Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ giai đoạn 2003-2008.Thực trạng và giải pháp
Trang 1DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
Chương I :Những vấn đề chung về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn NSNN 5
1 Những vấn đề lí luận về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước 5
1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ 5
1.1.1.Khái niệm 5
1.1.2 Đặc điểm đầu tư hạ tầng phát triển giao thông đường bộ 6
1.2.Vai trò của đầu tư phát triền giao thông đường bộ 8
1.2.1 Đẩy mạnh phát triển kinh tế 8
1.2.2.Phát triển văn hoá-xã hội 9
1.2.3 Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 10
1.2.4.Bảo đảm an ninh quốc phòng 10
1.2.5 Đẩy mạnh hội nhập và giao lưu quốc tế 11
1.3 Nguồn vốn NSNN đầu tư phát triển giao thông đường bộ 11
1.3.1.Khái niệm về vốn ngân sách nhà nước 11
1.3.2 Đặc điểm vốn ngân sách trong phát triển giao thông đường bộ 13
1.3.3.Vai trò của vốn ngân sách trong phát triển giao thông đường bộ .14
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới sử dụng hiệu quả vốn NSNN trong phát triển hạ tầng GTĐB 15
1.4.1.Các nhân tố về kinh tế 15
1.4.2 Đặc điểm tự nhiên của cả nước và từng vùng 16
1 4.3.Các nhân tố về chính trị,pháp luật 16
Trang 22.Nội dung đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn
NSNN 18
2.1.Nội dung 18
2.1.1 Đầu tư vào hạ tầng GTĐB theo chu kì của dự án 18
2.1.2 Đầu tư vào hạ tầng GTĐB theo lĩnh vực đầu tư 20
2.1.3 Đầu tư vào hạ tầng GTĐB theo khu vực đầu tư 21
2.1.4 Đầu tư vào hạ tầng GTĐB theo vùng lãnh thổ 21
2.2 Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả đầu tư phát triển 22
Chương II: Thực trạng đầu tư phát triển giao thông đường bộ Việt Nam bằng nguồn vốn NSNN 25
1.Sự cần thiết phải tăng cường đầu tư phát triển giao thông đường bộ 25
1.1.Vị trí của ngành giao thông đường bộ 25
1.2.Thực trạng hệ thống giao thông đường bộ 26
2.Thực trạng đầu tư phát triển hệ thống giao thông đường bộ 30
2.1.Tình hình huy động vốn NSNN đầu tư phát triển giao thông đường bộ 30
2.2 Tình hình sử dụng vốn NSNN cho phát triển giao thông đường bộ 33
2.2.1.Cơ chế quản lý và sử dụng vốn NSNN cho giao thông đường bộ 33
2.2.2 Đầu tư phát triển giao thông đường bộ phân theo lĩnh vực đầu tư 36 2.2.3 Đầu tư phát triển giao thông đường bộ theo khu vực nông thôn và thành thị 39
2.2.3.1 Đầu tư vào giao thông nông thôn 39
2.2.3.2 Đầu tư vào giao thông đường bộ đô thị 40
2.2.4 Đầu tư phát triển giao thông đường bộ theo vùng lãnh thổ 42
3.Đánh giá tình hình thực hiện đầu tư phát triển giao thông đường bộ bằng nguồn vốn NSNN 45
3.1 Kết quả và hiệu quả đạt được 45
Trang 3Chương III:Một số giải pháp nhằm tăng cường đầu tư phát triển giao
thông đường bộ Việt Nam 56
1.Chiến lược đầu tư phát triển giao thông đường bộ Việt Nam đến 2020 56
1.1 Quan điểm đầu tư phát triển giao thông đường bộ đến 2020 56
1.2 Mục tiêu quy hoạch phát triển 57
1.3.Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ 59
1.4.Nhu cầu vốn cho đầu tư của NSNN phát triển giao thông đường bộ 66
2 Giải pháp đẩy mạnh đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn NSNN 68
2.1.Hoàn thiện công tác lập quy hoạch,kế hoạch phát triển giao thông đường bộ 68
2.2.Các giải pháp về chính sách tạo vốn NSNN phát triển giao thông đường bộ 69
2.3.Các giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước 71
2.4 Tăng cường công tác giám sát chất lượng, tiến độ xây dựng và thanh tra, kiểm tra tài chính đối với các dự án đường bộ 73
2.5.Các giải pháp làm tăng hiệu quả công tác giải phóng mặt bằng 75
2.6.Các giải pháp về bảo vệ môi trường 76
2.7.Các giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 77
2.8.Các giải pháp về đầu tư phát triển khoa học công nghệ 78
2.9.Hoàn thiện cơ chế đầu thầu và tăng cường quản lý công tác đấu thầu 79
2.10.Các giải pháp về tăng cường đầu tư giao thông đô thị và giao thông nông thôn 80
KẾT LUẬN 82
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NSNN: Ngân sách nhà nước
CSHT: Cơ sở hạ tầng
GTĐB: Giao thông đường bộ
GTVT: Giao thông vận tải
VĐT: Vốn đầu tư
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1.1: Sơ đồ chu kì dự án đầu tư
Bảng 2.1: Mạng lưới giao thông đường bộ
Bảng 2.2: Phân loại chiều dài đường và mặt đường
Bảng 2.3: Hạ tầng giao thông nông thôn
Bảng 2.4: Vốn NSNN cho giao thông đường bộ
Bảng 2.5: Cơ cấu vốn đầu tư GTĐB 2003-2008
Bảng 2.6: Chi NSNN cho GTĐB 2003-2008
Bảng 2.7: Chi NSNN cho GTĐB trong nền kinh tế quốc dân
Bảng 2.8: Tỷ lệ vốn đầu tư xây dựng mới
Bảng 2.9: Vốn đầu tư bảo trì và sửa chữa đường bộ 2003-2008
Bảng 2.10:Tình hình huy động vốn đầu tư phát triển hạ tầng giao thông nông thônnhững năm gần đây
Bảng 2.11: Vốn đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đô thị
Bảng 2.12: Cơ cấu vốn phát triển hạ tầng đường bộ theo vùng lãnh thổ 2003-2008Bảng 2.13: So sánh hiện trạng hạ tầng GTĐB 2000 và 2008
Biểu đồ so sánh hạ tầng GTĐB năm 2000 và 2008
Bảng 2 14: Hiện trạng cầu Việt Nam
Bảng 2.15: Khối lượng hành khách và hàng hoá được vận chuyển qua đường bộ giaiđoạn 2003-2008
Bảng 2.16: Chỉ số phát triển vận tải của ngành GTĐB
Bảng 2.17: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 2003-2008
Bảng 2.18: Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế phân theo
thành thị, nông thôn và phân theo vùng.
Bảng 3.1: Dự báo nhu cầu nâng cấp và xây dựng mới đường bộ đến năm 2020Bảng 3.2: Dự báo nhu cầu vốn phát triển GTĐB đến 2020
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Giao thông đường bộ là một bộ phận quan trong của giao thông vận tải nóiriêng và của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nói chung, nó có vai trò rấtquan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, đóng góp to lớn vào nhu cầu đi lại củanhân dân, nâng cao giao lưu với các vùng, xoá đi khoảng cách về địa lý, chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý phát huy lợi thế của từng vùng, từng địaphương, từng ngành, xoá đói giảm nghèo, củng cố an ninh quốc phòng…Tuy nhiên
hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ giao thông đường bộ của nước ta trong thờigian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế làm cản trở nhiều tới mục tiêu phát triển chungcủa đất nước, làm giảm khả năng thu hút vốn đầu tư vào nền kinh tế đặc biệt là cácnguốn vốn nước ngoài và giảm tốc độ công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, cảntrở tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới
Để có thể phát huy được tối đa vai trò của mình thì yêu cầu đặt ra là trongthời gian tới là cần phải phát triển ngành giao thông đường bộ nói riêng và giaothông vận tải nói chung cần phải đi trước một bước, điều này đã được nhà nước rấtquan tâm và tạo nhiều điều kiện để phát triển.Trong thời gian qua vốn ngân sáchnhà nước dành cho phát triển giao thông đường bộ luôn chiếm tỷ trọng cao so vớinhững ngành khác, nguồn vốn ngân sách nhà nước cũng đã phát huy được nhữnghiệu quả nhất định và vẫn luôn là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất trongđầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đường bộ tuy nhiên công tác sử dụng vốn ngânsách nhà nước trong thời gian qua cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắcphục nhằm tránh lãng phí nguồn vốn ngân sách trong điều kiện nước ta còn là nướcđang phát triển và còn rất nhiều mục tiêu cần thực hiện và ngân sách nhà nước cũngtương đối hạn hẹp
Để giải quyết vấn đề trên, sau một thời gian được thực tập và nghiên cứu tạiphòng đầu tư trung ương-Vụ đầu tư-Bộ tài chính và được sự tư vấn, hướng dẫn củacác cô chú trong Vụ cùng với cô giáo Ths.Phan Thu Hiền em đã quyết định chọn đề
tài: “Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ giai đoạn 2003-2008.Thực trạng và giải pháp”.
Trang 7Kết cấu của đề tài như sau:
Chương I: Những vấn đề chung về đầu tư phát triển hạ tầng giao thôngđường bộ bằng nguồn vốn NSNN
Chương II:Thực trạng đầu tư phát triển giao thông đường bộ Việt Nam bằngnguồn vốn NSNN
Chương III:Một số giải pháp nhằm tăng cường đầu tư phát triển giao thôngđường bộ Việt Nam
Trang 8Chương I :Những vấn đề chung về đầu tư phát triển hạ tầng giao
thông đường bộ bằng nguồn vốn NSNN
1 Những vấn đề lí luận về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ.
1.1.1.Khái niệm.
Đầu tư phát triển giao thông đường bộ(GTĐB) là 1 phần của đầu tư pháttriển cơ sở hạ tầng (CSHT) vì vậy trước khi tìm hiểu hiểu về khái niệm của GTVT
ĐB chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm về CSHT
CSHT là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cầu kinh tế của một
xã hội, là tổ hợp các công trình vật chất kĩ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp dịch
vụ sản xuất, đời sống của dân cư được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định
Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển thì quá trình sản xuất chỉ là sự kết hợpgiản đơn giữa 3 yếu tố là lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Nhưngkhi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nào đó thì cần phải có sự thamgia của CSHT thì mới tạo ra được sự phát triển tối ưu nhất bởi lẽ CSHT có vai tròquyết định đến kiến trúc thượng tầng hay tác động trực tiếp đến sự phát triển củanền kinh tế CSHT chỉ thực sự phát triển sau cuộc cách mạng khoa học công nghệvào thế kỉ thứ 19
CSHT được chia làm 3 nhóm chính: CSHT kỹ thuật, CSHT xã hội, CSHTmôi trường :
+CSHT kỹ thuật bao gồm các công trình và phương tiện vật chất phục vụcho sản suất và đời sống sinh hoạt của xã hội như các con đường, hệ thống điện,bưu chính viễn thông,…
+CSHT xã hội là các công trình và phương tiện để duy trì và phát triển cácnguồn lực như các cơ sở giáo dục đào tạo, các cơ sở khám chữa bệnh, và các cơ sở
Trang 9đảm bảo đời sống và nâng cao tinh thần của nhân dân như hệ thống công viên, cáccông trình đảm bảo an ninh xã hội.
+CSHT môi trường bao gồm các công trình phục vụ cho bảo vệ môi trườngsinh thái của đất nước cũng như môi trường sống của con người như các công trình
xử lý nước thải, rác thải…
*Khái niệm GTĐB: GTĐB là một bộ phận của CSHT kỹ thuật bao gồm toàn
bộ hệ thống cầu đường phục vụ cho nhu cầu đi lại của người dân cũng như nhu cầugiao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa những người dân trong cùng một vùng haygiữa vùng này với vùng khác hoặc giữa nước này với nước khác
1.1.2 Đặc điểm đầu tư hạ tầng phát triển giao thông đường bộ.
GTĐB là các kết quả của các dự án đầu tư phát triển nên nó mang đặc điểmcủa hoạt động đầu tư phát triển là :
-GTĐB là các công trình xây dựng nên nó có vốn đầu tư lớn, thời gian thuhồi vốn dài và thường thông qua các hoạt động kinh tế khác để có thể thu hồivốn.Do đó vốn đầu tư chủ yếu để phát triển GTĐB ở Việt Nam là từ nguồn vốnNSNN
-Thời kì đầu tư kéo dài: thời kì đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện
dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động, nhiều công trình có thờigian kéo dài hàng chục năm
- Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài: thời gian này được tính từ khicông trình đi vào hoạt động cho đến khi hết hạn sử dụng và đào thải công trình
-Các thành quả của hoạt động đầu tư thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi
Trang 10*Đầu tư phát triển GTĐB mang tính hệ thống và đồng bộ:
Tính hệ thống và đồng bộ là một đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư pháttriển GTĐB.Tính hệ thống và đồng bộ được thế hiện ở chỗ mọi khâu trong quá trìnhđầu tư phát triển GTĐB đều liên quan mật thiết với nhau và ảnh hưởng trực tiếp đếnchất lượng của hoạt động đầu tư: bất kì sai lầm nào từ khâu kế hoạch hoá hệ thốngGTĐB đến khâu lập dự án hay thẩm định các dự án đường bộ…cũng sẽ ảnh hưởngđến quá trình vận hành của toàn bộ hệ thống đường bộ và gây ra những thiệt hại lớnkhông chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt xã hội.Tính hệ thống và đồng bộ khôngnhững chi phối đến các thiết kế,quy hoạch mà còn được thế hiện ở cả cách thức tổchức quản lý theo ngành và theo vùng lãnh thổ.Chính đặc điểm này đã đòi hỏi khilập kế hoạch, quy hoạch, chiến lược phát triển GTĐB không được xem xét tới lợiích riêng lẻ của từng dự án mà phải xét trong mối quan hệ tổng thể của toàn bộ hệthống để đảm bảo được tính đồng bộ và hệ thống của toàn bộ mạng lước GTĐBtránh tình trạng có một vài dự án ảnh hưởng đến chất lượng của toàn bộ hệ thống
*Đầu tư phát triển GTĐB mang tính định hướng:
Đây là đặc điểm xuất phát từ chức năng và vai trò của hệ thống GTĐB.Chứcnăng chủ yếu của GTĐB là thoả mãn nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hoá củangười dân cũng như của các doanh nghiệp, GTVT đường bộ được coi là huyết mạchcủa nền kinh tế đảm bảo giao thương giữa các vùng miền và mở đường cho các hoạtđộng kinh doanh phát triển hơn nữa hoạt động đầu tư phát triển GTĐB cũng cầnphải có một lượng vốn lớn cũng như cần thực hiện trong khoảng thời gian dài do đó
để đảm bảo đầu tư được hiệu quả và loại trừ được các rủi ro thì cần phải có nhữngđịnh hướng lâu dài.GTĐB cần mang tính định hướng vì nó là ngành đi tiên phongthúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển
*Đầu tư phát triển GTĐB mang tính chất vùng và địa phương:
Việc xây dựng và phát triển GTĐB phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như đặcđiểm địa hình, phong tục tập quán của từng vùng từng địa phương, trình độ pháttriển kinh tế của mỗi nơi và quan trọng nhất là chính sách phát triển của nhà nước…
Do đó đầu tư phát triển GTĐB mang tính vùng và địa phương nhằm đảm bảo cho
Trang 11mỗi vũng và địa phương phát huy được thế mạnh của mình và đóng góp lớn vào sựphát triển chung của cả nước.Vì vậy trong kế hoạch đầu tư phát triển GTĐB khôngchỉ chủ yếu đến mục tiêu phát triển chung của cả nước mà phải chú ý cả đến điềukiện, đặc điểm tự nhiên cũng như kinh tế xã hội của mỗi vùng lãnh thổ.
*Đầu tư phát triển GTĐB mang tính xã hội hoá cao và có nhiều đặc điểmgiống với hàng hoá công cộng:
Các công trình GTĐB là những hàng hoá công cộng vì mục đích sử dụng của
nó là để phục vụ cả chức năng sản xuất và đời sống; là tổng hoà mục đích của nhiềungành, nhiều người, nhiều địa phương và của toàn xã hội Điều này cho thấy đầu tưphát triển GTĐB cần phải giải quyết cả mục tiêu phát triển kinh tế và cả mục tiêucộng đồng mang tính chất phúc lợi xã hội Điều này là rất quan trọng đặc biệt là đốivới các nước đang phát triển như Việt Nam trong điều kiện NSNN của hạn hẹncùng với đó là thu nhập của người dân vẫn còn thấp nên không thế đáp ứng hết nhucầu đầu tư phát triển GTĐB
1.2.Vai trò của đầu tư phát triền giao thông đường bộ.
Việt Nam là quốc gia nằm ở cực đông nam của bán đảo Đông Dương có diệntích khoảng 330.991 km2 nằm trải dài từ bắc tới nam với chiều dài khoảng 1650 km
do đó hệ thống đường bộ có một vị trí rất quan trọng.Giao thông vận tải bằng đường
bộ là loại hình vận tải có chi phí thấp, thuận lợi đặc biệt trong nền kinh tế thịtrường, nhu cầu lưu thông hàng hoá và đi lại của con người là rất lớn.Xây dựng hạtầng GTĐB tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển, giao lưu văn hoá, hội nhập quốc
tế và bảo vệ an ninh quốc gia
1.2.1 Đẩy mạnh phát triển kinh tế.
Những đóng góp tích cực của hệ thống giao thông đường bộ vào sự pháttriển kinh tế là rất rõ ràng và được thế hiện ở các vai trò sau:
-GTĐB góp phần thu hút đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài, rútngắn được khoảng cách địa lý giữa các tỉnh thành trong cả nước do đó làm chuyểndịch cơ cấu kinh tế vùng, rút ngắn trình độ phát triển kinh tế giữa các địa phương,tạo điều kiện phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương và thúc đẩy các địa
Trang 12phương phát triển kinh tế.Hệ thống GTĐB phát triển sẽ tạo điều kiện cho các hoạtđộng giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các vùng và địa phương với nhau, giữaquốc gia này với quốc gia khác từ đó sẽ tìm ra được những cơ hội đầu tư tốt và tiếnhành đầu tư, các hoạt động xúc tiến thương mại phát triển cùng với đó là thu hút cácnguồn vốn trong nước và ngoài nước cho mục tiêu phát triển kinh tế.
-GTĐB góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thôngqua kích thích tạo việc làm và tăng năng suất lao động.Sự phát triển của hạ tầnggiao thông đường bộ đã góp phần đáng kể vào tốc độ tăng trưởng GDP của ViệtNam trong thời gian qua.Các công trình GTĐB sẽ thu hút một lượng lớn lao động
do đó góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp cho quốc gia, mặt khác khi vốn đầu tưcho hệ thống GTĐB lớn sẽ kích thích thu hút vốn đầu tư cho các ngành trực tiếp sảnxuất sản phẩm phục vụ cho sự phát triển của các công trình giao thông như sắt,thép, xi măng, gạch …
-Hạ tầng GTĐB phát triển sẽ đóng góp tích cực vào việc tiết kiệm chi phí vàthời gian vận chuyển, từ đó tạo điều kiện giảm giá thành sản phẩm, kích thích tiêudùng và phát triển của các ngành khác.Trong các loại hình vận tải ở Việt Nam thìvận tải bằng đường bộ chiếm tỷ trọng lớn nhất do đó nếu hạ tầng GTĐB tốt sẽ tiếtkiệm được rất nhiều chi phí, và có thể lấy số chi phí tiết kiệm được để thực hiệnphát triển các ngành khác
1.2.2.Phát triển văn hoá-xã hội.
Phát triển văn hoá xã hội là phát triển đời sống tinh thần của người dân, điềunay góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của quốc gia.Dân số Việt Namtính đến năm 2008 là khoảng hơn 100 triệu người đến từ các dân tộc khác nhau vàsống trong các vùng không đồng đều về lịch sự, địa lý… do đó đời sống tinh thầncũng khác nhau đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn và các vùng xa xôi hẻolánh.Nhờ có hạ tầng GTĐB phát triển mà khoảng cách đó ngày càng được xoá bỏ,
sự giao lưu văn hoá giữa các vùng ngày càng đuợc tăng cường và làm phong phúthêm đời sống của người dân Việt từ đó kích thích người dân hăng say lao độngđóng góp vào sự phát triển của đất nước
Trang 13Hệ thống đường bộ phát triển sẽ nảy sinh các ngành nghề mới, các cơ sở sảnxuất mới phát triển từ đó tạo cơ hội việc làm và sự phát triển không đồng đều giữacác vùng cũng được giảm, hạn chế sự di cư bất hợp pháp từ nông thôn ra thành thị,hạn chế được sự phân hoá giàu nghèo và từ đó giảm được các tệ nạn xã hội gópphần tích cực vào bảo vệ môi trường sinh thái.
1.2.3 Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Mục tiêu quan trọng của bất kì một doanh nghiệp nào khi hoạt động cũngđều là lợi nhuận.Có nhiều cách để doanh nghiệp áp dụng để có được lợi nhuận tối
đa và một trong những cách đó là giảm chi phí một cách tối thiểu.Hạ tầng GTĐB sẽđóng góp đáng kể vào việc giảm chi phí của doanh nghiệp đặc biệt là các doanhnghiệp có chi phí vận tải chiếm một tỷ trọng lớn.Khi hạ tầng GTĐB phát triển thìcác doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí nhiên liệu, chi phí vận chuyển hàng hoátới nơi tiêu thụ, chi phí nhập nguyên liệu; ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể tiếtkiệm được một số chi phí khác như chi phí quản lý và bảo quản hàng hoá, chi phílưu trữ hàng tồn kho…Nhờ đó mà doanh nghiệp có thể hạ giá thành sản phẩm vànâng cao cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.Hệ thống GTĐB phát triểncũng sẽ giúp các doanh nghiệp giao hàng đúng nơi và đúng thời gian từ đó tạo được
uy tín cho doanh nghiệp, trong kinh doanh thì điều này là rất quan trọng.Mặt kháckhi giao thông đường bộ phát triển thì sản phẩm dễ dãng đến tay người tiêu dùng do
đó hàng hóa sẽ được tiêu thụ nhanh hơn, điều này sẽ rút ngắn thời gian quay vòngvốn và làm tăng hiệu quả sử dụng vốn cũng như tăng hiệu quả sản xuất của cácdoanh nghiệp
1.2.4.Bảo đảm an ninh quốc phòng.
Hệ thống GTĐB đóng góp tích cực vào việc giữ gìn trật tự an ninh xã hội, vàbảo vệ quốc phòng.Với hạ tầng GTĐB hiện đại sẽ giảm thiểu đuợc tình trạng ùn tắcđường đang xảy ra trong thời gian qua đặc biệt là ở các thành phố lớn, giảm tai nạngiao thông, giữ gìn trật tự xã hội Đây là một trong những vấn đề mà đảng và chínhphủ đang rất quan tâm
Trang 14Hơn nữa, hệ thống GTĐB phát triển sẽ góp phần bảo vệ biên giới của đấtnước.GTĐB phát triển góp phần nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức của ngườidân đặc biệt là các dân tộc ở vùng xâu vùng xa từ đó đảm bảo sự ổn định về chínhtrị quốc gia.
1.2.5 Đẩy mạnh hội nhập và giao lưu quốc tế.
Hội nhập và giao lưu kinh tế về mọi mặt đang là xu hướng diễn ra mạnh mẽgiữa các nước trong khu vực và trên toàn thế giới và Việt Nam cũng không nằmngoài xu hướng đó.Hiện nay thì hạ tầng GTĐB của nước ta còn ở mức yếu so vớicác nước trong khu vực nên ảnh hưởng lớn khả năng hội nhập và giao lưu với cácnước.Chính vì vậy mà Việt Nam đang xúc tiến để xây dựng các hệ thống đuờngxuyên quốc gia góp phần mở rộng giao lưu kinh tế và văn hóa giữa các nước
1.3 Nguồn vốn NSNN đầu tư phát triển giao thông đường bộ.
1.3.1.Khái niệm về vốn ngân sách nhà nước.
*Khái niệm về vốn:
Vốn là một nhân tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất xã hội, là toàn
bộ tài sản mà nền kinh tế có được trong quá trình xây dựng và phát triển.Nó đảmbảo cho sự tăng trưởng và phát triển của mọi hình thái kinh tế-xã hội.Về bản chấtvốn đầu tư là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được đểđưa vào quá trình tái sản xuất xã hội và vốn đầu tư được thể hiện dưới hai hình thái
là hiện vật và giá trị.Vốn hiện vật không chỉ tồn tại dưới dạng các tài sản hữu hìnhnhư các loại máy móc, nhà xưởng, thiết bị… mà nó còn tồn tại dưới dạng các tài sản
vô hình như bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá, lợi thế thương mại haythương hiêụ, trình độ của nguồn nhân lực.Trong giai đoạn phát triển hiện nay, vốnnhân lực đóng một vai trò quyết định có thể thay thế một phần các loại vốn khác
Ở mỗi quốc gia, nguồn vốn đầu tư trước hết và chủ yếu là từ tích luỹ của nềnkinh tế, là phần tiết kiệm sau khi tiêu dùng của cá nhân và của chính phủ và đâyđược coi là nguồn vốn quan trọng nhất cho sự phát triển của một quốc gia, là nguồnvốn đảm bảo cho sự tăng trưởng và sự phát triển bền vững của đất nước trong lĩnh
Trang 15vực kinh tế cũng như trong các lĩnh vực khác.Ngoài nguồn vốn tích luỹ từ trongnước,các quốc gia còn có thể huy động vốn đầu tư từ nước ngoài để phục vụ pháttriển kinh tế-xã hội của đất nước.
-Nguồn vốn trong nước bao gồm nguồn bốn từ NSNN,nguồn vốn tín dụngđầu tư phát triển của nhà nước, và nguồn vốn của dân cư và tư nhân…
-Nguồn vốn từ nước ngoài bao gồm các nguồn vốn như vốn đầu tư trựctiếp(FDI), vốn đầu tư gián tiếp(ODA)…
Trong các nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài thì nguồn vốnnước ngoài đóng vai trò là cú hích cho sự phát triển của một quốc gia đang pháttriển như Việt Nam
*Khái niệm vốn NSNN:
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiệncác chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
Theo điều 7 của luật ngân sách nhà nước: Quỹ ngân sách nhà nước là toàn bộcác khoản tiền của nhà nước, kể cả tiền vay có trên tài khoản của ngân sách nhànước các cấp.Do khả năng huy động vốn ngân sách có hạn, trong khi nhu cầu vốnđầu tư hàng năm lại rất lớn nên vốn đầu tư NSNN ở nước ta trong những năm quađược cân đối từ nguồn tích luỹ của ngân sách và các khoản vay trong nước và nướcngoài
Vốn NSNN bao gồm vốn trong nước( vốn tích luỹ của NSNN, nguồn vốn tíndụng của nhà nước) và vốn nước ngoài(vay nợ, viện trợ).Số tiền này sẽ được thanhtoán trực tiếp cho việc thực hiện các dự án, các chương trình mục tiêu quốc gia theo
kế hoạch chi đầu tư phát triển được duyệt hàng năm
-Vốn trong nước bao gồm:
+Vốn tích luỹ của NSNN: đây là phần chênh lệch giữa các khoản thu( không
kể vay nợ) với chi tiêu dùng thường xuyên của NSNN Đối với vốn tích luỹ NSNNcần áp dụng các chính sách huy động và tiết kiệm triệt để và có hiệu quả như vừatăng thu NSNN, vừa tiết kiệm các khoản chi tiêu dùng của NSNN
Trang 16+Nguồn vốn tín dụng của nhà nước: được huy động thông qua phát hành tráiphiếu chính phủ và các hình thức vay nợ qua kho bạc nhà nước.
-Vốn nước ngoài là các nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài, thông quavay nợ và viện trợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế Đây là nguồn vốn quantrọng để bù đắp thiếu hụt ngân sách và được ưu tiên để phát triển kinh tế xãhội.Hiện nay việc đưa ODA vào ngân sách để quản lý đạt 15% đến 20%
1.3.2 Đặc điểm vốn ngân sách trong phát triển giao thông đường bộ.
Hạ tầng GTĐB là một bộ phận quan trọng của kết cấu hạ tầng giao thông vậntải nói riêng và của kết cấu cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội nói chung và sự phát triểncủa hạ tầng GTĐB góp phần nâng cao năng lực của nền kinh tế, là tiền đề thúc đẩycác ngành khác phát triển do đó vốn đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB cũng có nhữngđặc điểm riêng so với vốn đầu tư phát triển các ngành khác:
-Vốn đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB phải đảm bảo về mặt vật chất sao chotạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế khác đặc biệt là các ngành kinh tế mũinhọn, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, tiết kiệm chi phí cho xã hội và tài nguyêncủa đất nước
-Vốn đầu tư để thực hiện phát triển GTĐB được cân đối trong phạm vi ngânsách do đó cần phải chú ý đến đặc điểm nào nhằm tăng cường hạ tầng GTĐB đạthiệu quả tối đa mà không ảnh hưởng đến nguồn vốn từ NSNN để phát triển cácngành khác
-Hạ tầng giao thông đường bộ có vị trí cố định, phân bổ khắp các vùng miềncủa đất nước và có giá trị rất lớn.Vì vậy vốn đầu tư phát triển GTĐB từ NSNNkhông chỉ chú trọng tới nhu cầu đi lại hiện tại mà còn phục vụ nhu cầu đi lại và lưuthông hàng hoá ngày càng tăng trong tương lai cho nên cần phải có kế hoạch sửdụng vốn một cách hiệu quả:cần xem xét các ngành mũi nhọn, tính toán lựa chọncác tuyến đường…
-Vốn đầu tư cho xây dựng các công trình hạ tầng GTĐB thường phát sinhtrong thời gian dài,nhiều công trình phải đầu tư trong 10 năm mới có thể đi vào sửdung, sử dụng nhiều loại công việc có tính chất, đặc điểm khác nhau.Chính vì vậy
Trang 17cần phải có các biện pháp quản lý và sử dụng vốn thích hợp để tránh thất thoát lãngphí nguồn vốn NSNN.
-Hiệu quả sử dụng vốn NSNN để đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB gồm cảhiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội trong đó hiệu quả xã hội còn được đánh giá caohơn ở nhiều công trình như các công trình xây dựng giao thông nông thôn… Hiệuquả sử dụng vốn là rất khó đo lường trực tiếp và thường được đo lường thông quahiệu quả của các ngành kinh tế khác
1.3.3.Vai trò của vốn ngân sách trong phát triển giao thông đường bộ
Trong bất cứ một ngành nghề hay một lĩnh vực nào thì vốn NSNN cũng đềuđóng một vai trò rất quan trọng đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư phát triển hạ tầngGTĐB là lĩnh vực đòi hỏi một lượng vốn rất lớn do đó đây là lĩnh vực mà tư nhânrất hạn chế tham gia đầu tư.Vì vậy nguồn vốn nhà nước càng có một vi trí đặc biệttrong lĩnh vực đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB:
Trước hết, vốn NSNN đóng vai trò nền tảng, quyết định đến sự hình thành hệthống hạ tầng GTĐB Đây là nhiệm vụ nền tảng của bất cứ quốc gia nào xuất phát
từ nhiệm vụ và vai trò của nhà nước trong việc cung cấp hàng hoá công cộng
4.Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triền giao thông đường bộ từ NSNN.Hơnnước chỉ có nhà nước mới có đầy đủ về mặt pháp lý và vốn để có thể đảm đươngvai trò chính trong lĩnh vực này
Thứ hai, vốn đầu tư từ NSNN đóng vai trò chủ đạo để thu hút các nguồn vốnkhác thực hiện đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB bao gồm cả vốn đầu tư trong nước
và ngoài nước.Chỉ khi có nguồn vốn nhà nước tham gia vào trong các dự án mới tạođược niềm tin tối đa cho các nhà đầu tư để từ đó họ bỏ vốn ra để đầu tư đặc biệt vớinguồn vốn nước ngoài,có thể rõ vai trò quan trọng của vốn NSNN trong việc thuhút vốn ODA khi mà vốn NSNN là một nguồn vốn đối ứng quan trọng trong côngtác chuẩn bị đầu tư, đền bù giải phóng mặt bằng…
Thứ ba, NSNN đóng vai trò điều phối trong việc hình thành hệ thống hạ tầnggiao thông đường bộ một cách hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất.NSNN sẽ tập trung
Trang 18đầu tư vào các dự án trọng điểm tạo điều kiện giao lưu giữa các vùng và thúc đẩykinh tế- xã hội phát triển.
Thứ tư, vốn NSNN khi đầu tư vào phát triển hạ tầng GTĐB sẽ là công cụkích cầu rất hiệu quả,bằng chứng là các công trình GTĐB ảnh hưởng trực tiếp đếncác ngành sản xuất khác như sắt, thép…từ đó tăng đóng góp vào GDP và tạo thêmviệc làm cho xã hội, nâng cao thu nhập cho một bộ phận người lao động
Như vậy, vốn đầu tư từ NSNN vào phát triển hạ tầng giao thông đường bộđóng vai trò cực kì quan trọng trong sự phát triển của bất cứ quốc gia nào
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới sử dụng hiệu quả vốn NSNN trong phát triển hạ tầng GTĐB.
-Kinh tế càng phát triển cao thì càng có nhiều thành phần kinh tế có thể thamgia vào đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB
-Nền kinh tế phát triển sẽ kéo theo thị trường vốn cũng phát triển, tạo điềukiện để lưu chuyển vốn nhanh Đây là cơ sở để huy động các nguồn vốn cho đầu tưGTĐB nói riêng và cho tất cả các ngành kinh tế nói chung
-Nền kinh tế phát triển càng cao thì yêu cầu về hiệu quả kinh tế càng cao do
đó sẽ thúc đẩy quá trình sử dụng vốn NSNN một cách tiết kiệm, và nâng cao hiệuquả sử dụng vốn NSNN
Trang 191.4.2 Đặc điểm tự nhiên của cả nước và từng vùng.
Hạ tầng giao thông đường bộ được bố trí xây dựng và phát triển rộng khắp ởtất cả các vùng và địa phương trong cả nước do đó hệ thống hạ tầng GTĐB chịu ảnhhưởng trực tiếp từ các điều kiện địa lý, khí hậu, thời tiết, địa hình… của mỗi vùng
và địa phương khác nhau.Vì vậy mỗi công trình hạ tầng GTĐB tại mỗi địa phươnglại có các đặc điểm khác nhau sao cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mỗinơi
-Một cơ chế huy động và sử dụng vốn ngân sách hoàn chỉnh cũng như hoànthiện cơ chế đầu thầu, quản lý hiệu quả sử dụng vốn cũng sẽ tạo điều kiện tốt cho sựphát triển của hạ tầng GTĐB.Hơn nữa việc quản lý tốt sẽ tạo tiền đề cho nhà nướcđầu tư vào các dự án trọng điểm thích hợp với mỗi thời kì phát triển của đất nướccũng như các địa phương cũng có thể tự chủ khai thác nguồn vốn NSNN cho sựphát triển hạ tầng GTĐB của địa phương mình
1.4.4.Các chính sách của nhà nước và trình độ quản lý.
Các chính sách quản lý được thể hiện ở cả ở tầm vĩ mô và vi mô đều có ảnhhưởng đến công tác huy động và sử dụng vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB:
-Ở tầm vĩ mô thì đó là sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quantrung ương từ khâu thu NSNN, kế hoạch phân bổ vốn đến khâu quản lý và sử dụngvốn nhằm giảm thiểu được tình trạng thất thoát lãng phí
Trang 20-Ở tầm vi mô thì đó là trình độ quản lý của các ban quản lý của mỗi dự ánnhằm đạt được hiệu quả sử dụng vốn cao nhất.
Nội dung của quy chế, quy trình quản lý đầu tư gồm có:
-Những chỉ tiêu kinh tế-kĩ thuật của dự án đầu tư sao cho hạ thấp được chiphí đầu tư nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng của dự án đâu tư
-Thực hiện thẩm định dự án đầu tư, và lựa chọn các phương án khả thi đểphê duyệt
-Xây dựng cơ chế đấu thầu, chọn thầu…nhằm tránh thất thoát nguồn vốn.-Quản lý các nguồn vốn đầu tư,xây dựng quy trình và quản lý cấp phát, thanhtoán, quyết toán vốn đầu tư
-Quy định về các thủ tục hành chính trong quản lý đầu tư như giấy cấp đất,hợp đồng xây dựng…
-Quản lýquá trình đầu tư xây dựng cơ bản dự án đảm bảo chất lượng côngtrình
-Thẩm định quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành, xác định giá trị tài sảnhình thành qua đầu tư
1.4.5.Thực trạng xuống cấp của giao thông vận tải đường bộ.
Đây là nhân tố ảnh hưởng cơ bản nhất yêu cầu đòi hỏi phải đầu tư phát triển
hạ tầng GTĐB.Hệ thống hạ tầng GTĐB của nước ta đã được hình thành và trải quamột thời gian dài cùng với đó là khoảng thời gian hứng chịu hậu quả của các cuộcchiến tranh làm cho hệ thống hạ tầng GTĐB của nước ta bị ảnh hưởng nghiêmtrọng: nhiều tuyến đường đã bị hư hỏng nặng, nhiều tuyến đường xảy ra hiện tượngsụt lở và xảy ra hiện tượng ngập úng, đường có quá nhiều ổ gà ảnh hưởng trực tiếpđến hiệu quả sử dụng của các con đường cũng như gây ảnh hưởng trực tiếp đến tínhmạng của người đi đường.Một thực trạng nữa là hiện tượng tắc đường ở nước tatrong thời gian qua đang xảy ra rất nghiêm trọng đặc biệt là ở các thành phố lớn như
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh…gây ra sự thất thoát lãng phí rất lớn các nguồnlực.Một vấn để nữa là nền kinh tế của Việt Nam đang ngày càng phát triển, đời sốngngười dân ngày càng được nâng cao nên những phương tiện vận tải cao cấp như ô
Trang 21tô xuất hiện ngày càng nhiều vì vậy hệ thống hạ tầng GTĐB cũ không thể đáp ứngđược nhu cầu của người dân đòi hỏi nhà nước cần có các biện pháp đầu tư phát triển
hạ tầng GTĐB để đáp ứng được nhu cầu đó
Nhân tố con người cũng là một nhân tố không thể bỏ qua:nhân tố này gópphần quan trọng vào hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển.Chính vì vậy cần phảiđào tạo đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, có chất lượng tri thức, có khả năng ứngdụng các công nghệ mới và có đạo đức nghề nghiệp…
2.Nội dung đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn NSNN.
2.1.Nội dung.
2.1.1 Đầu tư vào hạ tầng GTĐB theo chu kì của dự án.
Chu kì của một dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự ánphải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thànhchấm dứt hoạt động
Chu kì dự án dự án đầu tư có thể được minh họa bằng sơ đồ:
Hình 1.1: Sơ đồ chu kì dự án đầu tư
Ý đồ về
dự án
đầu tư
Chuẩn bị đầu tư
Thực hiện đầu tư
Vận hành các kết quả đầu tư
Ý đồ về
dự án đầu tư
Trang 22Cũng như các dự án đầu tư phát triển thông thường thì chu kì của dự án đầu
tư phát triển hạ tầng GTĐB cũng trải qua các giai đoạn như trong sơ đồ chu kì dựán:
-Ý đồ về dự án đầu tư: Đây là bước rất quan trọng vì là sự khởi đầu cho bất
cứ một dự án đầu tư nào đặc biệt là đối với các dự án có mục tiêu xã hội cao nhưcác dự án hạ tầng GTĐB,xác định ý đồ cho dự án phải được dựa trên các cơ chếchính sách phát triển hệ thống hạ tầng giao thông vận tải của cả nước nói chung vàcủa hệ thống hạ tầng GTĐB nói riêng cũng như nhu cầu cấp thiết của dự án
-Chuẩn bị đầu tư:
+Soạn thảo dự án: trên cơ sở có ý đồ đầu tư thì nhà đầu tư sẽ tiến hành lập dự
án cũng như tiến hành nghiên cứu khả thi và nghiên cứu tiền khả thi.Sau giai đoạnnày sẽ có một dự án hoàn chỉnh để trình lên cơ quan có thẩm quyền xin cấp vốnNSNN
+Thẩm định dự án: Sau khi dự án đã được lập hoàn chỉnh, để dự án có thểđược cấp vốn đầu tư thì cần phải tiến hành thẩm định tính khả thi của dự án vìNSNN là có hạn không thể đầu tư dàn trải được.Mục tiêu quan trọng nhất của giaiđoạn này là phải tiến hành thẩm định khía cạnh tài chính kết hợp với thẩm định khíacạnh xã hội của dự án, không thể xem nhẹ khía cạnh xã hội như đối với các dự án tưnhân
-Thực hiện đầu tư: Các dự án sau khi được tiến hành thẩm định nếu có tínhkhả thi sẽ được cấp vốn đầu tư và tiến hành thực hiện đầu tư.Trong quá trình thicông công trình cần phải thường xuyên giám sát, kiểm tra quá trình thực hiện xâydựng công trình và phải bảo cáo tiến độ thường xuyên cho các cơ quan quản lý cóthẩm quyền nhằm đảm bảo cho công trình hoàn thành đúng theo kế hoạch phát triểnchung của cả nước cũng như đảm bảo cho công trình được hoàn thành với chấtlượng tốt nhất có thể nhưng với chi phí thấp nhất.Kết thúc giai đoạn này thì côngtrình đã được hoàn thành và có thể bắt đầu được đưa vào sử dụng.Sản phẩm ở đây
là các con đường mới, cây cầu mới…
Trang 23-Vận hành kết quả đầu tư: Đây là giai đoạn cuối cùng của bất kì dự án đầu tưnào,sau khi công trình đã được hoàn thành sẽ được bàn giao cho các cơ quan cótrách nhiệm khai thác công trình.Trong giai đoạn này ở một số công trình có thể tiếnhành thu phí sử dụng công trình đối với các phương tiện sử dụng nhằm bù đắp mộtphần chi phí cho nhà nước.
-Ý đồ về dự án mới:Nền kinh tế phát triển không ngừng và hạ tầng GTĐBcũng phải phát triển cùng với nền kinh tế để có thể hỗ trợ tối đa cho nhau trong mụctiêu phát triển chung của quốc gia do đó sau mỗi một công trình hoàn thành thì lạixuất hiện các kế hoạch chiến lược phát triển nhằm hỗ trợ tốt nhất cho sự phát triểnchung
2.1.2 Đầu tư vào hạ tầng GTĐB theo lĩnh vực đầu tư.
*Đầu tư và xây dựng mới đường bộ:
Đây là nội dung chủ yếu của đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB và nó chiếmmột tỷ trọng vốn lớn trong tổng số vốn nhà nước đầu tư cho phát triển hạ tầngGTĐB,thông thường nó chiếm trên 80% tổng số vốn hàng năm Đầu tư mới và xâydựng mới nhằm nâng cao tài sản cố định của nền kinh tế quốc dân cũng như nhằmnâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và nhu cầu đi lại của người dân.Đầu tư xây dựng mới hạ tầng GTĐB là chiến lược phát triển trong nhiều năm để cóthể là tiền đề và động lực cho việc phát triển các ngành khác, phát triển mỗi vùng vàđịa phương, nâng cao đời sống của các địa phương
*Đầu tư nâng cấp và duy tu bảo dưỡng đường bộ:
Đây là công việc xuất phát từ thực trạng GTĐB của nước ta.Sau nhiêu năm
sử dụng, các công trình GTĐB đã bị hư hỏng nhiều nhưng vẫn còn có thể sử dụng
để đáp ứng nhu cầu trước mặt cùng với đó là do dự thiếu vốn đầu tư của nhà nướcnên không thể xây dựng mới trong một thời gian ngắn do đó hàng năm nhà nướccần phải chi một lượng vốn nhất định để có thể duy trì hoạt động của hệ thống hạtầng GTĐB.Đây là một giải pháp tốt đối với một nước đang phát triển như ViệtNam để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống GTĐB nhưng vẫn tiết
Trang 24kiệm được các nguồn lực, điều này là rất quan trọng trong tình trạng thiếu vốnnhưng vẫn còn có quá nhiều mục tiều đầu tư cấp bách khác.
2.1.3 Đầu tư vào hạ tầng GTĐB theo khu vực đầu tư.
*Đầu tư vào giao thông nông thôn:
Đây là chủ trương đúng đắn của đảng và nhà nước ta nhằm xây dựng một xãhội công bằng, văn minh, thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước.Giaothông đi lại chủ yếu của nông thôn là giao thông đường bộ bao gồm các con đườngbên trong các xã nối liền với các đường quốc lộ; các con đường liên huyện,liên xã,liên thôn Đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB nông thôn nhằm xây dựng một hệ thống
hạ tầng đường bộ liên hoàn nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệphoá và nâng cao dân trí của khu vực nông thôn.Trên cơ sở nhà nước cùng nhân dâncùng làm thì đây là chủ trương thích hợp của đảng trong điều kiện nước ta vẫn làmột nước nông nghiệp và chủ yếu người dân sống bằng nghề nông
*Đầu tư vào giao thông đường bộ đô thị:
Song song với đầu tư vào phát triển vào khu vực nông thôn nhằm mục đích
xã hội là chủ yếu thì đầu tư vào hệ thống hạ tầng giao thông đô thị lại nhằm pháttriển kinh tế văn hoá ở khu vực đô thị đặc biệt là ở các thành phố lớn vì đây lànhững đầu tàu trong nền kinh tế, hàng năm ở các khu vực đô thị đóng góp vào GDPcủa cả nước cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn.Hơn nữa khu vực đô thị cũng
là bộ mặt của đất nước nhằm thu hút các nguồn vốn cả trong nước lẫn ngoàinước.Thực trạng hạ tầng giao thông đô thị của nước ta trong thời gian chưa đáp ứngđược nhu cầu phát triển là do một số nguyên nhân như tỉ lệ đất để xây dựng hạ tầnggiao thông đô thị là thấp, dân cư ở các đô thị tăng quá nhanh do sự di dân từ cácvùng khác, sự phát triển quá nhanh của các phương tiện giao thông do đời sông củangừơi dân ngày càng cao…Do vậy đầu tư vào hạ tầng giao thông đô thị cần phảiđược nhà nước đầu tư hơn nữa
2.1.4 Đầu tư vào hạ tầng GTĐB theo vùng lãnh thổ.
Địa lý nước ta trải dài từ bắc tới nam, mỗi một vùng lãnh thổ lại có nhữngđiều kiện về địa hình, tự nhiên, khí hậu….khác nhau do đó mục tiêu phát triển cũng
Trang 25là khác nhau.Do đó hàng năm nhà nước cũng sẽ có sự ưu tiên khác nhau với mỗivùng lãnh thổ nhưng vẫn đảm bảo sự công bằng xã hội và đảm bảo mục tiêu pháttriển chung của xã hội.Ví dụ như các vùng gần biên giới hay gần biển sẽ được ưutiên đầu tư trước để có thể tận dụng tối đa lợi thế về mặt địa lý trong phát triển kinhtế.Nước ta được chia thành các vùng sau:
-Vùng trung du và miền núi phía bắc
-Vùng đồng bằng sông Cửu Long
2.2 Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả đầu tư phát triển.
Bất cứ một hoạt động đầu tư phát triển nào cũng đều phải đặt kết quả và hiệuquả của hoạt động đầu tư lên trên hết và điều đó cũng đúng với đầu tư phát triển hạtầng giao thông đường bộ từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, với nguồn vốn eo hẹpcủa mình thì kết quả và hiệu quả càng được nhà nước đặt lên hàng đầu.Trước hếtđược đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB từ nguồn vốn NSNN được thể hiện ở các kếtquả thực hiện của nó bao gồm:
-Thể hiện ở khối lượng vốn đầu tư thực hiện: đây là tổng số tiền đã chi ra đểtiến hành các hoạt động đầu tư bao gồm các chi phí cho công tác đền bù, giải phóngmặt bằng, công tác xây dựng, chi phí tư vấn, chi phí mua sắm các trang thiết bị máymóc, chi phí quản lý…Thông thường thì tiêu chí kết quả này sẽ được xem xét tronghàng năm nhằm có những thay đổi hợp lý đảm bảo nguồn vốn của nhà nước đượcthực hiện đúng mục đích và các dự án trọng điểm sẽ được ưu tiên sử dụng vốn trước
vì mục tiêu phát triển chung
-Tiêu chí thứ hai thể hiện kết quả của hoạt động đầu tư phát triển GTĐB từNSNN là giá trị tài sản cố định huy động tăng thêm và năng lực sản xuất cũng nhưphục vụ của ngành GTĐB tăng lên do trong thời kỳ đầu tư.Tài sản cố định huy động
Trang 26là các công trình hay hạng mục công trình, đối tượng xây dựng có khả năng pháthuy độc lập và đã được hoàn thành đưa vào sử dụng mà sản phẩm ở trong ngànhGTĐB là các con đường, cây cầu mới.Nhờ có những hạng mục công trình mới đượcđưa vào sử dụng mà năng lực phục vụ của ngành được tăng lên và ngày càng phục
vụ tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế và của người dân
Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kếtquả kinh tế-xã hội đã đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để cócác kết quả đó trong một thời kỳ nhất định.Hiệu quả của hoạt động đầu tư đượcđánh giá thông qua các chỉ tiêu đo lường hiệu quả và được xác định dựa trên từngmục tiêu của dự án.Xuất phát từ đặc điểm của đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB làmang tính chất công cộng và xã hội hoá cao nên việc xác định hiệu quả của hoạtđộng đầu tư từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực GTĐB cũng khác so với các lĩnhvực khác.Hiệu quả của hoạt động đầu tư không mang tính rõ ràng và được dựa trên
cơ sở hiệu quả của các ngành và các lĩnh vực khác
Trước hết đây là công trình từ nguồn vốn NSNN và mang tính phúc lợi caonên không thể sử dụng các chỉ tiêu tài chính như là đóng góp cho NSNN là baonhiêu hay thời gian thu hồi vốn nhưng không phải như thế là không có hiệu quả màhiệu quả của nó được xác định dựa trên sự phát triển của nền kinh tế và những đónggóp của nó vào hiệu quả kinh tế-xã hội và mục tiêu này thường thể hiện qua các chủtrương,chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của nhà nước như tốc độtăng trưởng GDP, mức độ cải thiện thu nhập của dân cư, phúc lợi xã hội…vì nhờ cócác công trình hạ tầng GTĐB mà các ngành kinh tế khác phát triển nhanh, thu hútđược nhiều nguồn vốn từ nước ngoài, đời sống về tinh thần của người dân đượcnâng cao
Hiệu quả trước hết thể hiện hệ thống chỉ tiêu về nâng cao mức sống của dân
cư như mức gia tăng sản phẩm quốc gia, mức gia tăng thu nhập, tốc độ tăng trưởng
và phát triển kinh tế…
Trang 27Hiệu quả được thể hiện thông qua sự phân phối thu nhập và công bằng xãhội: thể hiện qua sự đóng góp của công cuộc đầu tư vào việc phát triển các vùngkinh tế kém phát triển và đẩy mạnh công bằng xã hội.
Chỉ tiêu thứ ba là sự gia tăng số lao động có việc làm: đây là một trongnhững chỉ tiêu chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của các nước ta mộtquốc gia thừa lao động nhưng thiếu việc làm
Ngoài ra cũng có thể tính được dựa trên một số chỉ tiêu hiệu quả của ngànhnhư số km đường/người, tỉ lệ đường quốc lộ và tỉnh lộ đạt các tiêu chuẩn quốc tế,năng lực vận tải của ngành giao thông đường bộ, khối lượng hành khách vậnchuyển bằng đường bộ, khối lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường bộ…
Trang 28Chương II: Thực trạng đầu tư phát triển giao thông đường bộ
Việt Nam bằng nguồn vốn NSNN.
1.Sự cần thiết phải tăng cường đầu tư phát triển giao thông đường bộ
1.1.Vị trí của ngành giao thông đường bộ.
Đường lối phát triển của Việt Nam trong thời gian tới là đẩy mạnh côngnghiệp hoá hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thànhmột nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựngquan hệ sản xuất phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy cao độ nội lựcđồng thời nội lực, đồng thời tranh thủ các nguồn lực tù bên ngoài và chủ động hộinhập quốc tế để có thể phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh
tế đi cùng với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thầncủa người dân, thực hiện tiến bộ công bằng xã hôi, bảo vệ cải thiện môi trường, kếthợp phát triển kinh tế xã hội với quốc phòng an ninh
Để có thể hoàn thành được định hướng trên có thể nhận thấy vị trí của hệthống hạ tầng GTĐB là rất quan trọng, cần phải có một hệ thống GTĐB đồng bộ vàđạt tiêu chuẩn để có thể đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá bằng việc tăngcường đầu tư các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và thực hiệnchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng của ngành công nghiệp và dịchvụ.Xây dựng một hệ thống hạ tầng GTĐB tiêu chuẩn là rất cần thiết nhằm đảm bảocác khu công nghiệp có thể nối liền nhau và nối liền với các khu thương mại từ đósản phẩm hàng hoá sẽ nhanh chóng đến tay người tiêu dùng,làm tăng tốc độ pháttriển công nghiệp và các ngành khác
Việt Nam cũng đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mạithế giới WTO, đây cũng vừa là cơ hội nhưng cũng vừa là thách thức đối với nước
ta Để có thể thu hút tối đa các nguồn vốn FDI phục vụ cho sự phát triển thì hệthống hạ tầng giao thông đường bộ đóng vai trò quyết định, nhiều nhà đầu tư nướcngoài cho rằng hạ tầng giao thông của nước ta là một điểm bất lợi so với nhiều nướccùng khu vực trong việc thu hút vốn.Một khi hệ thống hạ tầng GTĐB nói riêng và
Trang 29hệ thống hạ tầng giao thông vận tải nói chung được hoàn thiện và hiện đại thì ViệtNam chắc chắn là điểm đến hấp dẫn của mọi nguồn vốn đầu tư.
Cùng với tốc độ tăng trưởng GDP cao hàng năm thì đời sống của người dânngày càng được nâng cao đặc biệt là ở các khu vực đô thị, nếu nhiều năm trước để
sở hữu phương tiên ô tô là một món hàng xa xỉ với nhiều người thì trong nhữngnăm gần đây số lượng ô tô được bán ra ngày càng tăng, và hứa hẹn sẽ có mức tăngtrưởng cao trong những năm tiếp theo.Để đáp ứng được nhu cầu đó càng thấy tầmquan trọng của hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ
Như vậy đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB là nhiệm vụ có tính chiến lược vàcấp thiết trong thời gian hiện nay và cả trong thời gian sau nữa
1.2.Thực trạng hệ thống giao thông đường bộ.
Trong những năm qua,nhận thấy được tầm quan trọng của hệ thống hạ tầngGTĐB, đảng và nhà nước đã dành khá nhiều ưu tiên cho đầu tư phát triển hạ tầngGTĐB cùng với việc xây dựng các chính sách khuyến khích tư nhân và các tổ chứcnước ngoài cùng tham gia đầu tư dưới nhiều hình thức thì hệ thống hạ tầng GTĐBcủa nước ta đã có những bước phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ.Hầu hết cácđường quốc lộ đã được xây mới hoặc được nâng cấp, cải tạo như đường quốc lộtuyến Hà Nội-Lạng Sơn, Hà Nội- Bắc Cạn…đã làm cho khoảng cách giữa các tỉnh,địa phương được thu hẹp đáng kể; năng lực vận tải cũng được nâng cao; số vụ tạinạn giao thông trên các tuyến quốc lộ cũng như các điểm đen ngày càng giảm Giaothông đô thị và nông thôn cũng ngày càng được cải thiên, đặc biệt là ở các thànhphố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh thì tình trạng ùn tắc cũng đã đượcgiảm đáng kể mà tiêu biểu là một số dự án như cầu Ngã Tư Sở, xây dựng đườngKim Liên mới…góp phần quan trọng đổi mới bộ mặt đô thị của Việt Nam.Giaothông nông thôn cũng phát triển đáng kể, số xã không có đường bê tông ngày cànggiảm đã góp phần đáng kể vào công cuộc xoá đói giảm nghèo của các vùng nôngthôn
Không chỉ tập trung phát triển về mặt số lượng, lượng vốn NSNN trong thờigian qua cũng tập trung xây dựng các tuyến đường cầu theo tiêu chuẩn quốc tế và
Trang 30đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế như tuyến Bắc Thăng Long- NộiBài, đường cao tốc Pháp Vân, hoàn thành xây dựng hầm đường bộ qua đèo HảiVân…hay một số dự án đang tiến hành triển khai như đường Láng Hoà Lạc, tuyếnđường Hồ Chí Minh…
Mặc dù đã có những kết quả vượt bậc trong thời gian qua song hệ thốngđường bộ của nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế.Hiện nay Việt Nam có tổngchiều dài mạng lưới đường bộ tương đối lớn với khoảng trên 222.179 km:
Bảng 2.1: Mạng lưới giao thông đường bộ
Nguồn:Cục đường bộ Việt Nam
Mạng lưới đường bộ của nước ta được bố trí tương đối hợp lý nhưng nhìnchung thì chất lượng của các con đường còn kém.Phần lớn các con đường của nước
ta còn hẹp, chỉ có khoảng 570 km đường quốc lộ có 4 làn đường trở lên, loại đường
có bề rộng 2 làn xe trở lên chỉ chiếm khoảng 62%.Đường bộ của nước ta chủ yếu làđường 1 làn xe với bề mặt đường từ 3-3.5m.Hệ thống giao thông đường bộ củanước ta vẫn còn chậm phát triển, vừa thiếu lại vừa yếu,hầu hết các con đường chưađạt tiêu chuẩn kĩ thuật, chưa có đường cao tốc chuẩn: một số đường cao tốc đạt tiêuchuẩn loại Việt Nam như Nội Bài, Nam Thăng Long… nhưng chỉ tương ứng vớitiêu chuẩn B(Expressway) so với tiêu chuẩn quốc tế.Nhiều con đường vẫn chưa thểthông xe suốt cả năm nhất là vào mùa mưa nhiều con đường không thể sử dụngđươc.Ngoài ra số lượng đường chưa được trải mặt còn rất lớn, số đường được trải
Trang 31mặt mới chỉ chiếm khoảng 19% trên tổng số chiều dài đường;ngay cả đường quốc
lộ cũng mới chỉ có 83.5% được trải mặt và được thể hiện rõ ở bảng sau:
Bảng 2.2: Phân loại chiều dài đường và mặt đường Hệ
Nguồn: Cục đường bộ Việt Nam
*Về đường quốc lộ:Trên quốc lộ hiện nay có khoảng hơn 3800 chiếc cầu, vớitổng chiều dài hơn 118.000 m trong đó có khoảng 920 cây cầu không an toàn vớichiều dài khoảng 43562 km (chiếm hơn 40%) Tổng chiều dài cầu trên đường tỉnh
và liên tỉnh là 78.059 m trong đó cầu không an toàn là 16.645m chiếm (21.32%)
Mặc dù có chiều dài là trên 17.295 km với tỉ lệ đã trải mặt trên 83.5% nhưng
tỉ lệ đường cao tốc của nước ta còn quá nhỏ bé,và hầu như là không có.Trong khi tỉ
lệ đường cao tốc của các nước trong khu vực là khá cao:Singapore 4.44%, HànQuốc 2.45%, Thái Lan 0.18%
Chính vì vậy hệ thống đường quốc lộ của nước ta vẫn cần phải đầu tư xâydựng nhiều để có thể theo kịp với các nước trong khu vực
*Về đường tỉnh và nông thôn: Số lượng xã chưa có đường đến trung tậmhuyện ngày càng giảm, đến nay chỉ còn dưới 200 xã và chỉ chiếm khoảng 2% trong
Trang 32số 10500 xã, số xã chưa có đường tập trung ở vùng xâu vùng xa.Sau đây là hiệntrạng hệ thống giao thông nông thôn:
Bảng 2.3: Hạ tầng giao thông nông thôn
Nguồn: Vụ đầu tư-Bộ tài chính
Nhưng nhìn chung các con đường chưa có được chất lượng tốt nhất, một phầnnguyên nhân là do vốn NSNN của ta còn thiếu hơn nữa đội ngũ quản lý của ta ở cácvùng xa còn yếu Đây là một điểm chúng ta cần khắc phục để làm tăng khả nănggiao lưu giữa các vùng cũng như góp phần làm giảm mức độ đói nghèo
*Về đường đô thị:tốc độ đô thị hoá ngày càng cao cùng với đó là số lượngđường đô thị cũng ngày càng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách.Tuy nhiênđường đô thị của Việt Nam đang lâm vào tình trạng báo động mà ví dụ điển hìnhnhất ở đây là ở 2 thành phố lớn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.Hệ thống đường
đô thị cũ chưa được nâng cấp sửa chữa nhiều, nhiều con đường được xây dựng từthời kháng chiến chống Pháp nên bề mặt đưòng nhỏ, lại có nhiều điểm giao cắt (như
ở thành phố Hồ Chí Minh có trên 1000 điểm, còn ở Hà Nội có trên 500 điểm)
Thực trạng trên cho thấy nâng cao đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB là mộtchính sách đúng đắn của đảng và nhà nước, như thế mới có được một hệ thống hạtầng GTĐB hoàn chỉnh, chất lượng tốt để phục vụ mục tiêu công nghiệp hoá vàhiện đại hoá đất nước
Trang 332.Thực trạng đầu tư phát triển hệ thống giao thông đường bộ.
2.1.Tình hình huy động vốn NSNN đầu tư phát triển giao thông đường bộ.
Muốn đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng GTĐB thì vốn là yếu tố quyếtđinh,quá trình huy động và sử dụng vốn luôn gắn bó mật thiết với nhau đặc biệt làđối với nguồn vốn NSNN.Lượng vốn huy động được sẽ đóng vai trò quyết định đốivới nhu cầu sử dụng vốn đầu tư và nhu cầu sử dụng vốn là căn cứ quan trọng để nhànước có thể phân bổ và huy động vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB hàngnăm
Công tác huy động vốn cho đầu tư phát triển GTĐB được thực hiện gắn liềnvới cơ chế và chính sách huy động vốn cho các hoạt động đầu tư phát triển nóichung và phụ thuộc vào nhu cầu vốn đầu tư cũng như vào thực trạng nền kinh tế-xãhội trong từng giai đoạn phát triển
Đối với vốn tích lũy từ NSNN cần áp dụng chính sách huy động tiết kiệmtriệt để và sử dụng có hiệu quả bằng cách: tăng thu cho NSNN bằng nhiều nguồnnhư thuế, phí sử dụng cầu đường,… cùng với tăng thu là phải sử dụng tiết kiệm đặcbiệt là trong chi tiêu dùng của ngân sách.Chỉ khi NSNN có tích luỹ thặng dư và tíchluỹ ngày càng tăng thì mới có thể nâng cao được nguồn vốn cho các hoạt động đầu
tư phát triển vốn đã rất tốn kém
Tăng thu cho NSNN trên cơ sở quản lý chặt chẽ và khai thác hợp lý cácnguồn thu theo luật NSNN và các luật có liên quan đến NSNN, tránh tình trạng trốnthuế, nợ thuế hàng năm và các khoản thu khác của NSNN Đây là việc làm rất cấpbách trong bối cảnh nền kinh tế thị trường của Việt Nam phát triển ngày càng mạnh
mẽ, số doanh nghiệp được thành lập ngày càng nhiều cùng với đó là nhiều thủ đoạnlàm ăn ngày càng tinh vi.Cần phải có chính sách hợp lý để đào tạo đội ngũ chuyênmôn quản lý NSNN cả về chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp.Có thể thấy rằng từkhi tiến hành cải cách nền kinh tế theo cơ chế thị trường, xóa bỏ chế độ cao cấp thìtích luỹ cho NSNN ngày càng tăng nên vốn cho đầu tư các hoạt động đầu tư pháttriển cũng ngày càng tăng: năm 1991 mới chỉ là 15% tăng lên 23% vào năm 1995,tiếp tục tăng lên 35% vào năm 2000, đến năm 2005 đã là 39% và con số này có thể
Trang 34tăng lên đến 45% vào năm 2010 Đối với các công trình hạ tầng giao thông đường
bộ thì cần có các biện pháp trực tiếp khai thác cụ thể: quản lý phí đánh vào người sửdụng cầu đường, thuế trước bạ ô tô xe máy, thuế xăng dầu,…Đây sẽ là nhữngnguồn vốn quan trọng để tái đầu tư vào các công trình hạ tầng giao thông khác
Do đặc điểm của các công trình hạ tầng GTĐB là đòi hỏi một lượng vốn rấtlớn nên vốn tập trung từ NSNN không thể đáp ứng đủ do đó chính phủ tiến hànhhuy động vốn cho hoạt động đầu tư phát triển từ các nguồn vốn khác như trái phiếuchính phủ, trái phiếu công trình, vay nước ngoài ODA… Đây là xu hướng đúng đắntrong tình trạng vốn tập trung của NSNN còn hạn hẹp và xu hướng này sẽ làm choNSNN tăng lên
Để phát triển tối đa hệ thống hạ tầng GTĐB thì cần phải huy động tối ta cácnguồn lực và có những chính sách đầu tư mạnh mẽ cho lĩnh vực này.Để thực hiệnđược mục tiêu đó thì đến năm 2003, quốc hội đã thông qua luật Ngân Sách NhàNước sửa đổi; với việc ra đời của luật này là cơ sở pháp lý quan trọng tạo ra một sựthay đổi lớn trong quản lý ngân sách của Việt Nam.Thực hiện phân cấp quản lýNSNN, phân bổ NSNN một cách công khai và tạo điều kiện chủ động cho các địaphương, các ngành có được tính chủ động trong việc bố trí và sử dụng NSNN Đây
là bước đột phá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN.Mỗi một năm mỗi ngànhmỗi địa phương lại có những kế hoạch vốn của riêng mình để phát triển trình lênchính phủ, chính phủ sẽ cùng với bộ tài chính và bộ kế hoạch- đầu tư sẽ tiến hànhcân đối ngân sách trên cơ sở các mục tiêu đã được đặt ra để phân bố sao cho hợp lý.Điều này sẽ tạo điều kiện rất tốt cho hoạt động đầu tư vào hệ thống hạ tầng giaothông vận tải nói chung và giao thông đường bộ nói riêng vì các công trình đượcthực hiện trong nhiều năm nên chủ động về vốn cũng đồng nghĩa với hiệu quả đầutư
Cũng trong giai đoạn từ năm 2003 trở lại đây tốc độ tăng trưởng của nềnkinh tế Việt Nam là khá cao (giữ mức trung bình là 7.5%), so với thời kì trước là cónhững tiến bộ vựơt bậc (năm 1990 tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội là 5%, năm
2000 là 6.9%),cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế là các nguồn thu cho NSNN cũng
Trang 35ngày một tăng đặc biệt là các nguồn từ thuế của doanh nghiệp, đây được coi lànguồn thu chính của bất cứ ngân sách nhà nước của mọi quốc gia do đóng ngânsách nhà nước cho hoạt động phát triển hạ tầng GTĐB cũng ngày một tăng và đápứng khá tốt nhu cầu vốn đầu tư cho hệ thống GTĐB hàng năm.
Bảng 2.4: Vốn NSNN cho giao thông đường bộ.
Nguồn: Vụ đầu tư- Bộ tài chính
Như vậy số vốn đầu tư cho phát triển hạ tầng GTĐB trong những năm qua làkhá ổn định và ngày càng tăng.Tổng số huy động được trong giai đoạn từ năm 2003đến năm 2008 35275.8 tỷ đồng và nhiều hơn hẳn thời kì từ năm 1996 đến 2000 là5156.3 tỷ đồng
Tuy nhiên cơ chế huy động vốn cho đầu tư phát triển đang ngày càng thayđổi và được định hình cụ thể, nhà nước đang khuyến khích mọi nguồn vốn tham giađầu tư vào phát triển hạ tầng giao thông nói chung và GTĐB nói riêng.Chính vì vậy
tỉ trọng vốn ngân sách nhà nước ngày càng giảm và giờ chỉ chiếm khoảng 25.3%
Trang 36trong tổng số các nguồn vốn huy động cho đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB.Tronggiai đoạn này tỷ các nguồn vốn là nguồn vốn ODA 27.5%,nguồn vốn trái phiếu 31.7nguồn vốn tín dụng nhà nước 10.6 và các nguồn vốn khác là 4.9%
Bảng 2.5: Cơ cấu vốn đầu tư GTĐB 2003-2008 Đơn vị: tỷ đồng
Nguồn: Vụ đầu tư-Bộ tài chính
Đây được coi là xu hướng phát triển đúng đắn,không thể quá lệ thuộc vàonguồn vốn NSNN eo hẹp, đây là bước đi mà các nước phát triển đã làm từ rất lâu vàđạt được những kết quả to lớn
2.2 Tình hình sử dụng vốn NSNN cho phát triển giao thông đường bộ.
2.2.1.Cơ chế quản lý và sử dụng vốn NSNN cho giao thông đường bộ.
*Cơ chế quản lý:
Tham gia quản lý và sử dụng vốn NSNN cho đầu tư phát triển hạ tầng GTĐBbao gồm các cơ quan từ trung ương tới địa phương và các ban quản lý của từng dựán.Ở trung ương có các cơ quan là chính phủ, bộ tài chính, bộ kế hoạch và đầu tư,
bộ giao thông vận tải, kho bạc nhà nước trung ương Ở các địa phương là Sở kếhoạch và đầu tư, sở tài chính của các tỉnh (thành phố) và các cơ quan kho bạc củamỗi địa phương.Trong đó quy định theo nguồn vốn sẽ là cơ quan nào sẽ chịu tráchnhiệm về dự án, các dự án trọng điểm quốc gia sẽ do chính phủ trực tiếp quản lý vàchịu trách nhiệm, các dự án nhóm A sẽ do bộ giao thông vận tải kết hợp với bộ tàichính và bộ kế hoạch quản lý, các dự án còn lại sẽ do các tỉnh trực tiếp quản lý
Trang 37Chu trình quản lý và cấp vốn sẽ được thực hiện tuần tự thông qua các bướcsau:
-Lập kế hoạch vốn: Các đơn vị trực thuộc cục đường bộ sẽ có kế hoạch vềvốn cho riêng mình dựa trên các kế hoạch của quốc gia, của ngành và của từng địaphương đảm bảo không chồng chéo giữa các cấp đặc biệt mâu thuẫn với các kếhoạch đầu tư của các địa phương Đây là công việc rất quan trọng vì dựa vào đó đểphân bổ vốn một cách hợp lý nhất
-Cục đường bộ tổng hợp kế hoạch vốn đầu tư xây dựng của các đơn vị trựcthuộc gửi bộ giao thông vận tải
-Bộ giao thông vận tải sẽ tổng hợp rồi gửi cho Bộ tài chính và Bộ kế hoạch
và đầu tư, rồi sau đó sẽ trình chính phủ phê duyệt
- Sau khi được chính phủ chấp nhận kế hoạch, bộ giao thông vận tải sẽ phânchia vốn chi tiết cho từng dự án dưới sự kiểm tra phân bổ vốn của Bộ tài chính vàthông báo về kế hoạch chuyển vốn cho Kho bạc nhà nước để có thể kiểm soát thanhtoán vốn cho chủ đầu tư, mỗi một dự án sẽ được lập một tài khoản tại kho bạc để cóthể tiện cho việc kiểm tra cũng như thanh toán vốn cho dự án được dễ dàng
*Sử dụng vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB:
Giao thông đường bộ là ngành có vai trò hết sức quan trọng đối với sự pháttriển của đất nước.Chính vì vậy, được sự quan tâm của Đảng và nhà nước thì tỷ lệvốn cho đầu tư phát triển GTĐB chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư của toànnganh giao thông vận tải(GTVT) cũng như so với tổng vốn đầu tư hàng năm từnguồn vốn NSNN
Trước hết là sử dụng vốn đầu tư phát triển cho hạ tầng GTĐB so với toànngành GTVT Trong tổng số NSNN chi cho lĩnh vực GTVT hàng năm thì số chicho GTĐB luôn chiếm một tỷ trọng lớn và chiếm vị trí ưu tiên hơn so với các lĩnhvực khác trong ngành như đường sắt, hàng không, đường thuỷ…Điều này cho thấytầm quan trọng của đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB là quan trọng như thế nào đốivới ngành GTVT và với nền kinh tế.Điều này được thể hiện rõ qua bảng sau:
Trang 38Bảng 2.6: Chi NSNN cho GTĐB 2003-2008 Đơn vị: Tỷ đồng
Nguồn: Vụ đầu tư-Bộ tài chính
Trong giai đoạn này nền kinh tế Việt Nam tương đối ổn định và chỉ đến năm
2008 là chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên có thể nhận thấy rõđiều đó ảnh hưởng như thế nào đến đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB nói riêng vàđầu tư vào ngành GTVT nói chung Chi NSNN nhà nước cho ngành GTVT vẫntăng đều qua hàng năm,năm 2003 là 13518 tỷ đồng thì đến năm 2007 đã là 17087 tỷđồng(tức là tăng 26.4% so với năm 2003) Đầu tư vào ngành GTVT tăng cũng cónghĩa là đầu tư vào XDCB GTĐB cũng tăng theo đó: năm 2003 là 4289.3 tỷ đồng,đến năm 2007 là 7552.7 tỷ đồng (tăng 3263.4 tỷ đồng tương đương 76.08%).Có thể
dễ dàng nhận thấy tốc độ tăng đầu tư phát triển vào hạ tầng GTĐB nhanh hơn sovới tốc độ tăng vốn đầu tư vào ngành GTVT.Dựa vào kết quả trên có thể nhận thấyrằng giao thông đường bộ đã và đang là huyết mạch giao thông chính của nền kinh
tế và của đất nước nên luôn được khuyến khích phát triển.Vốn đầu tư phát triển hạtầng GTĐB tăng tương đối nhanh như vậy một phần xuất phát từ chính sách hộinhập giao lưu kinh tế của Việt Nam,giai đoạn 2003-2008 là giai đoạn Việt Namthúc đẩy quá trình gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO và Việt Nam được coi
là một trong những môi trường đầu tư hấp dẫn nhất thế giới nhờ một nền chính trị
ổn định
Vốn đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB cũng chiếm một tỷ trọng tương đối caotrong tổng số vốn đầu tư từ NSNN của toàn xã hội và chiếm một tỷ trọng đáng kểtrong tổng GDP hàng năm của Việt Nam
Trang 39Chỉ tiêu
GDP 557344 599703 715307 839211 974266 974704Chi NSNN cho XDCB 59629 66115 79199 88341 96829 86949Chi NSNN cho GTĐB 4289.3 4940.2 6153.7 6688.2 7552.7 5651.7
Bảng 2.7: Chi NSNN cho GTĐB trong nền kinh tế quốc dân
Nhìn vào bảng tổng hợp có thế thấy rõ tổng vốn đầu tư từ NSNN nhà nướcngày càng tăng chứng tỏ nhà nước đang đầu tư rất có hiệu quả.Năm 2003 là 59629
tỷ đồng và tăng đều qua các năm đến năm 2007 là 96829 tỷ đồng (bằng 37200 tỷđồng tương đương 62.3%- tốc độ tăng này là tương đối nhanh).GDP cũng tăng đèuqua các năm, từ năm 2003 đến năm 2008 thì GDP đã tăng được 417360 tỷ đồngtương đương với 74%.Nhìn vào hiệu quả của nền kinh tế và của đầu tư từ NSNNchúng ta cũng có thể nhận thấy những đóng góp của ngành GTĐB,vốn NSNN đầu
tư vào hạ tầng GTĐB chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong tổng chi NSNN hàngnăm cho đầu tư phát triển hàng năm, để có thể đầu tư như vậy thì nhà nước cũng đãnhận ra được hiệu quả từ các nguồn vốn này là rất lớn nên đã duy trì đều đặn hàngnăm cho đầu tư phát triển vào hạ tầng GTĐB
2.2.2 Đầu tư phát triển giao thông đường bộ phân theo lĩnh vực đầu tư.
2.2.2.1 Đầu tư và xây dựng mới đường bộ.
Đây là các dự án chiếm phần lớn vốn đầu tư trong tổng số vốn đầu tư từNSNN cho đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB.Nhân thấy thực trạng hạ tầng giao thôngđường bộ của nước ta đang rất thiếu và không thể đáp ứng được nhu cầu của xã hộitrong thời gian tới nên nhà nước đã chú tâm đầu tư xây dựng mới hệ thống hạ tầngGTĐB đặc biệt là các dự án chất lượng cao.Trong thời gian tới chính phủ đangchuẩn bị đầu tư vào một số dự án lớn như đường cao tốc vành đai 3 Hà Nội với vốn
Trang 40đầu tư dự kiến là 540 triệu USD, đường cao tốc Ninh Bình-Thanh Hoá-Vinh với sốvốn là 960 triệu USD…
Bảng 2.8: Tỷ lệ vốn đầu tư xây dựng mới.
4289.3 4940.2 6153.7 6688.2 7552.7 5651.7
Vốn đầu tư xây
dựng mới
Tỷđồng
Nguồn: Vụ đầu tư- Bộ tài chính
Trong giai đoạn 2003-2008 vốn đầu tư xây dựng mới hệ thống hạ tầng giaothông đường bộ đã tăng từ 3318.6 tỷ đồng lên đến cao nhất 6069.3 tỷ đồng vào năm2007.Tỷ lệ vốn đầu tư xây dựng mới cũng rất cao trong tổng số vốn đầu tư từNSNN hàng năm cho phát triển GTĐB,năm 2003 là 77.37 %, năm 2007 là 80.36%,
tỷ lệ vốn trung bình hàng năm là trên 71.9% dù rằng đã có những năm tỷ lệ này là50.24% vào năm 2004.Trong tổng số vốn đầu tư xây dựng mới cho hệ thống hạ tầngGTĐB hàng năm,tỷ trọng vốn đầu tư cho quốc lộ chiếm tỷ trọng khoảng 60%,phầncòn lại tập trung đầu tư vào hệ thống đường khác chiếm 40%.Điều này là dễ hiểu vì
hệ thống đường quốc lộ trên cả nước còn nhiều tuyến chỉ 1 làn xe, và bị hư hỏngnhiều mà tiêu biểu là quốc lộ 3 Hà Nội-Thái Nguyên, hàng ngày thường xuyên xảy
ra các vụ tai nạn giao thông.Chính vì lẽ đó mà trong những năm qua liên tục có các
dự án đường quốc lộ được khởi công xây dựng và dần đi vào hoạt động như dự ánđường cao tốc Nội Bài-Lào Cai, dự án quốc lộ 3 mới, dự án quốc lộ 18…Khi các dự
án này hoàn thành cùng với các dự án trong tương lai sắp được đầu tư thì hy vọngrằng hệ thống đường quốc lộ của Việt Nam sẽ hoàn chỉnh và sẽ góp phần rút ngắnkhoảng cách giữa các tỉnh thành trong cả nước
2.2.2.2 Đầu tư nâng cấp và duy tu bảo dưỡng đường bộ.