Giải pháp gia tăng lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Th¬ương mại Phú Đức
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Mục lục……… 1
Lời nói đầu……… 3
CHƯƠNG 1: LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG……… …….4
1.1 Lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp ……… 4
1.1.1 Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường……… 4
1.1.2 Lợi nhuận của doanh gnhiệp ……… 7
1.2 Xác định lợi nhuận của doanh nghiệp………13
1.2.1 Các yếu tố cấu thành lợi nhuận của doanh nghiệp……… ……13
1.2.2 Phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp……… ….14
1.2.3 Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp……… ….23
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp……… 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI PHÚ ĐỨC……….………….34
2.1 Tổng quan về công ty TNHH thương mại Phú Đức……… ……… 34
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH thương
mại Phú Đức……… …………34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty……….………34
2.1.3 Đặc điểm công ty……… ………36
2.2 Thực trạng lợi nhuận của công ty TNHH thương mại Phú Đức… 37
2.2.1 Thực trạng hoạt động kinh doanh……… … 37
2.2.2 Tình hình tài chính trong công ty TNHH thương mại Phú Đức….…….37
2.2.3 Tình hình thực hiện nghĩa vụ ngân sách Nhà nước năm 2008….…… 49
2.3 Nhận xét về lợi nhuận của công ty TNHH thương mại Phú Đức… 52
2.3.1 Kết quả đạt được……….……….52
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân……….53
2.3.2.1 Hạn chế ……… ……… 53
2.3.2.2 Nguyên nhân……… ……… 53
Trang 2CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP GIA TĂNG LỢI NHUẬN TỪ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI PHÚ ĐỨC.…55
3.1 Sự cần thiết khách quan……….….…55
3.2 Giải pháp tăng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của công ty TNHH thương mại Phú Đức……… ……… ………55
3.2.1 Tối ưu hoá doanh thu tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ nhằm tối đa hoá lợi nhuận của công ty……… ….……… ……55
3.2.2 Tối thiểu hoá chi phí……….……… 57
3.2.3 Những giải pháp khác……….……….58
3.3 một số kiến nghị với chính phủ……….……….59
Kết luận……….………… 61
Danh mục tài liệu tham khảo……….……… 62
LỜI NÓI ĐẦU
Là một nhà đầu tư khi bỏ tiền vào đầu tư hy vọng sẽ thu được nhiều lợi nhuận, vậy làm cách nào để tối đa hoá chỉ tiêu này, là sự quan tâm lớn, không
Trang 3chỉ của chủ đầu tư, mà còn là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng khác như:Chính phủ, của chủ nợ
Nhận thức được tầm quan trọng của lợi nhuận, không chỉ qua sách vở,
mà còn qua thực tế hoạt động của Công ty TNHH Thương mại Phú Đức, tôi
xin chọn đề tài “ Giải pháp gia tăng lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại Phú Đức.” Làm chuyên đề tốt nghiệp của
mình, mong muốn góp sức mình vào việc đưa ra các giải pháp làm tăng lợinhuận trong hoạt động kinh doanh của Công ty
Bài viết này gồm ba phần chính:
Trang 4CHƯƠNG 1:
LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
1.1 Lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp.
Từ những năm 90 trở lại đây, có rất nhiều loại hình doanh nghiệp khácnhau ra đời, do cơ chế luật pháp thông thoáng, tư duy con người thay đổi vàphát triển Vậy doanh nghiệp là gì? Nó có phải đơn thuần chỉ là một cửa hàngbuôn bán lặt vặt ngoài phố, hay những nhà xưởng sản xuất xe đạp Thống nhất,những bao phân lân để rồi khi không có tiền thì lấy chính sản phẩm đó trả thaytiền lương?
Chúng ta sẽ đi tìm hiểu xem doanh nghiệp sẽ được hiểu như thế nào làđúng nghĩa nhất
1.1.1 Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Theo “Luật Doanh nghiệp” ban hành ngày 12/6/1999 thì :
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giaodịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mụcđích thực hiện hoạt động kinh doanh” Hoạt động kinh doanh ở đây được hiểu
là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từsản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằmmục đích sinh lời
Như thế có thể hiểu doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cáchpháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm tăng giá trị của chủ sởhữu
ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều loại hình doanh nghiệp như : Doanhnghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp doanh, công tyliên doanh, doanh nghiệp tư nhân
Việc phân loại doanh nghiệp như vậy là dựa vào hình thức sở hữu vốnđầu tư: Doanh nghiệp Nhà nước thì nguồn vốn đầu tư do Nhà nước cấp phát,lãi thì Nhà nước thu một phần lợi nhuận, lỗ thì không phải nộp thuế, còn đượccấp phát vốn Điều này đã khiến cho đa số doanh nghiệp Nhà nước tại ViệtNam làm ăn trở nên thua lỗ Điều nguy hiểm hơn cả là trong nền kinh tế nước
ta có tới 1/2 là doanh nghiệp Nhà nước nếu không nói là hầu như chỉ có doanhnghiệp Nhà nước những năm 90 Nhưng mọi việc ngày nay đã thay đổi, bêncạnh những doanh nghiệp Nhà nước còn có :
Trang 5* Công ty cổ phần – tức là doanh nghiệp mà vốn do nhiều thành viênđóng góp, những thành viên góp vốn gọi là cổ đông Công ty cổ phần có quyềnphát hành cổ phiếu.
*Công ty TNHH, vốn góp cũng do các thành viên công ty đóng góp.Tuy nhiên, số thành viên trong công ty không vượt quá 50 người và khôngđược phát hành cổ phiếu
*Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp mà vốn do một thànhviên đứng tên doanh nghiệp Doanh nghiệp này không có tư cách pháp nhân,không được phát hành cổ phiếu, người sở hữu vốn trong doanh nghiệp phảichịu trách nhiệm vô hạn về khoản nợ phát sinh trong doanh nghiệp Đây là loạihình doanh nghiệp rất phổ biến hiện nay ở Việt Nam Ngoài ra còn có các môhình kinh doanh khác như: Công ty hợp doanh, hộ gia đình, …
Ngoài việc phân chia theo hình thức góp vốn, ta có thể phân loại doanhnghiệp theo chủ thể kinh doanh:
Kinh doanh cá thể (Sole Proprietorship), kinh doanh góp vốn(Parnership), công ty (Corporation)
Kinh doanh cá thể là loại hình thành lập đơn giản nhất, không cần cóđiều lệ chính thưc và ít chịu sự quản lý của Nhà nước Loại hình kinh doanhnày không bị đánh thuế thu nhập doanh nghiệp mà tất cả lợi nhuận được tínhvào thu nhập cá nhân Đây là loại hình doanh nghiệp này không có tư cáchpháp nhân, chủ doanh nghiệp phải chịu tránh nhiệm vô hạn đối với các nghĩa
vụ và các khoản nợ, không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản củadoanh nghiệp Thời gian hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vàongười chủ sở hữu doanh nghiệp Khả năng thu hút vốn của loại hinh doanhnghiệp này bị hạn chế bởi nó phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng của người chủ
sở hữu
Kinh doanh góp vốn là loại hình doanh nghiệp rất phát triển ở nước tahiện nay,do việc thành lập doanh nghiệp này hết sưc dễ dàng với chi phí thấp,một số trường hợp cần giấy phép kinh doanh Các thành viên chính thức cótrách nhiệm vô hạn với các khoản nợ Nếu như một thành viên không hoànthành trách nhiệm của mình thì phần còn lại sẽ do các thành viên khác hoàntrả Tuổi thọ của doanh nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào các thành viên chínhthức, doanh nghiệp sẽ tan vỡ nếu một thành viên chết hoặc rút vốn Việc huyđộng vốn của loại hình doanh nghiệp này cũng phụ thuộc hoàn toàn vào khảnăng, uy tín của các thành viên chính thức, do vậy nó cũng khá hạn chế Lãi
Trang 6thu được từ hoạt động kinh doanh của các thành viên phải chịu thuế thu nhập
cá nhân
Hình thức cuối cùng là công ty: đây là loại hình doanh nghiệp mà ở đó
có kết hợp ba loại lợi ích: Các cổ đông(chủ sở hữu), của hội đồng quản trị vàcủa các nhà quản lý Theo truyền thống, cổ đông kiểm soát toàn bộ phươnghướng, hoạt động và chính sách của công ty Cổ đông bầu nên hội đồng quảntrị, sau đó HĐQT lựa chọn ban quản lý Các nhà quản lý hoạt động theonguyên tắc đem lại lợi ích tốt nhất cho các cổ đông Việc tách rời quyền sởhữu khỏi các nhà quản lý mang lại lợi thế cho công ty so với kinh doanh cá thể
và góp vón như:
+ Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển nhượng cho cổ đông mới
+ Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào số lượng, tuổi thọ của các cổđông
+ Trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn tại phần vốn góp của cổ đôngvào công ty
Mỗi loại hình doanh nghiệp có các ưu nhược điểm riêng Việc phân loạinày chỉ mang tính tương đối Trong bài viết này, các mô hình trên đều gọichung là doanh nghiệp với chung mục tiêu hoạt động là tối đa hoá lợi nhuận
Ngày nay trong môi trường xã hội biến động theo từng giờ, mọi hoạtđộng, quyết định của doanh nghiệp chị sự tác động của môi trường mà nó tồntại
Môi trường ở đây được hiểu là tổng hoá các yếu tố có thể làm thay đổihiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như:
Sự quản lý của Nhà nước: Một cá nhân, tổ chức có thể tự do lựa chọnngành nghề kinh doanh, có thể đưa doanh nghiệp phát triển tới vị trí mongmuốn Nhưng sự thắt chặt hay nới lỏng của doanh nghiệp đó lại hoàn toàn phụthuộc vào sự điều chỉnh bằng luật và các văn bản quy phạm pháp luật, bằng cơchế quản lý tài chính Vì thế ta thấy, có một số lĩnh vực kinh tế thì rất pháttriển cả về số lượng người kinh doanh, cả về quy mô nguồn vốn, nhưng một sốlĩnh vực không phải ai kinh doanh cũng được, và với quy mô kinh doanh baonhiêu là tuỳ thích Bởi chúng chịu sự tác động của cơ chế quản lý của Nhànước
Một số yếu tố nữa mà doanh nghiệp ngày càng thực sự phải đối đầu, đố
là sự thay đổi của khoa học công nghệ Sự thay đổi khoa học công nghệ diễn
ra từng ngày, từng tháng đã mang lại rất nhiều thay đổi trong phương thức sản
Trang 7xuất, tạo ra nhiều kỹ thuật mới dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ trong quản lý tàichính của doanh nghiệp, bởi nó không chỉ đem lại những cơ may mà còn đemđến rất nhiều những rủi ro lớn Vì vậy, nhà quản lý luôn phải đối đầu vớinhững rủi ro có thể xảy ra, để có thể ứng phó kịp thời, đúng đắn Doanhnghiệp với sức ép từ phía thị trường, từ sự thay đổi tư duy con người, đãchuyển dần từ phương thức sản xuất kinh doanh cổ điển là chỉ quan tâm đếncái mà mình sản xuất, chuyển sang việc quan tâm cái mà thị trường cần Việctính đến sự tác động của môi trường , sự thay đổi không ngừng trong cungcách làm ăn của doanh nghiệp là để đạt được mục tiêu sự phát triển bền vững –tối đa hoá lợi nhuận.
Nếu xa rời mục tiêu này, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại lâu được.Việc tìm hiểu chỉ tiêu này, sẽ thấy được tầm quan trọng của nó
1.1.2 Lợi nhuận của doanh nghiệp
* Khái niệm và nguồn gốc của lợi nhuận
Lợi nhuận là thước đo, là chỉ tiêu để đánh giá sự làm ăn có hiệu quảhay không của doanh nghiệp
Sự thay đổi liên tục trong phương thức sản xuất kinh doanh, nhữngchiến lược mới trong phương thức quản lý Mục tiêu của nó là để cho doanhnghiệp có thể tồn tại bền vững và từ đó là đem lại nhiều lợi nhuận hơn nữa
Lợi nhuận : Chỉ tiêu mà mọi thời kỳ kinh tế, mọi thành phần kinh tế đềuquan tâm và lấy đó làm đích để hướng tới, từ đây cũng nảy sinh rất nhiềunhững quan điểm khác nhau về lợi nhuận
- Các nhà kinh tế học cổ điển trước K.Mark cho rằng, “cái phần trội lênnằm trong giá bán so với chi phí là lợi nhuận” Theo Adam Smith lợi nhuận là
“ khoản khấu trừ thứ hai” vào sản phẩm của lao động Còn theo Ricardo “ lợinhuận là phần giá trị thừa ra ngoài tiền công”
- K.Mark thì cho rằng “ giá trị thặng dư, hay phần trội lên nằm trongtoàn bộ giá trị của hàng hoá, trong đó lao động thặng dư hay là lao động khôngđược trả công của công nhân đã được vật hoá thì tôi gọi là lợi nhuận
- Các nhà kinh tế học hiện đại như Samuelson và W D Nordhaus lạicho rằng “ lợi nhuận là khoản thu dôi ra, bằng tổng số thu trừ đi tổng số chihay nó cách khác lợi nhuận được định ngiã là “sự chênh lệch giữa tổng thunhập và tổng chi phí” của một doanh nghiệp David Begg thì cho rằng lợinhuận là “khoản dôi ra của doanh thu so với chi phí”
Trang 8Các khái niệm trên tuy được phát biểu khác nhau song đều có điểmchung, là coi lợi nhuận là số phần thừa ra từ chênh lệch giữa những khoản thuđược và chi phí phải bỏ ra.
Đứng về phía góc độ doanh nghiệp, lợi nhuận là khoản còn lại củadoanh nghiệp sau khi trừ đi toàn bộ chi phí ( chi phí nguyên vật liệu, tiềnlương, thuế thu nhập doanh nghiệp
Lợi nhuận được định nghĩa như vậy, thế nhưng xuất phát từ đâu để cócác khoản lợi nhuận đó, đây quả thật là vấn đề gây nhiều tranh cãi
- Phái trọng thương thì cho rằng “ lợi nhuận được tạo ra trong lĩnh vực lưu thông”
- Phái trọng nông lại quan niệm “ Giá trị thặng dư hay sản phẩm thuần tuý là tặng vật của thiên nhiên và của nông nghiệp, là ngành duy nhất tạo ra sản phẩm thuần tuý”
- Phái cổ điển mà nổi tiếng là A Smith là người đầu tiên tuyên bố rằng “lao động nguồn gốc sinh ra giá trị và giá trị thặng dư” và chính ông ta lạikhẳng định giá trị hàng hoá bao gồm tiền công, lợi nhuận và địa tô Còn theoRicardo thì “ Giá do lao động của công nhân sáng tạo ra, là nguồn gốc sinh ratiền lương, lợi nhuận cũng như địa tô”
Từ hai quan điểm được phát biểu trên, chúng ta thấy rằng cả AdamSmith và Ricardo đều đã lẫn lộn giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận
Với tư duy duy vật biện chứng, K.Mard đã xây dựng thành công lý luận
về hàng hoá sức lao động_cơ sở để xây dựng học thuyết giá trị thặng dư, điđến kết luận:” Giá trị thặng dư được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bảnứng trước, mang hình thái biến tướng là lợi nhuận”
- Kinh tế học hiện đại dựa trên quan điểm của các trường phái và sựphân tích thực tế thì kết luận lợi nhuận của doanh nghiệp gồm: Thu nhập từcác nguồn lực mà doanh nghiệp đã đầu tư trong kinh doanh, phần thưởng cho
sự mạo hiểm, sáng tạo đổi mới trong doanh nghiệp và thu nhập độc quyền.Việc hiểu rõ bản chất của lợi nhuận là điều hết sức cần thiết, đặc biệt làvới các nhà quản trị doanh nghiệp , để từ đó họ có thể đánh giá hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp một cách hợp lý, đúng đắn, từ đó có thể đưa ra cácbiện pháp khác nhau làm tăng cao lợi nhuận
Phân phối lợi nhuận: Quá trình sản xuất , kinh doanh là quá trình tuầnhoàn liên tục, chu kỳ này nối tiếp chu kỳ khác Để có thể tiếp tục vòng quaynày phải có vốn đầu tư vào, điều này không thể mãi đòi hỏi từ chủ sở hữu bởi
Trang 9không ai có một nguồn lực vô hạn như vậy Để có thể tái mở rộng sản xuất, lợinhuận chính là nguồn lực cần thiết và cần phải có Người ta sẽ phân chiakhoản lợi nhuận đó như thế nào? Giữ lại toàn bộ để tiêu dùng? Đầu tư toàn
bộ vào tái sản xuất hay có những phương thức nào khác? Điều này hoàn toànphụ thuộc vào người chủ doanh nghiệp Nhưng hiện nay có một phương phápchung mà các doanh nghiệp hay áp dụng để phân phối lợi nhuận
Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp một phần dùng để chia lãi cổphần, còn lãi là lợi nhuận không chia Tỷ lệ phần lợi nhuận chia lãi và khôngchia tuỳ thuộc vào chính sách của Nhà nước (Đối với doanh nghiệp Nhà nước)hay chính sách cổ tức cổ phần của đại hội cổ đông ( Đối với doanh nghiệpkhác) ở mỗi doanh nghiệp trong từng thời kỳ khác nhau
Đối với các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam, lợi nhuận sau thuế saukhi nộp phạt và các khoản khác nếu có được trích lập các quỹ của doanhnghiệp như quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợcấp mất việc làm, quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi
*Các quỹ doanh nghiệp:
+ Quỹ đầu tư phát triển: Quỹ này được sử dụng vào các mục đích sau:
Đầu tư mở rộng và phát triển kinh doanh
Đổi mới , thay thế thiêt bị máy móc, dây chuyền công nghệ, nghiêncứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
Đổi mới trang thiết bị, điều kiện làm việc của doanh nghiệp
Đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ cho các cán
bộ công nhân viên của doanh nghiệp
Trích nộp để hình thành quỹ dự phòng tài chính của tổng công ty (nếu làthành viên của tổng công ty) theo tỷ lệ do hội đồng quản trị tổng công ty quyếtđịnh hàng năm và được sử dụng để hỗ trợ tổn thất, thiệt hại trong quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp thành viên theo quy chế quản lý tài chínhcủa tổng công ty
Trang 10+ Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm: Dùng để trợ cấp cho người đanglàm việc tại doanh nghiệp đủ một năm trở lên bị mất việc làm và chi cho việcđào tạo chuyên môn kỹ thuật cho người lao động do thay đổi công nghệ haychuyển sang công việc mới.
Trợ cấp cho người lao động theo nguyên nhân khách quan như: laođộng dôi ra do thay đổi công nghệ, do liên doanh, do thay đổi tổ chức trongkhi chưa bố trí công việc khác hoặc chưa kịp giải quyết cho thôi việc
Mức trợ cấp cho thời gian mất việc làm Giám đốc và Chủ tịch Côngđoàn xét cụ thể theo pháp luật hiện hành
+ Quỹ phúc lợi: Quỹ này dùng để xây dựng, sửa chữa, bổ xung các côngtrìng phúc lợi chung trong nghành, hoặc với các đơn vị khác theo thoả thuận,chi cho hoạt động phúc lợi xã hội, thể thao, văn hóa, phúc lợi công cộng củatoàn thể công nhân viên trong doanh nghiệp; đóng góp cho quỹ phũc lợi xãhội( các hoạt động từ thiện, phúc lợi xã hội công cộng…);…
Ngoài ra, doanh nghiệp sử dụng quỹ này để chi trợ cấp khó khăn chongười lao động của doanh nghiệp đã về hưu, mất sức hay lâm vào cảnh khókhăn,không nơi nương tựa
Ngoài các loại quỹ trên người ta còn phân chi lợi nhuận để hình thànhnên quỹ khen thưởng
+ Quỹ khen thưởng dùng để :
Thưởng cuối năm hoặc thường kỳ cho cán bộ công nhân viên trongdoanh nghiệp, mức thưởng do HĐQT, Giám đốc( nếu doanh nghiệp không cóHĐQT) quyết định sau khi có ý kiến tham gia của Công đoàn doanh nghiệptrên cơ sở năng suất lao động, thành tích công tác và mức lương cơ bản củamỗi cán bộ, CNV trong doanh nghiệp
Thưởng đột xuất cho cá nhân, tập thể trong doanh nghiệp có sáng kiếncải tiến kỹ thuật mang lại hiệu quả kinh doanh
Việc phân chia lợi nhuận ra thành các quỹ là việc làm cần thiết, nó cóthể giúp cho doanh nghiệp phản ứng một cách nhanh chóng đối với những rủi
ro sảy ra và khích lệ tinh thần cho các cá nhân có thành tích Ngoài ra, việcphân chia lợi nhuận thành quỹ dự phòng tài chính tạo ra một tâm lý an tâm hơntrong quá trình sản xuất kinh doanh
Qua một số phân tích ở trên, ta có thể thấy đựơc lợi nhuận là vô cùngquan trọng đối với doanh nghiệp Vậy ngoài doanh nghiệp ra, lợi nhuận còn cóvai trò nào khác? Chúng ta sẽ xem xét ở phần dưói đây:
Trang 11Vai trò của lợi nhuận.
Lợi nhuận không chỉ là yếu tố cần thiết cho sự tồn tại của doanh nghiệp
mà còn là nguồn dinh dưỡng chính nuôi dưỡng nền kinh tế của một quốc gia.Lấy gì để thu thuế khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ? Việc xem xét vai trò củalợi nhuận đối với từng đối tượng cụ thể sẽ làm chúng ta hiểu tầm quan trọngcủa nó
*Đối với doanh nghiệp
Mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trường là lợi nhuận và tối đa hoá lợi nhuận Nó là chỉ tiêu tổng hộpnói lên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuận là động cơ, mụcđích của nhà đầu tư khi bỏ vốn ra để kinh doanh Điều này được thể hiện:
Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng để doanh nghiệp bổ xung vốnvào mở rộng sản xuất kinh doanh Bởi vì có lợi nhuận thì mới có thể trích lợinhuận, lập các quỹ trong doanh nghiệp như: Quỹ khuyến khích phát triển sảnxuất, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi…Từ các quỹ này, doanh nghiệp có thể bổxung vốn lưu động, vốn cố định khi điều kiện sản xuất – kinh doanh đòi hỏi
Và cũng chính từ các quỹ này, doanh nghiệp mới có điều kiện nâng cao đờisống của cán bộ công nhân viên về mọi mặt, góp phần khuyến khích người laođộng gắn bó với công việc, thúc đẩy hoạt động sản xuất – kinh doanh pháttriển
Lợi nhuận đạt được cao hay thấp sẽ tác động trực tiếp đến khả năngthanh toán, có lợi nhuận doanh nghiệp mới có thể thực hiện được các nghĩa vụvới Nhà nước thông qua thuế và các khoản phải nộp Lợi nhuận là nguồn tàichính để doanh nghiệp trang trải các khoản thua lỗ trước kia hay các khoản bịphạt do chậm nộp thuế, do vi phạm hợp đồng
Một số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ không đủ khả năng tái sản xuất giảnđơn( bù đắp hao phí trong quá trình sản xuất – kinh doanh) thì tình hình tàichính của doanh nghiệp sẽ xấu đi và hạn chế dần khả năng thanh toán củadoanh nghiệp
Ngược lại, doanh nghiệp làm ăn có lãi, thu được lợi nhuận cao thì khôngnhững có khả năng thanh toán vững chắc mà còn có điều kiện không ngừngđổi mới máy móc thiết bị, ứng dung khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuấtkinh doanh giúp cho doanh nghiệp có thể đứng vững trên thị trường và có uytín
* Đối với người lao động
Trang 12Lợi nhuận là nguồn chính để doanh nghiệp trích lập quỹ: quỹ trợ cấpmất việc làm, quỹ phúc lợi xã hội, quỹ khen thưởng, giải quyết nhu cầu xã hộicho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp Nguồn để trích lập các quỹnày càng lớn thì doanh nghiệp càng có điều kiện nâng cao tinh thần, vật chấtcho cán bộ công nhân viên, từ đó khích lệ họ hăng say trong công tác, nângcao tính chủ động, sáng tạo trong quá trình làm việc Chính vì thế, việc sảnxuất có lãi ngày càng cao chẳng những là yêu cầu, là cơ sở của tái sản xuất mởrộng mà còn là quyền lợi thiết thựccủa CBCNV trong doanh nghiệp.
Thực tế đã chứng minh: áp dụng tiền thưởng bằng lợi nhuận đã khuyếnkhích công nhân hăng say lao động, giảm bớt ngày nghỉ việc , có trách nhiệmđến cùng với sản phẩm, đặc biệt thúc đẩy năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật,tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu để hạ giá thành sản phẩm
* Đối với nền sản xuất xã hội
Trước hết ta thấy, thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước,nhằm thoả mãn nhu cầu nền kinh tế quốc dân, là nguồn duy trì bộ máy hànhchính, là nguồn củng cố và tăng cường nguồn lực quốc phòng, cải tiến đờisống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân Muốn thu được thuế thì doanhnghiệp phải làm ăn có lãi Sự phát triển của các doanh nghiệp tạo ra sự tích luỹtrong xã hội, tạo sự ổn định về mặt kinh tế cho một quốc gia, từ đó có sự ổnđịnh về chính trị
Lợi nhuận là yếu tố thúc đẩy sự phát triển xã hội, thông qua việc doanhnghiệp liên tục cải tiến khoa học kỹ thuật và mở rộng không ngừng để có đượcmức thu nhập như mong muốn Lấy ví dụ như trong thời kỳ bao cấp, sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp quốc doanh phụ thuộc hoàn toàn vào sự baocấp của Nhà nước, vốn do Nhà nước cấp phát hoàn toàn, sử dụng hiệu quả nhưthế nào doanh nghiệp hoàn toàn không chịu trách nhiệm, lỗ đã có Nhà nước
bù Vì thế trong thời kỳ này, doanh nghiệp làm ăn không năng động do độnglực kích thích bị thui chột, tình trạng thua lỗ kéo dài, từ đó nhìn toàn cảnh xãhội là nghèo nàn, lạc hậu
Từ khi xoá bỏ chế độ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, doanh nghiệpchuyển sang chế độ hoạch toán kinh doanh, bộ mặt nền kinh tế có sự thay đổihết sức tích cực Doanh nghiệp hoạt động có mục đích của nó, khiến cho nótrở nên năng động, sáng tạo và luôn đổi mới mình
Như vậy, có thể đi đến kết luận: lợi nhuận có vai trò vô cùng to lớn đốivới nền kinh tế, nó chính là động lực, mục tiêu để doanh nghiệp hoạt động và
Trang 13phát triển, là nguồn tích luỹ của xã hội, là sự thể hiện sức mạnh của nền kinh
tế
Trên đây, chúng ta thấy sự cần thiết khi doanh nghiệp làm ăn có lãi,nhưng việc tính toán một cách chính xác doanh nghiệp đó có thực sự có lợinhuận hay không là việc không phải dễ dàng Ngày nay, người ta đưa raphương pháp để tính toán lợi nhuận của doanh nghiệp, ta sẽ xem xét phần tiếptheo
1.2.Xác định lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.2.1 Các yếu tố cấu thành lợi nhuận của doanh nghiệp.
Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuấtkinh doanh trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường năng động, đểtăng cường khả năng cạnh tranh, thu đựơc nhiều lợi nhuận, doanh nghiệp có
xu hướng đa dạng hoá hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình trên nhiềulĩnh vực khác nhau Do đó, lợi nhuận của doanh nghiệp không chỉ đơn thuầnthu được từ quá trình sản xuất – kinh doanh mà có thể còn thu đựơc từ kết quảquá trình hoạt động tài chính hay là từ một hoạt động bất thường nào đó Lợinhuận của doanh nghiệp là tổng hợp của các lợi nhuận đó
Hoạt động kinh doanh là hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hànghoá, dịch vụ của các ngành sản xuất - kinh doanh chính và sản xuất – kinhdoanh phụ Lợi nhuận thu được từ hoạt động trên gọi là lợi nhuận từ hoạt độngsản xuất – kinh doanh
Hoạt động tài chính là hoạt động đầu tư tài chính ngắn hạn, dài hạnnhằm mục đích kiếm lời như đầu tư chứng khoán, cho thuê tài sản, kinh doanhbất động sản, buôn bán ngoại tệ Lãi thu được từ hoạt động trên gọi là lợinhuận thu đựơc từ hoạt động tài chính
Những hoạt động trên đều đã được doanh nghiệp hoạch định từ trước,
có kế hoạch, có sự chuẩn bị các hoạt động theo ý muốn Tuy nhiên, trong quátrình hoạt động của doanh nghiệp, có rất nhiều hoạt động không được hoạchđịnh từ trước mà xảy ra bất ngờ như thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, giảiquyết tranh chấp về vi phạm hợp đồng kinh tế, xử lý tài sản thừa thiếu chưa rõnguyên nhân Những hoạt động này cũng đem lại cho doanh nghiệp nhữngkhoản thu nhập, khoản thu này sau khi đã trừ đi các chi phí cho những hoạtđộng bất thường này gọi là lợi nhuận từ hoạt động bất thường
Trang 14Như vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm: lợi nhuận từ hoạt độngsản xuất – kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạtđộng bất thường.
Việc cần thiết bây giờ là làm thế nào có thể tính toán các khoản lợinhuận này? Chúng ta sẽ tính toán theo phương pháp sau:
1.2.2 Phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp.
Như đã định nghĩa ở trên, lợi nhuận được hiểu là phần chênh lệch giữadoanh thu và chi phí, nhưng thực tế thì cũng không hoàn toàn như vậy, bởi vìphần thu nhập này lại phải chịu một phần thuế thu nhập do Nhà nước đánh Vìthế, ta sẽ đưa ra hai khái niệm sau:
* Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp: bao gồm lợi nhuận từ hoạt độngkinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt động bấtthường
* Lợi nhuận sau thuế ( thu nhập sau thuế) của doanh nghiệp là chênh lệchgiữa lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong phần nghiên cứu dưới đây, lợi nhuận đề cấp là lợi nhuận trướcthuế, gọi chung là lợi nhuận của doanh nghiệp Như đã nói ở phần trên:
Thuế thu
nhập doanh
nghiệp
Thu nhập trước thuế
Thuế suât thuế thu nhập doanh nghiệp
Lợi nhuận sau
thuế
Lợi nhuận trước thuế
Thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 15Trong đó:
Doanh thu từ hoạt động bất thường là khoản thu về việc thanh lý,nhượng bán tài sản cố định, tiền thu từ vi phạm hợp đồng, thu các khoản nợkhó đòi mà đã nghi là đã mất
Chi phí hoạt động bất thường là những khoản chi như : chi phạt thuế, bịphạt vi phạm hợp đồng, chi cho thanh lý, nhượng bán tài sản cố định…
Thực ra đây là hợp đồng không thường xuyên và ít xảy ra trong doanhnghiệp nên tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động này thường rất nhỏ và có thể dễdàng hoạch toán trong một chu kỳ kinh doanh
Đối với những doanh nghiệp cho thuê tài chính, hay đối với các nhân hàng thìlợi nhuận thu được từ hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn nhất Doanh thu từhoạt đọng tài chính bao gồm: khoản thu từ việc mua bán trái phiếu, cổ phiếu,thu nhập từ hoạt động liên doanh liên kết, thu nhập từ hoạt động cho thuê tàisản, thu nhập từ hoạt động gửi tiền vào ngân hàng
Chi phí cho hoạt động tài chính là các chi phí cho việc mua bán chứngkhoán, chi phí cho hoạt động liên doanh, hợp doanh, góp vốn cổ phần, chi phícho hoạt động thuê tài chính…
Trong bài viết này, đang đứng nghiên cứu dưới góc độ doanh nghiệpthông thường, nên tỷ trọng từ hoạt động bất thường, hoạt động tài chính chiếm
tỷ trọng nhỏ, không phản ánh được kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.Phần lợi nhuận chiếm tỷ trọng lớn trong doanh nghiệp thông thường là lợinhuận từ hoạt động sản xuất kinh dona, và cũng là mục đích nghiên cứu chínhcủa bài viết này
Lợi nhuận = Doanh thu tiêu thụ - Chi phí hoạt động hoạt động kinh doanh sản phẩm dịch vụ kinh doanh
Tuy nhiên việc tính toán được doanh thu tiêu thụ sản phẩm và chi phícho hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp rất khó thực hiện, việc tính toánnày chỉ mang tính tương đối
Trang 16-Một sản phẩm được sản xuất ra, doanh nghiệp chưa thể coi là đã hoànthành công việc của mình, việc có bán được sản phẩm đó trên thị trường haykhông sẽ quyết định thắng lợi của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm của doanhnghiệp coi là hoạt động xuất bán sản phẩm Cho đơn vị mua để nhận được sốtiền về sản phẩm đó Quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được coi làhoàn thành khi doanh nghiệp được chấp nhận trả tiền của bên mua hàng Việchoàn thành quá trình tiêu thụ sản phẩm cũng có nghĩa là doanh nghiệp códoanh thu tiêu thụ sản phẩm Doanh thu của doanh nghiệp là số tiền mà kháchhàng chấp nhận trả Tuy nhiên khi khách hàng chấp nhận trả tiền , thì khoảntiền đó cúng chưa chắc chắn được coi hoàn toàn là doanh thu của doanhnghiệp, đôi khi hàng hoá có thể bị trả lại do kém chất lượng, hay do một vài lý
do nào đó, khách hàng trả lại hàng , vì vậy doanh nghiệp phải giám giá hàngbán, hoặc khấu cho khách
Do vậy trong nghị định 59 CP có quy định : “ Doanh thu từ hoạt độngkinh doanh là toàn bộ tiền bán sản phẩm, hàng hoá, cung ứng dịch vụ trên thịtrường sau khi đã trừ đi khác khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán,hàng bán bị trả lại (nếu có chứng từ hợp lệ), thu từ phần trợ giá của Nhà nướckhi thực hiện việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ theo yêu cuầ của Nhà nước”
Các sản phẩm , hàng hoá, dịch vụ đem tặng, biếu, cho hoặc tiêu dùngngay trong nội bộ doanh nghiệp cũng phải được hạch toán để xác định doanhthu
Thời điểm để xác định doanh thu là khi người mua hàng đã chấp nhậnthanh toán, không phụ thuộc đã thu hay chưa ở đây chiết khấu bán hàng là sốtiền thưởng tính trên tổng doanh thu mà doanh nghiệp trả cho khách hàng đãthanh toán tiền trước thời hạn quy định,
Giảm giá hàng bán là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hoá đơnhay cung cấp dịch vụ cho các nguyên nhân đặc biệt khác như hàng kém phẩmchất, không đúng quy cách Ngoài ra còn có khoản thưởng cho khách hàng đãmua một khối lượng lớn hàng hoá trong một đợt hay trong một khoảng thờigian nhất định
Hàng hoá bị trả lại là số hàng đã được coi là tiêu thụ ( đã chuyển giaoquyền sở hữu đã thu tiền hay chưa được chấp nhận thanh toán) nhưng bị ngườimua từ chối, trả cho người bán không tôn trọng hợp đồng kinh tế đã ký kết donhững nguyên nhân khác…
Như vậy:
Trang 17- Thuế gián thu là khoản thuế thu hộ cho Nhà nước như Thuế TTĐB,VAT…
Việc tính toán doanh thu cho hoạt động sản xuất kinh doanh tuy đã rấtphức tạp nhưng việc tính toán chí phí còn khó khăn hơn Chi phí hiểu theonghĩa chung nhất là tất cả những gì làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.Người ta có rất nhiều cách tiếp cận chi phí khác nhau,và từ đó cách phân loạikhoản chi của doanh nghiệp cũng khác nhau Có thể phân loại chi phí thànhchi phí sản xuất và chi phí tiêu thụ sản phẩm Chi phí cho hoạt động sản xuấtthì chỉ có ở những doanh nghiệp sản, và nó thường chiếm một tỷ trọng lớnnhất trong tổng các khoản chi phí của doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật tư,nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả công cho người lao động Dovậy chi phí sản xuất của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả cáchao phí về vật chất và về lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất sảnphẩm trong một thời kỳ nhất định Các chi phí này phát sinh có tính thườngxuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm Do đặc điểm của chi phísản xuất là chi phí hàng ngày gắn liền với từng vị trí sản xuất, từng loại sảnphẩm và từng loại hoạt động sản xuất kinh doanh, việc tổng hợp, tính toán chi
Lợi nhuận
từ HĐKD
Doanh thu thuần
Chi phí hoạt động kinh doanh
-Doanh thu
thuần
Tổng doanh thu
Các khoản giảm trừ doanh thu
-=
=
Tổng doanh thu -
Chiết khấu bán hàng -
- Thuế gián
thu
Trang 18phí sản xuất cần được tiến hành trong từng khoảng thời gian nhất định khôngphân biệt sản phẩm đã hoàn thành hay chưa hoàn thành Để quản lý và kiểmtra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, tính toán được kết quả tiếtkiệm chi phí ở từng bộ phận sản xuất và toàn doanh nghiệp, kiểm tra và phântích quá trình phát sinh chi phí và hình thành giá thành sản phẩm người ta cầnphân loại chi phí sản xuất Thông thường người ta sử dụng các phân loại chiphí như sau:
Thứ nhất: phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố, tức là sắp xếp các chi phí
có cùng tính chất kinh tế vào một loại, mỗi loại là một yếu tố chi phí, theocách phân loại này thì chi phí sản xuất bao gồm ba nhóm yếu tố sau:
+ Chi phí vật tư
+ Lương nhân công trực tiếp
+ Chi phí sản xuất chung
Thứ hai: phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục tính giá thành Cáchphân loại này dựa vào công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh của chi phí đểsắp xếp chi phí thành những khoản mục nhất định, qua đó, phân tích tác độngcủa từng khoản mục của chi phí đến giá thành
Thứ ba: phân loại chi phí sản xuất thành chi phí cố định và chi phí biếnđổi Phân loại chi phí theo cách này để có phương thức quản lý phù hợp vớitừng loại chi phí
Để quản lý tốt chi phí, ngoài phân loại chi phí, các doanh nghiệp cầnphải xem xét cơ cấu chi phí sản xuất để định hướng thay đổi tỷ trọng mỗi loạichi phí sản xuất
Cơ cấu chi phí sản xuất là tỷ trọng giữa các yếu tố chi phí trong tổng sốchi phí sản xuất Các doanh nghiệp trong cùng một ngành và giữa các ngànhkhác nhau có chi phí sản xuất khác nhau Cơ cấu chi phí sản xuất chịu tácđộng của nhiều yếu tố như: loại hình và quy mô sản xuất của từng doanhnghiệp, trình độ kỹ thuật, trang thiết bị, điều kiện tự nhiên, công tác tổ chức,năng lức quản lý, trình độ tay nghề của công nhân
Việc nhiên cứu cơ cấu chi phí có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó giúpcho doanh nghiệp:
-Xác định tỷ trọng và xu hướng thay đổi của từng yếu tố chi phí sản xuất-Kiểm tra gía thành sản phẩm và có biện pháp hạ giá thành sản phẩm.Đối với một doanh nghiệp sản xuất thì ngoài chi phí cho hoạt động sảnxuất ra các sản phẩm còn có:
Trang 19Chi phí tiêu thụ sản phẩm
Đối với các doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm là hết sức quan trọng Khốilượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ ảnh hưởng quyết định tới quy mô sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Để thực hiện tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệpcũng phải bỏ các chi phí nhất định
Chi phí lưu thông sản phẩm bao gồm: Chi phí trực tiếp tiêu thụ sảnphẩm; chi phí hỗ trợ Marketing và phát triển
Chi phí trực tiếp tiêu thụ sản phẩm bao gồm: chi phí chọn lọc, đóng gói;chi phí vận chuyển, bao bì, vận chuyển, bảo quản; chi phí thuê kho bến bãivv
Chi phí hỗ trợ Marketing và phát triển bao gồm: chi phí điều tra nghiêncứu thị trường; chi phí quảng cáo, giới thiệu sản phẩm; chi phí bảo hành sảnphẩm vv tỷ trọng của chi phí này có xu hướng tăng trong điều kiện nền kinh
Giá thành sản phẩm được hiểu theo nghĩa chung nhất là biểu hiện bằngtiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất hoặc
để sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định
Giữa giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất có sự giống nhau và khácnhau: chi phí sản xuất hợp thành giá thành sản phẩm, nhưng không phải toàn
bộ chi phí sản xuất phát sinh sản xuất trong kỳ đều được tính vào giá thànhsản phẩm trong kỳ Giá thành sản phẩm phản ánh lượng chi phí để hoàn thànhsản xuất hoặc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị hay một khối lượng sản phẩmnhất định, còn chi phí sản xuất và lưu thông sản phẩm thể hiện số chi phí màdoanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong một thời kỳ nhấtđịnh, thời kỳ này thường là một năm
Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, có thể phân biệt giá thànhsản xuất sản phẩm và giá thành tiêu thụ sản phẩm Giá thành sản xuất tiều thụ
Trang 20sản phẩm( đối với sản phẩm xây dựng là giá thành thi công ) bao gồm toàn bộchi phí bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất sản phẩm Giá thành tiêu thụ sảnphẩm còn được gọi là giá thành toàn bộ sản phẩm bao gồm toàn bộ chi phí đểhoàn thành cả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Trên giác độ kế hoạch hoá, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp đượcphân biệt thành giá thành kế hoặch và giá thành thực tế
Các doanh nghiệp hoạt động luôn phải quan tâm tới việc giảm chi phí,
hạ giá thành sản phẩm Hạ giá thành sản phẩm là điều kiện cơ bản để doanhnghiệp thực hiện tốt tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể hạ giá bán để tiêuthụ sản phẩm và thu hồi vốn nhanh Đồng thời, hạ giá thành là yếu tố để tănglợi nhuận
Hạ giá thành sản phẩm trong kỳ được xác định cho những sản phẩm sosánh được qua hai chỉ tiêu: mức giảm giá thành và tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm
Riêng đối với sản phẩm xây dựng cơ bản, người ta chỉ so sánh giá thànhthực tế với giá thành kế hoạch hoặc giá thành dự toán của khối lượng sảnphẩm trong cùng một kỳ
Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmdoanh nghiệp:
- Sự tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ
- Tổ chức lao động khoa học và chiến lược sử dụng lao động
- Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý tài chính
Ngoài cách phân loại trên, thường được các doanh nghiệp sản xuất ưa thích,người ta còn có cách phân loại sau:
Chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các chi phí có liên quanđến quá trình hoạt động sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp Đây cũng làmột cách tiếp cận phổ biến trong nền kinh tế thị trường
Dựa vào tính chất các yếu tố chi phí: chi phí hoạt động kinh doanh đượcchia thành : Chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, động lực( gọi tắt là chi phí vậttư) Chi phí vật tư phụ thuộc vào 2 yếu tố là mức tiêu hao vật tư và giá vật tư.Chi phí khấu hao tài sản cố định(KHTSCĐ), lưu ý là chi phí KHTSCĐ đượcxác định dựa vào nguyên giá TSCĐ cần tính khấu hao và tỷ lệ KHTSCĐ Chiphí tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương Chi phí bảo hiểm xãhội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn Chi phí dịch vụ mua ngoài Thuế vàcác chi phí khác
Trang 21Dựa vào nội dung các yếu tố chi phí: chi phí hoạt động kinh doanhđược chi phí gián tiếp.
Chi phí sản xuất trực tiếp bao gồm: Chi phí vật tư trực tiếp Chi phínhân công trực tiếp Chi phí sản xuất chung ,… Việc tính toán các khoản mụcnày cho ta biết tổng chi phí cần bỏ ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh, tuy nhiên việc tính toán giá thành sản xuất cúng hết sức cần thiết đểquyết định giá bán của sản phẩm, tính toán giá thành sản xuất, dựa vào côngthức sau:
Giá thành sản xuất = Chi phí + Chênh lệch
Riêng đối với doanh nghiệp thương mại:
Giá vốn hàng hoá = Giá vốn + chênh lệch hàng
hàng mua hoá tồn kho
Chênh lệch hàng hoá = Hàng hoá tồn - Hàng hoá
Tồn kho đầu kỳ tồn kho cuối kỳ
Ngoài các khoản chi phí trên, còn có các khoản chi phí khác như:
* Chi phí bán hàng: gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụsản phẩm hàng hoá và dịch vụ như: tiền lương, các khoản phụ cấp phải trả cho
Trang 22nhân viên bán hàng, tiếp thị, đóng gói, bảo quan, khấu khao TSCĐ, chi phí vậtliêu, bao bì, dụng cụ, đồ dụng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bảo hành,quảng cáo.
* Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm các chi phí quản lý kinh doanh,quản lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan tới toàn bộ hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp: tiền lương và các khoản phụ cấp trả choban giám đốc và nhân viên quản lý ở các phòng ban, chi phí vật liệu để dùngcho văn phòng, KHTSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp, các khoản thuế, lệphí, bảo hiểm, chi phí dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng doanh nghiệp vàcác chi phí khác chung cho toàn bộ doanh nghiệp như: lãi vay, dự phòng, phíkiểm toán, tiếp tân, tiếp khách, công tác phí
Phân loại các khoản mục chi phí trên được áp dụng cho các doanhnghiệp sản xuất, việc tính toán đưa ra công thức trên có vẻ khá đơn giản tuynhiên thực tế thì khó khăn hơn Cồn đối với các doanh nghiệp thương mại tínhtoán chi phí được thực hiện đơn giản hơn Giá vốn hàng bán trong các doanhnghiệp thương mại được tính theo công thức sau:
Giá vốn hàng hoá = Giá mua vào + Chi phí vận chuyện
Còn các khoản mục chi phí khác thì hoàn toàn tương tự
Các công thức trên để tính toán doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêulợi nhuận trong kỳ hoạch toán, tuy nhiên nó không thể thực sự đánh giá đượcdoanh nghiệp có làm ăn hiệu quả hay không Bởi vì lợi nhuận là chỉ tiêu tàichính cuối cùng, nên nó chịu tác động rất nhiều của các nhân tố chủ quan,khách quan khác Để đánh giá chất lượng sản xuất – kinh doanh của doanhnghiệp chỉ tiêu lợi nhuận và nhóm chỉ số khác nữa
1.2.3 Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp.
Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất- kinhdoanh và hiệu quả quản lý của doanh nghiệp Nó báo gồm một nhóm chỉ tiêunhư:
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm =
Trang 23Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm là tỷ số giữa thu nhập sau thuế trên doanhthu, phản ánh số lợi nhuận sau thuế có trên một đồng doanh thu Tỷ suất nàycàng lớn thì doanh nghiệp được đánh giá là làm ăn có lãi, có thể sử dụng chỉtiêu này để so sánh giữa các thời kỳ khác nhau, cũng thấy phần nào hiệu quảlàm ăn của doanh nghiệp.
* Tỷ số thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu ( Doanh lợi vốn chủ sởhữu) :
Chỉ tiêu này được so sánh qua các thời kỳ khác nhau của doanh nghiệp
và so với chỉ tiêu trung bình ngành Nếu chỉ tiêu này cao hơn qua các thờikỳvà cao hơn so với trung bình ngành thể hiện sự làm ăn có hiệu quả củadoanh nghiệp Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là mục tiêu quan trọng nhấttrong hoạt động quản lý tài chính của doanh nghiệp
Vấn đề khó khăn là tỷ lệ trung bình ngành của các chỉ tiêu không phải
dễ dàng có thể xác định được và độ chính xác không phải là tuyệt đối Nhưthực tế ở Việt Nam ta hiện nay, các tỷ số trung bình ngành của các tỷ số trênhầu như chưa được tính toán đến
*Doanh lợi tài sản:
ROA = Doanh lợi tài sản là tỷ số giữa thu nhập sau thuế trên tổng tài sản , phảnánh khả năng sinh lãi của doanh nghiệp tính trên một đồng giá thị tài sản đầu
tư vào sản xuất kinh doanh Qua chỉ tiêu này có thể đánh giá tình hình sử dụngtài sản, vật tư, tiền tệ … của doanh nghiệp.Từ đó có bịên pháp thích ứng khaithác khả năng sinh lời của tài sản, quản lý và sử dụng tài sản tiết kiệm chỉ tiêunày cần được so sánh với chỉ tiêu trung bình ngành và so sánh giữa các thời kỳvới nhau mới thấy được hiệu quả của quá trình sử dụng tài sản
*Tỷ suất lợi nhuận giá thành
Tỷ suất lợi nhuận trên giá thành là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận so vớigiá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ
Trang 24Công thức ;
t
Z
P g
T
Trong đó:
Tg ; tỷ suất lợi nhuận giá thànhP; lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ
Zt : giá trị toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiẹu thụ trong kỳ
Thông qua chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận giá thành có thể thấy rõ hiệu quảcủa chi phí bỏ vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong kỳ Nó cho biết cứ 100đồng chi phí sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
Việc sử dụng nhóm chỉ tiêu trên giúp chúng ta thấy được hiệu qủa hoạtđộng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp qua các thời kỳ và so với cácdoanh nghiệp khác cùng lĩnh vực Tuy nhiên, nó không giúp ta thấy đượcnhững nhân tố nào ảnh hưởng tới lợi nhuận Để làm được việc này cấn phải sửdụng phương pháp phân tích tài chính Dupont Với phương pháp này, nhàphân tích tài chính sẽ biết được nguyên nhân dẫn tới hiện tượng tốt xấu tronghoạt động của doanh nghiệp Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ sốtổng hợp phản ánh mức sinh lợi của doanh nghiệp như doanh lợi vốn chủ sởhữu (ROE) hay doanh lợi tài sản (ROA) thành tích các tỷ số có quan hệ nhânquả với nhau
ROE = = x = ROA x EM
EM gọi là số nhân vốn, phản ánh mức độ huy động vốn từ bên ngoài củadoanh nghiệp EM càng cao chứng tỏ khả năng huy động vốn của doanhnghiệp càng lớn
ROE phản ánh mức sinh lợi của một đồng VCSH – mức tăng tài sản chovốn chủ sở hữu Còn ROA ( Thu nhập sau thuế trên tài sản) phản ánh mức sinhlợi của toàn bộ danh mục tài sản của doanh nghiệp
Trang 25Ta có thể phân tích phương pháp Dupon:
-
25-(:)(:)
Doanh thu Tổng chi
Chi phí QLDN
Chi phí HĐTC
Chi phí bất thường
Giá trị CLTSCĐ
Đầu tư TC dài hạn
Tiền
Đầu tư TC ngắn hạn
Phải thu
Tồn kho
TSLĐ
DL vốn chủ
Trang 26Nhìn vào sơ đồ trên, thấy được yếu tố nào trực tiếp, gián tiếp ảnh hưởngtới doanh lợi vốn chủ, để từ đó có những biện pháp hạn chế tác động xấu tới tỷ
số này và kích thích những nhân tố có tác động tốt
Nhìn vào vế trái của sơ đồ trên ta cũng có thể thấy được nhân tố nào làmtăng, nhân tố nào làm giảm thu nhập sau thuế của doanh nghiệp Ngoài nhữngphương pháp để tính toán khi nào doanh nghiệp làm ăn có lãi, người ta còn sửdụng phương pháp phân tích điểm hoà vốn
Phân tích điểm hoà vốn:
Điểm hoà vốn là tại đó, doanh thu bán hàng bằng chi phí bỏ ra, hoặc làmột điểm mà tại đó lợi nhuận bằng không Như vậy, trên điểm hoà vốn sẽ cólãi và dưới điểm hoà vốn sẽ bị lỗ Phân tích điểm hoà vốn sẽ giúp cho các nhàquản trị tài chính xem xét kinh doanh trong mối liên hệ giữa nhiều yếu tố tácđộng tới lợi nhuận, cho phép xác định rõ ràng vào thời điểm nào trong kỳ kinhdoanh, hay mức sản xuất tiêu thụ bao nhiêu sản phẩm công ty không bị lỗ, từ
đó có các quyết định chủ động và tích cực để hoạt động kinh doanh đạt hiệuquả cao Về mặt toán học thì điểm hoà vốn là điểm giao nhau của đường biểudiễn doanh thu với đường biểu diển tổng chi phí:
Nếu gọi:
F : là ∑? chi phív: là chi phí khả biến cho một sản phẩmQ: là sản lượng hoà vốn
g: là giá bán một đơn vị spVậy∑?chi phí khả biến là: VQ, ∑?chi phí sản xuất là : y1 = F + vQ
∑? doanh thu tại thời điểm hoà vốn : y2 = gQ
Tại điểm hoà vốn ta có:
∑ ? Doanh thu =∑? Chi phí
Q x g = F + vQ
Qg - vQ = FQ(g – v ) = F
Trang 27Q =
Đồ thị của điểm hoà vốn được vẽ như sau:
Trục tung phản ánh doanh thu ( hay tổng chi phí ), trục hoành phản ánhsản lượng hoạt động Doanh thu được tượng trưng bởi đường thẳng xuất phát
từ góc độ 0, đường tổng chi phí luôn xuất phát tại F và độ dốc của nó nhỏ hơn
độ dốc của đường doanh thu Hai đồ thị này cắt nhau tại điểm M, diểm M ( với
∑?doanh thu y2 = ∑?chi phí y1 tương ứng với sản lượng q0 ) được gọi là điểmhoà vốn và Q0 được gọi là sản lượng hoà vốn Những gía trị nào của Q < Q0
phản ánh phạm vi sản lượng bị lỗ ngược lại giá trị nào của Q > Q0 phản ánhphạm vi sản lượng có lãi
Hình 1: Đồ thị điểm hoà vốn
Cũng như các công cụ quản lý tài chính khác, mô hình phân tích điểmhòa vốn cũng có những hạn chế của nó Nghiên cứu mô hình này phải đặttronh những điệu kiện giả thiết nhất định:
- Toàn bộ chi phí được phân biệt hợp lý thành hai bộ phận là chi phíbiến đổi và chi phí cố định
- Định phí luôn cố định trong mọi mức độ sản lượng
- Biến phí đơn vị không thay đổi với bất kể số lượng sản xuất là baonhiêu
Y
1=F+vQ
Trang 28- Giá bán như nhau ở mọi mức độ của sản lượng tiêu thụ
- Doanh nghiệp chỉ tiêu thụ một loại sản phẩm
Tuy có những hạn chế nhát định nhưng lý thuyết về điểm hoà vốn vẫn
có giá trị nghiên cứu trong lý luận và thực tiễn
Từ những phân tích trên, ta thấy được những nhân tố nào ảnh hưởngđên doanh thu và chi phí thì cũng sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanhnghiệp
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp
* Nhóm nhân tố thuộc về doanh thu
- Khối lượng sản phẩm
Khối lượng sản phẩm tiêu thụ có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu vì;
Theo quan hệ toán, thì rõ ràng khối lượng sản phẩm tiêu thụ tỷ lệ thuậnvới doanh thu, do đó khối lượng sản phẩm tiêu thụ tăng thì doanh thu tăng,khối lượng sản phẩm tiêu thụ sản phẩm giảm thì doanh thu giảm Trên thực tế,doanh nghiệp phải bán được nhiều hàng thì mới hi vọng thu được nhiều tiền
Không phải doanh nghiệp cứ nhập về bao nhiêu hàng là có thể tiêu thụđược hết số sản phẩm đó Khối lượng hàng hoá tiêu thụ phụ thuộc vào nhiềuyếu như quy mô của doanh nghiệp, tình hình tổ chức công tác tiêu thụ sảnphẩm, việc ký hợp đồng với khách hàng, việc giao hàng, vận chuyển và thanhtoán tiền hàng
+ Giá cả sản phẩm
Nhìn vào công thức tính doanh thu tiêu thụ sản phẩm ta thấy giá cả cũng
tỷ lệ thuận với doanh thu và ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu tiêu thụ sảnphẩm Nếu giá cả tăng thì doanh thu tiêu thụ tăng và ngược lại( đối với từngmặt hàng) Cùng một loại sản phẩm nhưng nếu doanh nghiệp bán ở các mứcgiá khác nhau thì doanh thu khác nhau Để đạt được doanh thu mong muốndoanh nghiệp phải linh hoạt trong việc xác định mức giá hợp lý, vừa khuyếnkhích được mọi người tiêu dùng, vừa trang trải được chi phí bỏ ra
Doanh thubán hàng
= Khối lượng
sản phẩm tiêuthụ
+ Giá bán đơn vị
sản phẩm
Trang 29Hầu hết những sản phẩm có vai trò quan trọng, có tính chất chiến lượcđối với nền kinh tế quốc dân thì nhà nước sẽ còn định giá, còn các sản phẩmkhác căn cứ vào cung cầu thị trường và quyết định giá bán.
Nhìn chung, nếu đảm bảo được chất lượng sản phẩm thì giá cả sẽ trởthành một vũ khí cạnh tranh khá sắc bén của mỗi doanh nghiệp Các doanhnghiệp làm tốt công tác quản lý, tiết kiệm, giảm được chi phí, hạ giá thành thì
có thể hạ giá bán so với nhiều khách hàng, mở rộng thì trường, không ngừngnâng cao được doanh thu để từ đó nhằm tăng lợi nhuận
+Kết cấu mặt hàng tiêu thụ
Một doanh nghiệp có thể nhập về nhiều loại hàng hoá với tỷ trọng khácnhau Hầu hết hiện nay các doanh nghiệp đều sử dụng chính sách “đa dạng hoásản phẩm”, tức là nhiều loại sản phẩm Mỗi loại có nhiều chủng loại, kích cỡ,mầu sắc giá cả khác nhau để đáp ứng nhu cầu khác nhau Nếu mặt hàng có giábán cao và chiếm tỷ trọng lớn mà sản lượng tiêu thụ tăng nhanh thì doanh thutiêu thụ sản phẩm tăng nhanh, ngược lại mặt hàng có giá bán thấp và chiếm tỷtrọng nhỏ mà sản lượng tăng nhanh thì doanh thu tiêu thụ sản phẩm có tăngnhưng tăng chậm
Việc thay đổi kết cấu sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp không chỉ phụthuộc vào giá cả mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện sản xuất cụthể của doanh nghiệp, nhu cầu thị trường mặt hàng này tăng, mặt hàng kiagiảm
Việc thay đổi kết cấu tiêu thụ trước hết là do tác động của nhu cầu thịtrường, tức là do tác động của các nhân tố khách quan Mặt khác, để đáp ứngđược nhu cầu thường xuyên biến động, bản thân doanh nghiệp phải vận động
từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, bán hàng và khi đó tác động này lại là tácđộng mang yếu tố chủ quan trong công tác quản lý của công ty Từ sự tác độngcủa nhân tố này doanh nghiệp sẽ phải nắm bắt nhu cầu thị trường để đưa ranhững quyết định điều chỉnh hợp lý
Như vậy, để có được kết cấu mặt hàng tiêu thụ hợp lý, đảm bảo doanhthu tiêu thụ sản phẩm không ngừng nâng cao lợi nhuận, các doanh nghiệp cầnphải bám sát thị trường
+ Chất lượng hàng hoá bán ra thị trường
Chất lượng sản phẩm là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ sảnphẩm nên nó ảnh hưởng gián tiếp đến doanh thu tiêu thụ