387-397 This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn KHẢO SÁT Ý KIẾN PHẢN HỒI CỦA CÁC TRƯỜNG THỰC HÀNH SƯ PHẠM VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH THƯỜNG XUYÊN TRONG ĐÀO TẠO CỬ
Trang 1Educational Sciences, 2021, Volume 66, Issue 4AB, pp 387-397
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn
KHẢO SÁT Ý KIẾN PHẢN HỒI CỦA CÁC TRƯỜNG THỰC HÀNH
SƯ PHẠM VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH THƯỜNG XUYÊN TRONG ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT
Đỗ Thị Thanh Thuỷ, Đinh Nguyễn Trang Thu, Phan Thị Hồ Điệp,
Bùi Thị Anh Phương và Đào Thị Phương Liên
Khoa Giáo dục Đặc biệt, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tóm tắt Với các khối ngành sư phạm nói chung và ngành Sư phạm Giáo dục Đặc biệt nói
riêng, thực hành sư phạm thường xuyên (THSPTX) là hoạt động đào tạo quan trọng, giúp sinh viên rèn luyện, hình thành và phát triển hệ thống kĩ năng nghề nghiệp cũng như các phẩm chất của người giáo viên tương lai Để hoạt động thực hành thường xuyên trong chương trình đào tạo được tổ chức hiệu quả, chất lượng, việc thường xuyên lấy ý kiến phản hồi của các trường thực hành là rất cần thiết Việc này còn nhằm tăng cường mối quan hệ gắn kết giữa cơ sở đào tạo giáo viên với các trường thực hành, đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn đánh giá kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học Bài viết phản ánh kết quả khảo sát ý kiến phản hồi của các trường thực hành sư phạm thường xuyên ngành Giáo dục đặc biệt về công tác chuẩn bị trước khi sinh viên xuống trường thực hành, nội dung THSPTX của sinh viên tại trường, mức độ đáp ứng của giáo viên hướng dẫn THSPTX, mức độ đáp ứng của sinh viên Khoa Giáo dục Đặc biệt khi THSPTX tại trường, khả năng đáp ứng của trường THSPTX đối với hoạt động THSPTX Kết quả nghiên cứu có đóng góp nhất định trong việc cung cấp thông tin tham khảo, làm cơ
sở cho việc điều chỉnh, rút kinh nghiệm trong triển khai THSPTX được hiệu quả và chất lượng hơn
Từ khóa: thực hành sư phạm thường xuyên, giáo dục đặc biệt, đào tạo giáo viên giáo dục
đặc biệt, trường thực hành giáo dục đặc biệt
1 Mở đầu
Nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam cũng đã nhấn mạnh đến vai trò và ý nghĩa của việc thực hành sư phạm đối với sinh viên sư phạm Các nghiên cứu này đã cho thấy việc thực hành, thực tập đối với sinh viên sư phạm có tầm quan trọng đặc biệt, là một vấn đề thiết thực, cần được quan tâm và nghiên cứu nghiêm túc, khoa học [1, 2]
Các nghiên cứu tiêu biểu ở nước ngoài có thể kể đến là của các tác giả người Liên Xô như: X.I.Kixegof với nghiên cứu “Hình thành các kĩ năng, kĩ xảo sư phạm cho sinh viên trong điều kiện giáo dục đại học”; A.I.Piscounôv với công trình nghiên cứu “Những vấn đề đào tạo giáo dục đại học” Các nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề đào tạo giáo dục đại học, tổ chức và nội dung của công tác thực hành - thực tập sư phạm nói chung và vấn đề của công tác tập luyện các
kĩ năng giảng dạy nói riêng cho sinh viên trong các trường đại học sư phạm
Ngày nhận bài: 20/7/2021 Ngày sửa bài: 24/8/2021 Ngày nhận đăng: 31/8/2021
Tác giả liên hệ: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Địa chỉ e-mail: dttthuy@hnue.edu.vn
Trang 2Ở Australia có các nghiên cứu của J.B.Bigss và R.Tellfer với công trình “The process of learning”; K.Barry và L.King với công trình “Beginning teaching” đã nghiên cứu thực hành trong đào tạo giáo viên ở Australia [1]
Ở Việt Nam, chương trình, quy chế thực hành và thực tập sư phạm đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thống nhất cho tất cả các trường đại học sư phạm, đã nhiều lần được sửa đổi
bổ sung (bắt đầu từ những năm 1961 cho đến nay) Một số các hội thảo bàn luận về trường thực hành với vấn đề đào tạo nghiệp vụ của các trường sư phạm đề cập đến vai trò của trường thực hành sư phạm trong việc rèn luyện và chuẩn hoá kĩ năng nghiệp vụ cho sinh viên [1]
Quá trình đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm là một quá trình tổ chức có kế hoạch, theo một mục đích nhất định, trong một thời gian liên tục và có hệ thống [3] Thực hành sư phạm nói chung là quá trình quan trọng nhằm hình thành những kĩ năng sư phạm cho sinh viên để trở thành một người giáo viên trong tương lai Thực hành sư phạm ngành Giáo dục đặc biệt với đặc thù của ngành học cũng sẽ có những nét đặc thù riêng, đó là các hoạt động thực hành các kĩ năng chăm sóc, giáo dục và dạy học cho trẻ khuyết tật tại các cơ sở có trẻ khuyết khuyết tật đang học tập
Năng lực người học đạt được sau khi tốt nghiệp là khả năng làm việc cá nhân và làm việc nhóm trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc an toàn nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp và tâm huyết với nghề; bao gồm kiến thức, kĩ năng, tính chủ động sáng tạo trong giải quyết các vấn đề liên quan đến ngành/chuyên ngành tương ứng đối với mỗi trình độ đào tạo Các trường/cơ sở thực hành đóng vai trò rất quan trọng trong việc góp phần rèn luyện kĩ năng, phương pháp dạy học, phương pháp giáo dục, phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên sư phạm nói chung và sinh viên ngành Giáo dục đặc biệt nói riêng
Việc thường xuyên tìm hiểu, thu nhận những ý kiến phản hồi từ các cơ sở/các trường thực hành về việc triển khai, tổ chức hoạt động thực hành cho sinh viên sẽ góp phần giúp cho cơ sở đào tạo có những đánh giá khách quan và có những điều chỉnh kịp thời, là cơ sở để có những đổi mới, điều chỉnh, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của chương trình đào tạo hiện hành cũng như định hướng chương trình đào tạo trong tương lai, đáp ứng yêu cầu của quy định
về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học [3] Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, chúng tôi đã thực hiện khảo sát ý kiến phản hồi của các trường/cơ sở thực hành sư phạm ngành Giáo dục đặc biệt để tìm hiểu những yếu tố tích cực, những hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả thực hành sư phạm của sinh viên ngành Giáo dục đặc biệt
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1 Thực hành sư phạm thường xuyên
Thực hành sư phạm thường xuyên (THSPTX) được tiến hành song song với việc học các môn học trong chương trình đào tạo Trong thực hành sư phạm, sinh viên được làm quen, quan sát, thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể tại trường thực hành sư phạm như: tìm hiểu về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận, cá nhân ở trường phổ thông; phân tích chương trình phổ thông; soạn giáo án, dự giờ và phân tích giờ dạy của giáo viên hướng dẫn, quay các video clip trình bày các chủ đề liên quan tới giáo dục [2]
THSPTX ngành Giáo dục Đặc biệt cũng được tiến hành theo các bước và các nội dung của thực hành ngành sư phạm nói chung, tuy nhiên hoạt động thực hành sẽ được triển khai ở các trường hoặc trung tâm giáo dục chuyên biệt hoặc giáo dục hòa nhập, nơi có trẻ khuyết tật với những nhu cầu đặc biệt cùng học với nhau hoặc với các trẻ không khuyết tật Trong THSPTX, sinh viên sẽ nghiên cứu, phân tích các chương trình giáo dục chung và chương trình giáo dục
Trang 3389
dành cho trẻ khuyết tật trong lớp học hòa nhập trẻ khuyết tật hoặc lớp học chuyên biệt của trẻ khuyết tật, soạn các giáo án, dự giờ và phân tích giờ dạy … trong lớp học có trẻ khuyết tật
- Kế hoạch thực hành sư phạm ngành Giáo dục Đặc biệt:
+ Kế hoạch THSPTX được xây dựng căn cứ vào chương trình đào tạo ngành Giáo dục Đặc biệt + Kế hoạch thực hành sư phạm ngành Giáo dục Đặc biệt cũng gồm các nội dung chính như các ngành sư phạm nói chung: Mục đích yêu cầu; nội dung; thời gian, địa điểm; đơn vị và cá nhân thực hiện; cách thức tổ chức công tác thực hành sư phạm và kinh phí cho hoạt động thực
hành sư phạm
- Nội dung thực hành sư phạm ngành Giáo dục Đặc biệt:
Nội dung thực hành sư phạm được tập trung chủ yếu như sau:
+ Tìm hiểu các hoạt động giáo dục trong trường học chuyên biệt và hòa nhập trẻ khuyết tật; + Tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục chuyên biệt và giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật; + Tập làm các thao tác, rèn kĩ năng các công việc dạy học, giáo dục trẻ khuyết tật;
+ Tập làm giáo viên trong các hoạt động dạy học, các hoạt động giáo dục của trường học
và lớp học có trẻ khuyết tật;
+ Tham gia các hoạt động chuyên môn của tập thể giáo viên, nhà trường nơi có trẻ khuyết tật tham gia học tập
2.1.2 Trường thực hành sư phạm ngành Giáo dục Đặc biệt
Trường thực hành sư phạm có thể được coi là “giảng đường thứ hai” của sinh viên các trường sư phạm, nơi sinh viên có thể được củng cố, bổ sung và nâng cao kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp mà mình đã được lĩnh hội từ các thầy, cô ở cơ sở đào tạo giáo viên [2]
Dựa vào khái niệm trường thực hành sư phạm trong Quy chế hoạt động của trường thực
hành sư phạm (ban hành kèm theo Thông tư số 16/2014/TT-BGDĐT ngày 16 tháng 5 năm 2014
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho thấy: Trường thực hành là cơ sở thực hành của
sinh viên sư phạm [4] Theo cách hiểu này, khái niệm “trường thực hành” và “cơ sở thực hành”
có thể hoán vị cho nhau
Khái niệm về trường thực hành sư phạm ngành Giáo dục Đặc biệt (hay còn gọi là cơ sở thực hành sư phạm ngành Giáo dục Đặc biệt) có những đặc điểm đặc thù của ngành học và phù hợp với ngành đào tạo cũng như thực tiễn trong bối cảnh hiện nay của giáo dục đặc biệt ở Việt Nam Do đó khái niệm này sẽ được hiểu là bao gồm các trường mầm non/trường phổ thông có trẻ khuyết tật, các trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật hoạt động theo phương thức giáo dục chuyên biệt hoặc giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật, trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên ngành Giáo dục đặc biệt hoặc trực thuộc cơ quan quản lí giáo dục địa phương
Chính vì ý nghĩa đặc thù này của khái niệm trường thực hành của ngành Giáo dục đặc biệt
nên trong trình bày phân tích kết quả nghiên cứu, chúng tôi có sử dụng khái niệm cơ sở thực
hành sư phạm ngành Giáo dục đặc biệt với nghĩa thay thế cho khái niệm trường thực hành sư phạm ngành/trường thực hành Giáo dục đặc biệt
Cơ sở đào tạo giáo viên ngành Giáo dục đặc biệt chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lí giáo dục địa phương lựa chọn, phê duyệt các trường mầm non, trường phổ thông và trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật có đủ các điều kiện được giao nhiệm vụ là cơ sở thực hành sư phạm ngành Giáo dục đặc biệt trong từng giai đoạn của chương trình đào tạo
- Trường thực hành sư phạm ngành Giáo dục đặc biệt đáp ứng thỏa mãn các yêu cầu theo quy định chung và có các yếu tố đặc trưng kèm theo, cụ thể:
Trang 4+ Mục tiêu của trường thực hành sư phạm ngành Giáo dục Đặc biệt: Góp phần rèn luyện
kĩ năng, phương pháp dạy học, phương pháp giáo dục, phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên sư phạm ngành Giáo dục Đặc biệt;
+ Nhiệm vụ và quyền hạn của trường thực hành sư phạm trong tổ chức đào tạo thực hành cho sinh viên ngành Giáo dục Đặc biệt: Phối hợp với cơ sở đào tạo giáo viên tổ chức hướng dẫn
thực hành sư phạm, thực tập sư phạm và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên cho sinh viên; Phối hợp tổ chức thực hiện các hoạt động nghiên cứu, thực nghiệm khoa học giáo dục chung và Giáo dục Đặc biệt nói riêng; Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục ngành giáo dục đặc biệt, cải tiến nội dung, phương pháp đào tạo thực hành trong đào tạo giáo viên Giáo dục Đặc biệt; Phát triển các nguồn lực để đáp ứng yêu cầu của hoạt động thực hành sư phạm Giáo dục Đặc biệt
2.1.3 Chương trình đào tạo ngành Giáo dục Đặc biệt
Theo Quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học và quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ ban hành ngày 1/6/2015 [5], chương trình đào tạo ngành Giáo dục Đặc biệt được hiểu là hệ thống kiến thức lí thuyết và thực hành được thiết kế đồng bộ với phương pháp giảng dạy, học tập và đánh giá kết quả học tập để đảm bảo người học tích luỹ được kiến thức và đạt được năng lực cần thiết đối với trình độ của giáo dục đại học ngành Giáo dục Đặc biệt
2.2 Ý kiến phản hồi của các trường thực hành sư phạm thường xuyên trong đào tạo cử nhân sư phạm ngành Giáo dục Đặc biệt
2.2.1 Thông tin chung về nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Để có những điều chỉnh tích cực cho tổ chức hoạt động THSPTX trong đào tạo cử nhân ngành Giáo dục Đặc biệt của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nhóm nghiên cứu (của Khoa Giáo dục Đặc biệt) đã triển khai khảo sát lấy ý kiến phản hồi của 34 cơ sở thực hành ngành Giáo dục Đặc biệt về việc tổ chức hoạt động thực hành sư phạm thường xuyên (THSPTX) Kết quả đánh giá mức độ hài lòng của các cơ sở THSPTX đối với hoạt động triển khai THSPTX sẽ là cơ sở để Khoa GD ĐB có những điều chỉnh, cải tiến để sự phối hợp cũng như triển khai hoạt động đáp ứng yêu cầu chất lượng đào tạo tốt hơn
- Thời gian nghiên cứu: Phiếu hỏi được thực hiện trong tháng 6 năm 2021; các thông tin
phỏng vấn và trao đổi được thu thập trong quá trình thực hành tại các trường (năm học 2019 - 2020)
- Địa bàn khảo sát: Nghiên cứu khảo sát tại 34 cơ sở THSPTX Giáo dục Đặc biệt trên địa
bàn thành phố Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng
- Thông tin của người được khảo sát:
+ Nghiên cứu khảo sát ý kiến của 34 GV và cán bộ quản lý giáo dục ở 34 trường THSPTX Các trường này đều đã tham gia phối hợp đào tạo kĩ năng thực hành sư phạm Giáo dục Đặc biệt trong chương trình đào tạo cử nhân sư phạm ngành Giáo dục Đặc biệt
+ Tỉ lệ giới tính của người được khảo sát: Tỉ lệ giới tính chiếm đa số (94,1%) là nữ giới, số
ít (5,9%) là nam giới Tỉ lệ này cũng phản ánh thực tế phân bổ giới tính đội ngữ cán bộ/giáo viên đang làm việc trong ngành GD ĐB hiện nay (ưu thế là nữ giới)
+ Vị trí công tác của người được khảo sát: Người được khảo sát có tỉ lệ lớn nhất (47,1%)
là giáo viên, sau đó là tỉ lệ (32,4%) người được khảo sát là cán bộ quản lí trường/trung tâm/quản
lí phòng chuyên môn giáo dục đặc biệt Sự đa dạng các vị trí công tác (vừa ở vị trí quản lí tổ chức, vừa ở vị trí trực tiếp hướng dẫn) của người được khảo sát sẽ góp phần cung cấp các thông tin sát thực, toàn diện, khách quan về nội dung được khảo sát
Trang 5391
Hình 1 Tỉ lệ giới tính của người tham gia khảo sát
Hình 2 Vị trí công tác của người tham gia khảo sát
ở các trường thực hành sư phạm ngành Giáo dục Đặc biệt
+ Thời gian tham gia phối hợp hoạt động đào tạo thực hành ngành Giáo dục Đặc biệt: Có 50% cơ sở thực hành có thời gian đã tham gia phối hợp đào tạo thực hành cho đào tạo cử nhân ngành GDĐB từ 5 năm trở lên, có 41,2% cơ sở đã tham gia tiếp nhận sinh viên đào tạo thực hành trong vòng 1 năm, số ít (9,8%) các cơ sở đã tham gia đào tạo thực hành từ 2 đến 3 năm Thời gian gắn bó của cơ sở thực hành cũng thể hiện số năm kinh nghiệm trong hướng dẫn sinh viên TH, đây là yếu tố góp phần có cái nhìn sâu sắc, có cách đánh giá phong phú, sát thực và toàn diện ở cả các cơ sở có kinh nghiệm và ít kinh nghiệm
Hình 3 Thời gian tham gia phối hợp hoạt động đào tạo thực hành sư phạm
ngành Giáo dục Đặc biệt của các trường thực hành
47,1 32,4
Trang 6- Nội dung khảo sát :
+ Sự chuẩn bị (các thủ tục hành chính) trước khi sinh viên xuống trường thực hành (TH) + Nội dung TH của sinh viên tại trường thực hành
+ Mức độ đáp ứng (chuyên môn, tinh thần thái độ) của giáo viên hướng dẫn trong hoạt động TH + Mức độ đáp ứng (chuyên môn và tinh thần thái độ) của sinh viên Khoa Giáo dục Đặc biệt khi TH tại trường thực hành
+ Mức độ đáp ứng (về điều kiện cơ ở vật chất) của trường TH đối với hoạt động THSPTX
+ Những ý kiến, góp ý của các cơ sở để việc triển khai THSPTX được hiệu quả và chất lượng hơn
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phiếu hỏi online và phỏng vấn, trao đổi trực tiếp cán
bộ quản lí và giáo viên ở các trường TH
2.2.2 Kết quả nghiên cứu
* Phản hồi của các trường thực hành sư phạm thường xuyên về công tác chuẩn bị trước khi sinh viên xuống trường thực hành
- Khi được hỏi về mức độ hài lòng về công tác chuẩn bị trước khi sinh viên xuống trường thực hành, kết quả thu được qua phiếu hỏi như sau: hầu hết (26/34 cơ sở, chiếm 74,2%) các cơ
sở đều đánh giá ở mức “hài lòng”, có tỉ lệ ít (8/34, chiếm 25,8%) là hài lòng nhưng vẫn cần điều chỉnh để được tốt hơn
Những ưu điểm mà các cơ sở bày tỏ sự “hài lòng” là: đoàn thực hành thực hiện nghiêm túc,
có sự phối hợp hướng dẫn sinh viên khoa học khi chuẩn bị đến thực hành; các thông báo kế hoạch
cụ thể, và có tiến độ rõ ràng; có sự chuẩn bị chu đáo trong phân công công việc (có tính đến các tình huống thay thế) và chỉ đạo khoa học giúp cho các trường thực hành có thể chủ động phối hợp triển khai các hoạt động thực hành cho sinh viên
Kết quả phỏng vấn cán bộ quản lí ở các trường thực hành cũng cho kết quả tương tự khi các ý kiến thống nhất và tập trung ghi nhận về mức độ hài lòng với công tác liên hệ của khoa
Hình 4 Mức độ hài lòng đối với công tác chuẩn bị trước khi sinh viên xuống trường thực hành sư phạm thường xuyên
Kết quả phỏng vấn giáo viên (cô N.T.H) cho biết: “Việc liên hệ thực hành của khoa trước khi cho sinh viên xuống trường thực hành rất rõ ràng, đảm bảo kế hoạch báo sớm, trước 2 hoặc
3 tuần, thậm chí là sớm hơn, các nội dung trong công văn chỉ đạo rõ kế hoạch các nội dung thực hành, thời gian thực hành và cán bộ hướng dẫn thực hành Điều đó giúp chúng tôi chủ động chuẩn bị, sắp xếp, bố trí các công việc và các lớp học để sinh viên xuống thực hành được tốt Ngoài ra, trước ngày xuống thực hành 2,3 ngày, cán bộ của khoa sẽ liên hệ lại với chúng tôi, vì vậy, có vấn đề gì phát sinh hoặc thay đổi, chúng tôi đều kịp thời giải quyết”
Các cơ sở đều hài lòng với công tác liên hệ, chuẩn bị cho sinh viên trước khi xuống trường (không có ý kiến đề xuất để điều chỉnh việc liên hệ) Điều này cũng phản ảnh hiệu quả cách thức làm việc trong tổ chức thực hành của Khoa Giáo dục Đặc biệt và Trường Đại học Sư phạm
Trang 7393
Hà Nội trong phối hợp làm việc với các cơ sở trong tổ chức thực hiện chương trình đào tạo thực hành
* Phản hồi về nội dung thực hành của sinh viên tại trường thực hành sư phạm thường xuyên
Khi được hỏi về mức độ hài lòng đối với nội dung sinh viên thực hiện ở trường thực hành, kết quả thu được qua phiếu hỏi như sau: Có 31/34 cơ sở (chiếm 91,2%) hoàn toàn “Hài lòng”, chỉ có 3/34 cơ sở (chiếm 8,8%) là có ý kiến “Hài lòng nhưng cần điều chỉnh để cho tốt hơn”
Hình 5 Mức độ hài lòng đối với nội dung thực hành tại cơ sở
Sự hài lòng được thể hiện cụ thể ở các khía cạnh như sau: nội dung kiến thức phù hợp với trường THSPTX, có sự điều chỉnh cho phù hợp với chương trình giáo dục ở các trường thực hành, nội dung thực hành kĩ năng phù hợp, kiến thức sát với thực tiễn, thiết thực Do điều kiện thực tế, trong khảo sát này chưa có điều kiện tìm hiểu, /đánh giá mức độ hài lòng đối với từng nội dung cụ thể
Một số góp ý: nên bổ sung nội dung làm việc với phụ huynh; điều chỉnh cân đối thời lượng
TH và nội dung yêu cầu thực hành môn học, các đợt thực hành nên chia nhỏ thời lượng và tổ chức ngay từ năm thứ nhất để cho sinh viên được làm quen sớm với trường thực hành
Kết quả phỏng vấn cán bộ quản lí và giáo viên ở các cơ sở thực hành cho thấy: Hầu hết các
ý kiến thống nhất cho rằng các nội dung thực hành của khoa rất phù hợp với cơ sở thực thành,
có tính thực tiễn, giúp sinh viên rèn luyện các kĩ năng sư phạm Phỏng vấn cô Đ.T.T cho biết
“Sinh viên xuống trường thực hành, một hai ngày đầu còn bỡ ngỡ, lúng túng về kĩ năng giao tiếp, tương tác với các giáo viên, với trẻ, nhưng đến những ngày sau thì khác hẳn, các bạn chủ động và linh hoạt hơn nhiều”
Một số ý kiến phản hồi đề xuất cần điều chỉnh giảm bớt nhiệm vụ nội dung và tăng thời lượng thực hành ở trường Ý kiến phỏng vấn cô giáo Đ.T.M cho biết: “Sinh viên xuống thực hành tại trường 2 - 3 ngày nhưng các công việc thực hành mà các bạn ấy phải làm khá nhiều, vừa quan sát trẻ, dự giờ mẫu, nghiên cứu chương trình, thời khóa biểu, giáo án, tìm hiểu khả năng nhu cầu của trẻ nên có thể thiết kế để tăng thời gian thực hành thêm” Đây là vấn đề thực
tế bởi vì các nhiệm vụ thực hành được thiết kế theo yêu cầu và thời lượng của môn học, hơn nữa kinh phí thực hành cũng gắn với kế hoạch thời lượng cụ thể
* Phản hồi về việc đáp ứng của giáo viên hướng dẫn thực hành sư phạm thường xuyên
Khi được hỏi về mức độ hài lòng đối với việc đáp ứng chuyên môn và tinh thần thái độ của giáo viên hướng dẫn THSPTX, kết quả thu được qua phiếu hỏi: Có 31/34 cơ sở (chiếm 91,2%) hoàn toàn “Hài lòng”, chỉ có 3/34 cơ sở (chiếm 8,8%) là có ý kiến Hài lòng nhưng cần điều chỉnh để cho tốt hơn
Trang 8Hình 6 Mức độ hài lòng đối với việc đáp ứng (chuyên môn, tinh thần thái độ)
của giáo viên hướng dẫn trong hoạt động thực hành sư phạm thường xuyên
Ý kiến hài lòng thể hiện ở các lí do: giáo viên hướng dẫn TH nhiệt tình, có kinh nghiệm, nhiệt huyết, sát sao với công việc, phối hợp tốt với các cơ sở TH, có kĩ năng về tổ chức, chuẩn
bị hồ sơ đầy đủ…Giáo viên hướng dẫn có chuyên môn nghiệp vụ, nhiệt tình, giàu kiến thức và kinh nghiệm, phối hợp xử lí tốt các tình huống phát sinh trong quá trình TH
Phỏng vấn các cán bộ quản lí và giáo viên về việc đáp ứng chuyên môn, tinh thần, thái độ của giáo viên hướng dẫn thực hành, kết quả các ý kiến thu được như sau: Các ý kiến trả lời đều cho biết các giáo viên hướng dẫn thực hành rất có trách nhiệm, nhiệt tình, có chuyên môn, theo sát sinh viên, hướng dẫn, giám sát cũng như nhắc nhở, hỗ trợ sinh viên rất chu đáo Phỏng vấn giáo viên T.T.M.H, cô cho biết: “Về phần cán bộ hướng dẫn thì chúng tôi hoàn toàn hài lòng và không có ý kiến gì vì giáo viên hướng dẫn rất nhiệt tình, hướng dẫn và theo dõi quá trình thực hành của sinh viên rất cẩn thận nên các bạn sinh viên cũng rất cố gắng và nỗ lực”
Một số phản hồi góp ý về việc giám sát của giáo viên hướng dẫn thực hành: kế hoạch của giáo viên thực hành cần đảm bảo sự liên tục để theo sát tình hình của sinh viên tốt hơn
* Phản hồi về mức độ đáp ứng của sinh viên Khoa Giáo dục Đặc biệt khi thực hành sư phạm thường xuyên tại các trường thực hành
Khi được hỏi về mức độ hài lòng về việc đáp ứng chuyên môn và tinh thần thái độ của sinh viên Khoa Giáo dục Đặc biệt khi THSPTX tại trường, kết quả thu được qua phiếu hỏi như sau:
có 25/34 ý kiến (chiếm 73,5%) trả lời “Hài lòng” và tỉ lệ ít hơn (26,5%) ý kiến “hài lòng nhưng vẫn cần điều chỉnh cho tốt hơn”
Hình 7 Mức độ hài lòng đối với việc đáp ứng (chuyên môn và tinh thần thái độ) của sinh viên Khoa Giáo dục Đặc biệt khi thực hành sư phạm thường xuyên tại trường thực hành
Trang 9395
Một số ý kiến đóng góp về sinh viên: cần học hỏi thêm một số kĩ năng như kĩ năng chơi với trẻ, tổ chức các hoạt động, tự đánh giá; cần chủ động trao đổi những khó khăn trong quá trình thực hành sư phạm; một số sinh viên chưa biết cách chủ động trong thiết kế giáo án, làm việc với trẻ (nhất là trẻ nhỏ), cần mạnh dạn, tự tin hơn; một số sinh viên cần trau dồi thêm kĩ năng giao tiếp với phụ huynh, với cán bộ công nhân viên của trường; sinh viên cần chủ động và linh hoạt trong khi lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch của nhóm, của cả đoàn để vẫn đảm bảo nội dung thực hành và không ảnh hưởng đến hoạt động chung của lớp thực hành
Một số ý kiến gợi ý để tổ chức hoạt động thực hành thuận lợi hơn: nên có những hoạt động hướng nghề để sinh viên được làm quen, không ngại khó khăn khi làm việc với trẻ nhỏ (ví dụ: khi trẻ nôn, trớ…) Hầu hết các em còn trẻ, chưa có gia đình, chưa quen với việc chăm sóc trẻ nhỏ nên khi gặp các tình huống liên quan đến vệ sinh cho trẻ nhỏ, các sinh viên còn lúng túng
và ngại ngần thực hiện
* Phản hồi về khả năng đáp ứng của trường thực hành đối với hoạt động hướng dẫn thực hành
Khi được hỏi về mức độ hài lòng đối với khả năng đáp ứng của trường thực hành đối với hoạt động hướng dẫn thực hành, kết quả thu được qua phiếu khảo sát như sau: có 25/34 (chiếm 73,5%) các cơ sở tự đánh giá là “Hài lòng” về khả năng đáp ứng, chỉ có 9/34 (chiếm 26,5%) cơ
sở tự đánh giá là Hài lòng nhưng vẫn cần phải điều chỉnh cho tốt hơn
Biểu đồ 8 Mức độ hài lòng đối với khả năng đáp ứng của cơ sở đối với hoạt động
thực hành sư phạm thường xuyên
Nội dung nghiên cứu này có hạn chế là chưa có đánh giá của sinh viên và cán bộ hướng dẫn mà chỉ tập trung vào đánh giá phản hồi của các trường thực hành
Các trường thực hành tự đánh giá đã hài lòng trong việc đáp ứng thực hành cho sinh ở các nội dung: cung cấp đa dạng các loại khuyết tật và mức độ tật của trẻ, sự đáp ứng cơ sở vật chất cho thực hành, đội ngũ giáo viên tại trường có chuyên môn, kinh nghiệm dạy trẻ khuyết tật để hướng dẫn sinh viên, đáp ứng tốt các hoạt động TH, phù hợp với chương trình của sinh viên, phần lớn cán bộ quản lí các trường THSPTX đều có chuyên môn về GDĐB (được đào tạo từ Khoa GDĐB) nên nắm bắt rõ những yêu cầu và đặc điểm của chương trình đào tạo Điều này tạo nhiều thuận lợi cho việc hướng dẫn sinh viên thực hành, đáp ứng tốt các chỉ đạo và yêu cầu của trường ĐHSP Hà Nội về trường thực hành
Một số ý kiến chia sẻ: Một số cơ sở thực hành có không gian khá nhỏ, hẹp để tổ chức các hoạt động chung nên khó khăn cho sinh viên thực hành những nội dung mang tính chất tập thể Đây là một thực tế khó khăn vì đầu tư cơ sở vật chất là vấn đề quản lí giáo dục của địa phương nơi trường thực hành trực thuộc
Trang 102.3 Một số giới hạn của nghiên cứu
Do một số hạn chế về thời gian và thời điểm thực hiện nghiên cứu, trong nghiên cứu khảo sát này chủ yếu tập trung tìm hiểu và cung cấp một số thông tin phản hồi của trường thực hành đối với hoạt động tổ chức THSPTX cho sinh viên Khoa Giáo dục Đặc biệt, nghiên cứu chưa có điều kiện khảo sát lấy ý kiến phản hồi của sinh viên và giáo viên hướng dẫn thực hành (giáo viên thực hành) cũng như chưa có điều kiện khảo sát sâu một số thông tin khác như: sự phù hợp của thời điểm tổ chức THSPTX, sự phù hợp của số lượng sinh viên khi xuống thực hành ở các trường, sự (cần thiết) tham gia phối hợp của giảng viên và giáo viên hướng dẫn thực hành trong hướng dẫn sinh viên thực hành, sự phù hợp của mục tiêu, nội dung và cách đánh giá,… Việc có thêm những thông tin này sẽ cung cấp căn cứ đầy đủ hơn cho việc điều chỉnh hoạt động tổ chức THSPTX cho phù hợp với thực tiễn
Những thông tin thu được qua nghiên cứu này có ý nghĩa tham khảo nhất định để có những
cơ sở trong điều chỉnh hoạt động tổ chức THSPTX cho phù hợp với thực tiễn
3 Kết luận
Bài viết đã khảo sát ý kiến phản hồi mức độ hài lòng của 34 giáo viên, cán bộ quản lí các trường THSPTX ngành Giáo dục Đặc biệt ở 05 nội dung: công tác tổ chức, nội dung thực hành
và việc đáp ứng của giáo viên hướng dẫn thực hành, của sinh viên và của trường thực hành trong đào tạo thực hành cử nhân ngành Giáo dục Đặc biệt Kết quả khảo sát cho thấy: 100% các
ý kiến hài lòng (ở các mức độ hoàn toàn hài lòng và hài lòng nhưng vẫn còn những điều cần điều chỉnh để tốt hơn) Trong đó tỉ lệ cao nhất (hơn 90%) ý kiến hoàn toàn hài lòng đối với “nội dung THSPTX” và “đáp ứng của giáo viên hướng dẫn thực hành”; hơn 70% ý kiến hoàn toàn hài lòng ở 03 nội dung còn lại Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực tiễn có ý nghĩa nhất định góp phần để có những điều chỉnh, rút kinh nghiệm trong việc triển khai THSPTX được hiệu quả và chất lượng hơn
Kết quả nghiên cứu khảo sát phản hồi của các trường thực hành về hoạt động tổ chức THSPTX trong đào tạo cử nhân GDĐB được xem như là bản tổng kết kinh nghiệm thực tiễn về việc triển khai tổ chức đào tạo thực hành Thông tin trình bày trong kết quả nghiên cứu có thể là những gợi ý tham khảo về tiêu chí để thiết kế hoạt động tổ chức hoạt động THSPTX tại các trường thực hành trong đào tạo cử nhân ngành Giáo dục Đặc biệt được hiệu quả Việc ghi nhận những phản hồi này của các trường thực hành không những giúp cho cơ sở đào tạo có những thông tin điều chỉnh trong tổ chức cho phù hợp, sát với tình hình thực tiễn, mà còn giúp tăng mối quan hệ kết nối, gắn kết, phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả các hoạt động đào tạo thực hành giữa cơ sở đào tạo giáo viên và trường thực hành Việc thường xuyên thu nhận các ý kiến phản hồi của các cơ sở phối hợp đào tạo cũng giúp cơ sở đào tạo đáp ứng tiêu chí đánh giá, kiểm định chất lượng chương trình đào tạo ngành học của trường đại học
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Công Hiếu, 2013 Quy trình hình thành kĩ năng thực hành sư phạm theo tiếp cận
năng lực thực hiện (đề tài nghiên cứu cấp Đại học) Trường Đại học Sư phạm, Đại học
Thái Nguyên
[2] Thái Văn Thành, Phân Xuân Phồng, 2017 Xây dựng trường thực hành của trường đại học
sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Tạp chí Giáo dục, số 418