Ví dụ: trẻ biết chắp ghépnhững hình đã biết thành những ngôi nhà khác nhau… Nếu trẻ mẫu giáo bé và nhỡ chỉ dễ dàng thực hiện các nhiệm vụ lựa chọn vậttheo hình mẫu, thì trẻ mẫu giáo lớn
Trang 1Phần I: MỞ ĐẦU I.Lý do chọn đề tài
Hình thành các biểu tượng toán học cơ bản ban đầu cho trẻ mẫu giáo là mộttrong những nội dung trọng tâm của chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ Nhằm giúptrẻ hiểu sâu, nhớ lâu và có thể linh hoạt vận dụng các biểu tượng toán phối kết hợpvới các môn học khác và hoạt động khác, cũng như trong quá trình trẻ học, chơi vàthực tiễn hoạt động của trẻ thì phát triển tư duy từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phứctạp, từ trực quan đến trừu tượng cũng như khả năng suy luận logic của trẻ là một yếu
tố quan trọng không thể thiếu Song, thực tế quá trình chăm sóc giáo dục trẻ nóichung và hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ nói riêng, giáo viên mầm nonthường mới chú ý hình thành và luyện tập giúp trẻ làm quen các biểu tượng toán, cáchoạt động bổ trợ thúc đẩy các quá trình phát triển tư duy và khả năng suy luận đơngiản cho trẻ chưa được chú ý bổ sung và thực hiện Mặt khác, khi tiếp xúc với trẻchúng ta thường thấy trẻ giải quyết các vấn đề, các yêu cầu hay bài tập chưa thực sựlinh hoạt, sáng tạo Phần lớn trẻ mới chỉ giải quyết được chúng theo những mẫu đơngiản có sẵn của giáo viên Vì thế, quá trình làm quen, tiếp thu, liên hệ và vận dụngcác biểu tượng toán phối kết hợp với hoạt động khác và các môn học khác của trẻ cònnhiều hạn chế Đặc biệt là những ứng dụng của chúng vào thực tiễn quá trình học,chơi và trong cuộc sống Vì thế “Xây dựng một số bài toán suy luận đơn giản nhằmphát triển tư duy cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi” là đề tài thuộc hướng nghiên cứu ứngdụng nói trên
II Mục đích nghiên cứu
Xây dựng một số hoạt động nhằm phát triển tư duy toán học cho trẻ mẫugiáo 5 - 6 tuổi
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng
Các hoạt động nhằm phát triển tư duy toán học cho trẻ mẫu giáo
2 Phạm vi nghiên cứu
Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
IV Phương pháp nghiên cứu
1 Nghiên cứu lí luận:
Đọc tổng hợp các tài liệu nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
2 Nghiên cứu thực tiễn
Trang 2Quan sát, dự một số giờ học toán và tổ chức một số hoạt động luyện tập cácbiểu tượng toán cho trẻ mầm non ở trường
3 Phương pháp thống kê toán học
Thu thập và xử lý các số liệu liên quan đến đề tài, từ đó đưa ra những nhậnxét đánh giá và dự báo về vấn đề mà đề tài tập trung nghiên cứu
Phần II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương I: Những vấn đề cơ sở
1 Sự phát triển các biểu tượng toán học sơ đẳng đối với trẻ mầm non 5 – 6 tuổi
1.1 Các biểu tượng về tập hợp - số - đếm
Trẻ nhỏ sinh ra và lớn lên giữa thế giới của nhưng sự vật và hiện tượng đadạng Ngay từ nhỏ trẻ đã được tiếp xúc và làm quen với những nhóm vật có màu sắc,kích thước và số lượng phong phú, với những âm thanh, chuyển động có ở xungquanh trẻ Trẻ lĩnh hội số lượng của chúng bằng các giác quan khác nhau như: thịgiác, thính giác, xúc giác…
Trẻ 5 – 6 tuổi có khả năng phân tích chính xác các phân tử của tập hợp, cáctập con trong tập lớn Trẻ khai quát được một tập lớn gồm nhiều tập con và ngược lạinhiều tập hợp riêng biệt có thể gộp lại với nhau theo một đặc điểm chung nào đó đểtạo thành một tập lớn Khi đánh giá độ lớn của các tập hợp, trẻ mẫu giáo lớn ít bị ảnhhưởng của các yếu tố lớn yếu tố như: màu sắc, kích thước, vị trí sắp đặt của các phần
tử của tập hợp
Hoạt động đếm của trẻ mẫu giáo lớn đã phát triển lên một bước mới, trẻ rất
có hứng thú đếm và phần lớn trẻ nắm được trình tự của các số từ 1 – 10, thậm chí cònnhiều số hơn nữa Trẻ biết thiết lập tương ứng 1:1 trong quá trình đếm, mỗi từ số ứngvới một phần tử của tập hợp mà trẻ đếm Trẻ không chỉ hiểu rằng, khi đếm thì số cuốicùng là số kết quả ứng với toàn bộ nhóm vật, mà trẻ còn bắt đầu hiểu con số là chỉ sốcho số lượng phần tử của tất cả các tập hợp có cùng độ lớn không phụ thuộc vàonhững đặc điểm, tính chất cũng như cách sắp đặt của chúng
Trẻ 5 – 6 tuổi bắt đầu hiểu mối quan hệ thuận nghịch giữa các số liền kề củadãy số tự số đứng trước một đơn vị Trên cơ sở đó trẻ dần dần hiểu quy luật thành lậpdãy số tự nhiên n + 1 Kỹ năng đếm của trẻ ngày càng trở nên thuần thục, trẻ k chỉđếm đúng số lượng các nhóm vật mà còn cả các âm thanh và các động tác Qua đó trẻhiểu sâu sắc hơn vai trò của số kết quả Mặt khác, không chỉ đếm từng vật mà cònđếm từng nhóm vật Trẻ hiều sâu sắc hơn ý nghĩa của khái niệm đơn vị - đơn vị củaphép đếm có thể là cả nhóm vật chứ không chỉ là từng vật riêng lẻ
Trang 3Hơn nữa dưới tác động của dạy học, trẻ lớn không chỉ biết đếm xuôi mà cònbiết đếm ngược trong phạm vi 10, trẻ nhận biết được các số từ 1 – 10 Trẻ hiểu rằngmỗi con số không chỉ được diễn đat bằng lời nói mà còn có thể viết, và muốn biết sốlượng của các vật trong nhóm không nhất thiết lúc nào cũng phải đếm, mà đôi lúc chỉcần nhìn con số biểu thị số lượng của chúng Việc làm quen trẻ với các con số có tácdụng phát triển tư duy trừu tượng cho trẻ em, phát triển khả năng trừu tượng số lượngkhỏi những vật cụ thể, dạy trẻ thao tác với các ký hiệu – các con số.
Như vậy cần tiếp tục phát triển biểu tượng về tập hợp cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi,bước đầu cho trẻ làm quen với một số phép tính trên tập hợp, điều đó tạo cơ sở chotrẻ học các phép tính đại số sau này ở trường phổ thông Tiếp tục dạy trẻ phép đếmtrong phạm vi 10, trẻ lớn khôn không chỉ đếm từng vật riêng lẻ, mà còn đếm từngnhóm vật, nhờ vậy mà tư duy trẻ tiếp tục được phát triển, làm cho trẻ hiểu sâu sắc hơnkhái niệm đơn vị, tạo tiền đề cho trẻ hiểu bản chất của các phép tính đại số mà trẻ sẽhọc ở trường phổ thông
1.2 Các biểu tượng về hình dạng
Mỗi vật trong môi trường xung quanh đều mang những dấu hiệu nhất địnhnhư; màu sắc, kích thước, hình dạng, vị trí sắp đặt trong không gian… Dựa vàonhững dấu hiệu này mà con người phân biệt vật này với các vật khác Như vậy, hìnhdạng là một trong những dấu hiệu bên ngoài của vật cụ thể, và đồng thời là một kháiniệm khái quát, dựa vào chúng mà con người có thể tiến hành so sánh và tạo nhómcác vật khác nhau theo dấu hiệu hình dạng
Hình dạng của các vật trong môi trường xung quanh rất phong phú, đa dạng.Tuy nhiên hình dạng của bất kì vật thể nào đều được phản ánh khái quát bằng dạngcủa hình học nào đó hay bằng sự kết hợp của một số hình hình học theo một kiểu nhấtđịnh trong không gian Như vậy hình học là các hình chuẩn mà con người dựa vào đó
Trang 4Việc nhận biết hình dạng vật thể và nhận biết các hình hình học luôn có cácmối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau Dựa trên những biểu tượng hình dạngvật thể và thông qua sự khái quát chúng mà trẻ nhận biết được các hình hình học Mặtkhác, thông qua các biểu tượng về các hình hình học mà phát triển ở trẻ khả năngphân biệt, nhận biết hình dạng vật thể.
Khả năng tri giác, nhận biết hình dạng vật thể và các hình hình học ở trẻ phụthuộc vào lứa tuổi trẻ, vào vốn kinh nghiệm cảm giác của chính bản thân trẻ và vào sựtác động sư phạm của các nhà giáo dục
Những biểu hiện hình dạng của trẻ 5 – 6 tuổi này càng phát triển, càng lớnthì quá trình tri giác của trẻ càng hoàn thiện Nhờ vậy mà trẻ nhận biết hình dạngcùng những chi tiết của nó ngày càng chính xác hơn Hơn nữa, nội dung nhận biếtcàng phức tạp thì trí tuệ của trẻ càng phải hoạt động tích cực hơn Vì vậy óc suy luậncủa trẻ mẫu giáo lớn càng phát triển, nhiều trẻ đã có khả năng tự tạo ra sự thay đổihình dạng, khả năng tạo hình mới từ những hình đã biết Ví dụ: trẻ biết chắp ghépnhững hình đã biết thành những ngôi nhà khác nhau…
Nếu trẻ mẫu giáo bé và nhỡ chỉ dễ dàng thực hiện các nhiệm vụ lựa chọn vậttheo hình mẫu, thì trẻ mẫu giáo lớn hoàn toàn vừa sức để thực hiện các nhiệm vụdạng này chỉ theo lời hướng dẫn của giáo viên và dựa trên những biểu tượng đã có vềhình dạng của các vật khác nhau Ví dụ: cô nói tên hình và yêu cầu trẻ mói tên nhữngvật có hình dạng tương tự Điều đó chứng tỏ trẻ đã có vốn biểu tượng hình dạng kháphong phú, mặt khác kĩ năng so sánh, ghi nhớ, tái tạo, ứng từ - khái niệm với những
từ phản ánh những biểu tượng cụ thể ở trẻ đã phát triển
Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi trình độ khảo sát hình dạng của trẻ đã caohơn, điều này cho phép trẻ tìm hiểu hình dạng của vật một cách có trình tự và có hệthống bằng 2 tay, các đầu ngón tay và mắt trẻ đã tích cực chuyển động lần lượt theođường bao quanh vật, theo các cánh và trên bề mặt vật dường như mô hình hóa hìnhdạng của vật Điều đó có tác dụng giúp trẻ nhận biết hình dạng vật một cách chínhxác Trong ý thức trẻ lớn đã có sự tách rời các hình hình học khỏi các đồ vật, và trẻ đã
sử dụng chúng như những hình chuẩn để xác định hình dạng của các vật xung quanh
Trong quá trình hình thành những biểu tượng hình dạng cho trẻ, lời nói củagiáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc hướng trẻ chú ý tới những khía cạnh cơbản của vật nghiên cứu Lời nói đúng lúc và chính xác của giáo viên trong quá trìnhtri giác vật có tác dụng làm sâu sắc hơn những biểu tượng về vật của trẻ và giúp trẻghi nhớ những điều quan sát Bằng lời nói giáo viên hướng dẫn trẻ tự đưa ra nhữngkết luận cần thiết trong quá trình nghiên cứu vật và diễn đạt chúng bằng lời Lời nói
có tác dụng nâng sự tri giác cảm nhận hình dạng vật của trẻ lên mức độ khái quát Vì
Trang 5vậy trong quá trình trẻ tìm hiểu vật, tuyệt đối giáo viên không nên vội vã tách lời nóivới sự tri giác cảm giác, mà cần hướng dẫn trẻ thực hiện trình tự các thao tác khảo sátvật, giảng giải chúng cho trẻ và thông qua hệ thống câu hỏi giáo viên giúp trẻ diễn dạtbằng lời nói những điều nhận biết được trong quá trình khảo sát và giúp trẻ tự đưa ranhững kết luận khái quát.
Sự phát triển các biểu tượng hình dạng ở trẻ nhỏ là một quá trình phức tạp.Việc trẻ nắm và sử dụng các hình chuẩn cho thấy mức độ phát triển trí tuệ của trẻmầm non Việc phát triển ở trẻ khả năng nhận biết hình dạng, phân tích hình dạng củacác vật, nhóm các vật theo hình dạng, nắm được các hình hình học và có khả năng sửdụng các hình chuẩn vào việc xác định hình dạng của các vật trong môi trường xungquanh là những chỉ số cho sự phát triển trí tuệ của trẻ, điều đó góp phần tích cựcchuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông
Việc làm quen trẻ với hình dạng vật thể nhằm giúp trẻ thấy được sự phongphú, đa dạng và vẻ đẹp của thế giói đồ vật xung quanh trẻ, hơn nữa những kiên thức
về hình dạng vật thể là phương tiện giúp trẻ định hướng dễ dàng hơn trong môitrường xung quanh trẻ
1.3 Các biểu tượng về kích thước
Ngay từ nhỏ ở trẻ đã diễn ra sự tích lũy những kinh nghiệm tri giác và xácđịnh kích thước của các vật thể Những kinh nghiệm này dần dần được tích lũy trongquá trình trẻ thao tác với đồ vật, đồ chơi có kích thước khác nhau
Kích thước của nhiều vật được đặc trưng bởi ba chiều đo: chiều dài, chiềurộng, chiều cao Để nắm được kích thước của vật cần phải có sự phân tích các chiều
đo kích thước khác nhau của vật và thiết lập mối quan hệ kích thước giữa chúng.Dưới tác động dạy học trẻ mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi thực hiện đúng nhiệm vụ phân tíchchiều dài, chiều rộng, chiều cao của vật Tuy nhiên nếu chú ý tơi việc dạy trẻ phântích và so sánh các chiều đo kích thước khác nhau, thì trẻ sẽ nhanh chóng phân biệtđược chúng cũng như nắm được các biện pháp so sánh kích thước và dùng lời phảnánh các mối quan hệ kích thước
Trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng phân biệt và so sánh kích thước, ở trẻphát triển sự so sánh ước lượng bằng mắt về kích thước của các vật Ban đầu trẻ nhỏtiến hành so sánh kích thước của các vật bằng các hoạt động thực tiễn với các biệnpháp xếp chồng và xếp cạnh vật này với vật khác Tuy nhiên không phải bất cứ vậtnào trẻ cũng có thể so sánh kích thước của chúng bằng các biện pháp đó, trên thựctiễn trẻ phải thường xuyên tiến hành so sánh bằng mắt kích thước của nhiều vật cóxung quanh trẻ Vì vậy việc phát triển so sánh bằng mắt kích thước đóng một vai tròquan trọng và đồng thời trở thành đối tượng dạy học cho trẻ
Trang 6Các công trình nghiên cứu cho thấy khả năng ước lượng kích thước bằng mắtphát triển cùng với sự lớn lên của đứa trẻ, trẻ càng lớn thì ước lượng kích thức càngtrở nên chính xác hơn Tuy nhiên việc dạy trẻ các biện pháp và thủ thuật ước lượngkích thước bằng mắt đóng vai trò to lớn Vì vậy trong quá trình dạy trẻ, giáo viên cầnchú ý dạy trẻ các biện pháp đó Hơn nữa việc dạy trẻ phép đo lường với việc sử dụngcác thước đo ước lệ sẽ giúp trẻ xác định kích thước của vật ngày càng chính xác hơn.1.4 Các biểu tượng về định hướng trong không gian
Trong triết học duy vật biện chứng không gian và thời gian được coi là haihình thức tồn tại của vật chất đang tồn tại Mọi sự vật trong thế giới vật chất đều có vịtrí, có hình thức kết cấu, có độ dài ngắn, cao thấp Tất cả những cái đó được gọi làkhông gian Sự tri giác thế giới bên ngoài chia cắt không gian, điều này xuất phát từtính chất ba chiều của không gian
Sự định hướng trong không gian của con người được thực hiện trên cơ sở trigiác trực tiếp không gian và biểu thị bằng lời các phạm trù không gian như: vị trí, độ
xa, mối quan hệ không gian giữa các vật
Khái niệm định hướng trong không gian bao gồm cả sự đánh giá khoảngcánh, xác định kích thước, hình dạng và vị trí tương đối của chúng so với vật thếchuẩn Sự định hướng trong không gian còn được hiểu theo nghĩa hẹp là sự xác định
vị trí:
- Xác định vị trí của chủ thể định hướng so với các khách thể xung quanh
- Xác định vị trí của các vật xung quanh so với chủ thể định hướng
- Xác định vị trí của vật một cánh tương đối so với nhau
Sự tri giác không gian xuất hiện rất sớm ở trẻ nhỏ Trẻ càng lớn thì tầm nhìncủa trẻ càng mở rộng, khả năng phân biệt các đối tượng ở các khoảng cách khác nhautrong không gian càng phát triển, kinh nghiệm cảm nhận không gian ngày càng phongphú, hướng nhìn của trẻ ngày càng mở rộng
Càng lớn, vùng không gian mà trẻ định hướng càng mở rộng dần ra xa theocác trục của cơ thể trẻ Tuy nhiên, ban đầu các vùng không gian đối với trẻ dườngnhư tồn tại cách biệt, nên trẻ chỉ coi những vật nằm trực tiếp và tiếp giáp với các trụcchính diện, thẳng đứng, nằm ngang của cơ thể trẻ mới là những vật nằm phía trước,phía sau, phía trên… của trẻ Sau đó, ở trẻ bắt đầu hình thành biểu tượng về mộtkhông gian thống nhất với sự chuyển tiếp giữa các vùng không gian Nhờ vậy mà trẻ
đã xác định được vị trí của vật đặt cách xa trẻ hay nằm ở các điểm trung gian giữa haivùng Như vậy, ở trẻ mẫu giáo lớn đã bắt đầu hình thành biểu tượng về một khônggian thống nhất và trẻ nhận biết được các hướng chính của nó
Trang 7Sự phát triển quá trình định hướng trong không gian của trẻ còn được thểhiện qua việc đứa trẻ bắt đầu nhận biết được các mối quan hệ không gian giữa cácvật Ban đầu, trẻ nhỏ thường tri giác các vật xung quanh như từng vật riêng biệt màkhông nhận biết được các mối quan hệ không gian tồn tại qua lại giữa chúng Sau đó,
ở trẻ diễn ra sự chuyển tiếp từ sự tri giác các vật trong không gian một cách rời rạc tới
sự phản ánh các mối quan hệ không gian giữa chúng Tuy nhiên, trẻ còn rất khó khănkhi xác định các mối quan hệ không gian giữa các vật, nguyên nhân là do trẻ rất khóchấp nhận khi chuẩn không phải là bản thân trẻ là vật bất kì, nên trẻ thường nhầm lẫnkhi xác định các hướng từ vật khác Hơn nữa trẻ cũng gặp khó khăn khi xác định mốiquan hệ không gian giữa các vật ở khoảng cách khá xa hay rất gần với vật chuẩn.Càng nhỏ tuổi, thì trẻ càng dựa trên sự tiếp xúc gần gũi giữa các vật để đánh giá mốiquan hệ không gian giữa chúng, càng lớn thì trẻ càng hay xác định các mối quan hệnày bằng mắt, ở giai đoạn này người nói đóng vai trò to lớn trong việc xác định mốiquan hệ không gian giữa các vật
Như vậy, cuối lứa tuổi mẫu giáo phần lớn trẻ đã thực hiện được sự địnhhướng trong không gian mà không phụ thuộc vào vị trí của bản thân trẻ Trẻ đã biếtthay đổi điểm chuẩn trong quá trình định hướng Sự phát triển của quá trình địnhhướng trong không gian ở trẻ mẫu giáo được thể hiện từ việc trẻ biết sử dụng hệ tọa
độ mà trẻ là chuẩn tới việc trẻ sử dụng hệ tọa đọ tự do mà chuẩn là vật bất kì để địnhhướng trong không gian Sự định hướng này có thể dễ dàng hình thành ở trẻ dưới tácđộng của việc dạy học, trong đó trẻ tự tạo ra mối quan hệ không gian giữa các vật, trẻtập xác định mối quan hệ không gian giữa chúng khi chuẩn là các vật khác nhau vàdiễn đạt bằng lời các mối quan hệ đó
1.5 Các biểu tượng về thời gian
Sự hình thành biểu tượng về thời gian ở trẻ nhỏ là một quá trình lâu dài vàphức tạp Ban đầu những biểu tượng thời gian được hình thành trên cơ sở cảm nhận
và nó gắn liên với tính chu kì của các quá trình sống diễn ra trong cơ thể con ngườivới sự giúp đỡ của phức hợp các giác quan khác nhau: thị giác, thính giác, giác quanvận động… Sau đó những biểu tượng thời gian này dần dần được tái tạo lại và ngàycàng mang tính khái quát cao, bởi trong thành phần của nó có thành phần logic – cáckiến thức về các chuẩn đo thời gian
Trẻ mẫu giáo lớn rất có hứng thú với các mối quan hệ thời gian Trẻ xác địnhchúng dựa vào các sự kiện gắn với những chỉ số thời gian nhất định Ví dụ: “Saokhông đi học? Hôm nay chủ nhật à? ” Trẻ 5 tuổi đã thiết lập đúng các mối liên hệgiữa các sự kiện lặp đi lặp lại theo thời gian, như: “Buổi sáng – đó là trước bữa ăn”,
“Buổi chiều – đó là khi mẹ đi làm về” Trẻ thường xác định thời điểm diễn ra sự kiện
Trang 8bằng những sự kiện cụ thể khác, ví dụ: Khi nào chúng ta ngủ dậy mới được phátquà”.
Cùng với sự tích lũy kinh nghiệm định hướng thời gian, những biểu tượngthời gian của trẻ còn được hình thành dựa trên những hiện tượng thiên nhiên kháchquan như: “bây giờ là buổi sáng, ông mặt trời thức dậy”, “Tối – đó là khi trời tối, tất
cả mọi người đều ngủa”… Trẻ đã định vị đúng thời gian diễn ra các sự kiện mangnhững dấu hiệu khác nhau Trẻ bắt đầu phân biệt các buổi trong ngày gắn với nhữnghoạt động luôn diễn ra trong các buổi đó, hoặc dựa trên một số sự kiện quen thuộc tạocho trẻ những ấn tượng cảm xúc và sự hấp dẫn như: “tết – đó là mùa xuân”, “đi tắmbiển – mùa hè”
Kết quả những nghiên cứu cho thấy trẻ mẫu giáo đều có biểu tượng về cácchuẩn đo thời gian như: giờ, ngày, tuần lễ, tháng… Bởi những biểu tượng về độ dàicủa chúng được hình thành dần trong quá trình các hoạt động khác nhau, những kiếnthức về các thước đo thời gian đó được trẻ lĩnh hội rất sinh động Tuy nhiên nhữngbiểu tượng của trẻ về các khoảng thời gian ngắn như: phút lại rất mờ nhạt, trừu tượng
và chỉ thuần túy là lời nói Vì vậy, trong quá trình dạy trẻ cần cụ thể nó bằng nhữngnội dung cảm tính Trẻ mẫu giáo xác định tương đối chính xác những khoảng thờigian không dài và có biểu tượng nhất định về nó dựa trên kinh nghiệm của bản thân.Trẻ biết rằng sau ngày nghỉ sẽ học âm nhạc và học toán Trẻ chờ đón và chuẩn bị học
nó Tuy nhiên biểu tượng về độ dài thời gian tiết học của trẻ lại rất thiếu chính xác,còn những biểu tượng về những khoảng thời gian dài hơn nữa và biểu tượng về thờigian xa xưa của trẻ lại càng mờ nhạt
Lời nói đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành biểu tượng thời gian Lờinói diễn đạt các phạm trù thời gian khác nhau, khái quát và trừu tượng độ dài cáckhoảng thời gian khác nhau Ở trẻ lứa tuổi mẫu giáo, vốn từ vhir thời gian tăngnhanh Theo các nhà nghiên cứu thì vốn từ chỉ thời gian phát triển mạnh ở trẻ từ 5 – 7tuổi Tuy nhiên sự phát triển vốn từ về các phạm trù thời gian riêng biệt diễn ra khôngđồng đều Trẻ khó hiểu nhất những trạng từ diễn đạt trình độ và độ dài thời gian vàhiểu nhanh nhất những trạng từ chỉ tốc độ và sự định vị của các sự kiện trong thờigian Điều đó chứng tỏ rằng những biểu tượng về tốc độ của trẻ thường mang tínhtrực quan hơn, dễ hình thành hơn những biểu tượng về độ dài Tuy nhiên trẻ sẽ hiểuđược ý nghĩa của những trạng từ chỉ thời gian một cánh chính xác hơn nếu có hướngdẫn của người lớn
Như vậy:
+ Ở lứa tuổi mẫu giáo trẻ bắt đầu nắm được những chuẩn đo thời gian Vìvậy, trong quá trình dạy trẻ cần cụ thể những nội dung cảm tính Việc tích lũy những
Trang 9kinh nghiệm về độ dài những khoảng thời gian nhất định diễn ra các hoạt động trongcuộc sống của trẻ là con đường hình thành ở trẻ những kiến thức về các thước đo thờigian.
+ Lứa tuổi mẫu giáo là thời kỳ phát triển mạnh khả năng diễn đạt bằng lờicác khái niệm thời gian Việc trẻ sử dụng các cách diễn đạt riêng đó phụ thuộc vàonhững nội dung cụ thể của từng đơn vị chuẩn đo thời gian, phụ thuộc vào những dấuhiệu cơ bản đặc trưng cho nó Dạy học là con đường chính để phát triển vốn từ chỉthời gian trẻ
+ Trẻ mẫu giáo có khả năng xác định chính xác thời điểm và thời lượng, cóthể hình thành ở trẻ cảm giác thời gian trên cơ sở hình thành ở trẻ những phản xạ cóđiều kiện với thời gian Vì vậy có thể dạy đo thời gian, trên cơ đó làm quen trẻ vớicác chuẩn đo thời gian, và phát triển ở trẻ khả năng ước lượng độ dài khoảng thờigian
2 Nội dung và kết quả mong đợi đối với việc hình thành các biểu tượng toán cho trẻ mẫu giáo
- Đếm trên đối tượngphạm vi 10 và đếm theo
khả năng
- Đếm trong phạm
vi 10 và đếm theokhả năng
- Nhận biết 1 và nhiều - Nhận biết chữ số, số
lượng và số thứ tự trong
phạm vi 5
- Nhận biết các chữ
số, số lượng và sốthứ tự trong phạm
- Nhận biết ý nghĩa các con số được sử dụngtrong cuộc sống hằng ngày (số nhà, biển số
xe…)
- Xếp tương ứng 1 – 1, ghép đôi - Ghép thành cặp
những đối tượng có
Trang 10mối liên quan.
dạng
- Nhận biết, gọi têncác hình: hình vuông,hình tam giác, hìnhtròn, hình chữ nhật vànhận dạng các hình đótrong thực tế
- So sánh sự khác nhau
và giống nhau của cáchình: hình vuông, hìnhtam giác, hình tròn, hình
chữ nhật
- Nhận biết, gọi tênkhối cầu, khốivuông, khối chữnhật, khối trụ vànhận dạng các khốihình đó trong thực
tế
- Sử dụng các hìnhhình học để chắpghép
- Chắp ghép các hình hình học để tạo thànhcác hình mới theo ý thích và theo yêu cầu
- Tạo ra một số cáchình hình học bằngcác cách khácnhau
- Đo độ dài một vật bằngmột đơn vị đo
- Đo độ dài một vậtbằng các đơn vị đokhác nhau
- Đo độ dài các vật,
so sánh và diễn đạtkết quả đo
- Đo dung tích bằng một
đơn vị đo
- Đo dung tíchbằng các vật, sosánh và diễn đạtkết quả đo
Xác định vị trí của đốvật so với bản thân trẻ và
so với bạn khác (phíatrước – phía sau; phíatrên – phía dưới; phía trái– phía phải)
- Xác định vị trícủa đồ vật (phíatrước – phía sau;phía trên – phíadưới; phía trái –phía phải) so với
Trang 11bản thân trẻ, vớibạn khác, với mộtvật nào đó làmchuẩn.
- Nhận biết các buổi:
sáng, trưa, chiều, tối
- Nhận biết hômqua, hôm nay ngày
mai
- Gọi tên các thứtrong tuần.2.2 Kết quả mong đợi
1.1 Quan tâm đếncác con số nhưthích nói về sốlượng và đếm, hỏi:
“bao nhiêu?”; “đây
là mấy?”
1.2 Đếm trên các đối tượng
giống như nhau và đếm trên
5
1.2 Đếm trên đốitượng phạm vi 10
1.2 Đếm trên đóitượng trong phạm
vi 10 và đếm theokhả năng
1.3 So sánh số lượng hainhóm đối tượng trong phạm
vi 5 bằng các cách khác nhau
và nói được các từ: bằngnhau, nhiều hơn, ít hơn
1.3 So sánh số lượngcủa hai nhóm đốitượng trong phạm vi
10 bằng các cáchkhác nhau và nóiđược các từ: bằngnhau, nhiều hơn, ít
hơn
1.3 So sánh sốlượng của ba nhómđối tượng trongphạm vi 10 bằngcác cách khác nhau
và nói được các từ:bằng nhau, nhiềuhơn, ít hơn1.4 Biết gộp và đếm hai
nhóm đối tượng cùng loại có
tổng trong phạm vi 5
1.4 Gộp hai nhómđối tượng có sốlượng trong phạm vi
5, đếm và nói kết
quả
1.4 Gộp các nhómđối tượng trongphạm vi 10 và đếm
Trang 121.5 Tách một nhóm đốitượng có số lượng trongphạm vi 5 thành hai nhóm.
1.5 Tách một nhómđối tượng thành hainhóm nhỏ hơn
1.5 Tách mộtnhóm đối tượng có
số lượng trongphạm vi 10 thànhhai cách khác nhau.1.6 Sử dụng các số
từ 1 – 5 để chỉ sốlượng và số thứ tự
1.6 Nhận biết các
số từ 5 – 10 và sửdụng các số đó đểchỉ số lượng, số thứ
tự
1.7 Nhận biết ýnghĩa các con sốđược sử dụng trongcuộc sống hằngngày
1.7 Nhận biết cáccon số được sửdụng trong cuộcsống hằng ngày
lại
2.1 Biết sắp xếpcác đối tượng theotrình tự nhất địnhtheo yêu cầu2.2 Nhận ra quytắc sắp xếp (mẫu)
và sao chép lại.2.3 Sáng tạo ramẫu sắp xếp và tiếptục sắp xếp
3 So sánh
hai đối
tượng
3.1 So sánh hai đối tượng về
kích thước và nói được các
từ: to hơn/ nhỏ hơn; dài hơn/
ngắn hơn; cao hơn/ thấp hơn;
bằng nhau
3.1 Sử dụng dụng cụ
để đo độ dài, dungtích của hai đốitượng, nói kết quả đo
và so sánh
3.1 Sử dụng một
số dụng cụ để đo,đong và so sánh,nói kết quả
4 Nhận
biết hình
dạng
4.1 Nhận dạng và gọi têncác hình: tròn, vuông, tam
giác, chữ nhật
4.1 Chỉ ra các điểmgiống nhau, khácnhau giữa hai hình(tròn – tm giác,vuông – chữ nhật…)
4.1 Gọi tên và chỉ
ra các điểm giống,khác nhau giữa haikhối cầu – khối trụ,khối vuông – khối
Trang 13chữ nhật.
4.2 Sử dụng các vậtliệu khác nhau để tạothành các hình đơn
với bản thân
5.1 Sử dụng lời nói
và hành động để chỉ
vị trí của đồ vật sovới người khác
5.1 Sử dụng lời nói
và hành động đểchỉ vị trí của đồ vật
so với vật làmchuẩn
5.2 Mô tả các sựkiện xảy ra theo trình
tự thời gian trongngày
5.2 Gọi đúng têncác thứ trong tuần,các mùa trong năm
3 Phương pháp hình thành biểu tượng toán cho trẻ mẫu giáo.
Để hình thành những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ có sử dụng cácphương pháp dạy học đa dạng Tương ứng với các hình thức tư duy chính của trẻmầm non và cùng với nó là các phương thức hoạt động của trẻ trong quá trình học màcác phương pháp được chia thành ba nhóm: trực quan, thực hành và dùng lời
3.1 Các phương pháp dạy học trực quan
Đó là các phương pháp dạy học dựa vào việc sử dụng các đối tượng và hiệntượng hiện thực Các phương pháp dạy học trực quan có chức năng giúp trẻ nhận biếtđược các thuộc tính, đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng, trên cơ sở đó ở trẻhình thành những biểu tượng cụ thể về đối tượng nghiên cứu Trong dạy học nhữngkiến thức toán học sơ đẳng ở mầm non, các phương pháp dạy học trực quan đóng vaitrò quan trọng xuất phát từ tính cụ thể tư duy của trẻ nhỏ Tuy nhiên các phương pháptrực quan không tồn tại độc lập mà chúng thường được sử dụng đồng thời với cácphương pháp dạy học dùng lời và thực hành
Các phương pháp dạy học trực quan bao gồm: phương pháp trình bày trựcquan và phương pháp quan sát Hai phương pháp này có mối liên hệ với nhau, bởi khitrình bày trực quan, trẻ tiến hành quan sát chúng một cách khoa học dưới sự hướngdẫn của giáo viên Trên mỗi tiết học toán thường sử dụng phối hợp các phương phápnày theo cách khác nhau
a) Trình bày trực quan: là phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan
trước, trong hoặc sau khi nắm tài liệu mới Phương pháp này còn được sử dụng trong
Trang 14quá trình cho trẻ ôn tập, củng cố và cả khi kiểm tra kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của trẻ.Phương pháp trình bày trực quan, bao gồm: trình bày vật mẫu và hành động mẫu.
* Trình bày các vật mẫu (các vật có trong môi trường tự nhiên hay các vật do
con người tạo ra): để việc trình bày nó có hiệu quả thì cần phải thực hiện các yêu cầusau:
+ Phải có các vật trực quan, các đồ dung này phải đẹp, đủ về số lượng, thểhiện rõ các dấu hiệu bản chất của nội dung dạy học và đảm bảo các yêu cầu khác về
bộ con giống, bộ tranh ảnh, bộ que tính, bộ hình hình học phẳng, bộ hình khối…
+ Giáo viên cần nắm vững các bộ đồ dùng trực quan để hướng dẫn trẻ hoạtđộng với bộ đồ dùng dạy học của từng cá nhân nhằm giúp trẻ nắm nội dung kiến thứcmới và đặt được hệ thống bài luyện tập cho trẻ
+ Cách trình bày vật trực quan cần phù hợp với nội dung toán học cần dạytrẻ
Ví dụ : hình thành biểu tượng về số lượng 5 đối tượng, giáo viên xếp các nhóm 5 hoa,
5 lá, 5 mèo,… thành hàng ngang Nhưng để giúp trẻ nắm tính bảo toàn của số lượngthì giáo viên xếp các nhóm vật này theo các cách khác nhau nhằm giúp trẻ thấy sốlượng không phù thuộc vào kích thước của vật hay không gian sắp đặt nhóm vật
+ Cần có sự kết hợp đúng đắn giữa việc tri giác trực tiếp đối tượng và hiệntượng với lời hướng dẫn trẻ khảo sát đối tượng Lời nói của giáo viên cần hướng sựchú ý của trẻ tới dấu hiệu chính của đối tượng Ví dụ: giáo viên yêu cầu trẻ tri giác sốlượng hay kích thước, hoặc hình dạng… của đối tượng
+ Sử dụng vật trực quan cần đúng lúc, đúng mức độ, không lạm dụng thờigian sử dụng các vật mẫu quá lâu, mà nên chuyển sang sử dụng các bài tập khôngdùng tới các vật mẫu để trẻ phải suy nghĩ, trong quá trình chuyển đó nên sử dụng cácvật trực quan có tính khái quát như: các vật thế, mô hình, kí hiệu,…
+ Cần dạy trẻ biết sử dụng đồ dùng trực quan để chứng minh cho các câu trảlời hay lập luận của mình Với mục đích đó, các vật trực quan chỉ được sử dụng saukhi trẻ đã đưa ra câu trả lời của mình Ví dụ: với nhiệm vụ so sánh số lượng hai nhómđối tượng gồm có 5 con voi và 7 con gà, trẻ có thể tự suy nghĩ và đưa ra câu trả lờicủa mình “7 con gà nhiều hơn 5 con voi là 2 con”, sau đó trẻ sử dụng 2 nhóm vật: voi
và gà và xếp tương ứng 1: 1 giữa 2 nhóm để chứng minh câu trả lời của mình là đúng
Trang 15* Sử dụng hành động mẫu được coi là một biện pháp minh họa và nó cũng có
thể được coi là một phương pháp dạy học có tính trực quan – thực hành Chúngthường được giáo viên sử dụng để dạy trẻ các biện pháp hành động như: đếm xácđịnh số lượng và xác định thứ tự, so sánh số lượng bằng thiết lập tương ứng 1 : 1, sosánh kích thước bằng xếp chồng, xếp cạnh, đo lường…
Ví dụ: để hình thành kĩ năng đếm số lượng cho trẻ, giáo viên dùng hànhđộng đếm mẫu kết hợp với lời hướng dẫn để dạy trẻ đếm
Để việc sử dụng hành động mẫu một cách hiệu quả thì giáo viên cần:
+ Chia nhỏ hành động thành từng thao tác và chuẩn bị trước trình tự các thaotác, trình tự này phải đúng, làm mẫu với tốc độ vừa phải, ranh giới giữa các thao tácphải rõ ràng để giúp trẻ kịp dõi theo và ghi nhớ thao tác và trình tự thực hiện chúng
+ Cần chuẩn bị trước cả những lời hướng dẫn kèm theo hành động nếu có,kết hợp nhịp nhàng giữa hành động và lời hướng dẫn, chọn lời hướng dẫn ngắn gọn,
dễ hiểu cho trẻ Ví dụ: hành động đếm bao gồm chuỗi thao tác như: đếm bằng tayphải, đếm từ trái qua phải, mỗi từ số ứng với một vật, số cuối cùng ứng với toàn bộnhóm vật và là số kết quả
+ Làm hành động mẫu cần có giới hạn Cần để trẻ tự hành động khi ở trẻ đãhình thành biểu tượng đầy đủ về hành động cần thực hiện Việc sử dụng có giới hạnhành động mẫu góp phần tích cực hóa hoạt động nhận thức của trẻ
Trong quá trình dạy trẻ, giáo viên có thể sử dụng hành động mẫu với cácdạng khác nhau, như: sử dụng giáo viên hành động đếm, đo… mẫu có kèm theo lờiminh họa theo tiết học đầu tiên dạy trẻ nội dung này, hay hành động mẫu đếm, đo…không kèm lời giải thích của giáo viên được sử dụng trong những tiết học tiếp theocũng về nội dung đó Ngoài ra giáo viên có thể yêu cầu một trẻ khá làm mẫu rồi côgiảng giải kèm theo Ví dụ: yêu cầu một trẻ lên đếm xác định số lượng nhóm vật vàgiáo viên giảng giải trình tự thực hiện các thao tác đếm cho cả lớp Một dạng khácnữa của hành động mẫu là cô và trẻ cùng thực hiện hành động mẫu Ví dụ: để dạy trẻ
so sánh chiều dài của 2 băng giấy bằng biện pháp xếp chồng, giáo viên thực hiệnhành động mẫu xếp chồng 2 băng giấy lên nhau ở trên bảng đồng thời với việc trẻthực hiện nhiệm vụ này ở trên mặt bàn của mình
Thời điểm, mức độ thực hiện hành động mẫu cho trẻ phụ thuộc vào lứa tuổitrẻ, vào vốn kiến thức, kĩ năng của trẻ để xác định bài học thuộc dạng “bài tập tái tạo”hay “bài tập sáng tạo” Giáo viên cần thực hiện hành động mẫu theo đúng trình tự cácthao tác của nó ngay từ đầu bài học nếu nó thuộc dạng “bài tập tái tạo” Còn nếu bàihọc thuộc dạng “bài tập sáng tạo” thì hành động mẫu được đưa ra sau khi trẻ đã hoàn
Trang 16thành xong bài tập Khi đó, hành động mẫu sẽ là công cụ giúp trẻ tự kiểm tra kết quảthực hiện nhiệm vụ của mình.
b) Quan sát
Quan sát là phương pháp giúp trẻ nhận thức cảm tính một cách tích cực Nó
là một trong những phương pháp dạy học thường được sử dụng trong quá trình hìnhthành biểu tượng toán học cho trẻ mầm non nhằm giúp trẻ nhận biết được các dấuhiệu số lượng, kích thước, hình dạng, không gian, thời gian và các mối quan hệ toánhọc có trong thực tiễn xung quanh trẻ Ví dụ: trong thời gian hoạt động ngoài trời,giáo viên tổ chức cho trẻ quan sát số lược các nhóm đồ vật, đồ chơi có trên sântrường, đếm số lượng cây ở góc sân, số hoa, quả trên cây… hay so sánh kích thướccủa các vật có ở xung quanh trẻ…
Việc tổ chức cho trẻ quan sát cần thực hiện những yêu cầu sau:
+ Giới thiệu cho trẻ mục đích quan sát, ví dụ: quan sát xem hôm nay trên câyhồng nở mấy bông hoa, hay trên cây bưởi có mấy quả, so sánh chiều cao của hai ngôinhà trong trường…
+ Cần lựa chọn vị trí, thời điểm quan sát thuận lợi
+ Cần triển khai quan sát một cách có kế hoạch, trình tự, nhưng không nhấtthiết phải theo một khuôn mẫu chung, bởi lôgíc của quá trình quan sát phụ thuộc vàotính chất nhiệm vụ quan sát, vào đối tượng quan sát và mức độ làm quen đối tượng
+ Cần chú ý đến khả năng của trẻ để lựa chọn khối lượng những biểu tượngcần hình thành ở trẻ trong quá trình quan sát
+ Để phát huy tích cực, tính độc lập của trẻ thì cần đặt mục đích quan sátchính xác, rõ ràng, có kế hoạch và lôi cuốn trẻ vào việc tạo ra hoàn cảnh quan sát,như: chọn đối tượng quan sát, vị trí để quan sát thuận lợi Tổ chức cho trẻ các thao táckhảo sát, tìm kiếm, chơi… Để tăng tính tích cực tư duy của trẻ cần kết hợp các câuhỏi khảo sát với các câu hỏi tìm kiếm, thường xuyên sử dụng biện pháp so sánh, như:
so sánh số lượng hoa trên hai cây hoa hay chiều cao của hai cây…
+ Trong quá trình quan sát, giáo viên cần sử dụng lời nói một cách chính xác
cụ thể Những lời trò chuyện của cô giáo với trẻ trong quá trình quan sát thúc đẩy trẻtri giác các đối tượng một cách chính xác, hình thành những biểu tượng một cách đầy
đủ và có ý thức, góp phần mở rộng vốn từ, trong đó có cả vố từ toán học cho trẻ.3.2 Các phương pháp dạy học dùng lời nói
Các phương pháp dạy học dùng lời nói có tác dụng bổ sung, minh họa chophương pháp dạy học trực quan, nó giúp trẻ nhận biết được những đặc điểm bên trongcủa đối tượng mà trẻ nhỏ không thể nhận biết được những đặc điểm này với sự giúp
Trang 17đỡ của các giác quan Các phương pháp dùng lời còn góp phần phát triển tư duylôgíc, phát triển ngôn ngữ trẻ.
* Những biện pháp dùng lời nói thường được sử dụng trong quá trình hình
thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ, như: lời diễn giải, hướng dẫn, giảng giải của giáo viên nhằm phản ánh bản chất của giáo viên nhằm phản ánh bản chất
hành động mà trẻ phải thực hiện Với trẻ mẫu giáo lớn, lời hướng dẫn của giáo viên
có tính tổng thể phản ánh tổng thế quá trình thực hiện nhiệm vụ Với trẻ mẫu giáo bé,lời hướng dẫn cần ngắn gọn, thường diễn ra đồng thời với quá trình trẻ thực hiện cácthao tác Bằng giảng giải giáo viên chính xác lại những điều trẻ nhận biết được trongquá trình tri giác Ví dụ: khi dạy trẻ khảo sát các hình hình học, giáo viên giảng giảicho trẻ “cầm hình bằng tay trái như thế này, dùng đầu ngón tay trỏ của bàn tay phải
sờ quanh đường bao của hình, hãy sờ những cạnh của hình vuông, chúng dài bằngnhau hình vuông có các góc, hãy chỉ các góc của hình vuông” Hay trong quá trình đolường giáo viên hướng dẫn trẻ các thao tác thực hành đo kèm theo những lời giảnggiải phải đặt thước đo, đánh dấu một đầu thước đo, cầm thước đo lên rồi đặt thước đotiếp như thế nào…
* Phương pháp gợi mở - vấn đáp
Đây là phương pháp dạy học không trực tiếp đưa ra những kiến thức hoànchỉnh mà sử dụng một hệ thống câu hỏi để dẫn dắt trẻ suy nghĩ và lần lượt trả lời từngcâu hỏi, từng bước tiến tới kết luận cần thiết, giúp trẻ tự tìm ra kiến thức mới
Trong quá trình hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mầm non,phương pháp này tạo điều kiện để giáo viên hiểu biết được sự hiểu biết của trẻ vàđiều chỉnh việc dạy của mình sao cho phù hợp Hơn nữa, phương pháp này có tácdụng kích thích trẻ tích cực, độc lập suy nghĩ tìm ra kiến thức, bồi dưỡng cho trẻ nănglực diễn đặt bằng lời nói chính xác, đầy đủ mạch lạc những điều nhận biết, đồng thờibồi dưỡng cho trẻ hứng thú nhận biết qua các kết quả trả lời, tạo niềm tin vào bảnthân và không khí sôi nổi, sinh động trong giờ học
Phương pháp gợi mở - vấn đáp sử dụng khi trẻ học kiến thức mới, khi thựchành luyện tập hay ôn tập, kiểm tra Trong phương pháp gợi mở - vấn đáp khi dạy trẻ
những kiến thức toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non các câu hỏi đóng vai trò đặc biệt.
Nếu phần loại câu hỏi theo trình tự nhận thức của trẻ ta có các nhóm câu sau:
+ Câu hỏi dựa trên sự tri giác và trí nhớ tái tạo của trẻ nhằm ghi nhận
những đặc điểm bên ngoài của đối tượng, yêu cầu trẻ mô tả lại những điều vừa quansát hay nhắc lại nhiệm vụ của cô giáo Ví dụ: Đây là cái gì? Hình gì? Có bao nhiêucái? Có màu gì? Cháu vừa làm nhiệm vụ gì?
Trang 18+ Câu hỏi tái tạo có nhận thức nhằm giúp trẻ nắm và củng cố những kiến
thức một cách sâu sắc hơn Ví dụ: Số hoa sẽ là bao nhiêu nếu thêm một bông? Làmthế nào để biết số lượng hai nhóm hình bằng nhau? Làm thế nào để biết băng giấynào dài hơn hay ngắn hơn băng giấy nào?
+ Câu hỏi sáng tạo có nhận thức nhằm giúp trẻ vận dụng những kiến thức
toán học và những kĩ năng đã nắm được để giải quyết các tình huống hay các nhiệm
vụ khác nhau Ví dụ: Hình vuông và hình chữ nhật có điểm gì giống nhau và điểm gìkhác nhau? Làm thế nào để số lượng hai nhóm hình trở nên bằng nhau hay nhiều hơn,
ít hơn nhau là một, là hai hình…
Một số yêu cầu đối với câu hỏi:
+ Khi xây dựng câu hỏi, giáo viên cần xác định rõ mục đích, yêu cầu, nộidung bài học để xây dựng một hệ thống câu hỏi chính và những câu hỏi phụ có tínhchất gợi mở cho trẻ, các khái niệm trong câu hỏi phải quen thuộc với trẻ
+ Đặt câu hỏi với nội dung phải chính xác, vừa sức hiểu của trẻ, ngắn gọn, cụthể, đủ ý, tránh đặt cho trẻ các câu hỏi thiếu dấu hiệu toán học cần định hướng Ví dụ:Hai quả bóng này như thế nào so với nhau? Cái nơ xanh như thế nào so với nơ đỏ?Phía trên có gì?
+ Câu hỏi phải gợi ra vấn đề để trẻ suy nghĩ giải quyết chúng Câu hỏi có tácdụng kích thích tính tích cực, độc lập tư duy, phát triển hứng thú nhận biết cho trẻ.Tránh sử dụng các câu hỏi chỉ trả lời “Có” hay “không”, “Đúng” hay “sai” Ví dụ: Sốhoa có nhiều hơn số lá không? (không), Số hoa nhiều hơn số lá có đúng không?(đúng)… Không sử dụng các hỏi ép mớm trẻ trả lời
+ Cùng một nội dung có thể đặt câu hỏi dưới những hình thức khác nhau đểgiúp trẻ nắm vững kiến thức và linh hoạt trong suy nghĩ Ví dụ: để giúp trẻ nhận biết
và phản ánh mối quan hệ số lượng giữ hai nhóm đối tượng bằng lời, giáo viên có thểhỏi trẻ theo các cách khác nhau: So sánh số lượng hoa với số lượng lá? Số hoa nhưthế nào so với số lá? Số lá như thế nào so với số hoa? Số hoa và số lá, số nào nhiềuhơn số nào? Số nào ít hơn số nào?
+ Số lượng các câu hỏi sử dụng trên tiết học toán không nên quá nhiều màchỉ vừa đủ để đạt được yêu cầu, nhiệm vụ để ra
+ Giáo viên nên đặt câu hỏi đa dạng để mở rộng vốn ngôn ngữ cho trẻ, giáoviên cần dự đoán những khả năng trả lời của trẻ để chuẩn bị các câu hỏi phụ nhằmdẫn dắt trẻ tập trung vào vấn đề chủ yếu của hệ thống câu hỏi
+ Cần khuyên khích trẻ tích cực suy nghĩ, tự đưa ra câu trả lời của mình, tậpcho trẻ biết đặt câu hỏi, đặt vấn đề
Trang 19+ Dạy trẻ biết lắng nghe bạn trả lời, đánh giá bổ sung, điều chỉnh, củng cốcác câu trả lời của bạn: Bạn trả lời có đúng không? Ai nói chính xác hơn? Ai có thểnói rõ hơn nữa?
Đàm thoại là phương pháp dạy học sử dụng tới hệ thống các câu hỏi của
giáo viên và câu trả lời của trẻ Ví dụ: giáo viên đàm thoại với trẻ về những dấu hiệuthiên nhiên, dấu hiệu cuộc sống con người đặc trưng cho các buổi trong ngày Trongquá trình đàm thoại, giáo viên cần chú ý xem trẻ có sử dụng đúng các thuật ngữ toánhọc, có nói đúng, mạch lạc không và giáo viên có thể kết hợp giảng giải cho trẻ tronglúc đàm thoại
Sử dụng các yếu tố văn học vào trong quá trình cho trẻ làm quen với toán, ví dụ:
truyện, thơ, đồng dao, bài hát Trong đó có chứa đựng các yếu tố toán học và chúnggắn liền với các nhân vật, sự hiện, hiện tượng nên dễ đem lại trạng thái xúc cảm tíchcực cho trẻ nhỏ
Khi trẻ nghe hay thuộc câu chuyện, bài hát, giáo viên hướng sự chú ý của trẻtới các yếu tố toán học có trong đó, như: trong câu chuyện có mấy con vật, có mấyquả, hay trong bài hát tập đếm thì một với một là mấy? Hai với hai là mấy? qua đógóp phần củng có kiến thức cho trẻ
3.3 Nhóm các phương pháp thực hành
Bản chất của các phương pháp dạy học thực hành là đứa trẻ phải thực hiệncác hành động gồm một chuỗi các thao tác cùng với việc sử dụng các đồ vật nhằmnhận biết, phát hiện ra kiến thức mới, hình thành những biểu tượng toán học ban đầu
+ Phát triển ở trẻ tính tò mò, ham hiểu biết, hình thành ở trẻ các cách thứchoạt động nhận biết riêng, giáo dục cho trẻ tính kiên trì, cẩn thận bước đầu chuẩn bịcho trẻ tham gia các hoạt động thực tế
* Nhóm phương pháp thực hành bao gồm các phương pháp: luyện tập, tròchơi, giao nhiệm vụ và thử nghiêm …
a) Phương pháp luyện tập
Trang 20Luyện tập là sự lặp đi lặp lại nhiều lần các thao tác trí tuệ và thực hành củanội dung học tập Về bản chất, luyện tập chính là việc vận dụng các kiến thức vào cáchành động Luyện tập đóng vai trò quyết định trong dạy học và phát triển thông quaviệc trẻ nắm vũng các phương thức hoạt động trí tuệ, nắm kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo.Hơn nữa nhờ luyện tập mà các kiến thức – cơ sở của những kĩ năng trí tuệ và thựchành trở nên vững chắc và có ý thức hơn.
Cơ sở sinh lí của luyện tập là ở chỗ củng cố và làm vững chắc những mốiliên hệ thần kinh tạm thời đã được hình thành và tạo ra những mối liên hệ tạm thờimới, đưa những mối liên hệ này vào hệ thống các mối liên hệ đã có
Tính chất của việc luyện tập phụ thuộc vào đặc thù của quá trình hình thànhcác biểu tượng toán học sơ đẳng Trong quá trình này, giáo viên cần tổ chức cho tất
cả các trẻ được tham gia luyện tập thông qua các bài tập với tính chất khác nhaukhông chỉ về nội dung mà cả cấu trúc và phương thức hành động, qua đó giúp trẻ nắmvững kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo Kết quả thực hiện các bài tập của trẻ được thựchiên qua lời nói, hành động và sản phẩm … của trẻ Nhờ vậy mà người lớn có thểkiểm tra quá trình lĩnh hội của từng trẻ, cũng như trẻ cũng có thể tự kiểm tra kết quảthực hiện bài tập của mình Vì vậy luyện tâp là một trong những phương pháp dạyhọc mang lại hiệu quả lớn
Có hai mức độ hoàn thành nhiệm vụ luyện tập: luyện tập nhằm tái hiện lại tàiliệu đã học nhằm củng cố và luyện tập nhằm vận dụng những kiến thức, kĩ năng từnội dung học vào các hoàn cảnh khác nhau Tương ứng với những mức độ trên giáoviên có thể sử dụng các dạng bài tập đòi hỏi ở trẻ mức độ tích cực, độc lập khác nhau,
như: bài tập tái tạo và bài tập sáng tạo.
Bài tập tái tạo: hình thành trên cơ sở tái tạo đơn giản phương thức hành động
được quy định hoàn toàn theo mẫu, theo yêu cầu, quy định của người lớn … cần phảilàm như thế nào Như vậy trên trình tự giải đã biết trẻ có thể giải các bài tập tái tạo dễdàng Trong nội dung của bài tập tái tạo vẫn có thể có sự thay đổi điều kiện, nhưng sựthay đổi không làm xáo trộn trình tự giải nó Ví dụ: giáo viên thay đổi các đồ vậttrong các bài tập đếm hay đổi thước đo trong bài tập đo lường
Những yêu cầu khi giáo viên tổ chức cho trẻ thực hiện các bài tập tái tạo:+ Giáo viên cần đặt cho trẻ nhiệm vụ học tập cụ thể
+Chỉ cho trẻ biện pháp giải quyết nhiêm vụ học tập bằng trình tự các thao tácmẫu và vật mẫu của mình có kết hợp với lời giảng giải cụ thể
+ Chỉ cho trẻ những tiêu chí đánh giá đánh giá kết quả thực hiện bài tập
Trang 21Ví dụ: khi đã dạy cho trẻ kĩ năng đếm xác định số lượng các nhóm vật hay
đo độ dài của vật, giáo viên sử dụng hành động mẫu kết hợp với lời giảng giải cáchthức và trình tự các thao tác mẫu Tiếp theo, trẻ cần thực hiện các nhiệm vụ đếm hay
đo bằng việc tái tạo lại hành động mẫu của giáo viên
+ Khi trẻ đã nắm được biện pháp hành động để giải các bài tập tái tạo, giáoviên sẽ thay dần những chỉ dẫn trực quan với việc sử dụng các thao tác, hành độngmẫu bằng lời nói gợi mở giúp trẻ tự nhớ lại trình tự các thao tác và lôi cuốn trẻ diễnđạt bằng lời tính chất và trình tự các thao tác đó
Bài tập sáng tạo dạng bài tập này đòi hỏi trẻ phải tự tìm kiếm phương thức
hành động cần thiết (có thể tự tìm kiếm hoàn toàn nhưng cũng có thể tự tìm kiếm mộtphần) Như vậy để giải được bài tập sáng tạo đòi hỏi trẻ phải nắm chắc những kiếnthức, kĩ năng và phải biết vận dụng linh hoạt chúng vào những hoàn cảnh điều kiệnmới để tìm ra những phương thức giải quyết chúng Ví dụ: khi trẻ đã nắm kĩ năngđếm xác định số lượng các vật xếp theo hàng nga ng, giáo viên yêu cầu trẻ xác định
số lượng các vật được sắp xếp theo các cách khác nhau như: xếp theo hình tròn, hìnhvuông,… Trong dạng bài tập này giáo viên chỉ giao nhiệm vụ cho trẻ (cần phải làmgì) mà không thông báo hay mô tả cách thức thực hiện Vì vậy dạng bài tập sáng tạo
sẽ phát triển ở trẻ tính tích cực, độc lập, tư duy, luyện tập sự nhanh trí, sáng tạo chotrẻ
Việc sử dụng các dạng bài tập này trên tiết học toán phụ thuộc vào mục đích,yêu cầu của tiết học, vào mức độ nắm kiến thức hay kĩ năng của trẻ, vào năng lực củatrẻ và đặc điểm lứa tuổi trẻ
Trong quá trình dạy trẻ, chỉ khi trẻ thực hiện các bài tập tái tạo thì giáo viênmới chuyển sang cho trẻ thực hiện bài tập sáng tạo Sự chuyển dần từ việc sử dụngnhững bài tập tái tạo tới những bài tập sáng tạo, tạo điều kiện để trẻ nắm chắc nhữngkiến thức và các biện pháp hành động hợp lí cũng như tạo điều kiện để phát huy tínhtích cực tư duy và tích cực hành động của trẻ
* Trong thực tiễn giáo dục mầm non hiện nay, việc dạy cho trẻ thường diễn
ra theo hướng tích hợp các chủ điểm chủ đề giáo dục Vì vậy việc tổ chức cho trẻluyện tập thường diễn ra đồng thời với nhiều nội dung giáo dục khác nhau Dựa vàonội dung luyện tập có thể phân lại bài tập thành: bài tập đơn nội dung hay bài tập đanội dung (bài tập có nội dung tích hợp)
+ Bài tập đơn nội dung: nhằm giải quyết nhiêm vụ cụ thể của chương trình.
Mục đích chính của dạng bài tập này nhằm hình thành các biện pháp hành động nhânbiết cho trẻ Ví dụ: biện pháp đếm, đo lường, so sánh số lượng bằng thiết lập tươngứng 1: 1
Trang 22+ Bài tập đa nội dung: là dạng bài tập cho phép giải quyết nhiều nhiệm vụ
toán học khác nhau “số lượng và kích thước” , “hình dạng và định hướng trong khônggian”, “số lượng, kích thước và hình dạng” … Các dạng bài tập đa nội dung có tácdụng hình thành ở trẻ khả năng chú ý ghi nhớ có chủ định, khả năng định hướng cùnglúc nhiều dấu hiệu
Yêu cầu đối với việc sử dụng bài tập:
+ Cần soạn thảo các bài tập thành một hệ thống để sử dụng trên một tiết họchay một hệ thống các tiết học toán của chương trình nằm tạo sự tác động có hệ thống
để đạt mục tiêu dạy học Ví dụ: khi luyện tập đếm cho trẻ, giáo viên cần cho trẻ thựchiện một hệ thống các bài tập đếm đa dạng và phức tạp dần, trong đó có sự tính đếnnhững dạng bài tập và mức độ phức tạp của những bài tập đếm đã sử dụng ở tiết họctrước và cả những bài tập sẽ sử dụng ở những bài tiếp theo
+ Các bài tập cần sắp xếp thành hệ thống từ dễ đến khó, từ các bài tập rènluyện kĩ năng thực hành đến các bài tập luyện tư duy, từ các bài tập đơn nội dung đếncác bài tập đa nội dung, từ các bài tập với đồ vật đến các bài tập dùng lời nói Sựphức tạp dần các nhiệm vụ nhận thức của bài tập cũng như phương thức hành động và
đồ dùng … có tác dụng phát triển tích cực, độc lập và khả năng nhận biết của trẻ, tănghứng thú luyện tập cho trẻ
+Số lượng các bài tập cần vừa đủ để củng cố kiến thức và kĩ năng vừa họccho trẻ Hơn nữa cần đa dạng các bài tập bằng việc thay đổi đồ dùng và cách thức sửdụng chúng Ở lớp bé nên sử sụng 2 - 4 dạng bài tập khác nhau, với trẻ lớn 4 - 6 dạng
+ Cần đa dạng hình thức tổ chức cho trẻ luyện tập với các bài tập: bài tập cho
cả lớp trẻ, bài tập cho từng nhóm trẻ và bài tập cho từng cá nhân trẻ, giáo viên cầnkiểm tra kết quả bài tập của trẻ, sửa sai kịp thời, đánh giá kết quả thực hiện bài tậpcủa trẻ…
+ Nên sử dụng rộng rãi các dạng bài tập dùng lời nói, việc giải quyết các bàitập dạng này có tác dụng hình thành cho trẻ kỹ năng tư duy, khả năng diễn đạt chínhxác và rõ ràng suy nghĩ của mình, biết đưa ra những lập luận
+ Tăng cường sử dụng các bài tập có tính chất vui chơi, có yếu tố thi đua …Chúng rất phù hợp cho trẻ mẫu giáo, nó tạo cho trẻ cảm xúc tốt và làm giảm căngthẳng cho trẻ khi luyện tập
b) Sử dụng trò chơi
Trong quá trình hình thành những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầmnon, trò chơi được sử dụng nhiều với chức năng như một biện pháp hay một phươngpháp dạy học với trẻ Việc sử dụng các trò chơi trong quá trình dạy học với trẻ nhỏ
Trang 23tạo điều kiện thuận lợi để trẻ lĩnh hội kiến thức và kĩ năng mới, củng cố và làm sâusắc hơn những kiến thức và kĩ năng đã học, hình thành cho trẻ kĩ năng vận dụngchúng vào hoàn cảnh mới Như vậy giá trị dạy học của trò chơi tương đương với bàiluyện tập Tuy nhiên trong trò chơi trẻ giải quyết nhiệm vụ nhận thức một cách giántiếp thông qua việc thực hiện nhiệm vụ chơi và hành động chơi Do đó giá trị dạy họccủa trò chơi là rất lớn.
Sử dụng trò chơi được coi là một phương pháp dạy học khi toàn bộ tiết họcđược lồng vào một trò chơi mà trẻ là người tham gia chính Sử dụng trò chơi đượcxem là một biện pháp dạy học khi chỉ một phần của tiết học được lồng vào nội dungchơi, ví dụ: trò chơi “tìm nhà” được sử dụng ở phần sau của tiết học nhằm củng cố vàứng dụng kiến thức, kĩ năng cho trẻ
Để sử dụng trò chơi có hiệu quả thì cần chú ý lựa chọn các trò chơi có nộidung phù hợp với mục đích, yêu cầu của tiết học toán Khi tiến hành trò chơi cần đảmbảo được cấu trúc của trò chơi, nên sử dụng đa dạng các trò chơi nhằm tạo hứng thúcho trẻ chơi, cần chú ý tới các biện pháp, yếu tố (như: thi đua, sắm vai, tự xây dựngluật chơi…) nhằm hình thành và duy trì hứng thú cho trẻ Cần có sự lựa chọn địađiểm chơi và các dụng cụ phù hợp với điều kiện của trường, lớp và đặc điểm cụ thểcủa trẻ
Trong quá trình hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ dưới 3
tuổi, nên tăng cường sử dụng các biện pháp thử nghiệm vào quá trình dạy trẻ nhằm
giúp trẻ tích cực hoạt động với đối tượng, tự sửa sai để tìm ra cái đúng Ví dụ lần đầuthực hiện nhiệm vụ xây dựng khối tháp từ những bánh xe có độ lớn giảm dần, trẻthường nhặt bánh xe có độ lớn bất kì để xây dựng tháp, sau những lần thất bại trẻ sẽ
tự tìm ra cách chọn khối tháp từ to đến nhỏ để thực hiện thành công nhiệm vụ…
Biện pháp giao nhiệm vụ được sử dụng vào dạy học với trẻ lớn nhằm tạo cơ
hội, tình huống giúp trẻ luyện tập, củng cố và ứng dụng kiến thức, kĩ năng toán học
đã biết vào các tình huống khác nhau, ngoài ra còn thực hiện nhiệm vụ giáo dục laođộng cho trẻ Ví dụ khi chuẩn bị cho hoạt động thể dục, giáo viên yêu cầu trẻ mangbốn quả bóng bằng nhau ra sân để tập ném bang Khi chuẩn bị cho tiết học toán, giáoviên yêu cầu trẻ nhặt vào mỗi rổ đựng đồ dùng 5 bông hoa, 5 cái lá và các thẻ số từ 1đến 5…
Sự phối hợp sử dụng linh hoạt các biện pháp hình thành biểu tượng toán học
sơ đẳng cho trẻ trong quá trình tổ chức các hoạt động cho trẻ làm quen với toán gópphần hình thành cho trẻ hệ thống kiến thức, kĩ năng học toán sơ đẳng
Ngoài các phương pháp thuộc các nhóm phương pháp dạy học trên, trongquá trình hình thành các biểu toán học cho trẻ mầm non còn sử dụng một số biện
Trang 24pháp dạy học mà chúng không thuộc các nhóm phương pháp dạy học này như sửdụng tình huống có vấn đề hay các vật giúp định hướng.
Tình huống có vấn đề là một hoàn cảnh có mâu thuẫn và trẻ phải suy nghĩtích cực để giải quyết mâu thuẫn đó Ví dụ: Tại sao 7 vật xếp dài thành hang ngang lại
ít hơn 8 vật xếp gần nhau trong một vòng tròn, làm sao để trẻ chỉ ra được chính xác
độ dài chênh lệch giữa chiều dài và chiều rộng của cái bàn nếu chỉ biết so sánh độ dàicủa chúng bằng các biện pháp xếp chồng, xếp cạnh và ước lượng kích thước bằngmắt, hay tại sao khi đo chiều dài của của một vật bằng hai thước đo khác nhau ta lạiđược hai kết quả khác nhau… Trẻ càng lớn thì việc sử dụng các tình huống có vấn đề
có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành phát triển tư duy cho trẻ Ngoài ra trong dạytrẻ những kiến thức toán học, đôi lúc còn sử dụng các vật giúp trẻ định hướng Ví dụcác vật phát ra âm thanh, hay các vật đặt sẵn ở một vị trí nhất định để giúp trẻ địnhhướng khi di chuyển trong quá trình tìm kiếm và xác định vị trí của các đối tượngkhác nhau…
4 Phát triển tư duy cho trẻ 3 – 6 tuổi.
Từ 3 đến 6 tuổi là thời điểm quan trọng để bồi dưỡng và phát triển khả năng
tư duy cho trẻ Trong thời điểm này chúng ta cần tiến hành rèn luyện tư duy cho trẻmột cách có kế hoạch nhằm tạo cơ sở, tạo nền móng tốt cho sự phát triển toàn diện vềtrí tuệ ở trẻ
4.1 Rèn luyện khả năng tư duy hình tượng
Khi trẻ 3 tuổi, tư duy hình tượng đã bắt đầu xuất hiện, trẻ đã có thể dùngnhững đường nét đơn giản để thể hiện mối quan hệ giữa các vật thể mà trẻ đã vẽ Khitrẻ được 4 – 5 tuổi, khả năng giải quyết vấn đề thông qua tư duy hình tượng của trẻ đãtăng lên rõ rệt Sau 5 tuổi, tư duy hình tượng của trẻ phát triển khá tốt về các mặt nhưhội hoạ, kể chuyện, thực hành với đồ vật, Vì vậy, để bồi dưỡng năng lực này chotrẻ chúng ta cần quan tâm tới các vấn đề sau:
- Thường xuyên hướng dẫn trẻ quan sát thế giới xung quanh bằng cách đặtcâu hỏi giúp trẻ nắm bắt được các đặc điểm đặc trưng của các sự vật, tìm mối quan hệhay sự khác biệt giữa các sự vật, hiện tượng, hướng cho trẻ cảm nhận được những cáiđẹp, cái chưa đẹp, từ đó khơi gợi nguyện vọng mô tả lại chúng bằng ngôn ngữ, bằngtranh ảnh Sau khi trẻ bắt đầu vẽ thì nên để trẻ tự nhớ lại, phát huy hết khả năng tưởngtượng của mình để tái tạo và sáng tạo ra các loại hình tượng
- Kể cho trẻ nghe những câu chuyện có các tình tiết khúc mắc, hứng thú nhưnhững câu chuyện chọn lọc dành cho lứa tuổi Trong khi kể chuyện cần đặt ra nhữngcâu hỏi để khuyến khích khả năng tư duy của trẻ, ví dụ: khi kể cho trẻ nghe chuyện
“Cô bé lọ lem”, chúng ta có thể đặt các câu hỏi: Gia đình của cô bé lọ lem có mấy
Trang 25người, đó là những ai? Khi cô bé lọ lem đi dự hội thì cái gì đã biến thành cỗ xe ngựađẹp lộng lẫy? Con gì đã biến thành người đánh xe ngựa? Những con gì đã biến thànhnhững con ngựa kéo xe? Có mấy con chuột đã biến thành mấy con ngựa kéo xe
- Thường xuyên chuẩn bị đất nặn, giấy mầu, giấy trắng, tranh ảnh, sáchbáo những đồ thủ công, hằng ngày chúng ta có thể hướng dẫn trẻ chơi, dạy trẻ nặnnhững vật to - nhỏ, những nhóm đối tượng có số lượng trong phạm vi 10 hay dạy trẻcắt, xé, dán, bố trí các bức tranh, chẳng hạn cắt dán ngôi nhà, các phương tiện giaothông từ bởi các hình vuông, tròn, tam giác,
4.2 Phát triển khả năng tư duy trừu tượng
Tư duy trừu tượng là một bước phát triển cao hơn từ tư duy trực quan hìnhtượng Chỉ khi nào trẻ tư duy trực quan hình tượng tốt thì khi đó trẻ mới có thể sẵnsàng cho quá trình tư duy trừu tượng Vì thế, tuỳ theo từng đối tượng trẻ cụ thể,chúng ta có thể lựa chọn các hoạt động, các trò chơi và các đồ dùng, đồ chơi phù hợpnhằm giúp trẻ tư duy trừu tượng một cách hiệu quả Ví dụ, đối với trẻ 3 – 4 tuổi, saukhi trẻ đã tri giác trực quan để gọi đúng tên, lấy đúng hình các loại hình vuông, tròn,tam giác, thì chúng ta có thể yêu cầu trẻ hãy kể một vài đồ vật ở thế giới xungquanh có dạng là các hình cơ bản đó Đối với trẻ 4 – 5 tuổi thì sau khi trẻ trực tiếpquan sát, hoạt động với các hình và nắm vứng các đặc điểm đặc trưng của các hình cơbản thì chúng ta có thể nói tên và yêu cầu trẻ mô tả các đặc điểm của các hình hayngược lại, chúng ta mô tả các đặc điểm của các hình thì trẻ phải xác định được đó làhình gì, từ đó chúng ta có thể yêu cầu trẻ ở mức độ cao hơn, đó là yêu cầu trẻ so sánhchỉ ra sự giống, khác nhau giữa các hình đó rồi thực hành nhận biết các hình đó bởicác giác quan Đối với trẻ 5 – 6 tuổi, nhằm phát triển tư duy trừu tượng của trẻ tốthơn, đa dạng phong phú hơn, chúng ta có thể yêu cầu trẻ tạo nên các sản phẩm từ bởicác hình cơ bản đó, nói cách khác, chúng ta có thể hỏi trẻ “Con có thể làm đượcnhững gì từ bởi các hình cơ bản vuông, tròn, tam giác, ”
Như vậy phát triển khả năng tư duy trừu tượng cho trẻ là ta phải giúp trẻtưởng tượng để nhớ lại những cái mà trẻ đã biết, đã thực hành, rồi từ đó khơi gợi tínhđộc lập, sáng tạo của bản thân trẻ
4.3 Bồi dưỡng khả năng tư duy phân loại
Tư duy phân loại đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển tư duycủa trẻ Nếu khả năng tư duy phân loại của trẻ phát triển tốt thì khả năng quan sát,phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, đặc biệt hoá, của trẻ cũng được phát triển tốt, từ
đó tạo nền tảng cho quá trình tư duy trừu tượng và tư duy loogics của trẻ phát triểntốt
Trang 26Để phát triển khả năng tư duy phân loại cho trẻ chúng ta có thể tổ chức nhiềuhoạt động, nhiều trò chơi quen thuộc, gần gũi với trẻ, ví dụ: Yêu cầu trẻ phân loại các
đồ dùng đồ chơi mỗi khi tổ chức cho trẻ chơi hoặc yêu cầu trẻ phân loại quần áo,phân loại rau, củ, quả, trong các hoạt động bé tập làm nội trợ
4.4 Rèn luyện tư duy so sánh
Để rèn luyện tư duy so sánh cho trẻ, trước tiên chúng ta cần rèn luyện khảnăng quan sát, phân tích, tổng hợp, để nắm vững các đặc điểm đặc trưng của các sựvật, hiện tượng, từ đó giúp trẻ phát hiện ra sự giống và khác nhau giữa chúng, đặc biệt
là giúp trẻ phát hiện ra những điểm khác nhau từ những sự vật giống nhau và pháthiện ra những điểm giống nhau từ những sự vật khác nhau
Rèn luyện khả năng so sánh cho trẻ có thể đi từ đời sống xung quanh chúng
ta Chẳng hạn, trong 2 chú mèo kia, chú mèo nào to hơn, chú mèo nào nhỏ hơn? Conhãy kể xem hai chú mèo kia có những điểm gì giống nhau, những điểm gì khác nhau?Hoặc, Con hãy chỉ ra những điểm giống nhau, khác nhau giữa cái cốc và cái bát? 4.5 Rèn luyện khả năng phân tích và tổng hợp từ trò chơi
Rèn luyện khả năng phân tích, tổng hợp từ các trò chơi có ý nghĩa rất quantrọng đối với quá trình nhận thức các tri thức của trẻ, bởi lẽ, qua các quá trình phântích tổng hợp đó trẻ sẽ có cái nhìn chi tiết hơn, sâu sắc hơn hoặc tổng thể hơn đối vớicác sự vật, hiện tượng Từ đó trẻ dễ tiếp cận, dễ đưa ra được những kết luận về nhữngvấn đề mà trẻ cần tiếp thu
Rèn luyện khả năng phân tích, tổng hợp cho trẻ có thể tiến hành từ khi trẻcòn bé và phương pháp tốt nhất là hướng dẫn trẻ quan sát, lắng nghe rồi trao đổi, nóichuyện với trẻ Trong quá trình trao đổi, nói chuyện đó hướng dẫn trẻ phân tích, tổnghợp và phát triển ngôn ngữ của trẻ Ví dụ, hướng dẫn trẻ quan sát và giải thích cáchiện tượng tự nhiên, từ đó trẻ có thể xác định được tại sao mây lại bay? Tại sao con
cá lại bơi được?
4.6 Bồi dưỡng khả năng giải quyết vấn đề cho trẻ
Bồi dưỡng khả năng này cho trẻ rất đơn giản, vì những vấn đề cần giải quyết
có rất nhiều ở thế giới xung quanh trẻ, trong các hoạt động học tập và vui chơi Song,trong công việc này chúng ta cần để ý là không làm thay trẻ mà chỉ hướng dẫn để trẻ
tự giải quyết Ví dụ, trẻ loay hoay mãi mà chưa ghép được 4 hình tam giác bằng nhauthành một hình vuông, trẻ có thể muốn nhờ chúng ta làm hộ, song – chúng ta sẽkhông làm hộ trẻ mà có thể gợi ý để trẻ có thể tự xoay các hình tam gác sao cho phùhợp để ghép lại thành hình vuông
4.7 Bồi dưỡng tính nhanh nhạy trong tư duy
Trang 27Do còn nhỏ, khả năng nhận thức và tư duy của trẻ còn nhiều hạn chế, cáchoạt động thực hành trải nghiệm với thực tế còn ít nên vốn sống, vốn kinh nghiệmcủa trẻ còn ít, vì thế khi suy nghĩ về các vấn đề hoặc các khía cạnh có liên quan đếnnhau của một vấn đề nào đó của trẻ cũng hãy còn hạn chế Ví dụ, khi trẻ chỉ ra côngdụng của gỗ, trẻ thường chỉ nêu được những công dụng trong kiến trúc của gỗ như là
để làm nhà, làm bàn, ghế, giường, tủ, mà trẻ không nêu được các công dụng kháccủa gỗ như là để làm giấy, làm vỏ bút chì Vì thế chúng ta nên đưa ra nhiều hoạtđộng để hướng dẫn trẻ suy nghĩ nhiều, suy nghĩ nhanh, chẳng hạn: Con có thể làm gìvới một cây bút bi đã hết mực? Hoặc, con có thể làm được những gì khi có một sợidây, một tờ giấy hình chữ nhật? Hoặc, con hãy kể những bộ phận, những đồ vật trên
cơ thể con có số lượng là một, là hai hay ba, Tuy nhiên, khi rèn luyện cho trẻ khảnăng này, chúng ta cần chú ý dạy trẻ phản ứng nhanh chứ không phải phản ứng vộivàng, gặp những vấn đề cần phải suy xét thì phải suy xét chu đáo, sau đó thong thả trảlời mạch lạc
4.8 Khích lệ trí tưởng tượng của trẻ
Để khích lệ trí tưởng tượng của trẻ, chúng ta cần tạo nên một bầu không khívui vẻ thoải mái mà ở đó trẻ có thể xếp hình, vẽ, tô màu theo ý thích hoặc trẻ cũng
có thể đặt ra rất nhiều câu hỏi ngộ nghĩnh, thậm chí có vẻ buồn cười Mặc dù vậychúng ta không nên cản trở trẻ tự do phát triển trí tưởng tượng và đặc biệt, không nêncười nhạo, phê bình trẻ, không nên dùng suy nghĩ của người lớn để đánh giá, nhận xéthay yêu cầu trẻ
Dạy trẻ sáng tạo ra các câu chuyện cũng là một phương pháp tốt để phát triểntrí tưởng tượng, phát triển tư duy cho trẻ Chúng ta có thể tạo ra môi trường, tạo ratình huống để khích lệ trẻ suy nghĩ đến tình tiết và những kết cục khác nhau của câuchuyện, sau đó cho trẻ kể lại theo suy nghĩ của mình Hoặc, trên nền một câu chuyện
có sẵn, ta có thể hỏi trẻ: theo con thì câu chuyện có thể kết thúc như thế nào? Hoặckhi cho trẻ thực hiện bài toán thêm, bớt với những chú chim, chúng ta có thể yêu cầutrẻ hãy thử kể một câu chuyện về các chú chim đó
4.9 Khuyến khích trẻ tìm hiểu thế giới xung quanh
Tìm hiểu, khám phá môi trường xung quanh là hoạt động luôn hấp dẫn, tạođược hứng thú đối với trẻ trong các hoạt động nhận thức Dể làm tốt công tác này,chúng ta cần tạo cơ hội cho trẻ tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh trong các mốiquan hệ về số lượng, mầu sắc, hình dạng, khích thước, chất liệu, công dụng, hay môitrường sống, Hướng dẫn trẻ chơi hết mình, trong quá trình chơi trẻ phải động nãosuy nghĩ và độc lập giải quyết các vấn đề để hoàn thành nhiệm vụ Ví dụ, cho trẻ chơi
Trang 28“đi tìm kho báu”, để tìm được kho báu trẻ phải đi theo một con đường nào đấy và để
đi được trên con đường đó trẻ phải suy nghĩ hoàn thành một số những yêu cầu
5 Những yêu cầu trong công tác tổ chức các hoạt động trí tuệ cho trẻ mầm non
5.1 Dạy trẻ biết điều khiển chú ý của mình
Khả năng chú ý của trẻ mẫu giáo đang phát triển mạnh mẽ, chú ý có chủ địnhđang hình thành và phát triển, song chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế Về bềngoài của sự vật hiện tượng: Màu sắc, kích thước, hình dạng vẫn hấp dẫn lôi cuốn
sự chú ý của trẻ Để giúp trẻ giải quyết được nhiệm vụ học tập ở trường phổ thôngsau này, ngay từ lứa tuổi mầm non đặc biệt là trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, chúng ta cần rènluyện cho trẻ biết tập trung chú ý vào những vấn đề cần nhận thức Trong công tácgiáo dục chúng ta cần tạo điều kiện để giúp trẻ chuyển dần chú ý không chủ định đếnchú ý có chủ định Điều này có thể tiến hành trong các tiết học, trong trò chơi, tronggiao tiếp
Đồng thời với việc rèn luyện cho trẻ sự tập trung chú ý có chủ định, cần ngănngừa bệnh đãng trí và sự phân tán chú ý của trẻ Trong quá trình giáo dục cần tránhnhững tác động bên ngoài làm ảnh hưởng tới chú ý của trẻ
Hơn nữa, như chúng ta đã biết, hoạt động học tập ở trường phổ thông đòi hỏihọc sinh phải duy trì chú ý của mình trong một thời gian khá dài, do vậy trường mầmnon phải tập cho trẻ biết duy trì chú ý trong những khoảng thời gian cần thiết trongcác hoạt động Những hoạt động có thể tập cho trẻ duy trì sự chú ý trong thời gian dài
là hoạt động tạo hình, hát múa, trò chơi học tập, trò chơi xây dựng Thời gian chú ýcủa trẻ nhiều hay ít phụ thuộc vào nội dung, nhiệm vụ hoạt động Trong hoạt động tạohình ta có thể tăng dần nhiệm vụ hoạt động: yêu cầu trẻ tạo ra những sản phẩm phứctạp dần Ví dụ: Lúc đầu cho trẻ vẽ hoa, sau đó cho thêm lá, cành Tương tự như vậytrong trò chơi xếp hình ta cũng có thể kéo dài thời gian, chú ý của trẻ qua việc tăngnhiệm vụ chơi: Xếp căn nhà, xếp đường đi, xây hàng rào, cây cối
Bên cạnh việc luyện cho trẻ khả năng duy trì sự chú ý trong khoảng thời giancần thiết cho một hoạt động, cũng cần tập cho trẻ hoàn thành dứt điểm công việctrong thời gian nhất định: Chơi trong bao lâu, hoạt động dạo chơi, ăn trong bao lâu Điều này rất cần thiết khi trẻ vào lớp 1, giúp các em hoàn thành nhiệm vụ của ngườihọc sinh trong những thời gian nhất định
5.2 Phát triển hoạt động cảm nhận
Nhận thức cảm tính là con đường nhận thức cơ bản của trẻ mẫu giáo về thếgiới xung quanh Nhờ có cảm giác và tri giác phát triển mà đứa trẻ có một vốn trithức khá phong phú về thế giới xung quanh Đó là những trí thức “tiễn khoa học”
Trang 29những biểu tượng về thế giới xung quanh Vốn tri thức này rất cần thiết cho hoạtđộng học tập của trẻ sau này.
Như phần trên đã trình bày, sự tri giác của trẻ thường mang tính không chủđịnh Sự hấp dẫn về vẻ bề ngoài của sự vật (hình dạng, mầu sắc, kích thước ) lôicuốn sự tập trung chú ý của trẻ Để hoạt động cảm nhận của trẻ phát triển theo hướngtích cực, làm tiền đề cho nhận thức lý tính và hoạt động học tập căng thẳng sau này,cần phải rèn luyện cho trẻ biết cách quan sát vật, hiện tượng trong thế giới xungquanh Tức là chuyển dần tri giác không chủ định sang tri giác có chủ định trong cáchoạt động (vui chơi, học tập, giao tiếp)
Trong vui chơi, trong tiết học cần rèn luyện cho trẻ khả năng quan sát nhằmnhận ra được những thuộc tính cơ bản của đối tượng Qua trò chơi đặc biệt là qua
“tiết học” giáo viên cần tạo cho trẻ nhận biết được các thuộc tính đặc trưng của sựvật, hiện tượng Nhờ thuộc tính đặc trưng này mà trẻ phân biệt được sự vật, hiệntượng này với sự vật, hiện tượng khác Ví dụ: Quả cam với quả khế khác nhau ở hìnhdạng, mùi vị, hoa hồng với hoa nhài khác nhau về mùi hương và hình dạng, con thỏkhác với con chó mặc dù đều có 4 chân nhưng khác nhau ở đôi tai (tai thỏ dài, tai chóngắn)
Đồng thời cũng cần cho trẻ làm quen với hình khối của sự vật, hiện tượng,những thuộc tính khó nhận ra của đối tượng Những thuộc tính lẩn khuất này trẻthường khó nhận ra, một mặt nó đòi hỏi trẻ phải được hướng dẫn một cách tỉ mỉ
Ví dụ: Khi trẻ vẽ một chiếc ô tô, một cái bàn, ta thường thấy trẻ vẽ bàn có 2chân, ô tô có hai bánh nếu giáo viên khéo gợi ý để trẻ tái hiện lại biểu tượng đã có
về đối tượng thì trẻ sẽ nhận ra những thuộc tính hợp lý của đối tượng
5.3 Phát triển tư duy
Phát triển tư duy trực quan hình tượng được xem là nội dung quan trọng.Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động nhận cảm, tư duy trực quan của trẻcũng rất phát triển Nếu ở đầu tuổi mẫu giáo tư duy trực quan hành động chiếm ưuthế, thì đến tuổi mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn tư duy trực quan hình tượng chiếm ưuthế Bên cạnh việc cung cấp cho trẻ những biểu tượng đa dạng về thế giới xungquanh, chúng ta cần giúp trẻ hệ thống hoá vốn hiểu biết của mình Có thể nói rằngviệc cung cấp biểu tượng đa dạng về thế giới theo một dấu hiệu nào đó là điều kiện
đủ để tư duy trực quan hình tượng nói riêng và tư duy của trẻ nói chung được hìnhthành và phát triển Qua các hoạt động giáo dục đặc biệt là qua việc tổ chức các tiếthọc ta cần giúp trẻ phân loại hệ thống hoá các sự vật hiện tượng khách quan theo mộtvài dấu hiệu cho trước nào đó Đối với trẻ mẫu giáo bé, trẻ thường phân loại, hệ thốnghoá các sự vật, hiện tượng theo một dấu hiệu đặc trưng như: Màu sắc, hình dạng, mùi
Trang 30vị Đến 5 tủôi trẻ có thể phân loại, hệ thống hoá các sự vật, hiện tượng dựa trên haihoặc vài dấu hiệu Ví dụ: trẻ có thể chọn hìinh vuông, hình chữ nhật, hình tam giácvào một nhóm (hình có cạnh, không lăn được) chó, mèo, gấu, thỏ vào một nhóm(động vật có mõm, đi bằng bốn chân)
Nhờ có tư duy trực quan - hình tượng phát triển, khả năng hệ thống hoá biểutượng của trẻ ngày càng phát triển Trẻ sử dụng các biểu tượng trong đầu để giảiquyết các bài toán khách quan đặt ra cho trẻ một cách tích cực Trong những tìnhhuống phức tạp, các biểu tượng đơn lẻ về thế giới khách quan không giải quyết đượcvấn đề, trẻ đã biết mối kết nhiều biểu tượng theo một vài dấu hiệu đặc trưng (gạt bỏnhững chi tiết rườm rà) để giải quyết vấn đề Đây gọi là kiểu tư duy trực quan sơ đồ.Nhờ vậy chúng ta thấy rằng tư duy trực quan sơ đồ chỉ là một nấc thang phát triển caocủa tư duy trực quan – hình tượng Do vậy nó chưa thể giải quyết được những vấn đềbên trong và phức tạp của đối tượng Vấn đề đặt ra là phải kích thích sự xuất hiện củacác yếu tố của tư duy lô gíc, thông qua việc phát triển tư duy trực quan hình tượng nóichung và tư duy trực quan sơ đồ cho trẻ Tức là trong quá trình tổ chức các hoạt độngcho trẻ, cần giúp trẻ sử dụng thành thạo các vật thay thế, phát triển khả năng ký hiệucủa ý thức Mặt khác, tư duy lô gíc là loại tư duy mà con người phải suy luận, phánđoán để tìm ra nhưng thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng để tìm ra mối quan
hệ có tính quy luật giữa chúng Do vậy để làm nảy sinh các yếu tố của tư duy lô gíc tacần phải hình thành ở trẻ khả năng suy nghĩ, phán đoán trong quá trình giải quyếtnhiệm vụ chơi Nhiệm vụ học và trong quá trình tổ chức các hoạt động cho trẻ chúng
ta phải đưa trẻ vào các tình huống có vấn đề cần phải giải quyết Khi đó, những suynghĩ, phán đoán hình thành ở trẻ khả năng tư duy lô gíc để giải quyết các tình huống
Bên cạnh đó, một vấn dề không kém phần quan trọng trong việc phát triển tưduy của trẻ là hình thành ở trẻ những phẩm chất tư duy: Tính linh hoạt, tính mềm dẻo,tính khái quát tâp cho trẻ phân tích, so sánh, phán đoán các sự vật hiện tượng trongnhững trạng thái khác nhau Ví dụ: Cho trẻ quan sát, so sánh hình vuông với hìnhthoi, hình vuông với hình chữ nhật
Chương II: XÂY DỰNG MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG NHẰM PHÁT
TRIỂN TƯ DUY TOÁN HỌC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
1 HOẠT ĐỘNG : LẤY BI
1.1 Mục tiêu:
- Luyện đếm cho trẻ trong phạm vi 5 và phân loại các đối tượng
- Phát biểu tư duy trực qua hình tượng cho trẻ
Trang 311.2 Chuẩn bị:
Mỗi trẻ:
- 2 viên bi a và b như nhau, cùng màu đỏ
- Một viên bi c cùng chất liệu, kích thước như 2 viên bi a, b nhưng có màuxanh
- Một viên bi d cùng chất liệu với các viên bi a, b, c nhưng kích thước lớnhơn và có màu vàng
- Một viên bi f cùng chất liệu với các viên bi a, b, c nhưng kích thước bé hơn
+ Bộ đồ chơi của các con có những gì?
+ Tất cả có bao nhiêu viên bi? Các con cùng đếm nào?
+ Các viên bi được chia thành mấy màu? Đó là những màu gì?
+ Các con có nhận xét gì về những viên bi này? (cho một vài trẻ đưa ra nhậnxét, chú ý hướng trẻ nhận xét về số lượng và sự khác nhau giữa các viên bi)
- Trò chơi với các viên bi:
+ Các con hãy cầm 2 viên bi màu đỏ lên tay và quan sát chúng nào
+ Các viên bi như thế nào với nhau? (chất liệu, kích thước, màu sắc)
+ Hãy bỏ 2 viên bi đó vào trong túi nào
+ Các con hãy suy nghĩ xem, nếu bây giờ cho tay vào trong túi và lấy ra 1viên bi thì sẽ lấy ra được viên bi màu gì? Ai biết? Vì sao? (cho một vài trẻ trả lời)
+ Các con hãy lấy ra một viên bi nào?
+ Viên bi đó màu gì? Có đúng với dự đoán không?
Trang 32Giáo viên khẳng định cho trẻ: viên bi lấy ra chắc chắn có màu đỏ vì 2 viên bitrong túi như nhau và cùng có màu đỏ.
+ Bây giờ các con hãy cất bớt một trong 2 viên bi đó vào rổ và cầm trên taymột viên bi còn lại cùng với một viên bi xanh nào?
+ Các viên bi như thế nào với nhau? (hướng cho trẻ thấy sự giống và khácnhau giữa chúng)
+ Hãy bỏ 2 viên bi đó vào túi
+ Các em hãy đoán xem, nếu bây giờ cho tay vào túi và lấy ra một viên bi thì
sẽ lấy ra được viên bi màu gì? Ai biết? Vì sao? (cho một vài trẻ trả lời)
+ Các con hãy lấy ra một viên bi nào?
+ Viên bi đó màu gì? Có đúng với dự đoán không? (cho một vài trẻ trả lời cụthể)
+ Hãy bỏ viên bi vừa lấy ra vào túi nào
+ Bây giờ cho tay vào lấy ra một viên bi, ai biết viên bi lấy ra sẽ là viên bimàu gì? (cho vài trẻ trả lời)
+ Các con hãy lấy ra một viên bi nào?
+ Viên bi đó màu gì? Có đúng với dự đoán không? (cho một vài trẻ trả lời).+ Hãy bỏ viên bi đó vào túi nào
+ Các con hãy nghĩ kĩ nào, nếu bây giờ lại cho tay vào túi và lấy ra một viên
bi thì viên bi đó có màu gì? (hướng cho trẻ xác định được viên bi lấy ra có thể màu
đỏ, có thể màu xanh)
+ Các con hãy lấy ra một viên bi nào?
+ Hãy quan sát xem mọi người có lấy ra những viên bi cùng màu không?Giáo viên tổng kết lại cho trẻ: viên bi lấy ra có thể màu đỏ, cũng có thể màuxanh vì 2 viên bi trong túi tuy giống nhau về nhiều mặt nhưng chỉ có 2 màu khácnhau, đỏ và xanh
+ Bây giờ các con hãy cất viên bi màu đỏ ( xanh) vào rổ và cầm lên tay viên
bi màu xanh và viên bi màu vàng nào
+ Hãy quan sát và so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa các viên bi này?(cho một vài trẻ trả lời)
+ Cho 2 viên bi đó vào túi nào
+ Đố các con biết nếu cho tay vào túi và lấy ra một viên bi thì viên bi lấy ra
sẽ có màu gì? (cho một vài trẻ trả lời)