung Quốc, Hàn Quốc; đồng thời dự báo sẽmang lại lợiích chocác nước Malaysia, Thái Lanvà Việt Nam
1 Bôì cảnh
Trêncơsở các hiệp định thương mại tự dogiữa
ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Australia, New Zealand và Ấn Độ, năm 2011, các
nướcASEANđề xuất xây dựng mộtkhu vực thương
mại tự do có quy mô lớn hơn để khắcphục những
hạn chế từ các hiệp định thương mại tự do song
phương.Vìthế,tháng 11/2012,tạiHội nghị cấp cao
Đông Á, 10 nướcASEAN và06quốc gia đối tác cùng
đưa ra tuyên bố chung để khởi động đàm phán về
RCEP, nhằm duy trì vị thế trung tâm của ASEAN
trong mạng lưới thương mại tự do châu Á - Thái
Bình Dương trước sự cạnh tranh chiếnlược giữa các
nước lớn Trong đó, nổi lênviệc Mỹ thúc đẩy đàm
phán về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
(TPP) để giành quyền thiết lập quy tắc thương mại
trong khuvực và bất đồng giữaTrung Quốc với Nhật
Bảntrongđàm phán về hiệp định thương mại tựdo
Do đó, thúc đẩy đàm phán RCEP không chỉ giatăng
vai trò trung tâmcủa ASEAN, mà còn có ý nghĩacân
bằnggiữa các nướclớn
Kểtừ khi khởiđộngvòng đàm phán đầu tiênvào
tháng 5/2013 đến năm 2020, các nước tham gia
RCEP đã tiến hành tổng cộng 31 vòngđàm phán về
cácchủđề, như: hànghóa,dịch vụ, đầutư, sở hữutrí
tuệ, hợp tác kinh tế,công nghệ, cạnh tranh, thương
mại điện tử, quy định pháp luật, v.v Cũng trongthời
gian đó, Mỹ thúc đẩy đàm phán mạnh mẽ về TPP,
kèmtheo mục tiêu chất lượng vàtiêuchuẩncaonên
đãthu được nhiềukết quả quan trọng, nhất là Hiệp
định được 12 quốc gia ký ngày 04/02/2016 Ngay
sau khi hoàn tất đàm phán TPP, tính cấp thiết và
quyếttâm chính trị tham gia RCEP của một sốnước
đã giảm xuống, trước hết là Nhật Bản Năm 2017,
đáph dấu bước ngoặt trong quá trình đàm phán
RCEP saukhi Tổng thốngDonaldTrumpquyết định
Mỹrútkhỏi TPR Khiđó, một số thành viên đã từng
tham giaTPPchuyển hướnghy vọng sang RCEP.Do
đó, tư tháng 11/2017, các cuộc dam phán RCEP được đẩynhanhkể cả ở cấplãnhđạo cao nhất Vào thờiđiểm đàm phán nước rút,Ấn Độ quyết định rút
lui do không chấp nhận tiêu chuẩn mở cửa thị
trường và văn bản cuối cùng của RCEP đã đượcký vào ngày 15/11/2020,tại Hội nghị cấp cao lần thứ
37 của ASEAN
RCEP đề ra mục tiêu ban đầu là xây dựng hệ
thống quy tắcthương mại tương đối thống nhất ở khu vựcĐông Á và châu Á - Thái Bình Dương Nội dungvănbảnthỏa thuận cuối cùngcủa RCEP được
ký đã đạt được mục tiêu đó RCEPthiết lập được các
quy tắc cơ bản của một hiệpđịnh thương mại tự do,
gồm: hàng hóa, dịch vụ và tiêuchuẩnđầu tư Ngoài
ra, Hiệp định cònquy định rõ các hoạtđộng: thương mại điện tử,quyền sở hữu trítuệ, chính sách cạnh tranh và mua sắm chính phủ RCEP không chỉ cam kết dỡ bỏ cácràocảnthươngmại trongphạmvi các nướcthành viên, tạo dựngvà cải thiện môi trường đầu tư vàthương mại tự dohơn, mà còn xây dựng các quy tắcthương mại quốc tế thế hệ mới về cắt
giảm thuếquan, mụctiêucuối cùnglà đạt mức thuế bằng0 đối với hơn 90% hànghóatrao đổigiữa các thành viên, điểmkhởi đầu chỉ là 65% và sẽ mất 10
năm để đạt được mục tiêu, về đầu tư, các nước thành viên cam kếtsẽ mở cửamang tính thựcchất
cho cácnhàđầu tư nước ngoài.Đối với quy tắc xuất
xứ, RCEP đưa ra lựa chọn quy tắc xuất xứ sản phẩm
linh hoạt cho doanh nghiệp các nước thành viên, nhằm đẩy nhanh xây dựng mạng lưới kết nối sản
xuất trong khu vực vềquy trình hải quan vàthuận lợi hóa thương mại, RCEP áp dụng nhiều quy tắc minh bạch và hiệu quả hơn để giảm bớt hàng rào
thương mại, tạo thuậnlợi cho sự dịch chuyển tự do
Kinh tế Châu Ả - Thái Bình Dương (Tháng 4/ 2022) 7
Trang 2NGHIÊN CỨU
RESEARCH
các yếu tố sản xuất và hàng hóa trong khu vực
Ngoài ra, RCEP còn ápdụng cơchếthương mại mềm
dẻovà linh hoạt dotrongsố cácnước thành viên có
cả các nước phát triển, đang phát triển vàkém phát
triển, có sự khác biệtrõ rệt về hệ thốngvà quy mô
thị trường Dođó, tấtcảthànhviênđều có thểđược
hưởng lợi từcơchế mềm dẻovàlinh hoạtnày
2 Tác động đến khu vực và Việt Nam
Nhìn chung, RCEP tạo nên một thị trường rộng
lớn nhất thế giới với quy mô 2,2 tỷ ngườitiêu dùng,
chiếm 30% dân số thể giới, tổng GDP 26,2 nghìn tỷ
USD, tương đương 30% GDP và chiếm gần 28%
thươngmại toàn cầu (dựa trên số liệu năm 2019)
Với các cam kết mở cửa thị trường trong lĩnh vực
hànghóa,dịch vụ, đầutư,RCEP tạo cơsởpháplý vừa
bảo đảm hài hòa quy tắc xuất xứ giữa cácbên tham
gia,vừa tăng cườngcác biện pháp, điều kiện thuận
lợi cho hoạt động thương mại, vừa phát triển các
chuỗicung ứng mới trongkhu vực.Như vậy, RCEP sẽ
thiết lập thị trường xuất khẩu ổn định, lau dài cho
các nước ASEAN trong bối cảnh các chuỗi cung ứng
toàn cầu đanggặp nhiềurủiro dođại dịch Covid-19
và xuất hiện các yếu tố bất định; đồng thời, tạo
khuônkhổ ràng buộc pháp lý trong khuvựcvề chính
sách thương mại,đầutư, sở hữutrí tuệ, thương mại
điện tử, giải quyết tranh chấp, góp phần tạo môi
trường thương mại côngbằng trong khu vực
Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB,2020),
cácnước ASEAN đã thamgia Hiệp định Đối tác toàn
diện và tiến bộxuyên Thái BìnhDương (CPTPP) có
thể kỳ vọng bổ sung thêm lợi ích và cơ hội khi tham
gia vào RCEP1 Petri và Plummer (2020) sử dụng
mô hình cân bằng tổng thể (CGE) đã ước tínhlợi ích
cho nềnkinhtếtoàncầu vàkhu vực mà RCEP mang
lại như sau: RCEP sẽ làm tăng thu nhập thực tế của
thếgiới thêm 186 tỷ USD vào năm 2030, trong khi
lợi ích CPTPP mang lại chỉlà 147 tỷUSD Các thành
viên RCEP sẽ có mức thu nhập thựctế 174 tỷUSD
vào năm 2030,tương đương 0,4% tổng GDP của các
thành viên Ba quốc gia sẽ được hưởng lợi nhiều
nhấtlà: Trung Quốc (85 tỷ USD), Nhật Bản (48 tỷ
USD), Hàn Quốc (48 tỷ USD) Ngoài ra, RCEP mang
lại lợi ích lớn cho Indonesia, Malaysia, TháiLan và
Việt Nam Đến năm 2030, Indonesia có thể hưởng
lợi 3 tỷUSD, Malaysia 4tỷ USD, Thái Lan 4 tỷ USD và
Việt Nam tỷ USD Các nền kinhtế khác cũng thu
được lợi nhuận đáng kể từthương mại khu vực,liên
kết chuỗi giátrịkhuvực mạnh hơn và mở ra nhiều
cơ hội hơn chođầu tư nước ngoài
Theo nghiên cứu của Dự án Hỗ trựthương mại
đa biên (MUTRAP, 2014), một số mặt hàng củaViệt
Nam có sức cạnh tranh cao đãthốngtrị thị trường
khu vực và toàn cầu (gạo, cà phê, hạt tiêu và hạt
điều ), bên cạnh đó là các sản phẩmnông, lâm,thủy
sản tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong mô hình
xuất khẩu của quốc gia RCEP có thể cải thiện khả
năng tiếp cận thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp,nhờ sự đa dạng cácsản phẩm cónguồn gốc
từ các mặt hàngtrên và gia tăngnhucầu tiêu dùng củangười tiêu dùng đối với các sản phẩm này Với việc ký kết RCEP,nhóm cácnền kinh tế tham
gia hiệp địnhthể hiện cam kết tiếp tụchội nhập kinh
tế Đặc biệt, RCEP giúp lấp khoảng trống trong hệ thống thương mại khu vực, tạo ra một thỏa thuận thương mại chưatừng cógiữa 3 quốc gia Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc
3 Những vấn đê đặt ra đôì với Việt Nam
Dịch Covid-19 diễnbiến phức tạp,khó kiểm soát trên thế giớivà Việt Nam, làm cho chuỗi cung ứng
toàn cầu và khuvực chưa đượcnốilại, thậm chí có thêm sự đứt gãy khi dịch Covid-19 bùng phát lần thứ tư tại Việt Nam và tập trung tại các khu công nghiệp Cùng với đó, xu hướng bảo hộ mậu dịch đang gia tăng, xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu
tư ra khỏi các nước mới nổivà đang phát triển cũng ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế Việt Nam trên các khía cạnh nhưthươngmại, đầutư,quy tắcxuấtxứ
3.1 Về thương mại
Hiệp định RCEPthực thisẽ cắt giảm thuế quan về
0% đối với nhiều mặt hàng của các quốc giatham
gia, theo đó chi phí giaodịch được cắtgiảm do nhiều thủ tục được đơn giản hóa Vì vậy, việc xuất khẩu
hàng hóa nói chung và các mặt hàng chủ lực (nông nghiệp, dệt may, da giầy, điện tử, viễn thông, công
nghệ thông tin ) của Việt Nam tiếp tục gặp nhiều thuận lợi Những thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam vẫn thuộc khu vực RCER Tỷ trọng xuất
khẩu Việt Nam sang các nước RCEP tăng từ 44%
(năm 2010) lên 44,1% (năm2018), sau đó giảm còn 41,8% (năm 2019) Theo Tổng cục Thống kê, tính chung4 thángđầu năm2021, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu lớnthứ hai của Việt Nam (sau Hoa Kỳ) vơi tổng giá trị đạt16,8 tỷ USD, tăng 32,4% so
với cùng kỳ năm trước; thị trường ASEAN ở vị trí
thứ tư với tổng giá trị đạt 8,8 tỷ USD, tăng 13,3%; tiếp đó là HànQuốc đạt 6,9tỷ USD, tăng 12,1%; Nhật
Bản đạt 6,5 tỷUSD, tăng 1,5%
Bên cạnh đó, Việt Nam gặp không ít khó khăn do phải cạnh tranh với các nước trong khu vực có nhiều mặt hàngtương đồng, đặcbiệt làTrung Quốc,
Thái Lan Theo Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM, 2020), tỷ trọng nhập khẩu từ khốiRCEP trong tổngnhập khẩuvẫn chiếmtỷ lệcao, chiếm 70,7% trong năm 2019 so với 67,4% trong năm 2010 Tronggiai đoạn 2009 - 2019, Việt Nam
có xuhướng gia tăng thâmhụtthương mại với thị trường RCEP, đặc biệt với TrungQuốc và HànQuốc
Thâm hụt thương mại với HànQuốc tăng nhanh từ
năm 2015 sau khi FTA Việt Nam - Hàn Quốc
8 Kinh tế Châu Á -Thái Bình Dương (Tháng 4/ 2022)
Trang 3(VKFTA) được ký kết với mức tăng trung bình
22,3%/năm giai đoạn 2010 - 2014, tăng lên
31,4%/nămtrong giai đoạn 2015 - 2017 Trongkhi
đó, thâm hụt thương mại với Trung Quốc liên tục
tăng, đặc biệt tronggiai đoạn 2010 - 2015; mặc dù
có sự giảmdần từ năm 2016 nhưngvẫn ở mức cao
Theo Tổng cục thống kê, trong 4 tháng đầu năm
2021, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn
nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 33,1 tỷ USD,
tăng 47,8% so với cùng kỳ năm trước; tiếp theolà
Hàn Quốc đạt 16,9 tỷUSD, tăng 16,9%; thị trường
ASEAN đạt 14,1 tỷ USD, tăng 48,2%; Nhật Bản đạt
7,2 tỷ USD, tăng 10,5%
Với việc RCEP được thực thi, người tiêu dùng
trong nước có nhiều sự lựa chọn về các mặt hàng
tiêu dùng với mẫu mã, kiểu dángvà chất lượngđa
dạng, trong khi giá bán thấp hơnđếntừcác quốc gia
trong Hiệp định Điềunày làmchocácdoanhnghiệp
gặp khó khăn trong cạnh tranh Để có thể duy trì
được thị trường ,các doanh nghiệp cần phải nâng
cao năng lực sản xuất, cải tiến mẫu mã, chất lượng,
hạ giá thành sản phẩm
3.2 Về đầu tư
Giai đoạn 2017 - 2020, trong số 125 quốc giavà
vùnglãnh thổ đầu tưvào Việt Nam,các nhàđầutư
chiến lược vẫn là Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore,
Trung Quốc,HồngKông, Đài Loan2 Trong bối cảnh
dòng vốn đầu tư có xu hướng dịch chuyển ra khỏi
Trung Quốc do tác động của chiến tranh thương
mại, công nghệ Hoa Kỳ - Trung Quốc, cũng như
những xu hướng mới trong và sau dịch Covid-19,
Việt Nam ngày càng có điềukiện thuậnlợi hơn trong
việcthuhút các dòng đầu tư này, đặc biệt làtiếp tục
duy trìsự thu hútvốnđầu tư từkhu vực RCEP
Tuynhiên,vấnđề đặt ra cho Việt Nam là làm sao
lựa chọn đượcchất lượng củacác dự ánđầu tư nói
chung, khu'vực RCEP nói riêng Theo Nghị quyết số
50-NQ/TW ngày 20/8/2019 củaBộ Chínhtrị (khóa
XII) về định hướng hoàn thiệnthể chế, chính sách,
nângcao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước
ngoài đến năm 2030, chủ trương xuyên suốtlà thu
hut đàu tư có chọn lọc, lấy chấtlượng, hiệu quả và
bảo vệ môi trường là tiêu chí đánhgiá chủyếu Ưu
tiên các dựáncócông nghệtiên tiến,công nghệ mới,
công nghệ cao, côngnghệ sạch, quảntrịhiện đại, có
giá trị gia tăng cao, cótác động lantỏa, kết nối chuỗi
sản xuat và cung ứng toàn cầu Chủ trương sàng lọc
các dự án đầu tư nướcngoài là chủ trương đúng,
nhưngviệc thực hiệnkhông dễsau khi RCEP đi vào
thựcthi vàkiểm soátdòng vốnđầu tưnước ngoàitừ
RCEP, hệ lụyđốivới kinh tế vĩ mô vẫn là vấn đề rất
phức tạp
3.3 Về Quy tắc xuất xứ
Việc áp dụng mộtbộ quy tắc xuất xứ duy nhất
cho cả khu vực RCEP thay vì thựchiện 5bộ quy tắc
xuất xứ riêng biệt ở 5FTA, như hiệnnay khi RCEPcó hiệu lực thực thi sẽ mang lại nhiều thuận lợi Theo
các chuyên gia kinh tế, nếuViệtNam gặp nhiều khó
khăn trong việc xuấtkhẩuhànghóa để được hưởng
ưu đãi theo quy tắcxuất xứcua EVFTAhãy CPTPP thì RCEP mang lại nhiều thuận lợi hơnchocácnước phảinhập khẩu nhiều nguyên liệunói chung và Việt Nam nói riêng
Theo quytắc xuất xứtrong RCEP, hàng hóa được
coi là có xuất xứ nếu đáp ứng mộttrong 3 trường
hợp: (i) Là hàng hóa có xuất xử thuần túy tại một
nước thànhviên; (ii)Hàng hóa được sản xuất chỉ từ
nguyên liệu có xuất xứ từmột haynhiều nướcthành
viên; (iii) Hàng hóa sử dụng nguyên liệu không có
xuất xứ nhưngđáp ứng quy định tại quy tắc cụthể mặt hàng Theođó, TrungQuốcsẽ nhập khẩu nhiều
hơn nguyênliệuViệt Namcho ngành may nước họ; hay xuất khẩu dệt may củaViệt Nam sang các thị
trườngkhó tính như Nhật Bảnsẽ thuận lợi hơn do
nguyên phụliệucủa hàng may mặc đượcnhậpkhẩu
từ Trung Quốc cũng được hưởng ưu đãi về thuế quan khi xuấtkhẩu sang thị trường này
Tuy nhiên, vấnđềđặt ralàquy tắc xuất xứtrong các hiệp định đều có những điểm khá phức tạp, đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao năng lực
sản xuất, chế biến sâu, tìm kiếm nguồn nguyênliệu
trong khu vực hoặc phát triển các nguồn nguyên liệu từ trong nước Hơn nữa, theo các chuyên gia kinh tế, điều quan trọng nhất là Việt Nam cần đáp
ứng quy định xuất xứ bằng cách phát triển công
nghiệp hạ nguồn để hỗ trợ các doanh nghiệp gia
tăng tỷ lệ nội địa hóa, đáp ứng quy định xuất xứ
hànghóaxuấtkhẩuvàocácthị trường FTA./
Tài liệu tham khảo
Chương trình Aus4Reform (2020), Thực hiện hiệu quảRCEP gắn vớicải thiện tính tự chủ củanền kinh tế: Yêu cầuhoàn thiện thể chế thương mại và
đầu tư ở Việt Nam
ADB (2020), Regional Comprehensive Economic
Partnership: Overviewand Economic Impact
Ganyi gives (2021), Impact of the RCEP Trade Agreement on the Asia -Europe Supply
Lisandra Flach, Hannah Hildenbrand và Feodora Teti(2021), TheRegionalComprehensive Economic Partnership Agreementand Its Expected Effects on
World Trade
Peter A Petri và Michael G Plummer (2020), East Asia Decouples from the United States: Trade
War,COVID-19,and East Asia's New Trade Blocs
Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (Tháng 4/ 2022) 9