1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO KHẢO CỔ: “KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ” pot

87 489 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát các nguồn văn hóa vật thể tại khu vực dự án Thuỷ điện Trung Sơn, tỉnh Thanh Hoá
Tác giả Viện Khảo cổ học
Trường học Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Chuyên ngành Khảo cổ học
Thể loại Báo cáo khảo cổ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 7,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công việc điều tra, khảo sát trong khu vực Dự án Thuỷ điện Trung Sơn phát hiện và nghiên cứu các khu vực di tích ở dạng tiềm tàng ví dụ: các di tích, di vật nằm trong lòng đất… và nghiên

Trang 1

VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Trang 2

1.5 Kế hoạch triển khai

2 Kết quả điều tra khảo sát

2.1 Vị trí địa lý, địa chất và cảnh quan môi trường

2.2 Điều tra khảo sát vùng chân đập

2.3 Tổng quan về các di tích, di vật đã phát hiện

3 Nhóm di tích, di vật nằm trong vùng lòng hồ

3.1 Di tích khảo cổ thuộc giai đoạn tiền sơ sử

Di tích Bản Nàng 13.2 Di tích khảo cổ học giai đoạn lịch sử

Khu mộ Huổi Pa3.3 Sưu tập hiện vật trong vùng lòng hồ

3.3.1 Sưu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử

3.3.2 Sưu tập hiện vật giai đoạn lịch sử

3.4 Các di tích mang tính chất thiêng liêng của nhóm tộc người

(Khiêng sằn) 3.4.1 Khiêng sằn của bản Ta Bán

3.4.2 Khiêng sằn của bản Nàng 1

3.4.3 Khiêng sằn của bản Tài Chánh

4 Nhóm di tích nằm ngoài vùng lòng hồ

4.1 Di tích khảo cổ học giai đoạn tiền sơ sử

Di tích thời đại đá mới Hang Cú4.2 Di tích khảo cổ học giai đoạn lịch sử

4.2.1 Khu mộ Mái đá Nàng Chanh

4.2.2 Khu mộ Tiên Tẳng

4.2.3 Viên đá có chữ

5 Đề xuất phương hướng nghiên cứu các địa điểm văn hoá vật

thể 5.1 Đánh giá về khu vực công tác

5.2 Đề xuất phương hướng nghiên cứu các địa điểm văn hoá vật

thể trong khu vực công tác 5.2.1 Các địa điểm khảo cổ học

5.2.1.1 Di tích thời đại đá cũ Bản Nàng 1

5.2.1.2 Khu mộ Huổi Pa

5.2.2 Nhóm di vật thu được từ đợt công tác

5.2.3 Các khu vực mang tính thiêng liêng của nhóm tộc người

5.3 Đề xuất phương hướng nghiên cứu các địa điểm văn hoá vật

thể nằm ngoài khu vực công tác

6 Những vấn đề khi tiếp tục triển khai nghiên cứu xử lý các di

tích trong khu vực công tác

Trang 3

6.1 Xác định địa điểm cần đƣợc khai quật di dời

6.2 Vấn đề chủ đầu tƣ cho công tác khai quật nghiên cứu

6.3 Những thủ tục pháp lý

6.4 Công tác bảo vệ và bảo quản di tích, di vật

6.5 Công tác khai quật di dời di tích

6.6 Dự kiến danh sách thành viên nhóm tƣ vấn

6.7 Dự kiến thời gian thực hiện

Trang 4

BÁO CÁO

“KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC

DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ”

1 Tổng quan dự án

1.1 Giới thiệu

Gói thầu MT-04: “Khảo sát các nguồn văn hoá vật thể tại khu vực Dự án thuỷ điện Trung Sơn, tỉnh Thanh Hoá”, được thực hiện bởi nhóm tư vấn Viện Khảo

cổ học, là một thành phần của Dự án thuỷ điện Trung Sơn thuộc Dự án Hỗ trợ kỹ

thuật (PHRD grant) cho chuẩn bị dự án "Phát triển nguồn điện Việt Nam”

Dự án thuỷ điện Trung Sơn là một dự án đa mục tiêu bao gồm cả phát điện

và chống lũ, cũng như việc điều hoà lưu lượng nước ở khu vực sông Mã vào mùa khô Chân đập được xây dựng cách biên giới Việt Lào về phía hạ lưu sông Mã 25km, thuộc địa phận bản Co Me, xã Trung Sơn, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá, dòng chảy sau đập đi trong địa phận Việt Nam Một đập bê tông cao 88m, chiều dài đỉnh đập là 353m tạo nên một hồ chứa có dung tích 112 triệu m2 với diện tích bề mặt khoảng 13,13km2 để phục vụ cho việc phát điện của 4 tổ máy với tổng công suất là 250MW

Ở giai đoạn điều tra khảo sát chuẩn bị đầu tư, Công ty Tư vấn Xây dựng Điện 4 (PECC4) đã tiến hành lập dự thảo báo cáo tác động môi trường (EA) cho dự

án Sau khi xem xét, nghiên cứu bản dự thảo trên, Ban QLDA Trung Sơn đã có một

số đề xuất bổ xung để hoàn thiện thêm, trong đó có vấn đề khảo sát các nguồn văn hoá vật thể Trên cơ sở đó, ngày 18/4/2008 BQL Dự án Trung Sơn đã ký kết với Viện Khảo cổ học Việt Nam Hợp đồng dịch vụ tư vấn về vấn đề “Khảo sát các nguồn văn hoá vật thể tại khu vực dự án thuỷ điện Trung Sơn”

Báo cáo này được nhóm tư vấn thực hiện với mục đích giải quyết những khía cạnh về Tài nguyên Văn hoá Vật thể (PCR) trong Báo cáo Đánh giá Môi trường (EA) của Dự án Thuỷ điện Trung Sơn

- Đề cương khảo sát thiết kế công trình thuỷ điện Trung Sơn giai đoạn TKCS

do Công ty TVXD Điện 4 lập tháng 9 năm 2004, được Tổng công ty Điện lực Việt Nam phê duyệt tại Quyết định số 2847/QĐ-EVN-TĐ-KTDT, ngày 06/10/2004

- Quyết định số 635/QĐ-EVN ngày 14/4/2008 của Tổng giám đốc tập đoàn Điện lực Việt Nam về việc phê duyệt kết quả lựa chọn gói thầu MT-04: Khảo sát

Trang 5

các nguồn tài nguyên văn hoá khu vực dự án thuỷ điện Trung Sơn - Dự án hỗ trợ kỹ thuật (PHRD Grant) cho chuẩn bị dự án phát triển nguồn điện Việt Nam

- Quyết định số 807/QĐ-KHXH ngày 10/5/2005 của Chủ tịch Viện Khoa học

Xã hội Việt Nam quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Khảo cổ học

- Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 16/HĐTV-ATĐTS-P2 thuộc Dự án Hỗ trợ kỹ thuật (PHRD grant) cho chuẩn bị dự án “Phát triển nguồn điện Việt Nam”, ký ngày 18/4/2008 giữa Ban QLDA Thuỷ điện Trung Sơn và Viện Khảo cổ học Việt Nam

- Các quy định và hướng dẫn của WB về văn hoá vật thể ở các Điều khoản tham chiếu trong Phụ lục Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 16/HĐTV-ATĐTS-P2

- Công văn số 683/TĐTS-P2 của Ban chuyên gia Môi trường và Xã hội thuộc Ban QLDA Thuỷ điện Trung Sơn cho bản thảo Báo cáo Khảo sát các nguồn văn hoá vật thể khu vực dự án thuỷ điện Trung Sơn

1.3 Mục đích, nhiệm vụ, phương pháp và phương thức tiến hành

- Mục đích:

Tiến hành điều tra tổng thể các nguồn tài nguyên văn hoá vật thể ở khu vực lòng hồ, từ đó tư vấn cho Ban QLDA Thuỷ điện có đầy đủ cơ sở tiến hành xây dựng Nhà máy thuỷ điện Trung Sơn và góp phần bảo vệ di sản văn hoá dân tộc theo Luật

Di sản Văn hoá của Nhà nước đã ban hành

Các nguồn tài nguyên văn hoá vật thể được hiểu là các di sản văn hoá vật thểTheo Điều 4, mục 2 của Luật Di sản văn hoá: "Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia"

Công việc điều tra, khảo sát trong khu vực Dự án Thuỷ điện Trung Sơn phát hiện và nghiên cứu các khu vực di tích ở dạng tiềm tàng (ví dụ: các di tích, di vật nằm trong lòng đất…) và nghiên cứu đánh giá những di tích, di vật khảo cổ học xuất lộ trên mặt đất đã được hay chưa được đăng ký trong danh mục di tích Quốc gia và địa phương, có quan hệ với đời sống của cư dân địa phương hiện đại (ví dụ: các di tích đình, đền, chùa, miếu mạo, mộ táng…) Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tư vấn đưa ra các phương án xử lý cụ thể với từng di tích hay từng nhóm di tích, di vật nhằm gìn giữ một cách tốt nhất các giá trị văn hoá truyền thống

Điều tra khảo cổ học còn nhằm thu thập tư liệu ngiên cứu văn hoá lịch sử; thu thập hiện vật phục vụ cho việc trưng bày bảo tàng, phát huy di sản văn hoá dân tộc trong sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội vùng Tây Thanh Hoá

- Nhiệm vụ:

Nhiệm vụ chính của nhóm tư vấn là xác định ranh giới và đánh giá tác động của tất cả các loại hình văn hoá vật thể bao gồm những tài nguyên do con người, tự nhiên, đã đăng ký hay chưa đăng ký, có thể di chuyển và không di chuyển trong khu vực Dự án thuỷ điện Trung Sơn

- Phương pháp:

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa khảo cổ học, dân tộc học và văn hoá học nhằm phát hiện các di tích văn hoá lịch sử, di tích khảo cổ, thu thập đầy đủ các thông tin, đăng ký và xây dựng bản đồ phân bố các di tích trong khu vực Trong đó phương pháp điều tra trên diện rộng và phương pháp khảo sát trọng điểm là cách thức để nhóm tư vấn triển khai công tác

Trang 6

Tiến hành đào một số hố thám sát tại các di tích nhằm xác định quy mô, tính chất và niên đại của địa điểm Kết quả đào thám sát là cơ sở để kiến nghị các phương án xử lý với mỗi di tích cụ thể

Trong quá trình làm việc, nhóm tư vấn đã có những liên hệ với chính quyền

và cư dân địa phương để thu thập, tìm hiểu những thông tin về di tích và những hiện vật khảo cổ đang được bà con nhân dân ở đây lưu giữ

Toàn bộ các di tích, hiện vật phát hiện đều được lập phiếu đăng ký, chụp ảnh,

đo vẽ, khảo tả và lưu hồ sơ (nằm ở phần phụ lục của Báo cáo)

- Phương thức:

Sử dụng các phương pháp khảo cổ học là chính, tiến hành điều tra toàn bộ khu vực dự án thuỷ điện Trung Sơn Trong đó đặc biệt chú trọng nghiên cứu các di tích, di vật tiềm tàng

Điều tra trên diện rộng: nhóm tư vấn chia thành các nhóm nhỏ xâm nhập vào các bản làng thu thập các thông tin về các địa điểm có dấu tích văn hoá vật thể, các khu vực có tính chất thiêng liêng của bản và đi đến kiểm tra thực địa Ở giai đoạn này vai trò của các già làng, trưởng bản rất quan trọng và đã có những hỗ trợ rất lớn cho nhóm tư vấn bởi họ là những người nắm được những địa điểm mang tính thiêng liêng, sự biến đổi và những sự tích liên quan đến địa điểm đó

Khảo sát trọng điểm: là công việc tiến hành khi đã xác định được địa điểm có dấu tích văn hoá vật thể ở giai đoạn khảo sát sơ bộ Các công việc xác định vị trí di tích, đo vẽ lập sơ đồ, khảo tả hiện trạng và đào thám sát di tích được tiến hành Những tư liệu thu thập được ở giai đoạn khảo sát này là cơ sở để nhóm tư vấn phân loại các loại hình di tích và đề ra các phương án xử lý cụ thể cho từng di tích

1.4 Khu vực khảo sát và các bước tiến hành

Khu vực tiến hành điều tra, khảo sát theo Hồ sơ thiết kế cơ sở Dự án thuỷ

điện Trung Sơn gồm:

- Vùng thường xuyên ngập nước

- Các trại và các trại phụ trợ

- Các khu có bãi đất mượn và đất thải

- Đường vào và dây chuyền vận chuyển

- Các khu tái định cư

- Các khu mỏ nguyên liệu

Như vậy khu vực tiến hành khảo sát tương ứng với địa giới hành chính của

25 bản thuộc 5 xã, 3 huyện và 2 tỉnh Các bản Ta Bán, bản Co Me, bản Xước, bản Quán Nhục thuộc xã Trung Sơn, huyện Quan Hoá; bản Tài Chánh, bản Kít, bản Mau, bản Chiềng Nưa, bản Nàng 1, bản Muống 2 thuộc xã Mường Lý; bản Lìn, bản

Tà Cóm, bản U, bản Cà Giáng, bản Chiềng Lý, bản Pa Búa thuộc xã Trung Lý; bản Poom Khuông, bản Cân, bản Kha Ni, bản Ko Đóc, bản Poom Buôi thuộc xã Tam Chung, huyện Mường Lát (Thanh Hoá); bản Pù Lầu, bản Tà Lào Đông, bản Tà Lào Tây thuộc xã Xuân Nha, huyện Mộc Châu (Sơn La)

Hồ sơ thiết kế cơ sở Dự án thuỷ điện Trung Sơn được xây dựng từ trước năm

2004, nên đến nay địa giới hành chính có một số thay đổi Cụ thể: bản Poom Buôi thuộc xã Tam Chung, huyện Mường Lát đã chuyển về thị trấn Mường Lát từ cuối năm 2004; Bản Tà Lào Đông và bản Tà Lào Tây thuộc xã Xuân Nha, huyện Mộc Châu được cắt về xã Tân Xuân, huyện Mộc Châu mới lập năm 2007

Trang 7

Bảng 1: Khu vực tiến hành khảo sát theo địa giới hành chính

Thanh Ho¸ Quan Ho¸ Trung S¬n Tµ B¸n, Co Me, X-íc, Qu¸n Nhôc

M-êng L¸t M-êng Lý Tµi Ch¸nh, KÝt, Mau, ChiÒng N-a,

Nµng, Muèng 2 Trung Lý L×n, Tµ Cãm, U, Cµ Gi¸ng, ChiÒng

Lý, Pa Bóa Tam Chung Poom Khu«ng, C©n, Kha Ni, L¸t, Ko

§ãc, L©m tr-êng

TT M-êng L¸t Poom Bu«i

T©n Xu©n Tµ Lao §«ng, Tµ Lao T©y

Công việc được tiến hành theo 4 giai đoạn:

Công việc tiến hành theo bốn giai đoạn cụ thể, tuy nhiên tuỳ theo tình hình thực tế, một số giai đoạn có thể được tiến hành song song nhau

- Giai đoạn 1: Điều tra khảo sát trên diện rộng toàn bộ khu vực chân đập, lòng hồ chứa và các khu vực khác có liên quan, nhằm xác định và thống kê các loại hình di tích di vật

- Giai đoạn 2: Tiến hành đào thám sát ở những địa điểm có dấu hiệu tầng văn hoá khảo cổ tiêu biểu Nhằm xác định chắc chắc về mặt loại hình di tích và từ đó lập

đề xuất các phương án xử lý

- Giai đoạn 3: Chỉnh lý di tích, di vật thu được: làm phiếu di tích, di vật, chụp ảnh, xử lý bản vẽ tại công trường, lập các bảng biểu thống kê…

- Giai đoạn 4: Phân tích và tổng hợp dữ liệu viết báo cáo

1.5 Kế hoạch triển khai

Giai đoạn 1 & 2, nhóm tư vấn chia làm 3 đội công tác hoạt động độc lập và chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ Trưởng nhóm tư vấn

- Đội thứ nhất khảo sát các bản nằm trong khu vực dọc suối Quanh và các chi lưu của nó, thuộc địa phận xã Trung Sơn (Quan Hoá), xã Tân Xuân và xã Xuân Nha (Mộc Châu)

- Đội thứ 2 khảo sát các bản nằm ở tả ngạn sông Mã, thuộc địa phận thị trấn Mường Lát và xã Trung Lý (Mường Lát)

- Đội thứ 3 khảo sát các bản nằm ở hữu ngạn sông Mã, thuộc địa phận các xã Mường Lý và Tam Chung (Mường Lát)

Giai đoạn 3 & 4 tập chung lại thành một nhóm làm việc tập chung, chỉnh lý

hồ sơ tư liệu đã thu thập được trong đợt khảo sát, chỉnh lý hiện vật tiến hành viết báo cáo và giao cho phụ trách nhóm tổng hợp

2 Kết quả điều tra khảo sát

2.1 Vị trí địa lý, địa chất và cảnh quan môi trường

(Mục này được viết dựa trên kết quả nghiên cứu của báo cáo Thiết kế cơ sở Dự án Thuỷ điện Trung Sơn; Quyển 2.2 Báo cáo địa chất - địa mạo khu vực thi công công trình và một

phần nhỏ là kết quả khảo sát khu vực công tác của nhóm tư vấn).

Khu vực Dự án Thuỷ điện Trung Sơn nằm trên lưu vực Sông Mã phía Tây

Trang 8

tỉnh Thanh Hoá và Hoà Bình Đây là vùng núi cao thuộc miền Tây Bắc của Việt Nam bao gồm các dãy núi kéo dài theo phương TB-ĐN phân cắt mạnh đến trung bình, bề mặt sườn có độ dốc khá lớn, từ 10-30o Các khối núi ven sông thường khá thoải, cao độ tuyệt đối dao động từ trăm mét đến vài trăm mét

Trong vùng có hai đứt gãy sinh chấn là đứt gãy sâu rìa miền Sông Mã và đứt gãy sâu rìa đới Sơn La:

- Đứt gãy Sông Mã dài trên 390km (trong đó gần 100 km trên đất Lào), có

phương chung TB-ĐN với nhiều đoạn thay đổi phương, bắt đầu từ Mường Ảng (Tuần Giáo) và chấm dứt ở ven biển Quảng Xương-Tĩnh Gia (Thanh Hoá)

- Đứt gãy Sơn La dài khoảng 360 km bắt đầu từ Tuần Giáo (Lai Châu) và kết

thúc ở bờ biển Nga Sơn (Thanh Hoá) có phương chung TB-ĐN, riêng đoạn Chiềng

Ve - Mai Châu có phương á vĩ tuyến Tại khu vực nghiên cứu đới đứt gãy Sơn La thể hiện không liên tục và các biểu hiện biến dạng địa mạo yếu

Khu vực này có hai dạng địa hình chính:

- Kiểu địa hình xâm thực bóc mòn: là dạng địa hình có quy mô lớn nhất,

trùng với các dải đồi có mức phân cắt cao Căn cứ theo mức độ phân cắt và độ dốc của địa hình có thể phân chia ra các khối núi: Khối núi xâm thực bóc mòn phân cắt trung bình và khối núi xâm thực bóc mòn sườn dốc đến rất dốc

- Kiểu địa hình tích tụ: Trên bình đồ, dạng địa hình trùng với các diện tích

phân bố trầm tích hệ Đệ Tứ dưới dạng các dải đất bằng hẹp Theo độ cao, có thể phân ra các dạng địa hình thềm bậc I, bãi bồi cao và các bãi bồi thấp, doi cát, bãi cát ven sông

Hệ thống sông Mã gồm dòng chính sông Mã và phụ lưu lớn sông Chu Dòng chính sông Mã bắt nguồn từ vùng núi núi Pu Va (tỉnh Điện Biên, Lai Châu) dài 512km, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam qua Sơn La, Sầm Nưa (nước Lào), Hoà Bình, Thanh Hoá rồi đổ ra cửa Lạch Sung, Lạch Trường, Lạch Hới vùng ven biển tỉnh Thanh Hoá Theo thống kê, lưu vực Sông Mã có diện tích 28.400 km2 Vị trí địa lý của lưu vực sông Mã tính đến tuyến đập, được xác định ở toạ độ 2006’ -

2000’ vĩ độ Bắc và 10406’ - 10500’ kinh độ Đông Ngoài dòng sông chính, có nhánh Suối Quanh bắt nguồn từ vùng núi Yên Châu tỉnh Sơn La chảy vào Sông Mã đoạn Bản Quán Nhục cách tuyến đập về phía thượng lưu khoảng 0,7km

Các suối nhánh của Sông Mã có mật độ tương đối cao, dạng xương cá chiều dài từ 2-3km đến hàng chục km Đặc điểm rất nổi bật của hệ thống suối thường có phương á kinh tuyến và uốn khúc rất mạnh Mức phân cắt dọc của các suối thường khá thấp ở phần hạ lưu, tăng cao đột ngột trên vùng thượng lưu

Khu vực công tác nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Tổng thời gian mặt trời chiếu sáng mỗi năm trên 4.400 giờ Nhiệt độ trung bình hàng năm 26,3oC Nhiệt độ cao nhất 42oC, thấp nhất là -0,8o C Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 6, kết thúc vào tháng 10 Các tháng mưa nhiều nhất là 8, 9 và 10 Số ngày mưa ở Mường Lát theo thống kê là 49 ngày/năm Lượng mưa phân bố không đều Độ ẩm cao nhất là 93% vào tháng 8-10, thấp nhất 6% vào tháng 1-3, trung bình 85%

Hướng gió chính thay đổi mạnh theo mùa Về mùa hè, hướng chính là Đông

và Đông Nam Vào mùa Đông, hướng chính là Bắc và Đông Bắc Gió Tây khô nóng thường xuất hiện vào đầu mùa Hè kéo dài 20-30 ngày hàng năm Tháng 9 hàng năm thường có mưa to và bão

Giao thông đường bộ ở khu vực này rất khó khăn Từ thị trấn Mai Châu, theo

Trang 9

đường nhựa khoảng 13 km, đến thị tứ Co Lương Từ Co Lương, theo đường cấp phối ven Sông Mã để đến vùng lòng hồ Hệ thống giao thông nội bộ trong vùng rất xấu và không thuận lợi cho việc lưu thông xe cộ, chủ yếu là đi lại bằng các lối mòn nhỏ men theo sông suối hay cắt ngang núi do nhân dân địa phương tự mở Xe ôtô chỉ có thể đến được trung tâm xã và một số bản lớn Riêng xã Mường Lý mới được thành lập từ năm 2007 chỉ có một lối mòn độc đạo dẫn vào trung tâm xã, đường đi cũng chỉ có thể đi bộ hoặc đi bằng xe máy

Giao thông đường sông từ Co Lương đến tuyến đập bằng thuyền thuận lợi hơn về mùa lũ Nhưng về mùa khô, việc đi lại cũng khá khó khăn do tuyến đường sông từ bản Xước đến Mường Lát rất hẹp, nhiều ghềnh thác, ghe và thuyền chỉ có thể đi lại trong các đoạn ngắn

Cảnh quan môi trường ở khu vực này là sự kết hợp giữa những dải đồi núi trùng điệp có mức phân cắt cao và khu vực lòng sông dốc hẹp quanh co nhiều thác ghềnh nằm giữa các khe núi, kết hợp với các khu vực suối nhánh đổ ra sông Mã theo dạng xương cá Giao thông đường bộ và đường sông đều rất khó khăn cho đến hiện nay

Địa hình đồi núi có diện tích phân bố lớn nhất trong khu vực công tác Phần lớn các khối núi được tạo bởi các đá trầm tích biến chất hệ tầng Sông Mã, nằm kéo dài phương Tây Bắc -Đông Nam và á kinh tuyến dạng yên ngựa Tại đây địa hình

có mức phân cắt rất mạnh, bề mặt sườn có độ dốc lớn, đường phân thuỷ hẹp dạng sống trâu

Sông ngòi có lòng hẹp, triền sông dốc đứng, chỉ có thềm bậc I, đôi chỗ có các bãi bồi, các doi cát và bãi cuội ven sông Thềm bậc I phân bố ở độ cao từ 7 - 11m, bề mặt thềm thường hẹp, hơi nghiêng về phía lòng sông Bãi bồi nằm ở độ cao

2 - 3m, có diện tích hẹp, bề mặt nghiêng về phía lòng sông và thường bị ngập trong mùa mưa lũ Các doi cát và bãi cát sỏi ven sông phân bố rải rác ở các đoạn sông uốn khúc, thường bị bán ngập, kích thước các bãi cát sỏi kéo dài từ vài chục mét đến vài trăm mét, chiều rộng vài chục mét đến 100m

Nhìn chung, địa hình núi đồi hiểm trở không thuận lợi cho việc cư trú và chuyển của các nhóm cư dân, đặc biệt là cư dân thời kỳ tiền - sơ sử Đến nay, trong khu vực công tác, ngoại trừ các bản người H’Mông sống du canh du cư ở những khu vực núi rất cao (thường là nằm ngoài vùng lòng hồ), các bản người Thái thường chỉ định cư ở khu vực ngã ba các sông suối, nơi có địa hình tương đối thuận lợi cho việc sinh sống, đi lại Việc phát hiện các di tích tiền - sơ sử ở khu vực này là rất hiếm và mang tính chất đặc biệt quan trọng Các di tích lịch sử văn hoá và các khu

mộ táng thường liên quan mật thiết đến nguồn gốc của các cộng đồng cư dân hiện đại Các di tích thường phân bố ở những khu vực sườn núi ven sông suối hay những khu vực đất khá bằng phẳng do các con suối lớn tạo nên Những khu vực phân bố

và các loại hình di tích cụ thể sẽ được trình bày chi tiết ở mục 3,4 của báo cáo

2.2 Điều tra khảo sát vùng chân đập

Khu vực chân đập thuỷ điện được đặt ở địa phận bản Co Me, xã Trung Sơn, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá Đường vào chân đập có thể đi theo hai đường: đường bộ và đường thuỷ

Đường bộ từ thị trấn Mai Châu, theo đường nhựa đi Quan Hoá khoảng 13

km, đến thị tứ Co Lương Từ Co Lương đi theo đường cấp phối ven Sông Mã

Trang 10

khoảng 22km đến trung tâm xã Trung Sơn, tiếp tục đi khoảng 3km là đến bản Co

Me - nơi đặt chân đập

Đường sông cũng khá thuận lợi, đoạn từ Co Lương đến bản Co Me có lòng rộng, ít thác ghềnh, có thể dùng thuyền hay xuồng máy đi từ Co Lương ngược sông khoảng 15km là đến chân đập

Kết quả điều tra, khảo sát cho biết khu vực chân đập có địa hình hiểm trở, sườn núi cao, dốc đứng, loại hình thềm sông bãi cuội doi cát bán ngập không thuận lợi cho việc cư trú cũng như việc triển khai các hoạt động sống của các nhóm cư dân cổ cũng như các nhóm cư dân hiện đại Tuy vậy do tính chất đặc biệt quan trọng của khu vực chân đập nên chúng tôi áp dụng phương pháp điều tra, khảo sát trọng điểm thay vì sử dụng phương pháp khảo sát theo diện rộng

Chân đập được xây dựng ở đoạn có lòng sông khá hẹp, hai bên là các vách núi có độ dốc đứng cao Đây là tính chất chung của vùng thượng lưu sông Mã và của khu vực công tác Vùng chân đập, bên bờ phải sông còn dấu vết đường hầm khoan sâu vào trong lòng núi thăm dò địa chất, đường hầm này đã bị sập, đất đá lấp đầy cửa hầm Hiện chỉ còn quan sát được phần rãnh lõm do đất đá từ trên sập xuống, một số cây gỗ chống đổ ngổn ngang và một bãi đất đá hất ra phía ngoài cửa hang Toạ độ 20036’539” vĩ Bắc và 140050’201” kinh Đông Cao độ so với mực nước biển là 97.5m

Cũng ở bờ phải, từ chỗ khoan thăm dò địa chất tiến lên phía thượng lưu khoảng 200m là bãi Quán Cầu - một bãi cuội và doi cát khá lớn nằm ở thềm sông, sát cạnh dòng chảy và chỉ lộ ra vào mùa nước cạn Bãi cuội có toạ độ 20036’665’’ vĩ

độ Bắc và 140050’093’’ độ kinh Đông Cao độ so với mực nước biển là 88.6m

Kết quả điều tra, khảo sát không phát hiện dấu hiệu của các địa điểm văn hoá vật thể, cũng như các di tích, di vật khảo cổ Như vậy việc tiến hành xây dựng, thi công công trình ở khu vực chân đập sẽ không gặp trở ngại do lĩnh vực văn hoá vật thể gây ra Trong quá trình xây dựng cũng có thể sẽ làm phát lộ một vài hiện vật khảo cổ do nhiều lý do được đưa đến (như sông suối có thể cuốn trôi một vài di vật khảo cổ từ thượng nguồn xuống; các hoạt động của con người cũng có thể làm một

số di vật xuất hiện ở đây…) Việc thu nhặt các hiện vật và giao lại cho các cơ quan văn hoá có chức băng bảo quản là cần thiết (ví dụ như Bảo tàng Tỉnh), nhưng nó không đủ tính chất quan trọng để tạm dừng một công trường xây dựng

2.3 Tổng quan về các di tích, di vật đã phát hiện

Những nghiên cứu về địa chất địa mạo (mục 2.1) khu vực công tác có địa hình hiểm trở, núi cao dốc, lòng sông hẹp, các bãi cuội, doi cát bán ngập không thuận lợi cho việc cư trú cũng như triển khai các hoạt động sống của các nhóm cư dân cổ

Thực tế khảo sát cho thấy các di tích, dấu tích văn hoá vật thể được phát hiện với số lượng ít, phân bố không tập chung và ở gần các bản làng hiện nay của các nhóm cư dân địa phương Những địa điểm này thường liên quan mật thiết đến các cộng đồng cư dân bản địa hiện đại hoặc liên quan đến nguồn gốc của các cư dân đó

Đặc điểm chung về khu vực phân bố của các di tích là khu vực sườn đồi ven sông, ven suối, ngã ba sông suối, đặc biệt ở những khu vực khá bằng phẳng được tạo nên từ những con suối lớn như suối Quanh Những khu vực này độ cao vừa phải, có nguồn cung cấp nước sinh hoạt quanh năm và không bị lũ lụt đe doạ Địa

Trang 11

hình tương đối thuận lợi cho việc sinh sống và triển khai các hoạt động kinh tế khai thác tự nhiên hơn các khu vực khác Khu vực trên trùng lặp với vùng lòng hồ chứa nước thuỷ điện Trung Sơn

Quá trình khảo sát đã xác định được 11 địa điểm có dấu ấn văn hoá vật thể, thuộc hai nhóm loại hình là di tích, di vật khảo cổ học và di tích văn hoá mang tính thiêng liêng của nhóm tộc người (trong đó có 6 di tích khảo cổ học, 2 sưu tập hiện vật khảo cổ và 3 di tích văn hoá mang tính chất thiêng liêng của nhóm tộc người)

Trong số 11 địa điểm trên có 7 địa điểm nằm trong vùng lòng hồ và 4 địa điểm nằm ngoài phạm vi dự án thuỷ điện Trung Sơn Trong bản Báo cáo này chúng tôi trình bày toàn bộ kết quả điều tra, khảo sát với mục đích có được cái nhìn tổng quan về sự phân bố của các loại hình di tích, di vật tại khu vực công tác

Phân loại theo phạm vi ảnh hưởng của vùng lòng hồ thuỷ điện:

- Các di tích nằm trong vùng lòng hồ thuỷ điện: di tích đá cũ Bản Nàng 1; khu mộ táng Huổi Pa (Ta Bán); Khiêng sằn của các bản Ta Bán, Tài Chánh, Nàng 1; Sưu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử và sưu tập hiện vật giai đoạn lịch sử

- Các di tích nằm ngoài vùng ảnh hưởng: di tích đá mới - kim khí Hang Cú, Mái đá Nàng Chanh, mộ Tiên Tẳng; Đá khắc chữ ở Tam Chung

Bảng 2: Phân loại theo loại hình di tích và phạm vi ảnh hưởng của vùng lòng hồ

Loại hình di tích Trong vùng lòng lòng hồ Ngoài vùng ảnh hưởng

Huyện Quan Hoá:

- Xã Trung Sơn: Mái đá Nàng Chanh; Khu mộ táng Huổi Pa (Ta Bán); Khiêng sằn Ta Bán

Huyện Mường Lát:

- Xã Mường Lý: di tích đá cũ Bản Nàng 1; Khiêng sằn các bản Tài Chánh, Nàng 1; mộ Tiên Tẳng ở Chiềng Nưa

- Xã Trung Lý: không phát hiện di tích văn hoá vật thể

- Xã Tam Chung: Hang Cú ở Bản Lát; Đá khắc chữ

- Thị trấn Mường Lát: không phát hiện di tích văn hoá vật thể

- Huyện Quan Hoá và Mường Lát: Sưu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử ở bản Ta Bán, Nàng 1, Tài Chánh, Lìn và Sưu tập hiện vật giai đoạn lịch sử ở bản Ta Bán

Tỉnh Sơn La

Huyện Mộc Châu:

- Xã Tân Xuân: không phát hiện di tích văn hoá vật thể

Trang 12

- Xã Xuân Nha: không phát hiện di tích văn hoá vật thể

Bảng 3: Phân loại di tích theo địa giới hành chính

HuyÖn X· B¶n Di tích

Quan Ho¸ Trung S¬n Tµ B¸n Mái đá Nàng Chanh (1); Huổi Pa (2); Khiêng

sằn (3) M-êng L¸t M-êng Lý Nµng 1 Di tích đá cũ Bản Nàng 1 (4); Khiêng sằn (5)

Tµi Ch¸nh Khiêng sằn (6) ChiÒng N-a mộ Tiên tẳng (7) Trung Lý C¸c b¶n Không phát hiện di tích Tam Chung Ko §ãc Đá khắc chữ (8)

Quan Ho¸ - M-êng L¸t Sưu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử (10); Sưu

tập hiện vật giai đoạn lịch sử (11)

Méc Ch©u Xu©n Nha C¸c b¶n Không phát hiện di tích

T©n Xu©n C¸c b¶n Không phát hiện di tích

Phân loại theo loại hình di tích:

* Di tích khảo cổ học:

- Di tích thời đại đá cũ Bản Nàng 1

- Di tích hang động thời đại đá mới - kim khí: Hang Cú (Bản Lát)

- Di tích mộ táng trong hang động: Mái đá Nàng Chanh (Ta Bán)

- Các khu mộ táng cổ: Huổi Pa (Ta Bán); Mộ Tiên Tẳng (Chiềng Nưa)

- Đá khắc chữ ở Tam Chung

- Sưu tập hiện vật khảo cổ học thu được trong khu vực lòng hồ: Sưu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử; Sưu tập hiện vật giai đoạn lịch sử

* Di tích văn hoá mang tính thiêng liêng của nhóm tộc người:

- Khu vực tế lễ của các bản (Khiêng sằn): Ta Bán; Tài Chánh; Nàng 1

Bảng 4: Loại hình và đặc điểm di tích

Loại hình di tích Tên di tích Đặc điểm di tích

Di tích đá cũ

Bản Nàng 1 (1) Di tích ở trung tâm bản Nàng 1, xã Mường Lý,

huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá Toạ độ

20032’433’’ vĩ Bắc 104046’078’’ kinh Đông Độ cao so với mặt nước biển 119.4m, phân bố ở chân núi, ven suối Nàng Diện phân bố khoảng 1000m2

Địa tầng di tích, quan sát trên vách taluy là lớp đất sét pha sạn sỏi màu nâu vàng, dày 0,5 - 1m

Sưu tập hiện vật gồm 15 hiện vật đá với các loại hình công cụ: công cụ rìa lưỡi ngang, công cụ rìa lưỡi dọc, công cụ 3 rìa lưỡi, công cụ mũi nhọn, công cụ cuội bổ, công cụ mảnh tước…

Di tích thuộc loại hình di tích thời đại đá cũ phân bố ngoài trời, dạng đồi gò trước núi, mang đặc trưng của loại hình Sơn Vi miền núi

Trang 13

Di tích đá mới -

kim khí

Hang Cú (2) Di tích nằm ở bản Lát, xã Tam Chung, huyện

Mường Lát, cách suối Lát khoảng 300m Toạ độ

20033’531’’ vĩ Bắc và 104036’849’’ kinh Đông Độ cao so với mặt nước biển 210m

Di chỉ là một hang núi đá vôi khá rộng, nằm ở chân dãy núi Pha Pợ Tại đây đã phát hiện vết tích của 3 ngôi mộ Hiện vật thu được một số đồ gốm tuỳ táng, 64 mảnh gốm và 13 vỏ nhuyễn thể Hoa văn trang trí trên

đồ gốm mang đặc trưng của văn hoá Hoa Lộc Niên đại

dự đoán khoảng 5000 năm cách ngày nay

Sưu tập hiện vật Giai đoạn tiền

- sơ sử (3)

Thu được 26 hiện vật gồm 5 đồ đồng, 20 đồ đá và 1 hiện vật xương sừng Từ những thông tin về địa điểm phát hiện, nhóm tư vấn đã đi điều tra khảo sát nhưng không phát hiện di tích Tuy vậy việc tìm thấy những hiện vật này là những tín hiệu khả quan về sự có mặt của nhóm cư dân giai đoạn kim khí ở khu vực công tác

Giai đoạn lịch

sử (4) Hiện vật gồm 1 thỏi đồng và 1 sưu tập tiền kẽm Sưu

tập tiền kẽm có 171 đồng thu được trong 1 hũ sành, có niên đại của 3 triều Gia Long, Minh Mệnh và Tự Đức thời Nguyễn Sưu tập cho thấy sự giao lưu kinh tế - văn hoá giữa khu vực này với miền xuôi đã diễn ra khá phổ biến trong lịch sử

Mộ táng hang

động

Mái đá Nàng Chanh (5) Nằm đầu bản Tà Bán, xã Trung Sơn, huyện Quan

Hoá Toạ độ 20038’468" vĩ Bắc và 104051’588" kinh Đông Độ cao trên 300m

Di tích thuộc loại hình quan tài thân cây khoét rỗng, nằm trong tình trạng bị sập vỡ, nằm kẹt trong hốc hoặc

bị rơi xuống dưới chân vách đá

Khu vực di tích là bản của người Thái và người Mường Loại hình quan tài thân cây khoét rỗng này đến nay vẫn còn được người dân địa phương sử dụng Qua so sánh cho thấy chủ nhân của những ngôi mộ táng trên có thể có quan hệ khá mật thiết với hai tộc người Thái và Mường ở khu vực này

Niên đại đoán định khoảng thế kỷ X - XV

Mộ táng cổ

Mộ Tiên Tẳng (6)

Nằm ở bản Chiềng Nưa, xã Mường Lý, huyện Mường Lát Toạ độ 200

31’512" vĩ Bắc và 104042’112" kinh Đông Độ cao so với mặt nước biển 183m

Cấu trúc mộ gồm một trụ đá dựng thẳng, phía sau là một cột đá nhỏ đỡ cho trụ đá lớn khỏi bị nghiêng đổ Phía trước trụ đá, cách khoảng 0,5m là một cột đá nhọn nhỏ hơn

Theo truyền thuyết của dân bản thì đây là ngôi mộ của Tiên Tẳng (người có chức quyền, tương tự như chúa bản, chúa mường)

Niên đại đoán định khoảng thế kỷ XVI - XVII

Trang 14

Huổi Pa (7) Khu mộ nằm cạnh suối Pa, bản Tà Bán, xã Trung

Sơn, huyện Quan Hoá Toạ độ 20037’514’’ vĩ Bắc và

104049’780’’ kinh Đông Độ cao so với mặt nước biển 131m Di tích rộng khoảng 1000m2, với nhiều ngôi mộ được đặt các phiến đá khá lớn chôn ở đầu hay/và xung quanh mộ

Qua so sánh loại hình di tích, có thể đoán định niên đại khu mộ ở trong khoảng thế kỷ XVI - XVII

Đá khắc chữ Tam Chung

(8) Nằm ở xã Tam Chung, huyện Mường Lát, toạ độ

20031’940" vĩ bắc và 140040’263" kinh Đông Độ cao

so với mặt nước biển 182m

Di tích là một tảng đá gốc có kích cỡ lớn cao 6m; rộng trên 5m nằm trên sườn núi, hữu ngạn sông Mã Trên đỉnh viên đá có một hàng chữ Nho khắc sâu theo hàng dọc Do đá bị bào mòn nên chỉ còn đọc được một chữ dưới cùng (chữ VƯƠNG)

Niên đại đoán định sớm nhất là vào thế kỷ XVII

Khiêng sằn Ta Bán (9) Nằm ở đầu bản Ta Bán, xã Trung Sơn, huyện Quan

Hoá Toạ độ 20037’300" vĩ Bắc và 104050’237" kinh Đông Độ cao so với mặt nước biển 145m

Đây là nơi tế lễ hàng năm của dân bản, một hoạt động văn hoá mang tinh thần cố kết cộng đồng như hội làng ở miền xuôi Lễ tế bao gồm trâu bò hoặc lợn gà tuỳ theo tình trạng kinh tế hàng năm của dân bản, diễn

ra vào đầu tháng 5 âm lịch hàng năm

Tài Chánh (10)

Nằm ở đầu bản Tài Chánh, xã Mường Lý, huyện Mường Lát Toạ độ 20032’849" vĩ Bắc và 104047’434" kinh Đông Độ cao so với mặt nước biển 146m

Khiêng sằn là một nhà tạm làm từ vật liệu luồng và

gỗ, khá vuông vức, có sàn gỗ thấp Đây là nơi tế lễ hàng năm của dân bản, một hoạt động văn hoá mang tinh thần cố kết cộng đồng như hội làng ở miền xuôi

Lễ tế diễn ra vào cuối tháng 5 âm lịch hàng năm

Nàng 1 (11) Nằm ở đầu bản Nàng 1, xã Mường Lý, huyện

Mường Lát Toạ độ 20032’528" vĩ Bắc và 104046’104" kinh Đông Độ cao so với mặt nước biển 126m

Khiêng sằn được xây dựng từ vật liệu nhẹ, hình vuông, diện tích lòng nhà khoảng 8m2, xung quanh nhà được bao quanh bởi một hàng lan can thấp

Đây là nơi tế lễ hàng năm, mang ý nghĩa cầu an và củng cố tinh thần cố kết cộng đồng như hội làng ở miền xuôi Lễ tế diễn ra vào ngày 20 tháng 6 ÂL hàng năm Lễ vật nhất định phải có 1con lợn, 1 con chó, 3 con gà và 3 chĩnh rượu cần do toàn thể dân bản góp lại Ngoài ra, hàng tháng Trưởng bản có trách nhiệm phải cúng tế

Trang 15

Nhìn chung vì nhiều lý do về các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội nên khu vực Tây Thanh Hoá đến nay mới chỉ có một số nghiên cứu di tích văn hoá vật thể ở một

số khu vực hạn chế [Nguyễn Gia Đối 1998; 2003; Bùi Văn Liêm 1998-1999] Do vậy những di tích, di vật mới được phát hiện mang một ý nghĩa rất lớn về mặt văn hoá - lịch sử, có tính chất khai phá các địa điểm văn hoá vật thể ở vùng đất Tây Thanh Hoá

Do có tính chất khác nhau nên mỗi di tích có các phương án xử lý khác nhau Các phương án xử lý cụ thể cho từng di tích sẽ được nhóm tư vấn đưa ra ở các mục dưới Tuỳ từng địa điểm, nhóm tư vấn sẽ đề nghị các phương án giải quyết khác nhau như: Các di tích nằm ngoài vùng ảnh hưởng của dự án không phải xử lý trong khi xây dựng cũng như vận hành nhà máy thuỷ điện; các di tích nằm trong khu vực

dự án không cần thiết phải di dời; hay các di tích cần phải di dời khỏi vùng lòng hồ

để tiếp tục nghiên cứu

Thực tế nhóm di tích nằm ngoài khu vực dự án hầu như không bị ảnh hưởng bởi quá trình xây dựng, cũng như vận hành nhà máy thuỷ điện Trung Sơn, vì vậy chúng không thuộc phạm vi hợp đồng đã thoả thuận Tuy nhiên do mới được phát hiện và điều tra, khảo sát trong đợt này nên nhóm tư vấn trình bày như một phần của báo cáo công việc đã tiến hành

20032’433’’ vĩ độ Bắc và 104046’078’’ kinh độ Đông Độ cao so với mặt nước biển

là 119.4m, thuộc phạm vi ngập của vùng lòng hồ chứa Tên di tích được đặt theo tên địa điểm - nơi phát hiện

Di tích phân bố ở khu vực chân núi có độ dốc không lớn, nằm ven suối Nàng Suối Nàng chảy từ hướng Bắc sang Nam và đổ vào sông Mã ở đoạn cách Bản Nàng 1 khoảng 0,5km về phía Nam Tại khu vực di tích, suối lượn vòng cung và ôm gọn ở các mặt Đông Bắc, Đông và Đông Nam; phía Nam có một khe nhỏ thường có nước vào mùa mưa; phía Tây là dải núi cao án ngữ

Đường đến di tích có thể đi bằng đường bộ và đường thuỷ Đường bộ từ Co Lương theo đường dải cấp phối dài khoảng 22km đến bản Co Me, xã Trung Sơn (khu vực chân đập) Tiếp tục theo đường mòn ven sông, đi ngược theo hữu ngạn sông Mã dài khoảng 20km qua các bản Quán Nhục, bản Xước (xã Trung Sơn), bản Mau, bản Kít, bản Tài Chánh (xã Mường Lý) đến bản Nàng 1 là đến di tích Nếu theo đường bộ từ thị trấn Mường Lát, đi qua cầu cheo bản Lát, theo đường dải cấp phối xuôi theo hữu ngạn sông Mã khoảng 3km đến UBND xã Tam Chung, tiếp tục

đi khoảng 25km theo đường mòn ven sông Mã qua bản Ko Đóc (xã Tam Chung), bản Chiềng Nưa, bản Muống 2, trụ sở UBND xã Mường Lý đến bản Nàng 1 Đường thuỷ từ Co Lương đến bản Nàng 1 dài khoảng 30km nhưng chỉ có thể đi được vào mùa lũ, vì vào mùa khô đoạn này nhiều thác ghềnh khiến thuyền bè không thể lưu thông được, hoặc có thể đi từ thuyền từ Co Lương lên đến bản Tài Chánh rồi tiếp tục đi theo đường mòn ven chân núi đến di tích Nhìn chung, đường đi khá khó khăn hiểm trở

Trang 16

Di tích là một gò đất khá cao, nhưng nay đã bị cư dân địa phương san bạt một phần lấy mặt bằng làm nền nhà và đường đi Di tích hiện phân bố ở khu vực nhà anh Ngân Văn Thu và một số nhà dân xung quanh Giữa di tích là con đường mòn ven sông cắt ngang theo hướng Đông - Tây Diện phân bố di tích trong khoảng 1000m2 Bề mặt di tích có nhiều tảng đá gốc kích cỡ lớn lăn từ trên núi xuống Các hiện vật, công cụ đá cũ cũng xuất lộ rải rác, có thể dễ dàng quan sát và thu thập

Địa tầng di chỉ, quan sát trên vách taluy được người dân san bạt làm nền nhà cho biết: Tầng văn hoá là lớp đất sét pha lẫn sạn sỏi màu nâu vàng, đất khá cứng, dày khoảng 0,5 - 1m, hiện vật nằm tập chung trong lớp này Sinh thổ là lớp đá gốc đang trong quá trình phong hoá

Sưu tập hiện vật thu về trong đợt khảo sát gồm 15 hiện vật đá tiêu biểu cho các loại hình công cụ khác nhau: công cụ rìa lưỡi ngang, công cụ rìa lưỡi dọc, công

cụ 3 rìa lưỡi, công cụ mũi nhọn, công cụ cuội bổ, công cụ mảnh tước…

Bảng 5: Loại hình công cụ ở di tích Bản Nàng 1

Loại hình công cụ Số lượng hiện vật

* Nhóm công cụ rìa lưỡi ngang: thu được 5 tiêu bản Là loại công cụ được

làm từ cuội sông suối hình bầu dục, phần lưỡi sử dụng được tạo ở một đầu ngang viên cuội Các tiêu bản cụ thể:

- Công cụ rìa lưỡi ngang ký hiệu 08.BN1.ĐT: 1 làm từ viên cuội sông suối hình gần vuông, chất liệu đá basalte màu xanh đen Toàn thân phủ lớp patin khá dày màu nâu Phần lưỡi tác dụng được tạo ở ngang thân cuội, phía đầu cuội dày, tạo mặt cắt dọc công cụ có hình nón với phần đốc ở phía chóp Kỹ thuật ghè nhiều lớp từ các hướng khác nhau, vết ghè lớn nhưng không liên tục Công cụ có góc lưỡi lớn Phần thân còn lưu lại tối đa lớp vỏ cuội tự nhiên Kích thước: dài 10,8cm; rộng 9,5cm; dày 4,6cm

- Công cụ rìa lưỡi ngang ký hiệu 08.BN1.ĐT: 2 làm từ viên cuội sông suối kích cỡ khá lớn, hình gần bầu dục hơi dẹt, lớp vỏ cuội hơi lồi lõm, chất liệu đá basalte màu xanh đen Toàn thân phủ lớp patin dày màu nâu Phần lưỡi tác dụng được tạo ở ngang thân viên cuội Kỹ thuật ghè tạo lưỡi tác dụng, ghè một mặt từ một hướng, ghè nhiều lớp, vết ghè có kích cỡ khá lớn liên tiếp Tạo công cụ có rìa lưỡi sắc, lưỡi khá phẳng, góc lưỡi khá lớn Công cụ lưu lại tối đa lớp vỏ cuội tự nhiên, phần đốc cầm có hình gần cung tròn Kích thước: dài 11,5cm; rộng 11,3cm; dày 4,6cm

- Công cụ rìa lưỡi ngang ký hiệu 08.BN1.ĐT: 3 làm từ viên cuội sông suối hình gần tam giác Chất liệu đá basalte, mặt ngoài phủ lớp patin màu nâu sáng khá

Trang 17

dày Phần lưỡi tác dụng được tạo ở một đầu ngang viên cuội Kỹ thuật ghè một mặt,

từ một hướng, ghè nhiều lớp Vết ghè có kích cỡ trung bình liên tiếp, kết hợp với những vết ghè nhỏ tu chỉnh rìa lưỡi tạo cho rìa lưỡi sắc Công cụ có góc lưỡi lớn Phần thân còn lưu lại tối đa lớp vỏ cuội tự nhiên, phần đốc gần hình chóp Kích thước: dài 7,5cm; rộng lưỡi 9cm; dày 3,4cm

- Công cụ rìa lưỡi ngang ký hiệu 08.BN1.ĐT: 4 làm từ viên cuôi sông suối hình gần bầu dục dẹt Chất liệu đá basalte, mặt ngoài phủ lớp pa tin màu nâu trắng khá dày Phần lưỡi tác dụng được tạo ở một đầu hẹp ngang viên cuội Lưỡi được tạo

từ 3 - 4 nhát ghè lớn liên tiếp và một số vết ghè nhỏ tu chỉnh rìa lưỡi Kỹ thuật ghè một mặt, ghè một lớp từ một hướng tạo công cụ có rìa lưỡi sắc, góc lưỡi hẹp Công

cụ còn lưu lại tối đa lớp vỏ cuội tự nhiên Kích thước: dài 12cm; rộng thân 8,8cm; rộng lưỡi 7cm; dày 3,8cm

- Công cụ rìa lưỡi ngang ký hiệu 08.BN1.ĐT: 5 làm từ viên cuội sông suối kích cỡ nhỏ, hình bầu dục hơi dẹt Chất liệu đá basalte, mặt ngoài phủ lớp patin màu nâu đen, một góc công cụ có màu đen do bị đốt qua lửa Phần lưỡi tác dụng được tạo ở một đầu ngang viên cuội Kỹ thuật ghè một mặt, từ một hướng, ghè một lớp Phần lưỡi cong vồng, được tạo từ ba nhát ghè lớn liên tiếp, góc lưỡi nhỏ, lưỡi sắc Phần thân công cụ còn giữ lại tối đa lớp vỏ cuội, phần đốc bị vỡ một góc nhỏ Công

cụ gần dạng công cụ hình móng ngựa Kích thước: dài 7,8cm; rộng 6cm; dày 2,5cm

* Công cụ ba rìa lưỡi: thu được 1 tiêu bản, ký hiệu 08.BN1.ĐT: 6 làm từ

viên cuội sông suối kích cỡ khá lớn, hình bầu dục dẹt, chất liệu đá basalte Toàn thân phủ kín lớp patin dày màu nâu nhạt Phần lưỡi tác dụng được tạo ở hai rìa ngang và một rìa dọc viên cuội Các rìa lưỡi giao nhau tạo hình cung lồi Kỹ thuật tạo lưỡi ghè một mặt, từ một hướng, ghè nhiều lớp Vết ghè lớn liên tiếp, kết hợp với một số vết ghè nhỏ tu chỉnh rìa lưỡi Công cụ có rìa lưỡi sắc, góc lưỡi hẹp Kích thước: dài 9,5cm; rộng 13,4cm; dày 3,9cm

* Công cụ mũi nhọn: thu được 1 tiêu bản, ký hiệu 08.BN1.ĐT: 7 làm từ viên

cuội sông suối kích cỡ khá lớn, hình bầu dục dẹt, chất liệu đá basalte màu xanh đen Toàn thân phủ kín một lớp patin dày màu nâu Mặt ngoài đang bị phong hoá mạnh tạo lớp cát xù xì khá bở Phần lưỡi tác dụng được tạo ở một đầu ngang viên cuội

Kỹ thuật tạo lưỡi ghè một mặt từ một hướng, ghè nhiều lớp, vết ghè có kích cỡ khá lớn liên tiếp Ghè đẽo từ hai cạnh vào tạo thành công cụ có một đầu nhọn, góc lưỡi rất lớn Công cụ lưu lại tối đá lớp vỏ cuội tự nhiên, đốc cầm hình vòng cung tròn Kích thước: dài 13,5cm; rộng 10,1cm; dày 4,4cm

* Công cụ rìa lưỡi dọc: thu được 2 tiêu bản

- Công cụ rìa lưỡi dọc ký hiệu 08.BN1.ĐT: 8 làm từ viên cuội sông suối hình bầu dục dẹt Toàn bộ công cụ bám một lớp patin dày màu nâu vàng Bề mặt công cụ đang bị phong hoá mạnh, tạo một lớp cát tơi bở bám ở bên ngoài Phần lưỡi tác dụng được tạo ở một cạnh dọc viên cuội Kỹ thuật ghè tạo lưỡi ghè một mặt, từ một hướng, ghè một lớp Các nhát ghè khá lớn liên tiếp triển khai từ đầu này đến đầu kia viên cuội, tạo góc lưỡi hẹp, lưỡi hơi cong vồng Do đang trong quá trình phong hoá nên rìa lưỡi bị bào mòn hơi tù Phần thân công cụ giữ lại tối đa lớp vỏ cuội Kích thước: dài 6,8cm; rộng 9,7cm; dày 3cm

- Công cụ rìa lưỡi dọc ký hiệu 08.BN1.ĐT: 9 làm từ viên cuội sông suối, không định hình, chất liệu đá basalte Toàn thân phủ lớp patin dày màu nâu nhạt Trên một cạnh dẹt dọc thân cuội được ghè tạo lưỡi Kỹ thuật ghè một lớp từ một

Trang 18

hướng, nhát ghè lớn liên tiếp đều nhau tạo công cụ có rìa lưỡi sắc, góc lưỡi hẹp Kích thước: dài 6,8cm; rộng 10,2cm; dày nhất 5,8cm

* Công cụ không định hình: thu được 1 tiêu bản ký hiệu 08.BN1.ĐT: 10 làm

từ viên cuội sông suối hình bầu dục Chất liệu đá basalte, mặt ngoài phủ lớp patin màu nâu sáng Công cụ được ghè tạo lưỡi ở một cạnh dọc viên cuội, các cạnh còn lại và mặt bụng công cụ cũng được ghè đẽo tách bỏ toàn bộ lớp vỏ cuội Kỹ thuật ghè nhiều lớp, từ các hướng khác nhau, triển khai từ mặt lưng sang mặt bụng viên cuội Các vết ghè có kích cỡ trung bình, khá đều nhau, ghè liên tiếp Phần lưỡi được ghè từ mặt lưng đến giữa thân cuội, ghè nhiều lớp từ một hướng, vết ghè đều, tạo công cụ có phần lưỡi hơi nhọn Hai cạnh bên được ghè từ mặt lưng sang, diện ghè vuông góc với phần lưỡi, vết ghè lớn, chủ yếu có tác dụng định hình công cụ Mặt bụng, phần từ đốc xuống cũng được ghè đẽo, diện ghè triển khai từ đốc đến giáp phần lưỡi công cụ theo hướng đối nghịch với hướng ghè tạo lưỡi, bóc đi toàn bộ phần vỏ cuội tự nhiên ở mặt bụng viên cuội Lớp vỏ cuội chỉ còn được giữ nguyên ở mặt lưng công cụ Kích thước: dài 6,6cm; rộng 8cm; dày nhất 4,6cm

* Công cụ cuội bổ: thu được 2 tiêu bản

- Công cụ ½ viên cuội ký hiệu 08.BN1.ĐT: 11 Chất liệu cuội sông suối, có nguồn gốc đá basalte hạt mịn, hình bầu dục dẹt Toàn thân phủ lớp patin dày màu nâu vàng, mặt ngoài đang bị phong hoá mạnh Kỹ thuật tạo dáng, bổ ½ viên cuội theo cạnh dọc ở mặt lớn, sau đó ghè tạo lưỡi ở một đầu ngang viên cuội Phần lưỡi được tạo theo hình cung lồi từ một đầu ngang đến gần giữa thân cuội Kỹ thuật ghè một mặt từ một hướng, ghè một lớp tạo rìa lưỡi sắc, góc lưỡi hẹp Diện ghè từ mặt cuội sang mặt bổ, vết ghè kích cỡ khá nhỏ, liên tiếp xen kẽ với những vết ghè nhỏ tu chỉnh rìa lưỡi Mặt lưng công cụ để nguyên lớp vỏ cuội Kích thước: dài 18,6cm; rộng 9,7cm; dày 2,9cm

- Công cụ ¼ viên cuội ký hiệu 08.BN1.ĐT: 12 Làm từ chất liệu cuội sông suối, nguồn gốc đá quartf hạt mịn, gần hình bầu dục dẹt Toàn thân phủ lớp patin màu nâu sáng Kỹ thuật tạo hình bổ ½ theo cạnh dọc ở mặt lớn viên cuội sau đó ghè tạo lưỡi ở ngang thân cuội tạo công cụ có dạng ¼ viên cuội Kỹ thuật ghè một mặt

từ một hướng, ghè một lớp Diện ghè từ mặt cuội sang mặt bổ Ghè ba nhát lớn liên tiếp, kết hợp một số vết ghè nhỏ tu chỉnh rìa lưỡi Công cụ có góc lưỡi hẹp, rìa lưỡi sắc Mặt lưng công cụ giữ nguyên lớp vỏ cuội Kích thước: dài 7,6cm; rộng lưỡi 8,8cm; dày 2,5cm

* Công cụ mảnh tước: thu được 2 tiêu bản

- Công cụ mảnh tước ký hiệu 08.BN1.ĐT: 13 là một mảnh tước có hình gần tam giác được tách ra từ một viên cuội sông suối Toàn thân bao phủ một lớp patin dày màu nâu Loại hình mảnh tước thứ, có mặt lưng và mặt bụng gần phẳng, vỏ cuội còn lưu lại ở hai cạnh hẹp của mảnh tước Phần lưỡi mảnh tước được tiếp tục gia công bằng những nhát ghè nhỏ liên tiếp tu chỉnh tạo rìa lưỡi sắc Vết ghè tu chỉnh theo một hướng, từ mặt bụng sang mặt lưng Tạo nên công cụ có chức năng như dao cắt Kích thước: dài 6cm; rộng lưỡi 5,7cm; dày 1,5cm

- Công cụ mảnh tước ký hiệu 08.BN1.ĐT: 14 được làm từ một mảnh vỡ lớn của viên cuội sông suối, chất liệu đá basalte Mặt ngoài phủ lớp patin dày màu nâu

và đang bị phong hoá mạnh Công cụ được tạo hình từ nhiều nhát ghè theo nhiều hướng khác nhau vòng quanh rìa cạnh, hướng ghè từ mặt cuội sang mặt bụng Vết ghè tạo lưỡi lớn kết hợp với những vết ghè nhỏ tu chỉnh rìa lưỡi, tạo góc lưỡi hẹp,

Trang 19

lưỡi sắc Có thể coi đây là loại công cụ đá không định hình Kích thước: dài 7,2cm; rộng 8,3cm; dày 3,2cm

* Công cụ hình rìu: thu được 1 tiêu bản ký hiệu 08.BN1.ĐT: 15 làm từ viên

cuội sông suối hình bầu dục dẹt, chất liệu đá quartf màu đen, hạt hơi thô, mặt ngoài phủ lớp patin màu xám xanh Công cụ có một mặt lớn còn giữ nguyên lớp vỏ cuội, mặt còn lại được ghè bóc hết lớp vỏ cuội bằng những nhát ghè lớn, sau đó ghè tu chỉnh toàn bộ rìa lưỡi và hai bên cạnh hẹp tạo cho công cụ có hình rìu dài, có phần lưỡi cong vồng, rìa lưỡi hẹp, lưỡi sắc Cũng có khả năng đây là phác vật rìu đá ở giai đoạn hậu kỳ đá mới hay sơ kỳ kim khí, tuy vậy khả năng này thấp Kích thước: dài 13,6cm; rộng 6,5cm; dày 2,1cm

Bảng 6: Thống kê mô tả hiện vật đá cũ Bản Nàng 1

Stt Tên hiện vật Ký hiệu Chất liệu Kích thước (cm)

(dài x rộng x dày)

1 Công cụ rìa lưỡi ngang 08.BN1.ĐT: 1 Đá basalte 10,8 x 9,5 x 4,6

2 Công cụ rìa lưỡi ngang 08.BN1.ĐT: 2 Đá basalte 11,5 x 11,3 x 4,6

3 Công cụ rìa lưỡi ngang 08.BN1.ĐT: 3 Đá basalte 7,5 x 9,0 x 3,4

4 Công cụ rìa lưỡi ngang 08.BN1.ĐT: 4 Đá basalte 12,0 x 8,8 x 7,0 x 3,8

5 Công cụ rìa lưỡi ngang 08.BN1.ĐT: 5 Đá basalte 7,8 x 6,0 x 2,5

6 Công cụ ba rìa lưỡi 08.BN1.ĐT: 6 Đá basalte 9,5 x 13,4 x 3,9

7 Công cụ mũi nhọn 08.BN1.ĐT: 7 Đá basalte 13,5 x 10,1 x 4,4

8 Công cụ rìa lưỡi dọc 08.BN1.ĐT: 8 Đá basalte 6,8 x 9,7 x 3,0

9 Công cụ rìa lưỡi dọc 08.BN1.ĐT: 9 Đá basalte 6,8 x 10,2 x 5,8

10 Công cụ không định hình 08.BN1.ĐT: 10 Đá basalte 6,6 x 8,0 x 4,6

11 Công cụ ½ viên cuội 08.BN1.ĐT: 11 Đá basalte 18,6 x 9,7 x 2,9

12 Công cụ ¼ viên cuội 08.BN1.ĐT: 12 Đá quartf 7,6 x 8,8 x 2,5

13 Công cụ mảnh tước 08.BN1.ĐT: 13 Đá basalte 6, 0 x 5,7 x 1,5

14 Công cụ mảnh tước 08.BN1.ĐT: 14 Đá basalte 7,2 x 8,3 x 3,2

15 Công cụ hình rìu 08.BN1.ĐT: 15 Đá quartf 13,6 x 6,5 x 2,1

Di tích thuộc loại hình di tích thời đại đá cũ phân bố ngoài trời, dạng đồi gò trước núi Mặt bằng di chỉ có độ dốc không lớn, bên cạnh là nguồn suối Nàng cung cấp nước ngọt quanh năm nên khá thuận lợi cho việc cư trú và phương thức kinh tế khai thác tự nhiên như săn bắt, hái lượm

Đặc điểm nổi bật của nhóm công cụ đá là kỹ thuật ghè đão chiếm vị trí chủ đạo, ghè trên một cạnh dọc hay ngang viên cuội tạo ra các loại hình công cụ khác nhau là thủ pháp điển hình của giai đoạn đá cũ hậu kỳ (văn hoá Sơn Vi) Kỹ thuật cuội bổ được sử dụng nhằm tiết kiệm nguyên liệu, đồng thời cũng là phương pháp làm mỏng thân cuội giúp cho quá trình ghè đẽo tạo lưỡi công cụ được thuận lợi hơn

Sự có mặt của bóc phần lớn vỏ cuội, phác vật rìu hay công cụ hình rìu tay cho thấy dấu hiệu của việc phát triển liên tục cho đến giai đoạn văn hoá đá mới sơ kỳ Qua so sánh với sưu tập hiện vật thu được trong khu vực [Nguyễn Gia Đối 2003; Kỷ yếu hội thảo 30 năm phát hiện và nghiên cứu văn hoá Sơn Vi 1998; Hà Văn Tấn (chủ biên) 1998; Hà Văn Tấn, Nguyễn Khắc Sử, Trình Năng Chung 1999] cho thấy, loại hình công cụ ở đây khá đẹp và rất điển hình cho giai đoạn hậu kỳ đá cũ ở khu vực miền núi Tây Bắc

Trang 20

Di tích mang đặc trưng của loại hình Sơn Vi miền núi, lần đầu tiên phát hiện

ở vùng núi Tây Thanh Hoá Do vậy, việc nghiên cứu toàn diện di chỉ này mang ý nghĩa rất quan trọng, giải quyết được nhiều vấn đề khoa học như: không gian phân

bố của các di chỉ hậu kỳ đá cũ, các phương thức kinh tế, quá trình chiếm lĩnh và làm chủ không gian sống của các nhóm cư dân giai đoạn hậu kỳ đá cũ

Di tích nằm trong khu vực chứa nước của lòng hồ thuỷ điện Trung Sơn Đồng thời, với cao độ trên dưới 120m so với mực nước biển thì sau khi Thuỷ điện Trung Sơn hoàn thành và đưa vào sử dụng, di tích sẽ nằm sâu khoảng 40m dưới mặt nước của hồ chứa thuỷ điện Đồng thời việc nằm trong khu vực dân cư cũng đem đến cho di tích một nguy cơ lớn do việc mở đường di dân khỏi vùng lòng hồ gây ra Nhìn chung, có thể nhận thấy tác động của việc xây dựng Dự án thuỷ điện Trung Sơn đến di tích là rất nặng lề, làm thay đổi gần như hoàn toàn môi trường tự nhiên phân bố di tích, thậm chí đặt di tích vào nguy cơ bị phá huỷ hoàn toàn Các công tác triển khai nghiên cứu di tích cần được tiến hành ngay lập tức trước khi toàn bộ khu vực di tích bị ngâm trong vùng hồ chứa thuỷ điện Đây là một công việc thiết thực góp thêm tư liệu soi sáng cội nguồn quá khứ xa xưa của dân tộc và góp phần giữ rìn các di sản văn hoá của dân tộc Các đề xuất và phướng hướng nghiên cứu cụ thể được chúng tôi trình bày cụ thể hơn ở mục 5 của báo cáo này

3.2 Di tích khảo cổ học giai đoạn lịch sử

Khu mộ Huổi Pa

Đợt khảo sát đã phát hiện một di tích thộc giai đoạn lịch sử là khu mộ táng Huổi Pa, nằm ở khu vực rừng luồng của bản Tà Bán, xã Trung Sơn, huyện Quan

Hoá Khu mộ nằm ở chân núi, cạnh một con suối nhỏ gọi là Huổi (suối) Pa Toạ độ

di tích 20037’514’’ vĩ độ Bắc và 104049’780’’ kinh độ Đông Độ cao so với mặt nước biển 131m

Đường đến di tích từ UBND xã Trung Sơn đi theo đường dải cấp phối khoảng 5km đến bản Ta Bán, tiếp tục đi theo con đường mòn đi các bản Tà Lào Đông, Tà Lào Tây thuộc xã Tân Xuân, đi khoảng 3km - gần hết địa phận bản Ta Bán là đến di tích Di tích nằm ở phía bên phải con đường mòn này

Mặt bằng phân bố di tích là một triền gò có độ dốc không lớn, mới được sử dụng trồng luồng vài năm gần đây Diện phân bố di tích rộng khoảng 1000m2, tình trạng còn khá nguyên vẹn Trong khu vực này có rất nhiều ngôi mộ được đặt các viên đá phiến kích cỡ khá lớn được chôn đánh dấu ở đầu hay/và xung quanh mộ Trong đó loại hình mộ chôn một phiến đá đơn lẻ chiếm số lượng chủ đạo Đá đánh dấu mộ là loại đá phiến có sẵn trong tự nhiên

Nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát chi tiết một số phiến đá đánh dấu mộ Một số hố thám sát nhỏ được mở ra ở phía chân một vài tảng đá lớn để tìm hiểu cấu trúc ban đầu của mộ Kết quả như sau: Phiến đá thứ nhất có kích thước dài 173cm (chưa tính phần chân chôn sâu dưới đất), rộng 100cm, dày 7 - 10cm; Phiến đá thứ 2

có kích thước dài 130cm (chưa tính phần chân chôn dưới đất), rộng 102cm, dày 7 - 10cm; Phiến đá thứ 3 dài 83cm (độ dài toàn bộ 130cm), rộng 75cm, dày 9cm Phiến thứ 4 có chiều dài trên mặt đất 97cm, rộng 78cm, dày 9cm; Phiến thứ 5 có chiều dài trên mặt đất 55cm, rộng 75cm, dày 6 - 10cm

Mộ có loại hình và cấu trúc tương tự một số khu mộ Mường đã được Viện Khảo cổ học khai quật nghiên cứu trước đây (như khu mộ Mường Đống Thếch ở

Trang 21

Hoà Bình; khu mộ Mường Vang ở Sơn La ) [Lê Đình Phụng, Phan Tiến Ba, Nguyễn Dân 1985; Phạm Quốc Quân 1994] Khu mộ có cấu trúc khá độc đáo, được bảo quản khá tốt, rất thuận lợi cho những giai đoạn nghiên cứu tiếp theo

Điều đặc biệt là đến nay, ở khu vực công tác ngoài cư dân thuộc tộc người Thái chiếm phần lớn số lượng thì người Mường cũng có một số lượng khá lớn Hai tộc người này sống hoà đồng với nhau trong cùng một bản và không có sự phân biệt

về nguồn gốc tộc người Cư dân người Mường hiện nay sinh sống trong các bản Thái đều theo phong tục của người Thái Cho thấy việc giao lưu, hội nhập văn hoá ở khu vực này đã và đang diễn ra rất mạnh

Thực tế, những nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng: sự ảnh hưởng, giao lưu văn hoá giữa một số nhóm Thái với nhóm các dân tộc Việt Mường, hay Mường, thể hiện rất đậm trong phong tục mai táng và xây cất mộ và cũng như người Mường, người Thái cũng có mộ cấu trúc giống hệt Mường kể cả những chi tiết nhỏ như tục trải than, số lượng cột đá, quan niệm về sự tồn tại linh hồn và đá là nơi trú ngụ của linh hồn [Vy An 1987; Nguyễn Ngọc Thanh 1989; Phạm Quốc Quân 1994]

Qua so sánh loại hình di tích, có thể đoán định niên đại khu mộ ở trong khoảng thế kỷ XVI - XVII [Phạm Quốc Quân 1988; Phạm Quốc Quân 1994]

Việc phát hiện các khu mộ táng ở khu vực sinh sống của người Thái nhưng lại mang một số dấu hiệu của loại hình mộ Mường là một phát hiện khá lý thú Việc nghiên cứu các khu mộ này sẽ hé mở ra bức tranh phân bố của các tộc người trong khu vực Tây Thanh Hoá; quá trình giao lưu, hội nhập văn hoá giữa các tộc người Thái và người Mường ở khu vực này trong quá khứ

Có thể nhận thấy di tích phân bố phân bố ở ngay phía trên chân đập thuỷ điện, thuộc khu vực lòng hò chứa nước Dự án thuỷ điện Trung Sơn Với độ cao trên 130m so với mực nước biển thì sau khi tích nước hồ chứa cho Nhà máy Thuỷ điện Trung Sơn, di tích sẽ nằm sâu khoảng 30m dưới mặt hồ chứa Đồng thời việc tích nước hồ chứa cũng sẽ làm cho môi trường tự nhiên phân bố di tích bị thay đổi hoàn toàn Các nhóm cư dân bản địa sẽ được di dời khỏi vùng lòng hồ và như vậy việc nghiên cứu tìm hiểu nguồn gốc và sự giao thoa văn hoá giữa các tộc người ở khu vực này trong lịch sử cũng vĩnh viễn bị trôn vùi cùng di tích Do vậy việc lập một

kế hoạch nghiên cứu di tích trước khi nó bị xoá sổ là một hành động rất thiết thực

và hữu ích Những đề xuất cụ thể nhằm xử lý di tích được chúng tôi đề cập ở mục 5

ở báo cáo này

3.3 Sưu tập hiện vật trong vùng lòng hồ

3.3.1 Sưu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử

Sưu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử hiện đang được lưu giữ rải rác trong một số hộ dân ở các bản Ta Bán, bản Tài Chánh, bản Nàng 1 và bản Lìn (xem bảng 6) Theo những người đang lưu giữ những hiện vật này cho biết họ thu thập được ở các khu vực ven sông suối hay trên các nương rẫy quanh bản của họ Đối với cư dân địa phương các hiện vật này được coi là bảo vật, có giá trị rất thiêng liêng về mặt tinh thần Họ quan niệm đây là "búa trời" (cả với đồ đá và đồ đồng), chỉ xuất hiện khi trời mưa to, có sấm sét Hiện vật này thường được để chung với những đồ đạc quý trong nhà như vàng bạc, đồ trang sức Đặc biệt những thầy mo, thầy cúng thường sử dụng chúng như vật thiêng để chữa bệnh cho dân bản Nhóm tư vấn đã

Trang 22

thử đưa ra đề nghị mua lại những hiện vật trên nhưng đã bị từ chối Đối với họ việc bán những hiện vật này sẽ làm cho các thần (hay ma bản) giận dữ và làm cho gia đình họ phải chịu nhiều tai nạn như bị đau ốm hoặc mất mùa

Bảng 7: Thống kê, phân loại hiện vật giai đoạn tiền sơ sử

Đồ đồng

Tổng Rìu Cuốc

Đá hình trụ

Công

cụ ghè đẽo

Rìu Mũi lao

Trong tổng số 26 hiện vật thuộc giai đoạn tiền sơ sử nhóm tư vấn đã tiếp xúc, nghiên cứu có 5 hiện vật đồ đồng, 20 hiện vật đồ đá và 1 hiện vật làm từ xương sừng Các hiện vật được lưu giữ ở các hộ gia đình ông Phạm Bá Lâm (3 hiện vật), ông Lò Khẳm Tư (4 hiện vật) ở bản Ta Bán; bà Ngân Thị Thiết (7 hiện vật), ông Đinh Công Điệp (2 hiện vật), ông Ngân Văn Thu (1 hiện vật), ông Vi Văn Thắm (3 hiện vật) ở bản Nàng 1; ông Đinh Công Điện (2 hiện vật) ở bản Lìn và ông Lương Văn Toán (4 hiện vật) ở bản Tài Chánh

Từ những thông tin về địa điểm phát hiện, nhóm tư vấn đã đi điều tra khảo sát nhưng không phát hiện di tích Tuy vậy việc tìm thấy những hiện vật này là những tín hiệu khả quan về sự có mặt của nhóm cư dân giai đoạn kim khí ở khu vực công tác

Những hiện vật này được xử lý theo dạng sưu tập hiện vật phát hiện ngẫu nhiên Sau khi công bố thông tin trong bản báo cáo này, công việc xử lý các sưu tập hiện vật đã kết thúc

Nhóm đồ đồng: 5 hiện vật, thuộc hai loại hình: rìu và mũi lao

* Rìu đồng: 4 hiện vật

- Rìu đồng ký hiệu 08.TB.ST: 1 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Phạm Bá Lâm, bản Ta Bán Rìu được nhặt ở khu vực ven suối Ta Bán Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng, toàn bộ mặt ngoài bám một lớp rỉ đồng màu đen bóng, đôi chỗ bị mài ra có màu vàng rực Rìu có họng tra cán hình bầu dục, vai xuôi cân đối, thân dưới hơi kéo dài tạo cho phần thân dưới có dáng khá đầy đặn, rìa lưỡi sắc cong vồng Kỹ thuật đúc rìu từ khuôn hai mang Mặt ngoài rìu không trang trí hoa văn Kích thước: rìu dài 9,7cm; rộng họng 3,9cm; dày họng 1,8cm; dài vai 5,5cm; rộng vai 7,5cm

- Rìu đồng ký hiệu 08.TB.ST: 2 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Lò Khẳm

Tư, bản Ta Bán Rìu được nhặt ở khu vực ven suối Ta Bán Tình trạng còn nguyên

Trang 23

vẹn hình dạng, toàn bộ mặt ngoài bám một lớp rỉ đồng màu đen bóng Rìu lưỡi xéo gót tròn mũi nhọn, họng tra cán hình bầu dục nhọn hai đầu thắt lại so với thân dưới, giữa họng và thân dưới có một đường chỉ nổi ngăn cách Rìa lưỡi sắc có một số vết

mẻ nhỏ do sử dụng Kỹ thuật đúc rìu từ khuôn hai mang Mặt ngoài rìu không trang trí hoa văn Kích thước: rìu dài 10,1cm; rộng họng 4,6cm; dày họng 2,0cm; họng dài 2,5cm; rộng lưỡi 8,0cm

- Rìu đồng ký hiệu 08.TB.ST: 3 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Lò Khẳm

Tư, bản Ta Bán Rìu được nhặt ở khu vực ven suối Ta Bán Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng, toàn bộ mặt ngoài bám một lớp rỉ đồng màu đen bóng, phần lưỡi bị mài lại có màu vàng rực Rìu xoè cân, có họng tra cán hình bầu dục gần lục giác, rìa lưỡi sắc cong vồng Kỹ thuật đúc rìu từ khuôn hai mang Một mặt bên trang trí hoa văn hình hai chữ C dựa lưng vào nhau Kích thước: rìu dài 5,6cm; rộng họng 2,0cm; dày họng 0,8cm; rộng lưỡi 4,8cm

- Rìu đồng ký hiệu 08.BN1.ST: 1 hiện đang được lưu giữ tại nhà bà Ngân Thị Thiết, bản Nàng 1 Rìu được nhặt ở khu vực ven suối Nàng Tình trạng còn khá nguyên vẹn hình dạng, bị sứt mẻ nhẹ phần họng tra cán, toàn bộ mặt ngoài bám một lớp rỉ đồng màu đen bóng Rìu lưỡi xoè cân, họng tra cán hình bầu dục, rìa lưỡi sắc cong lồi, lưỡi có một số vết sứt mẻ do sử dụng Thân và họng được tách bằng một đường chỉ nổi nhỏ Kỹ thuật đúc rìu từ khuôn hai mang Mặt ngoài rìu không trang trí hoa văn Kích thước: rìu dài 8,2cm; rộng họng 4,0cm; dày họng 1,1cm; rộng lưỡi 4,7cm

* Mũi lao đồng: thu được 1 hiện vật, ký hiệu 08.TB.ST: 4, hiện đang được

lưu giữ tại nhà ông Lò Khẳm Tư, bản Ta Bán Hiện vật thu được ở khu vực ven suối

Ta Bán Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng, toàn bộ mặt ngoài bám một lớp rỉ đồng màu đen bóng, đôi chỗ có màu vàng rực Lao có họng tra cán hình bầu dục hơi thót dần về phía lưỡi, mũi hơi tù có thể do sử dụng nhiều, hai bên cạnh được vuốt ngược về phía sau tạo hình cánh én Sống lưỡi được đúc đường chỉ nổi khá rõ Kỹ thuật đúc từ khuôn hai mang Mặt ngoài không trang trí hoa văn Kích thước: lao dài 7,5cm; rộng họng 2,1cm; dày họng 1,2cm; họng dài 3,0cm; rộng vai 3,7cm

Qua so sánh cho thấy, nhóm đồ đồng là hiện vật giai đoạn kim khí, mang đặc điểm của nhóm đồ đồng văn hoá Đông Sơn ở khu vực miền núi phía Bắc [Phạm Minh Huyền 1996; Hà Văn Tấn (chủ biên) 1999]

Nhóm đồ đá: 20 hiện vật gồm 17 rìu đá, 1 cuốc, 1 công cụ ghè đẽo

* Rìu đá: thu được hai loại hình rìu tứ giác và rìu có vai, trong đó rìu có vai

chiếm tuyệt đại đa số với 16 hiện vật

Rìu đá có vai:

- Rìu đá ký hiệu 08.TB.ST: 5 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Phạm Bá Lâm bản Ta Bán Rìu được nhặt ở khu vực cửa suối Quanh, trong khi đi đào đãi vàng Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt hơi thô, toàn bộ mặt ngoài bám một lớp patin màu xám trắng Loại hình rìu hai vai cân, thân dài gần dạng cuốc, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, lưỡi hơi cong vồng, rìa lưỡi sắc, bị nhiều vết sứt mẻ nhỏ do sử dụng Toàn thân được mài khá chau chuốt, tuy nhiên do mặt ngoài bị phong hoá nên tạo bề mặt khá thô ráp Kích thước: rìu dài 10,3cm; rộng đốc 2,2cm; dài đốc 2,4cm; rộng vai 4,0cm; rộng lưỡi 4,4cm; thân dày 1,2cm

- Rìu đá ký hiệu 08.TB.ST: 6 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Lò Khẳm

Trang 24

Tư, bản Ta Bán Rìu được nhặt ở khu vực suối Quanh Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt hơi thô, mặt ngoài bị dòng nước bào mòn có màu nâu đen nhẵn bóng Loại hình rìu hai vai cân, thân ngắn, mặt cắt ngang thân gần hình chữ nhật, lưỡi cong vồng, rìa lưỡi sắc, có một số vết sứt mẻ nhỏ do sử dụng Toàn thân được mài khá chau chuốt Kích thước: rìu dài 6,8cm; rộng đốc 2,7cm; dài đốc 2,0cm; rộng vai 5,0cm; rộng lưỡi 5,6cm; thân dày 1,6cm

- Rìu bôn đá ký hiệu 08.TC.ST: 1 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Lương Văn Toán, bản Tài Chánh Rìu được nhặt ở khu vực ven suối Tài Chánh (hay còn gọi là suối Nún) Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp patin màu xám trắng Loại hình rìu hai vai cân hơi xuôi, thân dài, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, phần vai thu nhỏ hơn phần lưỡi, góc lưỡi hình chữ V lệch, rìa lưỡi sắc, có một số vết sứt mẻ lớn do sử dụng Rìu mài toàn thân nhưng vẫn còn quan sát rất rõ những vết ghè đẽo tạo hình Kích thước: rìu dài 8,6cm; rộng đốc 1,9cm; dài đốc 2,0cm; rộng vai 4,0cm; rộng lưỡi 5,3cm; thân dày 1,8cm

- Rìu bôn đá ký hiệu 08.TC.ST: 2 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Lương Văn Toán, bản Tài Chánh Rìu được nhặt ở khu vực ven suối Tài Chánh Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp patin màu xám trắng Loại hình rìu hai vai cân, thân dài, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, góc lưỡi hình chữ V lệch, rìa lưỡi sắc Rìu mài toàn thân nhưng do bị phong hoá nên bị bào mất lớp mài bóng Kích thước: rìu dài 7,7cm; rộng đốc 2,4cm; dài đốc 2,0cm; rộng vai 3,6cm; rộng lưỡi 4,1cm; thân dày 1,6cm

- Rìu bôn đá ký hiệu 08.TC.ST: 3 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Lương Văn Toán, bản Tài Chánh Rìu được nhặt ở khu vực ven suối Tài Chánh Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp patin màu xám trắng Loại hình rìu hai vai cân, thân ngắn, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, góc lưỡi hình chữ V lệch, rìa lưỡi sắc, có một số vết sứt mẻ nhỏ do

sử dụng Rìu mài toàn thân nhưng bị phong hoá nên tạo mặt ngoài hơi nhám Kích thước: rìu dài 4,4cm; rộng đốc 2,0cm; dài đốc 1,5cm; rộng vai 4,4cm; rộng lưỡi 4,5cm; thân dày 0,8cm

- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 3 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Đinh Công Điệp, bản Nàng 1 Rìu được nhặt ở khu vực ven suối Nàng Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Rìu làm từ chất liệu đá spinite, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp patin màu xám ngà Loại hình rìu hai vai cân, thân dài, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, góc lưỡi hình chữ V lệch, rìa lưỡi sắc, có một số vết sứt mẻ nhỏ do sử dụng Rìu mài toàn thân khá kỹ nhưng vẫn còn lưu lại một số vết ghè đẽo tạo hình Kích thước: rìu dài 8,2cm; rộng đốc 2,0cm; dài đốc 2,5cm; rộng vai 4,8cm; rộng lưỡi 5,4cm; thân dày 2,1cm

- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 4 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Ngân Văn Thu, bản Nàng 1 Rìu được nhặt ở khu vực suối Nàng Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng, toàn thân bị nước bào mòn nhẵn bóng Rìu làm từ chất liệu đá spinite, màu xanh, hạt mịn Loại hình rìu hai vai, thân ngắn, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, góc lưỡi hình chữ V lệch, rìa lưỡi tù do bị nước bào mòn, lưỡi có một vết

vỡ lớn do người dân mới đập để xem chất liệu Rìu mài toàn thân Kích thước: rìu dài 3,7cm; rộng đốc 1,9cm; dài đốc 1,5cm; rộng lưỡi 4,1cm; thân dày 1,1cm

- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 5 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Vi

Trang 25

Văn Thắm, bản Nàng 1 Rìu được nhặt ở khu vực ven suối Nàng Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp patin màu nâu thẫm, trên thân có một số vết rỗ Loại hình rìu hai vai cân, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, góc lưỡi hình chữ V lệch, rìa lưỡi sắc, có một số vết sứt

mẻ nhỏ do sử dụng Rìu mài toàn thân khá kỹ Kích thước: rìu dài 5,3cm; rộng đốc 2,2cm; dài đốc 2,0cm; rộng vai 5,0cm; rộng lưỡi 4,9cm; thân dày 1,0cm

- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 6 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Vi Văn Thắm, bản Nàng 1 Rìu được nhặt ở khu vực suối Nàng Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng, toàn thân bị nước bào mòn nhẵn bóng Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, màu xanh đen Loại hình rìu hai vai cân, thân ngắn, mặt cắt ngang thân gần hình chữ nhật, góc lưỡi hình chữ V lệch Rìu mài toàn thân Kích thước: rìu dài 4,8cm; rộng đốc 2,8cm; dài đốc 2,0cm; rộng thân 5,2cm; thân dày 1,3cm

- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 7 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Vi Văn Thắm, bản Nàng 1 Rìu được nhặt ở khu vực ven suối Nàng Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Rìu làm từ chất liệu đá basalte màu xanh đen, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp patin dày màu xám trắng Loại hình rìu hai vai cân, thân dài có dạng hình thang, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, góc lưỡi hình chữ V lệch, rìa lưỡi có một số vết sứt mẻ nhỏ do sử dụng Rìu mài toàn thân nhưng đang trong quá trình phong hoá nên có bề mặt thô ráp Kích thước: rìu dài 7,2cm; rộng đốc 2,0cm; dài đốc 1,4cm; rộng vai 4,2cm; rộng lưỡi 5,4cm; thân dày 1,0cm

- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 8 hiện đang được lưu giữ tại nhà bà Ngân Thị Thiết, bản Nàng 1 Rìu được nhặt ở khu vực ven suối Nàng Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Rìu làm từ chất liệu đá spinite, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp patin màu xám ngà Loại hình rìu hai vai cân, thân dài, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, góc lưỡi hình chữ V hơi lệch, rìa lưỡi sắc, có một số vết sứt mẻ nhỏ do sử dụng Rìu mài toàn thân khá kỹ nhưng vẫn còn lưu lại một số vết ghè đẽo tạo hình Kích thước: rìu dài 5,2cm; rộng đốc 1,8cm; dài đốc 2,0cm; rộng vai 3,2cm; rộng lưỡi 3,3cm; thân dày 1,4cm

- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 9 hiện đang được lưu giữ tại nhà bà Ngân Thị Thiết, bản Nàng 1 Rìu được nhặt ở khu vực suối Nàng Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng, toàn thân bị nước bào mòn nhẵn bóng Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn Loại hình rìu hai vai cân, thân dài, mặt cắt ngang thân gần hình chữ nhật, góc lưỡi hình chữ V Rìu mài toàn thân Kích thước: rìu dài 6,0cm; rộng đốc 1,8cm; dài đốc 1,8cm; rộng thân 4,1cm; thân dày 1,4cm

- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 10 hiện đang được lưu giữ tại nhà bà Ngân Thị Thiết, bản Nàng 1 Rìu được nhặt ở khu vực ven suối Nàng Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp patin màu xám trắng Loại hình rìu hai vai cân, vai hơi thu lại so với lưỡi tạo hình gần thang cân, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, góc lưỡi hình chữ V hơi lệch, rìa lưỡi sắc, có một số vết sứt mẻ nhỏ do sử dụng Rìu mài toàn thân khá kỹ Kích thước: rìu dài 5,1cm; rộng đốc 2,0cm; dài đốc 1,5cm; rộng vai 4,9cm; rộng lưỡi 5,5cm; thân dày 1,1cm

- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 11 hiện đang được lưu giữ tại nhà bà Ngân Thị Thiết, bản Nàng 1 Rìu được nhặt ở khu vực ven suối Nàng Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp patin màu xám trắng Loại hình rìu hai vai cân, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật,

Trang 26

góc lưỡi hình chữ V hơi lệch, lưỡi hơi vát về một bên, rìa lưỡi sắc, có một số vết sứt

mẻ nhỏ do sử dụng Rìu mài toàn thân khá kỹ Kích thước: rìu dài 5,3cm; rộng đốc 1,6cm; dài đốc 1,3cm; rộng vai 4,2cm; rộng lưỡi 4,6cm; thân dày 1,2cm

- Rìu đá ký hiệu 08.BL.ST: 1 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Đinh Công Điện, Trưởng bản Lìn Rìu được nhặt ở trên nương trong khi canh tác Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt hơi thô, mặt ngoài phủ lớp patin màu nâu xám, trên thân có một số vết rỗ Loại hình rìu hai vai cân, phần vai tạo không được can đối, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, góc lưỡi hình chữ V hơi lệch, rìa lưỡi sắc, có một số vết sứt mẻ nhỏ do sử dụng Rìu mài toàn thân Kích thước: rìu dài 4,2cm; rộng đốc 1,5cm; dài đốc 1,5cm; rộng thân 4,5cm; thân dày 0,9cm

- Rìu đá ký hiệu 08.BL.ST: 2 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Đinh Công Điện, Trưởng bản Nàng 1 Rìu được nhặt ở trên nương trong khi canh tác Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp patin màu xám trắng Loại hình rìu hai vai cân, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, lưỡi hơi xiên về một phía, góc lưỡi hình chữ V lệch, rìa lưỡi sắc, có một số vết sứt mẻ nhỏ do sử dụng Rìu mài toàn thân khá kỹ Kích thước: rìu dài 3,6cm; rộng đốc 1,6cm; dài đốc 1,7cm; rộng thân 4,7cm; thân dày 0,9cm

Rìu đá tứ giác:

- Rìu đá ký hiệu 08.TB.ST: 7 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Phạm Bá Lâm bản Ta Bán Rìu được nhặt ở khu vực cửa suối Quanh, trong khi đi đào đãi vàng Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, toàn bộ mặt ngoài bám một lớp patin dày màu nâu đen bóng Loại hình rìu tứ giác, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật Lưỡi hình chữ V cân, hơi cong vồng, rìa lưỡi bị nhiều vết sứt mẻ nhỏ do sử dụng Toàn thân được mài khá chau chuốt Kích thước: rìu dài 8,6cm; rộng đốc 3,7cm; rộng lưỡi 4,2cm; thân dày 1,5cm

* Công cụ ghè đẽo: thu được 1 hiện vật, ký hiệu 08.BN1.ST: 2 làm từ viên

cuội sông suối hình cầu dẹt, chất liệu đá basalte, mặt ngoài màu xám đen do bị đốt qua lửa Công cụ được ghè đẽo xuang quanh rìa cạnh viên cuội tạo nên công cụ hình đĩa (hay còn gọi là công cụ sumatralist) Loại hình công cụ này rất điển hình trong văn hoá Hoà Bình Kỹ thuật ghè một mặt, ghè nhiều lớp, xung quanh thân cuội từ rìa cạnh vào đến giữa mặt bụng bóc đi hầu hết lớp vỏ cuội ở mặt này Vết ghè lớn liên tiếp, kết hợp với một số vết ghè nhỏ tu chỉnh rìa lưỡi, tạo rìa lưỡi sắc, góc lưỡi hẹp Kích thước: dài 8,0cm; rộng 6,7cm; dày 2,3cm

* Cuốc đá thu được 1 tiêu bản, ký hiệu 08.BN1.ST: 12 hiện đang được lưu

giữ tại nhà bà Ngân Thị Thiết, bản Nàng 1 Cuốc được nhặt ở khu vực ven suối Nàng Tình trạng bị ngãy ngang thân, chỉ còn lại phần thân dưới Cuốc làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp patin màu xám trắng Loại hình cuốc hình chữ nhật bản rộng, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, góc lưỡi hình chữ V, rìa lưỡi sắc Được mài toàn thân khá kỹ Kích thước: dài còn lại 9,7cm; rộng thân 7,7cm; thân dày 1,3cm

* Viên đá hình trụ tròn có ký hiệu 08.TC.ST: 4 hiện đang được lưu giữ tại

nhà ông Lương Văn Toán, bản Tài Chánh Hiện vật được nhặt ở khu vực ven suối Tài Chánh Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Hiện vật làm từ chất liệu đá cát, hạt mịn, màu xanh đen, mặt ngoài màu đen Hiện vật có hình trụ tròn, một đầu mài bằng, đầu kia được mài hơi thu lại dạng hình chóp tròn, giữa thân được tạo một

Trang 27

vành đai nổi bao quanh Khả năng đây là hiện vật mang tính chất tín ngưỡng, tâm linh Kích thước: đường kính thân 2,5cm; thân dài 4,2cm

Nhóm hiện vật đá, đặc biệt là nhóm rìu đá hai vai cân mang đặc điểm của nhóm đồ đá giai đoạn tiền sơ sử ở miền núi phía Bắc, như đã tìm thấy trong văn hoá

Hà Giang, hay trong những sưu tập hiện vật đá giai đoạn hậu kỳ đá mới - kim khí ở các tỉnh Yên Bái, Lao Cai, Điện Biên, Sơn La [Hà Văn Tấn (chủ biên) 1998; Hà Văn Tấn (chủ biên) 1999; Hà Văn Tấn, Nguyễn Đình Chiến 1977]

Đồ xương: thu được 1 tiêu bản, ký hiệu 08.BN1.ST: 13 hiện đang được lưu

giữ tại nhà bà Ngân Thị Thiết, bản Nàng 1, được nhặt ở khu vực ven suối Nàng Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng Hiện vật làm từ chất liệu răng voi, toàn thân được mài nhẵn bóng Hiện vật có hình chữ nhật, một đầu được cắt hai góc khá cân đối, phần thân tiến về đầu được cắt góc có 3 lỗ khoan thủng tạo thành hình tam giác cân có chiều dài mỗi cạnh là 1cm, đường kính lỗ đục 0,2cm Mặt cắt ngang, dọc của hiện vật có hình chữ nhật Kích thước: dài 4,4cm; rộng thân 3,5cm; thân dày 1,3cm Khả năng đây là vật đeo có chức năng là bùa thiêng hay vật trang trí

3.3.2 Sưu tập hiện vật giai đoạn lịch sử

Tương tự như sưu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử, sưu tập hiện vật giai đoạn lịch sử cũng đang được lưu giữ trong một số hộ dân ở bản Ta Bán (xem bảng 8) Sưu tập này hầu hết là nhóm tiền đồng có niên đại thuộc triều Nguyễn được ông Vi Văn Đội tìm thấy trong khi đào hố trong vườn nhà Ông Đội cho biết khi mới tìm thấy, nhóm tiền đồng trên được đặt trong một cái hũ sành Chúng tôi cho rằng, đây

là một hình thức cất dấu của cải của một gia đình giàu có thời trước

Khác với nhóm hiện vật tiền sơ sử được cư dân địa phương rất coi trọng, nhóm hiện vật giai đoạn lịch sử không được họ quan tâm lắm Do vậy khi biết đoàn công tác của Nhà nước đến tìm hiểu những hiện vật trên, họ sẵn sàng đưa ra tặng cho đoàn

Bảng 8: Thống kê, phân loại hiện vật giai đoạn lịch sử

Loại hình Sưu tập

Thỏi đồng

Tiền kẽm

Tổng

Niên hiệu Gia Long

Niên hiệu Minh Mệnh

Niên hiệu Thiệu Trị

Niên hiệu

Tự Đức

Sưu tập hiện vật gồm 1 thỏi đồng và 1 sưu tập gồm 171 đồng tiền kẽm

* Thỏi đồng ký hiệu 08.TB.ST: 8 hiện đang được lưu giữ tại nhà ông Lò Khẳm Tư, bản Ta Bán Thỏi đồng được đúc theo hình một chiếc thuyền độc mộc với hai đầu vê tròn Người dân bản gọi là “xiến tòng” (thỏi đồng) Theo họ thì những “xiến tòng” này được đúc ra để sử dụng khi chia của với người chết Mỗi

“xiến tòng” tương đương với một nén bạc Kích thước: dài 10,0cm; rộng 1,7cm; dày 0,5cm

* Sưu tập tiền kẽm thu được gồm 171 đồng Về mặt loại hình, tiền kẽm được

Trang 28

đúc tương tự như tiền đồng, với vành ngoài hình tròn, lỗ giữa hình vuông Kết quả phân loại loại hình cho biết chúng thuộc loại tiền thời Nguyễn có niên đại của các triều vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức

- Nhóm tiền niên đại Gia Long (1802 - 1820) thu được 11 đồng, ký hiệu 08.TB.ST: 9 (1-11) Mặt trước đúc chữ Gia Long thông bảo theo chiều trên - dưới - phải - trái; mặt sau đúc nổi 2 chữ Thất phân (7 phân) Đường kính 2,5cm - 2,7cm; lỗ vuông có chiều dài cạnh 0,6cm Tiền được đúc dày hơn so với các nhóm còn lại

- Nhóm tiền niên đại Minh Mệnh (1820 - 1840) thu được 94 đồng, ký hiệu 08.TB.ST: 10 (12-105) Mặt trước đúc chữ Minh Mạng thông bảo theo chiều trên - dưới - phải - trái Đường kính 2,4cm - 2,5cm; lỗ vuông có chiều dài cạnh 0,5cm

- Nhóm tiền niên đại Thiệu Trị (1840 - 1847) thu được 2 đồng, ký hiệu 08.TB.ST: 11 (106-107) Mặt trước đúc chữ Thiệu Trị thông bảo theo chiều trên - dưới - phải - trái Đường kính 2,5cm; lỗ vuông có chiều dài cạnh 0,5cm

- Nhóm tiền niên đại Tự Đức (1847 - 1882) thu được 49 đồng, ký hiệu 08.TB.ST: 12 (108-156) Mặt trước đúc chữ Tự Đức thông bảo theo chiều trên - dưới - phải - trái Đường kính 2,4cm - 2,5cm; lỗ vuông có chiều dài cạnh 0,5cm

- Nhóm tiền không đọc được niên hiệu thu được 15 đồng, ký hiệu 08.TB.ST:

13 (157-171)

Sưu tập cho thấy sự giao lưu kinh tế - văn hoá giữa khu vực này với miền xuôi đã diễn ra khá phổ biến trong lịch sử

3.4 Các di tích mang tính chất thiêng liêng của nhóm tộc người (Khiêng sằn)

Khiêng sằn là tiếng của người Thái để chỉ những khu vực tế lễ mang tính thiêng liêng của cả bản Hầu hết các bản người Thái đều có Khiêng sằn, tuy nhiên chỉ có Khiêng sằn của các bản Ta Bán (xã Trung Sơn), bản Nàng 1 và bản Tài Chánh (xã Mường Lý) nằm trong vùng ngập và cần phải tiến hành công việc điều tra khảo sát Khiêng sằn của các bản khác không thuộc phạm vi vùng ngập và nằm ngoài phạm vi công việc của nhóm tư vấn Nhìn chung, những khiêng sằn mang ý nghĩa quan trọng trong phạm vi một cộng đồng tộc người ở một bản làng nhất định Việc nghiên cứu các địa điểm này góp phần làm sáng tỏ hơn các đặc điểm văn hoá tinh thần của cư dân trong vùng

3.4.1 Khiêng sằn của bản Ta Bán

Nằm ở đầu bản Ta Bán, xã Trung Sơn, huyện Quan Hoá Toạ độ di tích

20037’300" vĩ Bắc và 104050’237" kinh Đông Độ cao so với mặt nước biển 145m

Cư dân địa phương cho biết, trước đây tại khu vực này có dựng một nhà tế lễ bằng vật liệu nhẹ Nay là một bãi đất trống hàng năm dùng để tế lễ cầu an, cầu mưa cho dân bản Lễ tế bao gồm trâu bò hoặc lợn gà tuỳ theo tình trạng kinh tế hàng năm của dân bản, xôi nếp và rượu.Thời gian diễn ra vào đầu tháng 5 âm lịch hàng năm

Đặc biệt, hai năm gần đây, do ảnh hưởng mảnh của nếp sống văn hoá mới nên vài năm gần đây dân bản Ta Bán không không còn làm khiêng sằn để tế lễ Lẽ

tế hiện nay làm ở ngoài trời, trên bãi đất trước đây dựng khiêng sằn Khu vực này, nhóm tư vấn ghi nhận là địa điểm văn hoá vật thể của một nhóm cư dân trong vùng

3.4.2 Khiêng sằn của bản Nàng 1

Nằm ở đầu bản Nàng 1, xã Mường Lý, huyện Mường Lát Toạ độ di tích

20032’528" vĩ Bắc và 104046’104" kinh Đông Độ cao so với mặt nước biển 126m

Trang 29

Nằm cách di chỉ đá cũ Bản Nàng 1 khoảng 300m về phía thượng nguồn suối Nàng

Khiêng sằn là một nhà được xây dựng từ vật liệu nhẹ, diện tích lòng nhà khoảng 8m2, làm từ luồng và gỗ, lòng nhà được làm khá vuông vức, có sàn gỗ thấp, xung quanh nhà để trống và được bao quanh bởi một hàng lan can thấp, mái lợp tấm lợp proximăng

Lễ tế ở đây diễn ra vào ngày 20 tháng 6 âm lịch hàng năm Lễ vật nhất định phải có 1con lợn, 1 con chó, 3 con gà và 3 chĩnh rượu cần Đồ lễ do toàn thể dân bản góp lại Chủ lễ là Trưởng bản Ngoài ra, hàng tháng Trưởng bản có trách nhiệm phải cúng tế

3.4.3 Khiêng sằn của bản Tài Chánh

Nằm ở đầu bản Tài Chánh, xã Mường Lý, huyện Mường Lát Toạ độ di tích

20032’849" vĩ Bắc và 104047’434" kinh Đông Độ cao so với mặt nước biển 146m

Khiêng sằn hiện đã bị sập đổ, từ những vật liệu còn lại có thể tái dựng hình dạng ban đầu Khiêng sằn là một nhà lá có hình vuông, diện tích lòng nhà khoảng 6m2, làm từ vật liệu nhẹ (luồng, gỗ và lá)

Lễ tế diễn ra vào cuối tháng 5 âm lịch hàng năm Đồ lễ gồm có bò hoặc lợn

gà và rượu cần, do dân bản cùng góp Chủ tế là Trưởng bản Nhóm tư vấn ghi nhận

là địa điểm văn hoá vật thể của một nhóm cư dân trong vùng

4 Nhóm di tích nằm ngoài vùng lòng hồ

4.1 Di tích khảo cổ học giai đoạn tiền sơ sử

Di tích thời đại đá mới Hang Cú

Di tích nằm trong khu vực núi đá vôi ở bản Lát, xã Tam Chung, huyện Mường Lát Hang nằm ở lưng chừng núi, ở phía phải và cách suối Lát khoảng

300m Toạ độ di tích 20033’531’’ vĩ độ Bắc và 104036’849’’ kinh độ Đông Độ cao

so với mặt nước biển 210m

Đường đến di tích từ trung tâm thị trấn Mường Lát, đi qua cầu cheo bắc qua sông Mã (thường gọi là cầu bản Lát hay cầu Poom Buôi) nối liền hai bản Lát (xã Tam Chung) và bản Poom Buôi (thị trấn Mường Lát), theo đường dải cấp phối xuống UBND xã Tam Chung đi khoảng 1km gặp suối Lát; rẽ trái đi theo đường dải cấp phối ngược tả ngạn suối Lát, đi khoảng 3km là đến di tích Phía trước di tích, ở bên kia đường đất, là khu vực nhà ông Hà Văn Sổ (người Thái, ở bản Lát)

Di tích là một hang núi đá vôi khá rộng, nằm ở chân dãy núi Pha Pợ Hang khá khô dáo, thoáng mát, do đất đá sập lấp gần kín cửa hang nên trong lòng hang khá tối Ngoài cửa hang là khu rừng luồng mới được trồng vài chục năm gần đây

Cửa hang mở ra hướng Đông hơi chếch về phía Nam, nhìn ra suối Lát và cao hơn mặt suối khoảng 20m Tại khu vực này suối Lát bồi đắp tạo một thung lũng suối khá rộng và tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp

Tương truyền khu vực này khi bắt đầu được khai hoang có rất nhiều cây Cú (tiếng Thái: cây Cú = phiên âm: cây Khú = dịch nghĩa: cây Sấu), tên các địa điểm cũng được gọi theo tên của loại cây này: ruộng Cú, hang Cú…

Đường lên của hang có độ dốc khá lớn nhưng tương đối dễ leo Cửa hang rộng ngang 4m; chiều cao 1,8m Từ cửa hang nhìn vào, hang có một khoang ngoài khá rộng và hai ngánh ăn sâu vào trong lòng núi Ngách hang bên phải được ký hiệu

là hang A; ngách hang bên trái được ký hiệu là hang B

Hang ngoài rộng ngang 22m; sâu 8m; trần hang chỗ cao nhất 8m Lòng hang

Trang 30

bị đất đá tràn từ ngoài vào lấp kín nên không phát hiện được hiện vật khảo cổ ở đây

Hang A có lòng hang sâu rộng, khô dáo nhưng khá tối Hiện vật khảo cổ thu được chủ yếu ở đây Hang sâu 20m; rộng ngang 7,5m Nền hang có nhiều tảng đá sập đổ ngổn ngang, thành hang có nhiều ngách nhỏ Nhóm tư vấn đã phát hiện được dấu tích của một số mộ táng ở ngách hang này Kết quả khảo sát cho thấy dấu hiệu

cư trú ở trong hang này khá mờ nhạt nhưng lại là nơi tập chung khá nhiều mộ táng

Bên phải hang A còn có một ngách nhỏ ăn sâu xuống dưới Đi xuống khoảng

6 - 8m là xuống đến nền hang Nền hang khá phẳng, đất phủ dưới nền hang là loại đất nâu vàng tơi xốp Diện tích nền hang 7 x 4cm Những mảnh gốm vụn xuất lộ rải rác ở nền hang và trên đường đi xuống

Hang B có của vào khá hẹp nhưng bên trong khá rộng và khô thoáng, lòng hang rất tối do không có ánh sáng Lòng hang rộng 4m và ăn sâu vào trong lòng núi, không đo được chiều dài Nền hang dốc ngược vào phía trong lòng núi Tại đây cũng tìm được một số mảnh gốm vụn nhưng với mức độ thưa hơn so với hang A

Hiện vật thu được trong hang gồm 64 mảnh gốm và 13 vỏ nhuyễn thể Phân loại theo loại hình gồm 8 mảnh miệng và 56 mảnh thân Mảnh miệng gốm hầu hết đều được trang trí hoa văn mang tính mỹ thuật (6/8 mảnh) Mảnh thân chỉ có 6 mảnh không có hoa văn, 23 mảnh văn kỹ thuật và 27 mảnh trang trí hoa văn mang tính mỹ thuật Trong nhóm hoa văn kỹ thuật văn thừng chiếm số lượng áp đảo, văn chải chỉ có 2 mảnh Nhóm hoa văn trang trí mang tính mỹ thuật cao, hoa văn trang trí công phu, tỉ mỉ, nhưng cũng rất khoáng đạt biểu lộ trình độ tư duy thẩm mỹ khá tinh tế Các loại hoa văn trang trí gồm: văn khắc vạch kết hợp in chấm, hoa văn dạng xương cá được tạo từ khuôn in, văn ấn lõm tròn kết hợp in chấm xung quanh

và tô thổ hoàng trong vùng lõm, văn in ô vuông kiểu Đồng Đậu, khắc vạch trên nền thừng, khắc vạch kết hợp tạo hình sóng nước hay những đường thẳng song song…

Về mặt chất liệu gốm khá thô, xương màu đen, lớp áo ngoài màu nâu đen hoặc nâu Bề mặt đồ gốm được chuốt láng sau khi tạo hình xong cho cảm giác gốm khá bóng mịn Nhóm gốm mảnh này mang đặc trưng của văn hoá Hoa Lộc, được phát hiện lần đầu tiên ở vùng ven biển Hậu Lộc (Thanh Hoá) [Quang Văn Cậy, Phạm Văn Kỉnh 1977; Phùng Huy Cẩn 1982; Phạm Văn Đấu 1995]

Niên đại dự đoán khoảng 5000 năm cách ngày nay

Di chỉ có tính chất rất quan trọng, lần đầu tiên phát hiện được một di chỉ thuộc văn hoá Hoa Lộc phân bố ở vùng núi Tây Thanh Hoá Đặc biệt hơn địa điểm này chỉ cách biên giới Việt Lào chỉ khoảng 2km về phía Bắc

Kết quả khảo sát cho biết đây là khu mộ táng trong hang Tầng văn hoá chưa được tìm thấy có thể nằm ở phía cửa hang, nơi hiện nay đã bị đất đá lấp mất hoặc cũng có thể phân bố ở khu vực bên ngoài hang Để có kết luận rõ ràng hơn cần thiết phải có những cuộc nghiên cứu tiếp theo

Di tích nằm khá xa khu vực Dự án và nằm ở độ cao trên 50m so với cao trình

hồ chứa Việc xây dựng công trình hầu như không gây tác động gì đến di tích cũng như không gian, môi trường tự nhiên nơi di tích phân bố

4.2 Di tích khảo cổ học giai đoạn lịch sử

4.2.1 Khu mộ Mái đá Nàng Chanh

Mái đá Nàng Chanh là tên gọi của một mái đá nằm ở khu vực đỉnh núi đá vôi phía đầu nguồn suối Tà Bán, thuộc bản Tà Bán, xã Trung Sơn, huyện Quan Hoá

Trang 31

Toạ độ di tích 20038’468’’ vĩ độ Bắc và 104051’588’’ kinh độ Đông Độ cao trên 300m so với mặt nước biển Mái đá khá cao rộng nhưng tương đối khó leo do độ dốc đứng của sườn núi cao

Kết quả khảo sát cho biết tại đây có một khu mộ quan tài thân cây khoét rỗng Quan tài đều nằm trong tình trạng bị sập vỡ, các mảnh bung ra nằm kẹt trong hốc đá hoặc bị rơi xuống dưới chân vách đá Chúng tôi đã khảo sát 3 mảnh quan tài:

Mảnh quan tài thứ nhất nằm kẹt trong hốc đá, do ngấm nước vôi nên còn giữ lại khá nguyên hình dạng, chỉ bị mục mất phần tai ở đầu trên, dài 2,25m, đường kính quan tài 0,55m; lòng trong được khoét rỗng dài 1,95m, đường kính lòng trong 0,4m, phần tai được tạo xuôi dài 0,25m

Mảnh quan tài thứ hai nằm kẹt trong hốc đá và bị lớp nhũ đá đóng khá dày, cách quan tài thứ nhất 0,5m ở phía bên trái, còn khá nguyên hình dạng, chỉ bị mục mất phần tai ở đầu trên, dài 1,41m, đường kính quan tài 0,45m, phần tai được tạo xuôi dài 0,2m

Mảnh quan tài thứ ba bị rơi xuống dưới chân mái đá, nằm dựng đứng tựa vào vách núi, còn giữ khá nguyên hình dạng, dài 2,42m, đường kính quan tài 0,48m; lòng trong được khoét rỗng dài 1,97m, đường kính lòng trong 0,4m Bên cạnh quan tài có một cột chống dài 2m; chu vi 0,55m

Di tích thuộc loại hình mộ quan tài thân cây khoét rỗng trong hang động, thường được gọi là "huyền quan táng" (táng cheo), hay "nhai động táng" (táng trong hang đá cheo leo trên vách núi cao) hay "nhai táng chế" (chế độ mai táng trên vách đá) Loại hình di tích này cũng đã được tìm thấy ở các hang động, mái đá ở khu vực Quan Hoá như: Hang Hòm, Hang Lũng Mu, Hang Ko Phày, Hang Pha Ké Kiểu mai táng này đã được tìm thấy ở một số hang ở Thái Lan, Philippin và đặc biệt là

ở khu vực phía nam sông Dương Tử phát hiện được khá phổ biến [Nguyễn Gia Đối 1998; Bùi Văn Liêm 1998 - 1999]

Xung quanh khu vực di tích hiện nay là bản của người Thái và người Mường sống xen kẽ Loại hình quan tài thân cây khoét rỗng đến nay vẫn được người dân địa phương sử dụng phổ biến Hầu như nhà nào cũng có một bộ quan tài đặt dưới gầm sàn để chuẩn bị “hậu sự” Quan tài có hai mảnh, được làm từ một thân cây có kích cỡ khá lớn, chiều dài khoảng 2m - 2,5m và đuờng kính khoảng 0,5m - 0,6m Hai đầu quan tài có hai tai vươn ra có tác dụng chủ yếu là để buộc dây liên kết hai mảnh vào với nhau Có thể nhận thấy chủ nhân của những ngôi mộ táng trên có quan hệ khá mật thiết với hai tộc người Thái và Mường ở khu vực này

Qua so sánh loại hình di tích, có thể đoán định niên đại khu mộ ở trong khoảng thế kỷ X - XV

Di tích nằm ở gần đỉnh núi cao, cách khu vực Dự án rất xa Việc khảo sát di tích tiến hành do khi nhóm tư vấn mới đến Bản Ta Bán thu thập thông tin có nghe đến di tích này nên “tranh thủ” tiến hành khảo sát Việc xây dựng công trình thuỷ điện không gây ảnh hưởng gì đến địa điểm này

4.2.2 Khu mộ Tiên Tẳng

Nằm trong khu vực bản Chiềng Nưa, xã Mường Lý, huyện Mường Lát Khu

mộ nằm ở lưng chừng núi, phía trên bản Toạ độ di tích 20031’512’’ vĩ độ Bắc và

104042’112’’ kinh độ Đông Độ cao so với mặt nước biển 183m Di tích này nằm ngoài vùng ngập và không bị ảnh hưởng gì khi xây dựng và vận hành thuỷ điện

Trang 32

Khu mộ có dạng tương tự khu mộ Huổi Pa, nằm trên sườn núi có độ dốc thoải và nhìn thẳng ra sông Mã Trong khu mộ này có một ngôi mộ khá đặc biệt, cấu trúc mộ gồm một trụ đá cao hình chữ nhật dựng thẳng đứng, phía sau là một cột

đá nhỏ hơn có tác dụng đỡ cho trụ đá lớn khỏi bị nghiêng đổ Phía trước trụ đá, cách khoảng 0,5m là một cột đá nhọn nhỏ hơn Trụ đá cao 2m (tính từ mặt đất); rộng 0,4m; dày 0,2m Cột đá phía sau cao 1m; rộng 0,3m; dày 0,2m, có chân choãi và phần đầu chống vào phía sau lưng trụ đá cao Cột đá đứng trước mộ cao 0,6m; rộng 0,2m; dày 0,1m Chất liệu đá đều là lại đá núi dạng cát kết có thể dễ dàng khai thác

ở đây, nhưng để tạo thành những cột đá như trên thì phải được chế tác qua bàn tay của con người

Theo truyền thuyết của dân bản thì đây là ngôi mộ của Tiên Tẳng (người có chức quyền, tương tự như chúa bản, chúa mường) Tương truyền rằng cột đá này được một viên Tri châu của vùng Quan Hoá xưa đứng ra xây dựng cho người chết

Qua so sánh loại hình di tích, có thể đoán định niên đại khu mộ ở trong khoảng thế kỷ XVI - XVII [Vy An 1987; Nguyễn Ngọc Thanh 1989; Phạm Quốc Quân 1988; Phạm Quốc Quân 1994]

Di tích nằm ở khu vực có độ cao hơn cao trình hồ chứa thuỷ điện trên 20m tuy nhiên lại nằm khá xa khu vực lòng hồ và quá trình xây dựng cũng như vận hành thuỷ điện không gậy ảnh hưởng gì xấu tới môi trường tự nhiên phân bố di tích cũng như phá huỷ không gian di tích

4.2.3 Viên đá có chữ:

Di tích Đá có chữ nằm ở địa phận xã Tam Chung, huyện Mường Lát có toạ

độ 20031’940’’ độ vĩ bắc và 140040’263’’ kinh độ Đông Độ cao so với mặt nước biển 182m

Đường đến di tích từ UBND xã Tam Chung theo con đường dải cấp phối xuôi theo hữu ngạn sông Mã đi UBND xã Mường Lý, đi gần hết địa phận xã Tam Chung đến chỗ cắm mốc “Khu vực biên giới” là đến di tích Chiều dài đoạn đường khoảng 10km Cũng có thể đi theo con đường mòn ngược sông từ bản Co Me (xã Trung Sơn) để đến di tích nhưng đường đi rất khó khăn Đường sông không đi được

do đoạn này lòng sông hẹp, lắm thác ghềnh

Di tích là một tảng đá gốc có kích cỡ lớn cao 6m; rộng trên 5m và dày 5m nằm chênh vênh trên sườn núi phía hữu ngạn sông Mã Trên một mặt phẳng ở phía tây, trên đỉnh đỉnh viên đá có một hàng chữ Nho khắc sâu theo hàng dọc vào mặt phiến đá Do trải qua thời gian mưa nắng, đá núi bị bào mòn nên những chữ bên trên bị xoá mờ, chỉ còn đọc được duy nhất một chữ dưới cùng (chữ VƯƠNG)

Do không có hiện vật kèm theo nên rất khó định niên đại cho di tích này Tuy vậy, so sánh với các di tích có cùng loại hình như bãi đá cổ SaPa (Lao Cai), bãi

đá cổ Đồng Văn (Hà Giang), bãi đá khắc chữ ở Pá Mang (Sơn La) [Hà Văn Tấn (chủ biên) 2002] có thể đoán định niên đại của di tích sớm nhất là vào thế kỷ XVII

So với các di tích nằm ngoài vùng lòng hồ thì di tích này nằm gần khu vực

hồ chứa nhất Di tích nằm ở vách núi sát bờ sông Mã, độ cao trên 20m so với cao trình lòng hồ chứa và cao khoảng 100m so với mực nước sông Mã hiện tại Việc tích nước hồ chứa làm sông Mã dâng cao hơn, không gian phân bố di tích có sự thay đổi chút ít nhưng không gây ảnh hưởng nhiều tới di tích Đặc biệt khu vực di tích lại phân bố trên nền đá gốc khá cứng nên dù nằm ven hồ nhưng có thể loại trừ

Trang 33

khả năng việc xây dựng cũng như vận hành công trình gây ảnh hưởng đến di tích

5 Đề xuất phương hướng nghiên cứu các địa điểm văn hoá vật thể

5.1 Đánh giá về khu vực công tác

Thực tế khảo sát cho thấy khu vực công tác có địa hình khá hiểm trở, giao thông không thuận lợi Địa hình chủ yếu là vách núi có độ dốc đứng cao đổ thẳng xuống lòng sông, xen lẫn một số khu vực khá bằng phẳng được bồi tụ bởi một số con suối lớn đổ ra sông Mã như suối Quanh, suối Tà Lào, suối Ta Bán, suối Nàng, suối Nún (suối Tài Chánh) (mục 2.1) Những khu vực này địa hình khá thuận lợi cho việc cư trú Cư dân sinh sống ở đây chủ yếu là người Thái, xen lẫn với một số người Mường và người Mông sống trong các bản của người Thái và theo phong tục của người Thái Các địa điểm văn hoá vật thể và/hay các di tích, di vật khảo cổ phát hiện được chủ yếu ở khu vực khu vực này Nó tương ứng với khu vực lòng hồ chứa nước của công trình

Các khu vực có liên quan trực tiếp đến công việc thi công công trình như tại khu vực xung quanh chân đập, các khu lán trại (thuộc bản Co Me), khu mỏ khai thác (thuộc bản Mau, bản Kít), các bãi tập kết vật liệu, đường vào công trường, khu tái định cư đều không phát lộ dấu tích văn hoá vật thể hay các di tích khảo cổ Như vậy việc xây dựng ở khu vực chân đập cũng như việc san ủi, giải phóng mặt bằng tái định cư, mở đường vào công trường, khai thác và tập kết vật liệu xây dựng

sẽ không gặp trở ngại do lĩnh vực văn hoá vật thể gây ra Trong quá trình xây dựng cũng có thể sẽ làm phát lộ một vài hiện vật khảo cổ, nhưng việc xử lý những hiện vật đó sẽ không gây ảnh hưởng đến việc thi công công trình

Quá trình khảo sát đã xác định được 11 địa điểm có dấu tích văn hoá vật thể, trong đó có 6 di tích khảo cổ học, 2 sưu tập hiện vật khảo cổ và 3 di tích văn hoá mang tính chất thiêng liêng của nhóm tộc người Thực tế 2 sưu tập hiện vật không được coi là địa điểm có dấu tích văn hoá vật thể vì không tìm được địa điểm nơi xuất lộ di tích Đúng hơn, đó là các dấu hiệu khả quan, được ghi nhận trong quá trình khảo sát và là cơ sở cho những định hướng nghiên cứu tiếp theo về giai đoạn tiền sơ sử ở vùng đất này

Cũng phải nói thêm rằng trong quá trình công tác, nhóm tư vấn đã được những người dân địa phương cung cấp khá nhiều thông tin về các địa điểm văn hoá vật thể như các hang động nơi có mộ quan tài gỗ, các bãi ma, khu đất thiêng nằm

ở những khu vực đỉnh núi cao, hoặc ở các bản không thuộc khu vực công tác, hứa hẹn khả năng phát hiện thêm nhiều di tích khác ở khu vực Tây Thanh Hoá

Nhóm di tích, di vật khảo cổ thu được từ đợt khảo sát cho thấy khu vực công tác và mở rộng hơn là khu vực Tây Thanh Hoá đã có dấu ấn cư trú của con người từ thời điểm bình minh của lịch sử và liên tục phát triển cho đến nay

5.2 Đề xuất phương hướng nghiên cứu các địa điểm văn hoá vật thể trong khu vực công tác

5.2.1 Các địa điểm khảo cổ học

5.2.1.1 Di tích thời đại đá cũ Bản Nàng 1

Có tính chất đặc biệt quan trọng trong việc nghiên cứu giai đoạn tiền sơ sử khu vực Tây Thanh Hoá Đây là di tích thời đại đá cũ duy nhất phát hiện được ở khu vực Quan Hoá, Mường Lát cho đến nay Di tích thuộc loại hình di tích đồi gò

Trang 34

của văn hoá Sơn Vi miền núi, mang những đặc điểm chung của nhóm di tích thời đại đá cũ đã phát hiện ở Sơn La, Lai Châu, Điện Biên [Nguyễn Khắc Sử, Võ Quý, Nguyễn Thị Lan 2003; Nguyễn Khắc Sử (biên soạn) 2007] Phát hiện địa điểm này

có ý nghĩa xác định rõ hơn không gian phân bố của các nhóm cư dân thời tiền sử ở khu vực Tây Bắc

Tuy vậy, để có những kết luận khoa học mang tính chính xác hơn cần phải có những phương án và kế hoạch tiếp tục nghiên cứu Những vấn đề khoa học được đặt

ra như: sự tương đồng và khác biệt của di tích trong nhóm di tích cùng loại hình phân bố ở khu vực Tây Bắc; các con đường phát triển; các hoạt động kinh tế sản xuất; môi trường và không gian sống của cư dân ở đây… chỉ có thể được giải quyết thông qua việc khai quật nghiên cứu toàn diện di tích Kết quả khai quật sẽ mang lại rất nhiều thông tin hữu ích giúp các nhà khảo cổ, các nhà sử học, các nhà cổ môi trường… phác hoạ nên diện mạo và không gian văn hoá của nhóm cư dân đầu tiên sinh sống trên mảnh đất này Nhóm hiện vật với số lượng lớn, đầy đủ về mặt loại hình, chất liệu… sẽ giúp cho việc nghiên cứu các hoạt động kinh tế sơ khai, về trình

độ hiểu biết của con người thời đó thông qua kỹ thuật chế tác công cụ… Những mẫu bào tử phân hoa thu được sẽ giúp chúng ta phác hoạ nên không gian môi trường cổ Đôi khi, những phát hiện hiếm hoi về cổ nhân học sẽ có tính chất đặc biệt quan trọng trong việc nghiên cứu thành phần tộc người cổ ở khu vực

Việc khai quật nghiên cứu di tích được đặt ra rất cấp thiết bởi:

- Xét từ góc độ chuyên môn, di tích phân bố ở khu vực trung tâm bản Nàng

1, việc xâm hại đến di tích đã và đang diễn ra hàng ngày bởi hoạt động sống của cư dân địa phương Quá trình san lấp mặt bằng làm nhà, đào ao, làm đường đã phá huỷ một phần di tích, làm các hiện vật bị xáo trộn xuất lộ ngổn ngang trên bề mặt và khu vực xung quanh di tích Nếu không tiến hành khai quật nghiên cứu và từ đó lập

hồ sơ di tích làm cơ sở đề xuất các phương án bảo vệ cho chính quyền địa phương

và các cơ quan ban nghành có chức năng thì trong tương lai không xa, di tích sẽ bị phá huỷ hoàn toàn

- Xét từ mục đích đợt công tác, di tích nằm trong khu vực lòng hồ chứa nước Nhà máy thuỷ điện Trung Sơn, nếu không có phương án triển khai nghiên cứu hoặc công tác nghiên cứu tiến hành chậm trễ sẽ gây ảnh hưởng đến thời gian đóng đập tích nước hồ chứa, gây đến kéo dài thời gian hoàn thành và vận hành Nhà máy Trong trường hợp này việc khai quật di dời toàn bộ khu vực còn lại của di tích là phương án hợp lý nhất trong giai đoạn hiện nay Công tác khai quật di dời thực hiện theo đúng các điều khoản trong Luật Di sản Văn hoá nhằm giải phóng mặt bằng khu vực lòng hồ chứa, thu thập các di tích, di vật phục vụ cho công tác nghiên cứu lâu dài Góp phần thực hiện chủ trương "công nghiệp hoá, hiện đại hoá" đất nước nhưng vẫn bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc

Diện tích phân bố của di chỉ 1000m2 Trong đó diện tích khai quật có thể tiến hành trong khoảng 500m2

Trang 35

hoá của người Thái, xen kẽ trong đó là các nhóm nhỏ người Mường Hiện nay quá trình cộng cư vẫn đang diễn ra rất mạnh giữa các cư dân người Thái và người Mường, quá trình “Thái hoá” đối với các các nhóm cư dân còn lại là xu hướng chủ đạo về mặt văn hoá (ở đây không nói đến quá trình “Kinh hoá” bởi các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của nhà nước dành cho các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa)

Các vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu sau đợt khảo sát là: Quá trình chiếm lĩnh và làm chủ không gian sống của các nhóm tộc người; quá trình cộng cư giữa các cộng đồng người khác nhau; vấn đề nguồn gốc chủ nhân khu mộ; tín ngưỡng, tâm linh và các phong tục tang ma thể hiện qua táng thức của chủ nhân khu mộ Từ những tư liệu thu được so sánh với những khu mộ đã được khai quật nghiên cứu trước đây có thể hiểu rõ hơn đời sống tinh thần và đặc trưng văn hoá của các nhóm cư dân vùng Tây Bắc xa xưa Việc giải quyết những vấn đề trên sẽ góp phần tạo cơ sở vững chắc hơn cho việc hoạch định những chính sánh nhằm phát triển mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội ở khu vực công tác và miền Tây Thanh Hoá nói chung

Như vậy công tác khai quật nghiên cứu khu mộ là khả thi và sẽ mang lại nhiều thông tin hữu ích Hơn nữa di tích được bảo tồn khá nguyên trạng hứa hẹn sẽ cung cấp cho chúng ta những thông tin chuẩn xác về vấn đề cần nghiên cứu

Tương tự di tích đá cũ Bản Nàng 1, khu mộ Huổi Pa cũng nằm trong khu vực

hồ chứa nước Nhà máy thuỷ điện Trung Sơn, do vậy công tác khai quật di dời toàn

bộ di tích nhằm giải phóng mặt bằng khu vực lòng hồ chứa, thu thập các di tích, di vật nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu lâu dài là công việc rất cấp thiết Vài năm tới, sau khi đóng đập tích nước để phục vụ cho hoạt động của Nhà máy thuỷ điện, các di tích này sẽ vĩnh viễn nằm trong vùng ngập và không còn khả năng khai quật nghiên cứu

Di tích cần được khai quật nghiên cứu toàn bộ với tổng diện tích là 1000m2

5.2.2 Nhóm di vật thu được từ đợt công tác

Nhóm tư vấn đã thu thập và tiến hành nghiên cứu các sưu tập hiện vật thuộc nhiều địa điểm khác nhau: Sưu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử và giai đoạn lịch sử được lưu giữ tại các hộ dân trong khu vực công tác; sưu tập hiện vật ở địa điểm đá

cũ Bản Nàng 1; sưu tập hiện vật ở địa điểm Hang Cú

Sưu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử và giai đoạn lịch sử do các hộ dân lưu giữ, thuộc quyền sở hữu tư nhân đã được nhà nước công nhận Với nhóm hiện vật này, việc công bố các thông tin và địa chỉ nơi lưu giữ hiện vật là cần thiết Công việc sẽ giúp các cơ quan có chức năng nghiên cứu sưu tầm, các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến sưu tập hiện vật có thể dễ dàng tiếp cận chúng

Nhóm hiện vật thu được trong đợt khảo sát, sau khi có ý kiến đồng thuận của Ban QLDA thuỷ điện Trung Sơn, sẽ được bàn giao cho cơ quan quản lý văn hoá địa phương theo Luật Di sản Văn hoá để bảo vệ, trưng bày, phát huy tác dụng di sản văn hoá dân tộc Do địa điểm phát hiện các hiện vật trên thuộc địa phận tỉnh Thanh Hoá nên sẽ được chuyển về lưu giữ, bảo quản tại Bảo tàng Tỉnh Thanh Hoá

5.2.3 Các khu vực mang tính thiêng liêng của nhóm tộc người

Các Khiêng sằn có tính chất thiêng liêng với cư dân từng bản, gắn liền với

Trang 36

các giá trị về mặt tâm linh trong một cộng đồng tộc người Sau khi di dời bản, Khiêng sằn, tự nó cũng không còn giá trị sử dụng và mất đi tính chất thiêng liêng Đến bản mới họ sẽ dựng lên một Khiêng sằn mới phục vụ cho việc tế lễ của cộng đồng mình

Trong khu vực công tác, nhóm tư vấn đề xuất Ban QLDA Thuỷ điện Trung Sơn nên chuẩn bị một lễ tế khi di dời các bản trong khi vực lòng hồ đến địa điểm tái định cư Hành động này sẽ có tác dụng rất lớn góp phần ổn định cho cộng đồng cư dân nơi đó về mặt tâm linh, giúp họ yên tâm sinh sống tại nơi ở mới

Những công việc cụ thể và kinh phí di dời sẽ do Ban di dân tái định cư thuộc Ban QLDA thuỷ điện Trung Sơn đứng ra đảm nhiệm và được tính trong kinh phí di dân tái định cư Bởi quá trình di dân tái định cư cộng đồng cư dân từng bản sẽ gắn liền với việc làm các thủ tục lễ tế trước khi bản làng đó phải di dời

5.3 Đề xuất phương hướng nghiên cứu các địa điểm văn hoá vật thể nằm ngoài khu vực công tác

Nhóm 4 di tích nằm ngoài khu vực Dự án gồm di tích Hang Cú, khu mộ Mái

đá Nàng Chanh, khu mộ Tiên Tẳng và viên đá có khắc chữ ở Tam Chung tuy không cùng loại hình di tích và thuộc các giai đoạn lịch sử khác nhau nhưng có đặc điểm chung là những di tích mang tính điển hình cho từng giai đoạn lịch sử của khu vực Tây Thanh Hoá Công tác khảo sát bước đầu đã đem lại những thông tin khả quan, mức độ bảo tồn của di tích khá tốt Việc triển khai nghiên cứu ở giai đoạn tiếp theo hứa hẹn sẽ đem lại nhiều thông tin hữu ích về lịch sử và văn hoá của các nhóm cư dân cổ đã sinh sống trên mảnh đất này

Hiện tại việc bảo tồn nguyên trạng di tích được đặt lên hàng đầu, đó là cơ sở

để có thể triển khai các công tác nghiên cứu ở giai đoạn sau Công việc này cần phải

có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu với các cơ quan quản lý văn hoá và chính quyền địa phương Trong đó, việc công bố những tư liệu khảo sát là cơ

sở để nhóm tư vấn - với tư cách là cơ quan nghiên cứu chuyên môn, cùng với cơ quan quản lý văn hoá địa phương có công văn đề nghị chính quyền địa phương có biện pháp bảo vệ di tích

Thực tế, sau buổi làm việc ngày 2/10/2008 giữa nhóm tư vấn với BQL Dự án thuỷ điện Trung Sơn và Đại diện Ngân hàng Thế giới Được BQL Dự án đồng thuận, Viện Khảo cổ học với vai trò là một cơ quan nghiên cứu đã công bố một số kết quả nghiên cứu bước đầu của các di tích Hang Cú, Mái đá Nàng Chanh, khu mộ Tiên Tẳng và viên đá khắc chữ ở Tam Chung với các cơ quan quản lý văn hoá như

Sở Văn hoá Thể thao Du lịch Thanh Hoá, Bảo tàng Thanh Hoá, BQL Di tích Thanh Hoá, UBND huyện Quan Hoá, UBND huyện Mường Lát và UBND các xã Trung Sơn, Mường Lý, Tam Chung - nơi có di tích Những tư liệu khảo sát là cơ sở để các

cơ quan nghiên cứu chuyên môn, cùng với Sở VHTTDL Thanh Hoá phối hợp với UBND huyện Mường Lát triển khai các biện pháp bảo vệ di tích

Đồng thời các di tích trên nằm ngoài vùng lòng hồ và không bị ảnh hưởng bởi quá trình xây dựng cũng như sự vận hành của Nhà máy thuỷ điện Trung Sơn, do vậy chiếu theo Luật Di sản Văn hoá, thì các công việc tiếp theo để xử lý di tích như: lập kế hoạch khoanh vùng bảo vệ, lập hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích phải tuân thủ đầy đủ những điều luật đã được quy định Cơ quan có đầy đủ thẩm quyền và chức năng để tiếp tục tiến hành các công tác tiếp theo là Sở VHTTDL Thanh Hoá và

Trang 37

BQL Di tích Thanh Hoá

6 Những vấn đề khi tiếp tục triển khai nghiên cứu xử lý các di tích trong khu vực công tác

6.1 Xác định địa điểm cần được khai quật di dời

Kết quả khảo sát đã cho biết các địa điểm đá cũ Bản Nàng 1 và khu mộ táng Huổi Pa là hai di tích khảo cổ học có giá trị tiêu biểu cho hai giai đoạn lịch sử khác nhau ở khu vực công tác và mở rộng hơn là khu vực Tây Thanh Hoá Việc lập kế hoạch triển khai khai quật nghiên cứu toàn bộ nhằm thu thập các di tích, di vật góp phần bảo vệ và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống là việc làm cấp thiết, cần được quan tâm giải quyết càng sớm càng tốt

Địa điểm Bản Nàng 1 nằm ở trung tâm bản Nàng 1, xã Mường Lý, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá Toạ độ 20032’433’’ vĩ Bắc, 104046’078’’ kinh Đông

Khu mộ Huổi Pa nằm cạnh suối Pa, bản Tà Bán, xã Trung Sơn, huyện Quan Hoá Toạ độ 20037’514’’ vĩ Bắc và 104049’780’’ kinh Đông

6.2 Vấn đề chủ đầu tư cho công tác khai quật nghiên cứu

Việc xác định chủ đầu tư là cơ quan hay tổ chức nào là rất quan trọng, xác định nguồn kinh phí thực hiện công tác được lấy từ đâu Đối với công tác khai quật nghiên cứu khảo cổ học, xác định chủ đầu tư tức là xác định mục đích nghiên cứu

cụ thể của đợt công tác

Công tác khai quật nghiên cứu khảo cổ có hai dạng chính:

- Công tác khai quật nhằm nghiên cứu, giải quyết một số vấn đề cụ thể về mặt khoa học hay xác định vai trò, vị trí và quy mô của một di tích văn hoá - lịch

sử Kết quả của các đợt công tác là cơ sở cho các công tác xếp hạng di tích của các

cơ quan quản lý văn hoá; công tác trùng tu, tôn tạo và bảo vệ di dích Nguồn kinh phí thực hiện sẽ được lấy từ kinh phí hoạt động của các cơ quan quản lý văn hoá hay các cơ quan, tổ chức nghiên cứu trong lĩnh vực văn hoá

- Công tác khai quật di dời di tích, di vật mục đích giải phóng mặt bằng xây dựng cho các công trình phục vụ cho sự phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của đất nước, góp phần bảo tồn các di tích, di vật phục vụ cho công tác nghiên cứu văn hoá

ở các giai đoạn tiếp theo Chi phí thực hiện công việc được tính vào mục chi phí giải phóng mặt bằng của công trình xây dựng nơi phát lộ di tích Việc khai quật di dời di tích đá cũ Bản Nàng 1 và khu mộ táng Huổi Pa trong khu vực Dự án thuỷ điện Trung Sơn nằm ở dạng này

Như vậy kinh phí triển khai việc khai quật nghiên cứu hai địa điểm Bản Nàng 1 và khu mộ Huổi Pa sẽ do BQL Dự án thuỷ điện Trung Sơn làm chủ đầu tư

6.3 Những thủ tục pháp lý

Theo Luật Di sản Văn hoá tất cả các hoạt động nghiên cứu khảo sát, thám sát

và khai quật khảo cổ đều phải có sự đồng ý và cho phép (bằng văn bản) của Bộ Văn hoá - Thể thao & Du lịch Ngoài ra, việc liên hệ và phối hợp công tác với các cơ quan chức năng có liên quan ở địa phương là những công việc bắt buộc để tiến hành công tác Quy trình công tác như sau:

- Gửi công văn đề nghị phối hợp công tác với Sở VHTTDL Tỉnh Thanh Hoá

và đề nghị Cục Di sản Văn hoá cấp giấy phép khai quật

Trang 38

- Thông báo và phối hợp công tác với Bảo tàng tỉnh Thanh Hoá, BQL Di tích Thanh Hoá

- Thông báo cho UBND Huyện, Phòng Văn hoá Huyện, UBND các xã - nơi

có di tích về lịch trình công tác

Theo quy định thì những cơ quan đề xuất nghiên cứu hay xử lý di tích buộc phải là cơ quan hay tổ chức có chức năng nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực văn hoá Trong trường hợp này này sẽ là cơ quan hay tổ chức nghiên cứu do Ban QLDA thuỷ điện Trung Sơn lựa chọn và giao cho thực hiện công việc

6.4 Công tác bảo vệ và bảo quản di tích, di vật

Đây là công việc đòi hỏi có sự phối hợp của nhiều đơn vị: cơ quan chủ đầu

tư, các cơ quan quản lý văn hoá, các cấp chính quyền địa phương Cơ sở thực hiện

là Luật Xây dựng, Luật Di sản Văn hoá và kết quả điều tra về mặt văn hoá vật thể ở khu vực công tác

- Bảo vệ di tích, di vật trước khai quật:

Đối với di tích, ngay sau khi hoàn thành báo cáo và có ý kiến của Ban QLDA Thuỷ điện Trung Sơn, nhóm tư vấn sẽ có văn bản thông báo về kết quả khảo sát di tích gửi tới các cơ quan quản lý văn hoá địa phương nơi có di tích (Sở VHTTDL Thanh Hoá, Bản Quản lý di tích Thanh Hoá) Đây là cơ sở để các cơ quan quản lý văn hoá địa phương triển khai bảo vệ di tích theo như luật định Thực tế, với việc cử cán bộ chuyên môn tham gia cùng nhóm tư vấn, các cơ quan quản lý văn hoá địa phương cũng đã có những thông tin bước đầu và có một số hành động cụ thể Vấn

đề bảo vệ nguyên trạng các di tích cũng đã được bàn đến trong một số cuộc gặp gỡ giữa các nhà lãnh đạo địa phương với đại diện của cơ quan quản lý văn hoá và nhóm tư vấn

Nhóm tư vấn đề xuất, các di tích khảo cổ đã được xác minh và thẩm định đều phân bố trong khu vực vùng lòng hồ dự án, không thuộc khu vực có liên quan đến việc thi công xây dựng công trình Tuy vậy trường hợp Ban QLDA Thuỷ điện Trung Sơn thi công, xây dựng ở khu vực phân bố di tích thì nên có phương án tiến hành quật di dời di tích, di vật trước khi tiến hành công việc

Với nhóm hiện vật thu được từ đợt khảo sát sau khi kết thúc đợt công tác sẽ được chuyển giao cho Bảo tàng tỉnh Thanh Hoá lưu giữ và bảo quản như đá trình bày ở mục 5.2.2

- Công tác bảo vệ di tích, di vật trong và sau khi khai quật:

Trong suốt quá trình khai quật, cơ quan hay tổ chức được Ban QLDA Thuỷ điện giao cho thực hiện công việc phải chịu trách nhiệm bảo quản, lưu giữ toàn bộ các di tích, di vật thu được

Sau khi kết thúc khai quật và nghiên cứu và có ý kiến của Ban QLDA thuỷ điện Trung Sơn, các di tích di vật phải được bàn giao về lưu giữ tại Bảo tàng Tỉnh (Thanh Hoá) theo như luật định

6.5 Công tác khai quật di dời di tích

Trình tự thực hiện công việc khai quật di dời dự kiến tiến hành theo các bước:

- Lập bản kế hoạch chi tiết về công tác khai quật xử lý di tích (bao gồm kế hoạch khai quật và dự trù kinh phí chi tiết) để trình duyệt cơ quan chủ đầu tư

Trang 39

- Xin giấy phép khai quật của Bộ Văn hoá - Thể thao & Du lịch

- Công việc chuẩn bị cho khai quật: tìm kiếm nguồn nhân công phục vụ công trường khai quật; trang bị các loại công cụ dụng cụ, phương tiện làm việc tại công trường; chuẩn bị khu vực lán trại cho cán bộ và nhân công; chuẩn bị kho tạm để bảo quản di tích, di vật tại công trường; chuẩn bị cácphương tiện đi lại, vận chuyển

- Tiến hành khai quật ở từng di tích

- Những công việc sau khai quật: nghiên cứu di tích, di vật thu được và bàn giao cho Bảo tàng Tỉnh lưu giữ và bảo quản

- Tổ chức hội nghị báo cáo kết quả công tác

- Hoàn thành báo cáo khai quật

Triển khai công tác khai quật di dời phải tính đến những khó khăn đặc thù do địa hình khá hiểm trở của khu vực phân bố di tích tạo nên

Thời gian tiến hành công tác dự kiến khoảng 5 tháng Trong đó thời gian khai quật ở công trường dự tính kéo dài trong khoảng 4 tháng và thời gian chỉnh lý hiện vật sau khai quật kéo dài 1 tháng Công việc nên tiến hành vào từ khoảng tháng

8 đến cuối năm Thời gian này thời tiết ở khu vực công tác khá khắc nghiệt nhưng lại tránh được những cơn mưa lớn, đảm bảo cho công tác khai quật diễn ra theo đúng kế hoạch Xuất phát từ tiến độ thực hiện dự án thuỷ điện, cho thấy thời gian tiến hành khai quật thuận lợi nhất là vào mùa khô năm 2009, khi công tác di dân giải phóng vùng lòng hồ chưa diễn ra, việc tìm kiếm nguồn nhân công địa phương phục vụ khai quật sẽ dễ dàng hơn, tiết kiệm được một khoản kinh phí khá lớn so với việc đưa nhân công từ ngoài vào Ngoài ra các vấn đề khác như nhà ở cho các chuyên gia nghiên cứu, vấn đề tiếp tế lương thực thực phẩm… cũng sẽ được giải quyết thuận lợi hơn

6.6 Dự kiến danh sách thành viên nhóm tư vấn

Tống Trung Tín Trưởng nhóm tư vấn Quản lý toàn bộ công việc của

nhóm tư vấn Kết hợp làm việc với các chuyên gia thuộc nhóm tư vấn

Liên hệ và phối hợp công tác với Ban Quản lý dự án và Tập đoàn Điện lực Việt Nam và những công việc có liên quan khác Viết báo cáo tổng hợp Trần Quý Thịnh Thư ký điều hành nhóm

Hà Văn Phùng Chuyên gia Khảo cổ Tham gia khai quật hai địa điểm

Trang 40

Nguyễn Lân Cường Chuyên gia Khảo cổ

học

Tham gia khai quật hai địa điểm Bản Nàng 1 và Huổi Pa trong khu vực dự án thuỷ điện Trung Sơn

Phối hợp làm việc với các thành viên khác trong nhóm tư vấn Viết báo cáo

Nguyễn Thị Mai Hương Chuyên gia Cổ môi

trường

Tham gia khai quật hai địa điểm Bản Nàng 1 và Huổi Pa trong khu vực dự án thuỷ điện Trung Sơn

Phối hợp làm việc với các thành viên khác trong nhóm tư vấn Viết báo cáo

Hà Mạnh Thắng Kỹ thuật viên (Chụp

ảnh, vẽ)

Tham gia khai quật hai địa điểm Bản Nàng 1 và Huổi Pa trong khu vực dự án thuỷ điện Trung Sơn

Phối hợp làm việc với các thành viên khác trong nhóm tư vấn Nguyễn Ngọc Quý Chuyên viên Khảo cổ

học

Tham gia khai quật hai địa điểm Bản Nàng 1 và Huổi Pa trong khu vực dự án thuỷ điện Trung Sơn

Phối hợp làm việc với các thành viên khác trong nhóm tư vấn Viết báo cáo

Hoàng Thuý Quỳnh Chuyên viên Khảo cổ

học

Tham gia khai quật hai địa điểm Bản Nàng 1 và Huổi Pa trong khu vực dự án thuỷ điện Trung Sơn

Phối hợp làm việc với các thành viên khác trong nhóm tư vấn Viết báo cáo

Ngày đăng: 17/03/2014, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Khu vực tiến hành khảo sát theo địa giới hành chính - BÁO CÁO KHẢO CỔ: “KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ” pot
Bảng 1 Khu vực tiến hành khảo sát theo địa giới hành chính (Trang 7)
Hình tương đối thuận lợi cho việc sinh sống và triển khai các hoạt động kinh tế khai  thác tự nhiên hơn các khu vực khác - BÁO CÁO KHẢO CỔ: “KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ” pot
Hình t ương đối thuận lợi cho việc sinh sống và triển khai các hoạt động kinh tế khai thác tự nhiên hơn các khu vực khác (Trang 11)
Bảng 3: Phân loại di tích theo địa giới hành chính - BÁO CÁO KHẢO CỔ: “KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ” pot
Bảng 3 Phân loại di tích theo địa giới hành chính (Trang 12)
Bảng 4: Loại hình và đặc điểm di tích  Loại hình di tích  Tên di tích  Đặc điểm di tích - BÁO CÁO KHẢO CỔ: “KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ” pot
Bảng 4 Loại hình và đặc điểm di tích Loại hình di tích Tên di tích Đặc điểm di tích (Trang 12)
Bảng 5: Loại hình công cụ ở di tích Bản Nàng 1 - BÁO CÁO KHẢO CỔ: “KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ” pot
Bảng 5 Loại hình công cụ ở di tích Bản Nàng 1 (Trang 16)
Bảng 6: Thống kê mô tả hiện vật đá cũ Bản Nàng 1 - BÁO CÁO KHẢO CỔ: “KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ” pot
Bảng 6 Thống kê mô tả hiện vật đá cũ Bản Nàng 1 (Trang 19)
Bảng 7: Thống kê, phân loại hiện vật giai đoạn tiền sơ sử - BÁO CÁO KHẢO CỔ: “KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ” pot
Bảng 7 Thống kê, phân loại hiện vật giai đoạn tiền sơ sử (Trang 22)
Bảng 8: Thống kê, phân loại hiện vật giai đoạn lịch sử - BÁO CÁO KHẢO CỔ: “KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ” pot
Bảng 8 Thống kê, phân loại hiện vật giai đoạn lịch sử (Trang 27)
Bảng 9: Dự toán tạm tính các hạng mục chi phí chi thực hiện công tác khai quật - BÁO CÁO KHẢO CỔ: “KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ” pot
Bảng 9 Dự toán tạm tính các hạng mục chi phí chi thực hiện công tác khai quật (Trang 43)
Bảng 10: Dự toán kinh phí chi tiết - BÁO CÁO KHẢO CỔ: “KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ” pot
Bảng 10 Dự toán kinh phí chi tiết (Trang 44)
Sơ đồ quy trình xử lý các phát hiện ở hội - BÁO CÁO KHẢO CỔ: “KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ” pot
Sơ đồ quy trình xử lý các phát hiện ở hội (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w