1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đạo đức sinh thái và viện giáo dục đạo đức sinh thái cho cán bộ chủ chốt cấp huyện các huyện phía Bắc nước ta hiện nay pptx

146 525 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đạo đức sinh thái và viện giáo dục đạo đức sinh thái cho cán bộ chủ chốt cấp huyện các huyện phía Bắc nước ta hiện nay
Trường học Viện giáo dục đạo đức sinh thái
Chuyên ngành Đạo đức sinh thái
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 5,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó chứng tỏ rằng, từ trong quan niệm xã hội đã coi việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường chỉ là việc làm bắt buộc, cưỡng chế, chứ khôn

Trang 1

HỌC VIÊN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HO CHI MINH

PHÂN VIỆN HÀ NỘI

eK

TONG QUAN KHOA HOC

DE TAI CAP BO NAM 2003 - 2004

DMO DV SM THA WAS GMO DUG DAO DU SNH THA CHO CAN BO CHO CHO CAP HUVEC TAH PHA BAC HE TA HEN NA

CO QUAN CHU TRI DE TAI: PHAN VIEN HÀ NỘI CHỦ NHIỆM DE TAI: PGS, TS VU TRONG DUNG

THUKY DE TAI TS LE THI THUY

%8

Trang 2

CHỦ NHIỆM VÀ THƯ KÝ ĐỀ TÀI:

PGS, TS Vũ Trọng Dung Chủ nhiệm đề tài

CÁC TÁC GIẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:

1 ThS Nguyễn Thanh Bình Khoa Triết học, Phân viện Hà Nội

5 GS, TS Dé Huy Viện Triết học, Viện KHXH Việt Nam

6 PGS, TS Trần Hậu Kiêm Trường cán bộ Thanh Tra, Tổng Thanh tra Nhà nước

11 TS Nguyễn Thế Thắng Khoa Xã hội học, Phân viện Hà Nội

12 TS Lê Thị Thuỷ Khoa Triết học, Phân viện Hà Nội

CỘNG TÁC VIÊN:

1 TS Lê Thị Minh Hà Khoa Triết học, Phân viện Hà Nội

4 Th§ Nguyễn Nam Thắng Khoa Triết học, Phân viện Hà Nội

Trang 3

1.1.1 Khái niệm đạo đức sinh thái

1.1.2 Sự hình thành và biến đổi của đạo đức sinh thái ở nước ta

1.2 Giáo dục đạo đức sinh thái là yêu cầu khác khách quan của sự tổn

tại và phát triển xã hội

1.3 Nội dung đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái trong

điều kiện hiện nay

1.3.1 Hình thành và giáo dục chuẩn mực đạo đức sinh thái

1.3.2 Giáo dục việc thực hiện các hành vi đạo đức sinh thái

1.3.3 Giáo dục ý thức đấu tranh, phê phán, khắc phục những hành vi phan

đạo đức sinh thái

Chương 2: TÌNH HÌNH ĐẠO ĐỨC SINH THÁI VÀ GIÁO DỤC ĐẠO

ĐỨC SINH THÁI CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN CÁC

TỈNH PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 Một số vấn để về đạo đức sinh thái của đội ngũ cán bộ chủ chốt

cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta

2.1.1 Vài nét về thực trạng môi trường sinh thái các tỉnh phía Bắc nước ta

2.1.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc

với việc bảo vệ môi trường sinh thái

2.1.3 Nhận thức và hành vi đạo đức sinh thái của cán bộ chủ chốt cấp

huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay

2.2 Tình hình giáo dục đạo đức sinh thái cho đội ngũ cán bộ chủ

chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta

Trang 4

2.2.1 Giáo dục đạo đức sinh thái cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện

các tỉnh phia Bắc nước ta bằng các hình thức chính quy

2.2.2 Giáo dục đạo đức sinh thái cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện

các tỉnh phía Bắc nước ta bằng các hình thức không chính quy

2.3 Những vấn đề đặt ra về giáo dục đạo đức sinh thái cho đội ngũ

cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta

2.3.1 Về nội dung giáo dục đạo đức sinh thái

2.2.2 Về hình thức giáo dục và lực lượng giáo dục đạo đức sinh thái

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU

QUÁ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC SINH THÁI CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ

CHỐT CẤP HUYỆN CÁC TỈNH PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY

3.1 Phương hướng giáo dục đạo đức sinh thái

3.1.1 Nâng cao nhận thức về đạo đức sinh thái

3.1.2 Gáo dục đạo đức sinh thái phải bảo đảm tính toàn diện đồng bộ và

hệ thống

3.1.3 Giáo dục đạo đức sinh thái gắn liền với các quy định, quy chế và

các chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức khác

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức

sinh thái cho đội ngũ cán bộ chú chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta

3.2.1 Đổi mới và nâng cao nhận thức về môi trường sinh thái và vai trò

của giáo dục đạo đức sinh thái

3.2.2 Đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức sinh thái cho đội ngũ cán bộ

chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay

3.2.3 Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường sinh

thái

3.2.4 Đẩy mạnh các hoạt động văn hoá tinh thần nhằm hình thành các

chuẩn mực, quan niệm, định hướng giá trị và giáo dục đạo đức sinh thái

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xã hội Việt Nam hiện nay đang bước vào một giai đoạn phát triển mới,

với việc cùng một lúc phải tiến hành đồng loạt các quá trình quan trọng như

đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, “thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”!, “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực”

Tất cả các quá trình đó đều vô cùng cân thiết cho sự phát triển của xã

hội Việt Nam, nhưng đồng thời cũng vô cùng mới mẻ, lạ lãm đối với một đất

nước đang từ một nền sản xuất nông nghiệp kém phát triển, bước vào hiện đại

hoá xã hội Những điều kiện mới đó không chỉ tác động mạnh mẽ, toàn diện,

sâu sắc tới các mối quan hệ giữa con người với con người, mà còn tới các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên cả tích cực lẫn tiêu cực; đặc biệt là đã làm biến đổi nhanh chóng môi trường sống theo chiều hướng ngày càng xấu dần, điều đó đã dẫn đến những hậu quả không sao có thể lường trước được cho cả tự nhiên, xã hội và con người

Sự khan hiếm dần và ngày càng cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên

nhiên như rừng, đất đai, nước sạch, tài nguyên khoáng sản, đa dạng sinh học, và tình trạng ô nhiễm môi trường sống hiện nay ở nước ta cũng như

trên thế giới có nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu ngày càng tăng của nền

sản xuất xã hội, do sự chưa hoàn thiện của kỹ thuật và công nghệ khai thác và chế biến, do sự hiểu biết còn hạn chế của con người đối với môi trường thiên nhiên, Ngoài ra, còn phải kể đến các yếu tố xã hội - nhân văn như văn hoá, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, luật pháp, tâm lý, quản lý con người chưa thay đổi

! Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, 2001, tr.86

? Sách đã dẫn: tr.120.

Trang 6

kịp thời với sự biến đổi nhu cầu của con người

Lâu nay khi bàn về vấn để môi trường và bảo vệ môi trường, người ta chủ yếu chỉ quan tâm đến các khía cạnh kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, y học, luật pháp; còn những yếu tố nhân văn, đặc biệt là các yếu tố văn hoá truyền thống đân tộc, đạo đức lối sống hầu như chưa được chú ý đến, mặc dù đó là

những yếu tố rất cơ bản và quan trọng trong việc điều chính hành vi của con

người trong quá trình khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Trong bức tranh ảm đạm của môi trường sinh thái hiện nay

ở nước ta cũng như trên thế giới là do những hành vi phi nhân tính, của cách

ứng xử phản sinh thái của con người đối với tự nhiên Ph.Ăngghen viết:

“Chúng ta cũng không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì, cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần giới tự

nhiên trả thù chúng ta Thật thế, mỗi một thắng lợi, trước hết là đem lại cho chúng ta những kết quả mà chúng ta hằng mong muốn, nhưng đến lượt thứ hai, lượt thứ ba, thì nó lại gây ra những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường

trước được, những tác dụng thường hay phá huỷ tất cả những kết quả đầu tiên

đó”!,

Trong thực tế, những hành vi phá hoại môi trường như việc khai thác, sử dụng lãng phí, bừa bãi, tự do tuỳ tiện, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm môi trường, thường chỉ bị quy về trách nhiệm pháp lý, hình sự và xét xử theo luật định, hầu như không bị lên án về phương diện đạo đức, lối sống Điều đó chứng tỏ rằng, từ trong quan niệm xã hội đã coi việc khai thác,

sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường chỉ là việc làm bắt buộc, cưỡng chế, chứ không phải là việc làm tự giác, là thói quen, tập quán xuất phát từ sự tự ý thức về nghĩa vụ trách nhiệm của công dân, hay nói cách khác là không xuất phát từ đạo đức của con người đối với môi trường thiên nhiên, đạo đức sinh thái Đây là một khiếm khuyết lớn trong công tác bảo vệ môi trường sinh thái

! C Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, t 20, tr 654

Trang 7

Ngày nay, sự suy thoái nhanh chóng và nghiêm trọng của môi trường

sống (nạn cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nạn ô nhiễm nặng nề môi

trường sống, sự de doa vệ sinh an toàn lương thực, thực phẩm đến sức khoẻ và

sự sống của con người, ) đến mức báo động khẩn cấp, đã và đang trở thành

một trong những vấn để căng thẳng nhất, cấp bách nhất và nan giải nhất,

không chỉ của riêng từng quốc gia, mà trên phạm vi toàn cầu Trước tình trạng

môi trường sinh thái bị ô nhiễm, cạn kiệt, ngày 05 tháng 6 năm 1972 đã diễn

ra Hội nghị quốc tế về môi trường tại Siốckhôm (Thuy Điển) Hội nghị đã đưa

ra lời kêu gọi: Hỡi con người, hãy cứu lấy hành tinh “cái nôi” của chúng ta, ngày 05 tháng 6 hàng năm đã trở thành "ngày môi trường thế giới”

Khi vấn đề về bảo vệ môi trường sống là trách nhiệm của mỗi nước và

của cả loài người thì việc xây dựng mối quan hệ hài hoà giữa con người và tự nhiên phải được coi là một yêu cầu mới của thời đại đối với phẩm chất đạo đức của con người Do đó, những ai có hành vi xâm hại đến môi trường, phá hoại

sự cân bằng sinh thái phải bị coi là vi phạm chuẩn mực đạo đức Ph.Ăngghen

đã viết: “Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác tất cả sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy

luật đó một cách chính xác”!

Tự nhiên là cái khâu liên hệ giữa con người với con người - đó là một quan niệm vô cùng sâu sắc và nó lại càng trở nên sâu sắc hơn, quan trọng hơn khi ta vận dụng quan niệm này vào giải quyết vấn đề bảo vệ môi trường sống

Đó chính là vấn để đạo đức sinh thái hay còn được gọi là đạo đức môi sinh,

đạo đức môi trường Đạo đức sinh thái là đạo đức được thể hiện trực tiếp trong

các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Tuy nhiên, suy đến cùng đạo đức sinh thái cũng chính là đạo đức xã hội nói chung, với nghĩa “Tự nhiên đối với con người mới là khâu liên hệ giữa con người với con người Chỉ có trong xã

' C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn táp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr.655

Trang 8

hội tổn tại tự nhiên của con người mới là tồn tại có tính chất người của con

người đối với con người và tự nhiên, mới trở thành con người đối với con

người” Sự khác nhau cơ bản giữa đạo đức xã hội và đạo đức sinh thái là ö chỗ: nếu như đzo đức xế hội điều chỉnh hành vị của con người trong mối quan

hệ giữa con người với con người và giữa con người với cộng đồng (xã hội) thông qua cơ chế lợi ích, được thực hiện bởi sự tự ý thức và bằng dư luận xã

hội, nghĩa là sự tác động đi theo hai chiều, từ chủ thể đến khách thể và ngược

lại, thì trong đạo đức sinh thái, hành vi của con người thường chỉ đi theo có

một chiều, từ chủ thể (con người) đến các đối tượng của tự nhiên, còn chiều tác

động ngược lại từ tự nhiên lên con người chỉ có thể nhận biết được sau tất cả những hậu quả mà con người đã gây ra cho tự nhiên và thường đến lúc đó thì

đã quá muộn để con người có thể sửa chữa, khắc phục Bởi vậy, đạo đức sinh

thái đòi hỏi mọi người nói chung; nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp hiện

nay - những người đang phải quản lý một môi trường tự nhiên, trước hết là

những cán bộ hoạt động trong lĩnh vực có liên quan đến tài nguyên và môi

trường phải có một sự hiểu biết sâu sắc về tự nhiên, đồng thời phải có một sự

tự ý thức, một tinh thần tự giác rất cao

Với tất cả những lý do đã trình bày trên đây, có thể khẳng định rằng, vấn

đề đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái trong điều kiện của nước ta hiện nay là một vấn đề rất bức xúc cần phải được xem xét, nghiên cứu một cách nghiêm túc, toàn diện và sâu sắc cả trên bình diện lý luận và thực tiến Xây dựng đạo đức sinh thái là một nhu cầu mới, là một yếu tố xã hội - nhân văn vô cùng cần thiết và quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ môi trường nói riêng, đối với sự phát triển xã hội nói chung Theo chiến lược phát triển bền vững, một chiến lược đang được cả nhân loại quan tâm dưới tên gọi “Lịch trình thế kỷ XXI” Chương trình hành động quốc tế được nêu ra cách đây 13 năm tại

Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển bền vững

ở Rio đe Janeiro (Brazin) vào tháng 6 năm 1992 Chương trình hành động quốc

! C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t 42, tr.170

Trang 9

tế đó được tiếp tục thảo luận và nhất trí cao ở Hội nghị cấp cao thế giới về phát

triển bên vững họp tại thành phố Giôhan nexbớc (Nam Phi) vào cuối tháng 8

và đầu tháng 9 năm 2002

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đạo đức là một trong những vấn đề từ lâu đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Trên thực tế, đã có nhiều công trình,

đề tài đã được công bố, nhất là trong những năm gần đây, khi mà đạo đức xã hội có nhiều biểu hiện tiêu cực trước tác động của điều kiện phát triển, đặc biệt

là của kinh tế thị trường Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đẻ văn hoá, đạo đức, lối sống, đến việc bảo vệ những giá trị văn hoá truyền thống trong những điều kiện phát triển mới của đất nước và thời đại Điều này được

thể hiện cụ thể trong các nghị quyết, các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, đặc

biệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá VII đã

tập trung vào bàn về vấn đề này Tuy nhiên, sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học về vấn đề văn hoá, đạo đức, lối sống từ trước cho tới nay chủ yếu

cũng chỉ mới tập trung vào các khía cạnh xã hội, nghĩa là chỉ dừng lại ở mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội Những công trình nghiên cứu về các vấn đề này từ góc độ sinh thái, đạo đức sinh thái, lối sống văn hoá

sinh thái còn rất ít, không đáng kể

Vấn đề bảo vệ môi trường sống ngày nay đang là một trong những vấn

đề được quan tâm nghiên cứu trên bình điện quốc tế cũng như trên bình diện quốc gia Đã có nhiều Hội nghị quốc tế, nhiều Công ước và Nghị định thư

quốc tế về môi trường và phát triển bền vững được ban bố, nhất là trong hai

thập niên trở lại đây Chỉ trong vòng 10 năm (1992 - 2002) đã có hai Hội nghị thượng đỉnh quốc tế chuyên bàn về vấn đề bảo vệ môi trường trái đất và vấn đề phát triển bền vững.Trong các Nghị quyết của Đảng các khoá VI, VI, VII và

IX đều đã ghi nhận tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường va phat triển bén vững Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban bố

"Luật bảo vệ môi trường" từ năm 1993 và nhiều văn bản khác, như Luật bảo vệ

Trang 10

và khai thác rừng, biển, đất đai, đa đạng sinh học, về khai thác các nguồn tài

nguyên khoáng sản, về chống ô nhiễm môi trường, về vệ sinh an toàn lương

thực, thực phẩm, v.v , đã được ban hành Việc thành lập "Bộ Tài nguyên và

môi trường" gần đây đã chứng tỏ quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bên vững Việc Thủ tướng Chính phủ

quyết định đưa giáo dục môi trường vào giảng dạy ở tất cả các cấp học từ phổ thông đến đai học từ tháng 10 - 2001 là một bước tiến bộ mới trong việc phổ cập và xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường ở nước ta Ngoài ra, còn có rất

nhiều dự án, chương trình đề tài nghiên cứu khoa học ở các cấp từ cơ sở đến

cấp nhà nước trong lĩnh vực môi trường sinh thái đã được triển khai trong

những năm gần đây và thu được nhiều kết quả có giá trị

Tuy nhiên, hầu hết các chương trình, đề tài nghiên cứu cũng như các

công trình đã được công bố chủ yếu đều tập trung vào các khía cạnh khoa học

công nghệ, kỹ thuật, y học, kinh tế của việc bảo vệ môi trường, còn khía cạnh đạo đức sinh thái rất ít được đề cập tới Từ ngày ban hành "Luật bảo vệ môi

trường", thì vấn đề luật pháp được chú ý đến nhiều hơn Việc dùng công cụ

kinh tế và luật pháp để điều chỉnh hành vi con người trong lĩnh vực hoạt động môi trường là cần thiết và quan trọng, nhưng cũng có những hạn chế nhất định Bởi vì, luật pháp và kinh tế (xét từ lợi ích kinh tế), một mặt, không bao giờ bao quát hết mọi hành vi của con người; mặt khác, không phải bất kỳ hành vi nào của con người cũng có thể soi xét được bằng luật pháp và kinh tế

Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, ba công cụ: kinh tế, pháp luật và đạo đức gắn bó chặt chẽ với nhau trong việc điều chỉnh hành vi của con người Sự khác nhau cơ bản giữa chúng chỉ là ở mức độ nhận thức - tự ý thức của con

người về hành vi của mình Có thể nói, pháp luật là đạo đức thấp nhất và ngược

lại, đạo đức là pháp luật ở mức cao nhất Khi sự tự ý thức, sự tự giác của con người đã đủ sức điều chỉnh hành vi của mình trong các hoạt động, nhất là hoạt

động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tức là khi con người đã có đạo đức sinh

thái thì không cần đến sự điều chỉnh bằng luật pháp và kinh tế nữa Ngược lại,

khi đã phải dùng đến luật pháp để điều chỉnh thể hiện sự tự ý thức bảo vệ sinh

Trang 11

thái còn yếu Tuy nhiên, trong các chính sách, các công trình nghiên cứu về bảo vệ môi trường, lâu nay chưa chú ý đến vấn đề cực kỳ quan trọng này - vấn

đề đạo đức sinh thái

Tóm lại, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về đạo đức và các công trình nghiên cứu về bảo vệ môi trường, nhưng vấn đề đạo đức sinh thái - đạo

đức trong các mối quan hệ ứng xử giữa con người và tự nhiên đều chưa được quan tâm, nói đúng hơn là đang còn bị bỏ ngỏ Vì vậy, việc làm sáng tỏ vấn

đề về đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái để góp phần vào việc bảo

vệ môi trường trong điều kiện phát triển đất nước, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững là trách nhiệm của cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị và cán bộ chủ chốt các cấp nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Lam sang to những vấn đề về đạo đức sinh thái, phân tích thực trạng đạo

đức và việc giáo dục đạo đức sinh thái cho cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay, đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức sinh thái cho đối tượng trên

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ:

Thứ nhất, trình bày một số vấn đề cơ bản về đạo đức xã hội, đạo đức sinh thái, những biểu hiện của đạo đạo đức sinh thái và vai trò của nó đối với việc

điều chỉnh hành vi của con người trong hoạt động bảo vệ môi trường

Thứ hai, phân tích sự tác động của những điều kiện phát triển mới ở nước ta hiện nay lên môi trường sống, đạo đức sinh thái của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay, hậu quả và những vấn

đề về đạo đức sinh thái đang đặt ra

Thứ ba, đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao chất

lượng giáo dục đạo đức sinh thái cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay

Trang 12

4 Nội dung nghiên cứu

4.1 Đạo đức sinh thái, những yếu tố tác động đến môi trường sinh thái

và sự hình thành chuẩn mực và hành vi đạo đức sinh thái trong điều kiện hiện

nay

4.2 Nhận thức về môi trường sinh thái, việc thực hiện đạo đức sinh thái

và giáo đục đạo đức sinh thái của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh

phía Bắc nước ta

4.3 Nội dung, yêu cầu và các hình thức, phương tiện, biện pháp, điều kiện đẩy mạnh giáo dục đạo đức sinh thái nói chung và giáo dục đạo đức sinh thái cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Về phương pháp

Ngoài những phương pháp chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trong qúa trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, tổng kết các thông số nghiên cứu thực tiễn để xây dựng những luận điểm lý luận

5.2 Về tài liệu khảo sát thực tiễn

Nghiên cứu đạo đức sinh thái trên ba khía cạnh: ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đội ngũ cán bộ

chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc Việc khảo sát thực tế ở tất cả các địa

phương là điều không thể thực hiện trong khuôn khổ đề tài này cả về thời gian

và kinh phí Vì vậy, sau khi cân nhấc, lựa chọn, chúng tôi quyết định:

Một là, căn cứ vào nguồn tư liệu từ báo chí, báo cáo công tác của tất cả

các địa phương về công tác bảo vệ môi trường những năm gần đây

Hai là, căn cứ vào phiếu điều tra đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc qua học viên hệ đào tạo tập trung và tại chức của Phân viện Hà

Nội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, chọn một số địa phương để

khảo sát, như Quảng Ninh, Bắc Kạn, Nam Định, Thái Bình, Bắc Giang

Trang 13

Tuy nhiên, do điều kiện khảo sát thực tế có nhiều khó khăn, kết quả

nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, chúng tôi kính mong Hội đồng nghiệm thu, các nhà khoa học góp ý kiến

Báo cáo tổng quan đề tài chủ yếu dựa trên những tư liệu, quan điểm các bài viết của tác giả tham gia để tài Chúng tôi cố gắng phản ánh được nhiều

nhất ý kiến của các tác giả

6 Kết cấu của tổng quan

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, báo cáo tổng quan được bố cục thành ba chương theo những nội dung nghiên

cứu chủ yếu của đề tài

Trang 14

Chương Ï

ĐẠO ĐỨC SINH THÁI

VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC SINH THÁI

Trong chương này chúng tôi tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận cơ

bản về đạo đức sinh thái nhằm góp phần vào việc nâng cao nhận thức về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường, coi đó là một yêu cầu đạo đức đối với mọi

người, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện trong điều kiện nước ta hiện nay, phù hợp với mục tiêu phát triển bên vững

1.1 Đạo đức sinh thái, sự hình thành và biến đổi của đạo đức sinh thái

ở nước ta

1.1.1 Khái niệm đạo đức sinh thái

Đạo đức là một lĩnh vực của con người mà bản chất của nó là các hành

vi, các mối quan tâm, những tình cảm được chia sẻ giữa người này và người khác theo những tiêu chí nhất định, liên quan đến tự đo và trật tự phức tạp của

cộng đồng Đặc trưng của đạo đức chính là năng lực phục vụ tự nguyện, tự

giác lợi ích của người khác và của toàn thể xã hội, là biểu hiện quan trọng trong bản chất nhân văn của xã hội

Bản chất của việc xây dựng môi trường sinh thái nhân văn chính là tạo

sự hài hòa, tôn trọng nhau giữa người này và người khác trong cộng đồng, cũng như giữa con người và tự nhiên

Đạo đức sinh thái là sự quan tâm tự nguyện, tự giác đối với việc giữ gìn môi trường sinh thái vì lợi ích của cộng đồng Đó là hệ thống quan niệm, chuẩn

mực, nguyên tắc và định hướng giá trị điều chỉnh hành vi của con người (cá nhân và cộng đồng) trong quan hệ, ứng xử với môi trường tự nhiên

Đạo đức sinh thái đã được hình thành nên từ trong các mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau giữa con người và tự nhiên, trực tiếp điều chỉnh hành

vi của con người trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên

Trang 15

Đạo đức sinh thái còn được gọi là đạo đức môi sinh, đạo đúc môi trường Đạo đức sinh thái, theo cả nguồn gốc tiếng Hy Lạp, “oikos” là nơi cư trú, nơi sinh sống, lẫn theo cách hiểu hiện đại, sinh thái là lĩnh vực của các mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau giữa cơ thể sống với môi trường xung quanh, cụ thể là mối quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa con người và

xã hội với sinh quyển - nơi con người và xã hội đang tồn tại Đạo đức sinh thái

là đạo đức được hình thành nên trong quá trình con người tác động lên thiên

nhiên, lấy từ nó những vật chất cần cho sự sống, sự tồn tại và phát triển của xã

hội Đây là một quá trình hiện thực, có từ khi con người tách ra khỏi thế giới động vật và diễn biến theo suốt tiến trình lịch sử Phụ thuộc vào trình độ phát

triển của lực lượng sản xuất xã hội, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên

cũng thay đổi theo, biểu hiện ở sự thay đổi từ quan niệm tình cảm đến hành vi ứng xử cụ thể của con người đối với tự nhiên Do vậy, đạo đức sinh thái là một hiện tượng xã hội, đã, đang và sẽ tiếp tục cùng tồn tại mãi mãi với đạo đức xã hội trong quá trình vận động tiếp tục của xã hội

Đạo đức sinh thái bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm,

tư tưởng, tình cảm, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, quy định, điều

chỉnh hành vi của con người trong quá trình biến đổi và cải tạo tự nhiên nhằm phục vụ cho sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội

Nói đến đạo đức là phải nói đến mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể đạo đức.Trong mối quan hệ đạo đức xã hội, con người (cả cá nhân lẫn cộng đồng) đêu có thể vừa là chủ thể, vừa là khách thể Trong mối quan hệ đạo đức

sinh thái (tức là đạo đức biểu hiện trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên), con người bao giờ cũng là chủ thể đạo đức, còn tự nhiên bao giờ cũng chỉ là khách thể Ở đây, con người luôn chủ động tác động vào tự nhiên một

cách có ý thức, có mục đích, còn sự tác động của tự nhiên đối với con người và

xã hội dù có to lớn, mạnh mẽ đến đâu cũng chỉ là sự tác động mù quáng, vô ý

thức, hay là “sự phản xạ tự nhiên” Song, sự phản xạ tự nhiên này tuy vô ý thức

nhưng nó có quy luật buộc con người phải tôn trọng Do vậy, đặc trưng của

Trang 16

đạo đức sinh thái tuy là những quan niệm và cách ứng xử của chủ thể con người đối với tự nhiên, chứ không có chiều ngược lại, nhưng các “phản ứng” của nó đối với con người là không lường hết nếu con người thiếu ý thức bảo vệ

tự nhiên

Quan hệ đạo đức được thể hiện cụ thể qua quan hệ lợi ích Về mặt đạo

đức, lợi ích phải thỏa mãn cả nhu cầu của chủ thể lẫn khách thể Trong các mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, từ xưa đến nay, hầu như con người chỉ quan tâm đến lợi ích của mình, mà quên mất lợi ích của tự nhiên Vì vậy, trong quá

trình tác động, cải biến tự nhiên phục vụ cho nhu cầu của mình, con người đã vi

phạm nhiều đến đạo đức sinh thái, và mức độ vi phạm đó ngày càng trầm trọng hơn theo đà phát triển của xã hội

Nói đến lợi ích là nói đến giá trị Trong đạo đức sinh thái, lợi ích và giá trị có tính đặc thù, bởi giá trị của các khách thể tự nhiên không phải lúc nào

cũng có thể thỏa mãn nhu cầu và phục vụ lợi ích của con người, hay nói đúng hơn, không phải lúc nào con người cũng nắm bắt hết mọi giá trị của các khách

thể tự nhiên Bản thân từng yếu tố của tự nhiên, như động vật, thực vật, nước, ánh sáng, không khí, đất, đá, cát, sỏi, các loại khoáng sản, dầu mỏ, khí đốt, đều có hai loại giá trị: giá trị nội tại, giá trị sử dụng và thực dụng

Đây là giá trị vốn có, tự thân của chúng không phụ thuộc gì vào nhu cầu Tất cả những thuộc tính khách quan vốn có trong bản thân một yếu tố nào đó

của tự nhiên (khách thể tự nhiên) hợp thành bản chất khách quan của nó Bản

chất khách quan này chính là giá trị nội tại của khách thể tự nhiên là lợi ích của

con người Giá trị nội tại của các yếu tố tự nhiên chính là sự sống và phục vụ cho sự sống, còn cái mà con người tiếp cận, nhận thức và sử dụng được từ các yếu tố tự nhiên phục vụ được cho lợi ích của con người, thì đó là giá trị sử dụng

và thực dụng của các khách thể tự nhiên Giá trị sử dụng của các khách thể tự

nhiên như thế nào, điều đó không chỉ do bản chất khách quan hay giá trị nội tại của chúng quyết định, mà còn do chủ thể, tức là con người có những nhu cầu và lợi ích gì và sự biểu biết của con người về khách thể đó ra sao

Một khách thể được coi là có giá trị sử dụng khi nó được sử dụng như

Trang 17

một phương tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu, mang lại một lợi ích nào đó cho chủ

thể Đặc điểm của loại giá trị sử dụng của các khách thể tự nhiên là hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu của con người, một khi nhu cầu của con người thay đổi,

thì lập tức giá trị sử dụng của chúng cũng thay đổi theo Ngoài ra, giá trị sử dụng của các khách thể tự nhiên còn bị quy định bởi sự nhận thức của con người, bởi trình độ phát triển của khoa học và công nghệ của xã hội Trong khi

đó, giá trị nội tại của chúng (cái bản chất khách quan) về cơ bản không có gì thay đổi trong suốt thời gian tồn tại của chúng

Giá trị của hệ sinh thái có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống con người Tuy các giá trị này “im lặng”, nhưng nếu con người lạm dụng quyền lực của

mình thì cái giá phải trả là vô cùng to lớn Vì thế, đạo đức sinh thái là nhân

phẩm, là trí tuệ, là sự phát triển bản năng làm cho con người khác hẳn với các

động vật khác

Phong tục tập quán với tư cách là các hình thức biểu hiện ổn định của

một nội dung đạo đức nhất định, nó gìn giữ một cách lâu đài các giá trị của

cộng đồng trong một môi trường văn hóa nhất định Nhiều quan hệ đạo đức

vẫn còn tác dụng gìn giữ sự phát triển của các mối quan hệ nhân bản giữa con người với con người, con người với tự nhiên, khi điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội đã qua đi lâu rồi Sự tương thân tương ái, sự giúp đỡ lẫn nhau, tỉnh thần vị tha, ý thức cộng đồng, sự cởi mở, cách sống hài hòa với tự nhiên luôn luôn có

một giá trị lâu đài và bền vững

Môi trường đạo đức theo định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta xuất

phát từ quan niệm đạo đức cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là chống lại mọi

áp bức bóc lột tàn bạo Con người yêu nước phải yêu thiên nhiên, gìn giữ và bảo vệ tự nhiên chống lại những hành động phá hoại hệ sinh thái Các quan hệ đạo đức theo định hướng xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ việc phát triển toàn diện khả năng và nhân cách của con người Đạo đức mới vĩ đại bởi nó không chỉ yêu nước, yêu người lao động, yêu cuộc sống mà còn có tình yêu bao la với

tự nhiên; với dòng sông, con suối, vạt rừng, nguồn nước của Tổ quốc mình

và của cả đời người

Trang 18

Bằng các chuẩn mực và nội dung, đạo đức mới xác lập cơ sở cho việc giải phóng nhân cách, giải phóng các lực lượng sản xuất, bảo vệ hệ sinh thái,

tạo ra một năng lực tinh thần rất mới mẻ

Thực chất, đạo đức là sự quan tâm tự nguyện, tự giác lợi ích của người khác cũng như lợi ích cộng đồng Nếu lợi ích của cộng đồng bị vi phạm, Tổ

quốc bị xâm lăng, rừng bị phá, sông hồ bị làm bẩn thì chuẩn mực đạo đức cao

nhất là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hệ sinh thái vì các giá trị của cộng đồng

1.1.2 Sự hình thành và biến đổi của đạo đức sinh thái ở nước ta

1.1.2.1 Về sự hình thành đạo đức sinh thái truyền thống ở nước ta

Nền văn hóa của người Việt được xây dựng trên vùng giao lưu hai hệ sinh khoáng Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, nằm trong vành đai nội chí tuyến, nơi giao thoa giữa gió mùa Đông Bắc và Đông Nam Á, tạo ra sự biến

dạng thường xuyên của khí hậu nhiệt đới, làm thành những cơn mưa lớn kéo đài, theo đó cũng xảy ra lũ lụt trên các phần lãnh thổ có các vùng sinh thái khác nhau Đạo đức sinh thái cổ truyền của người Việt được xây dựng từ ba vùng sinh thái, sinh thái núi, sinh thái đồng bằng và sinh thái biển tạo ra các diện mạo văn hóa thống nhất mà đa dạng Sự phát triển tự nhiên của môi

trường sinh thái ở đây gắn liền với các mối quan hệ đạo đức chủ yếu: quan hệ

của con người với tự nhiên, quan hệ của con người và quan hệ của con người với các công cụ lao động trên cả ba vùng sinh thái khác nhau

Con người trên vùng sinh thái Đông Nam Á đã sinh tồn và kiếm thức ăn trên thảm động, thực vật rất phong phú Chính trên nên tảng tự nhiên của không gian cư trú này, người Việt đã hình thành nhân cách, đạo đức rất phong

phú gắn với những vùng sinh thái nhất định

Đạo đức sinh thái ở nước ta rất đa dạng Môi trường đạo đức miền núi

Tây Bắc khác với môi trường đạo đức miền núi Tây Nguyên Môi trường đạo đức đồng bằng Bắc Bộ khác với môi trường đạo đức đồng bằng Nam Bộ và

môi trường đạo đức miền biển Bắc, Trung, Nam có các vùng sinh thái khác

nhau Trong các môi trường này, lại có nhiều nhóm văn hóa nhỏ của những

Trang 19

vùng thuần nông, các vùng lai ghép các nghề thủ công, buôn bán và được biến

đổi rất đa dạng từ truyền thống đến hiện đại mang những nét đạo đức sinh thái

riêng biệt Đạo đức truyền thống ở Việt Nam gắn với môi trường văn hóa gia đình, làng xã, có tiềm năng phong phú, có sức sống lâu bền có tính cộng đồng sâu sắc, gắn bó chặt chẽ con người với tự nhiên

Có thể nói rằng đạo đức sinh thái truyền thống của người Việt mang tính nhân văn rõ rệt Nét đặc trưng của đạo đức sinh thái truyền thống của người

Việt là yêu nước, yêu nhà, thương người Họ yêu thiên nhiên, dòng sông, ngọn núi là yêu nước, họ yêu bến nước, gốc đa là yêu làng, xóm

Đạo đức sinh thái truyền thống của người Việt nghiêng về thực tiễn, thiết

thực, tiết kiệm, tình nghĩa Chẳng hạn như Tuc tho Mdu trở thành phổ biến trong lòng sâu của mọi miền văn hóa Việt Nam là tục thờ những người mẹ có công đức gìn giữ sự an hòa của con người với xã hội và tự nhiên

Đạo đức sinh thái trong truyền thống văn hóa Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo Các triết thuyết này đều gắn con người với tự nhiên Nho giáo, Phật giáo, nhất là Đạo giáo đã

góp phần điều chỉnh nhiều hành vi đạo đức của con người Việt Nam truyền thống, giúp người Việt có thêm cơ sở lý luận cho việc bảo vệ hệ sinh thái phát

triển hài hòa Các học thuyết này đều cổ vũ cho sự yêu quý thiên nhiên

Đạo đức sinh thái truyền thống Việt Nam được hình thành trên cơ sở

những quan niệm, những triét ly ddn gian, phan ánh lên các mức độ khác nhau của mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên

Một là, quan niệm Thiên - Địa - Nhân hòa đồng hay Thiên - Nhân hợp

nhất Đây là quan niệm đạo đức thẩm mỹ sơ khai nhất, vốn có, nó nằm ngay trong bản chất của con người, mang đậm tính nhân văn Con người tuy nhỏ bé giữa thiên nhiên Trời - Đất bao la Trời - Đất là thiên nhiên, là cha mẹ đã sản sinh ra con người Đất là cái gốc của sự sống, cái gốc của văn con người và thiên nhiên là một khối liên thông bền chặt, không gì chia cắt được, “người ta

là hoa của đất” Với quan niệm này, con người Việt Nam trải qua bao thế hệ,

Trang 20

với bao sóng gió, gian truân vẫn luôn kiên trì sống hòa đồng với thiên nhiên, sống gắn bó máu thịt với thiên nhiên Lối sống nương nhờ, tận dụng tối đa

thiên nhiên, biết ứng phó tinh tế, uyển chuyển trước những biến động của môi

trường thiên nhiên là nét đặc trưng đạo đức thẩm mỹ trong văn hóa ứng xử

truyền thống của người Việt Nam

Hai là, quan niệm “Mưm sự tại Nhân, thành sự tại Thiên ” Sống hài hòa với thiên nhiên là một triết lý sống lý tưởng, tốt đẹp Trong điều kiện thiên

nhiên thay đổi thất thường, con người mơ ước được mưa thuận gió hòa, nhưng

không phải lúc nào con người cũng có thể thực hiện được ước muốn của mình Trong một xã hội còn kém phát triển, đặt biệt là lực lượng sản xuất còn quá thô

sơ, lạc hậu “con trâu đi trước, cái cày theo sau”, con người không dám, hay nót chính xác hơn là, chưa có đủ năng lực và điều kiện khai thác thiên nhiên một cách mạnh mẽ và hợp lý để mưu sinh, mưu lợi cho mình, thì họ ước mơ Nhiều ước mơ không trở thành hiện thực đã tạo ra sự mê tín “thờ cúng thiên nhiên”

Những thất bại đau đớn, sự bất lực của con người trước sức tàn phá của thiên tai đã buộc họ phải sống “lụy” vào thiên nhiên: “Ơn trời mưa nắng phải thì”,

“Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy bát cơm đầy”, hay lời than cửa miệng: “Trời ơi!”, “Có trời cao, đất dày chứng giám ”, v.v

Sự mượn danh các thần linh như “Đất có Thổ công, sông có Hà bá, rừng núi có

Sơn thần, biển cả có Thủy thần, thần Mặt trời, thần Sấm sét, thần Lửa được

thể hiện trong các câu chuyện cổ tích, thần thoại dân gian, đã chứng tổ con người Việt Nam không chỉ yêu quý, mà còn rất tôn trọng, biết ơn các thần linh, thậm chí còn phụ thuộc một cách mù quáng vào các lực lượng siêu nhân đó Theo quan niệm dân gian, tôn thờ thân linh chính là tôn thờ thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên Luật tục, hương ước, lệ làng có thể coi là những bộ luật dân gian, những quy ước của cộng đồng về bảo vệ môi trường thiên nhiên, cũng đã được xây dựng trên cơ sở tôn thờ các thần linh, tôn thờ thiên nhiên đó

Ba là, quan niệm “Nhân định thẳng Thiên”, từ những thắng lợi nhất định của con người trước thiên nhiên đã tạo cho họ một sự tự tin hơn ở sức mình Khác với hai quan niệm trên, quan niệm “Nhân định thắng Thiên” đã

Trang 21

phát huy được tính năng động, tích cực của con người trong quan hệ với thiên nhiên Với quan niệm này, con người không còn chịu ngồi bó tay đợi Trời, Đất ban “phước lành”, “bểng lộc” nữa, mà trong chừng mực nhất định đã biết tìm

cách chiến thắng thiên tai “nghiêng đồng đổ nước ra sông”, hay “vắt đất ra

nước, thay trời làm mưa” Bằng sức mạnh đoàn kết cộng đồng, người nông dân

đã xây dựng nên những hệ thống thủy nông để chủ động tưới tiêu cho đồng

ruộng Trong canh tác cây lúa nước, con người đã biết nắm bất được quy trình,

“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống Con người còn biết căn cứ theo “Con nước”, “Tuần trăng” để lên lịch gieo trồng, cày cấy cho đúng thời vụ, v.v Người nông dân Việt Nam đã phải luôn chiến đấu với thiên tai, chiến thắng

thiên tai để có thể thích ứng và hòa nhập tối đa với thiên nhiên, chứ hoàn toàn không phải để rồi xa rời nó, hay đối lập với nó Đó chính là sự thể hiện sâu sắc triết lý sống hài hòa với thiên nhiên hay là sự chính phục thiên nhiên một cách

hợp lý trong khuôn khổ giới hạn cho phép của nó Đó chính là cách ứng xử kết

hợp mạnh mẽ giữa hiện thực và ước mơ, giữa yếu tố thực dụng và yếu tố đạo

đức thẩm mỹ, điều này khác hẳn với triết lý chinh phục thiên nhiên theo kiểu

ứng xử của văn hóa phương Tây - chỉnh phục và đối lập

Triết lý sống hài hòa với thiên nhiên, gắn liền với nền văn hóa truyền

thống biến thành triết lý dân gian với sức sống mãnh liệt và sức lan tỏa sâu

rộng trong toàn xã hội Chính triết lý đó, triết lý thích ứng - bản chất của đạo

đức sinh thái đã điều khiển thái độ, cách ứng xử của con người Việt Nam đối với thiên nhiên trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc mấy nghìn năm, làm thành

sự kết hợp những giá trị đạo đức sinh thái

Trong nền văn hóa truyền thống, sự ưu trội của các giá trị đạo đức được hình thành nên từ văn minh nông nghiệp lúa nước Công việc canh tác lúa nước không chỉ đồi hỏi nhiều công sức, mà còn đòi hỏi ở con người phải có một sự hiểu biết sâu rộng về thiên nhiên Bởi vì, nông nghiệp trồng trọt nói chung, đặc

biệt là trồng cây lúa nước phụ thuộc rất chặt chẽ vào các điều kiện thiên nhiên

Cây trồng không chỉ chịu sự tác động của từng yếu tố riêng biệt, mà là sự tác động đồng thời của nhiều yếu tố của môi trường thiên nhiên, như nước, ánh

Trang 22

sáng, nhiệt độ, độ ẩm, chất đất, phân bón, thời vụ, v.v Song, mặt khác, tất cả các yếu tố đó không phải cùng có ảnh hưởng như nhau trong mọi giai đoạn

sinh trưởng và phát triển của cây trồng, mà trong từng giai đoạn cụ thể có một,

hay một vài yếu tố giữ vai trò quyết định

Con người Việt Nam yêu thiên nhiên, sống gắn bó với thiên nhiên, vì họ thấu hiểu những giá trị, những lợi ích to lớn mà thiên nhiên mang đến cho họ:

“rừng vàng”, “biển bạc”, “tấc đất, tấc vàng” Lối ví von thiên nhiên như vàng, như bạc đâu chỉ có nghĩa là thiên nhiên giàu, mà còn hơn thế nữa, thiên nhiên

trong tâm khám người Việt Nam là một tài sản vô cùng quý giá Thiên nhiên là nguồn sống, nguồn của cải vật chất nuôi sống bao thế hệ Vì vậy, con người

không chỉ yêu quý, nương nhờ vào nó, mà còn phải biết tôn trọng, bảo vệ, giữ gìn thiên nhiên cho hôm nay và mai sau

Trong lao động khi người Việt biết cảm xúc, biết đánh giá cái đẹp của tự nhiên (công cụ, đồ vật, môi trường), thì cũng là lúc họ biết nhìn nhận vẻ đẹp của

quan hệ xã hội Đạo đức chiếm một vị trí nổi bật trong sự điều tiết các hành vi,

các quan hệ người và cả quan hệ giữa người với tự nhiên Nói cụ thể hơn, sự thương yêu đùm bọc lẫn nhau, “Tình làng nghĩa xóm”, “Lá lành đùm lá rách”,

“Tát lửa tối đèn có nhau” là những nguyên tắc cụ thể định hướng cho những

cư xử giữa người với người và qua đó là giữa con người với thiên nhiên

Ở Việt Nam, một hành vi hay một nhân cách trước hết được nhìn nhận

thông qua con mắt đạo đức Sự nhấn mạnh nhân tố đạo đức vốn có từ rất sớm ở người Việt, từ việc chung sức cải tạo tự nhiên chống chọi với thiên tai, được

mở rộng và củng cố trong việc đấu tranh lâu dài, liên tục chống giặc ngoại xâm và bảo vệ nên độc lập tự chủ của đân tộc Trong cuộc đấu tranh cải tạo tự

nhiên và bảo vệ tổ quốc này, một phẩm chất đạo đức nổi bật được tôn trọng đó

Trang 23

“Việt Nam có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước; có đất và có nước thì mới thành Tổ quốc Có đất lại có nước thì dân giàu, nước mạnh”"

Lòng yêu nước của con người Việt Nam bắt đầu từ tình yêu quê hương, cụ thể

là từ mái nhà tranh, cánh đồng làng, lũy tre xanh, cây đa, bến nước, sân đình

đến tình yêu đất nước bao la của cả dân tộc, được linh thiêng hóa, tâm linh hóa Con người Việt Nam yêu thiên nhiên, nguyện sống gắn bó máu thịt với mảnh đất thân yêu này Lối sống nương nhờ, thích ứng vào thiên nhiên là cách

ứng xử đạo đức của con người Việt Nam đối với thiên nhiên

Từ thái độ đạo đức yêu thiên nhiên, bằng những tri thức kinh nghiệm cảm tính được tích lũy và lưu truyền qua bao thế hệ, con người Việt Nam đã

dân dần đi đến hiểu thiên nhiên, tuy chưa được sâu sắc, chi tiết, nhưng lại

mang tính tổng hợp khái quát cao, và đặc biệt là tính biện chứng Trong canh tác cây lúa nước, cái đầu tiên con người quan tâm không phải là từng yếu tố

riêng biệt của môi trường thiên nhiên, mà phải là những mối quan hệ qua lại

giữa chúng Từ tình cảm đạo đức yêu mến thiên nhiên, hiểu thiên nhiên, người nông dân Việt Nam đã chọn cho mình một lối sống hợp đạo đức với những diéu kiện của môi trường thiên nhiên vốn sẵn có, để sao cho một mặt có thể

tận dụng triệt để các nguồn vật chất và năng lượng vốn tiểm ẩn trong lòng nó

Mặt khác, ứng phó một cách nhạy bén, uyển chuyển trước những biến đổi

“thiên hình vạn trạng” của các yếu tố tự nhiên

Thông qua việc tìm hiểu tự nhiên, yêu mến tự nhiên, các tập quán, các nếp sống đạo đức trong quan hệ với tự nhiên đã được hình thành Có thể nói,

cách ứng xử đạo đức theo kiểu tôn trọng thiên nhiên, thuận theo thiên nhiên

của người nông dân Việt Nam được thể hiện sâu sắc nhất, đầy đủ nhất trong

“nếp ăn”, “nếp làm”, “nếp sống”

Một nét đặc sắc của văn hóa ứng xử đạo đức với thiên nhiên, nương nhờ

và thích ứng với thiên nhiên được thể hiện ở việc chữa trị bệnh tật dân gian Các danh y nổi tiếng của Việt Nam, như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông

' Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t.9, tr,506

Trang 24

thường dạy người ta muốn có sức khoẻ phải hòa vào tự nhiên, muốn chữa khỏi

bệnh thì tìm các cây thuốc trong tự nhiên Người Việt Nam chữa bệnh không

phải chỉ bằng thuốc thang, mà còn bằng ăn uống Vì vậy, thuốc chữa bệnh ở

xung quanh con người, có sẵn trong thiên nhiên từ con cua, con ốc, đến cây

gừng, hành, tỏi, sả, ớt, rau má, mướp đắng, kinh giới, hương nhu, bồ công anh

và đến cao hơn nữa là sâm, nhung, mật gấu, cao hổ cốt, cao khỉ, cao trăn

Khí hậu nhiệt đới gió mùa đã tạo ra những hệ sinh thái rất phong phú, đa dang nhưng hết sức mong manh, dễ bị tổn thương Mưa, gió, bão, lũ thất thường, cộng với những điều kiện sông nước cũng đã buộc con người phải có thể ứng xử phù hợp thì mới tổn tại và phát triển được Con người Việt Nam

không chỉ biết tận dụng thiên nhiên, mà còn biết cố kết cộng đồng ứng phó tài tình, uyển chuyển trước những tác động khắc nghiệt của môi trường sống

Nếp mặc của người Việt Nam cũng là một trong những nét đặc sắc trong văn hóa ứng xử phù hợp với những điều kiện của môi trường thiên nhiên và

phù hợp với công việc, với đạo đức truyền thống

Những biểu hiện của cách ứng xử đạo đức của con người Việt Nam

truyền thống đối với môi trường thiên nhiên, cho thấy, trong truyền thống

văn hóa dân tộc đã hình thành và phát triển một hệ giá trị nói chung, hệ giá trị văn hóa sinh thái nhân văn nói riêng, mà cốt lõi của nó là những giá trị đạo đức sinh thái cơ bản sau đây:

Giá trị ưu trội, lớn nhất bao trùm toàn bộ đạo đức sinh thái nhân văn

truyền thống đó là cái thiện Cái thiện trong đạo đức sinh thái truyền thống được thể hiện cụ thể bằng triết lý sống hài hòa với thiên nhiên; tình yêu của

con người đối với thiên nhiên; yêu lao động và tình yêu giữa con người với con người Tất nhiên, những giá trị này không nằm ngoài những giá trị đạo đức xã hội nói chung Cái khác chỉ là ở chỗ, những giá trị đạo đức sinh thái bị quy

định bởi những điều kiện thiên nhiên đặc thù ở Việt Nam, bởi mối quan hệ gắn

bó máu thịt của con người Việt Nam với những điều kiện thiên nhiên đó

Trang 25

Triết lý sống hài hòa với thiên nhiên của con người Việt Nam truyền thống được biểu hiện ở ba mức độ:

Một là, con người luôn sống nương nhờ và thuận theo thiên nhiên

Hai là, con người cố gắng tận dụng tối đa và khai thác có giới hạn các

nguồn tài nguyên thiên nhiên có sẵn phục vụ cho các nhu cầu người của mình,

như ăn, mặc, ở, đi lại, chữa bệnh, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí

Ba là, con người ứng phó nhạy bén và phù hợp với những thay đổi thất thường của các điều kiện thiên nhiên, như nắng, mưa, bão lũ, hạn hán

Cá ba mức độ này đều là bản chất thích ứng của đạo đức sinh thái

Nét đẹp của lối ứng xử thích ứng này giữa con người và thiên nhiên là ở chỗ đã tạo ra một tổng thể hài hòa có sự cân bằng sinh thái giữa các yếu tố tạo

nên hệ sinh thái nông nghiệp, đặc biệt là hệ sinh thái nông nghiệp trồng lúa nước (giữa đất, nước, cây lúa ), giữa các khu vực trong không gian làng xã

(giữa nhà ở, vườn cây, ao cá, đồng ruộng, đường đi); giữa con người với thiên

nhiên (con người tận dụng thiên nhiên, ứng phó với thiên nhiên chứ không chinh phục và đối lập với nó)

Lối sống thích ứng hòa hợp với thiên nhiên luôn giúp cho con người có

một đời sống tinh thần, tâm linh - một tâm thức thoải mái, nhẹ nhàng, tuy đời sống vật chất còn nhiều khó khăn, thiếu thốn Yêu thiên nhiên, có thái độ bạn

bè đối với thiên nhiên là tiền đề của tình yêu giữa người và người, là cơ sở của

lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình

Yêu thiên nhiên, có ý thức sống hài hòa với thiên nhiên làm cho con người biết bảo vệ thiên nhiên vì cuộc sống của mình hôm nay và các thế hệ mai sau, rất phù hợp với xu thế phát triển lâu bên của thời đại ngày nay

Tuy nhiên, văn hóa ứng xử truyền thống của nhân dân ta được biểu hiện bằng lối sống thích ứng với thiên nhiên có những hạn chế nhất định Do quy định bởi phương thức canh tác lúa nước - một phương thức sống luôn phụ thuộc một cách tổng hợp vào các điều kiện và yếu tố của môi trường thiên nhiên, con

người chưa hiểu biết sâu sắc thiên nhiên và cũng chưa có những công cụ khai

Trang 26

thác, sử dụng thiên nhiên một cách hữu hiệu Nếp ứng xử hòa đồng với thiên

nhiên trước hết là sự thụ động, sự phụ thuộc và trông chờ nhiều vào thiên nhiên

Tinh than yêu lao động là một phẩm chất đẹp của người Việt Nam, và cả

điều này nữa, cũng được quy định bởi điều kiện thiên nhiên, muốn sống gắn bó

keo sơn với thiên nhiên Người nông dân rất biết thiên nhiên đẹp, thiên nhiên

giàu, thiên nhiên là nguồn của cải, nguồn sống của con người Có thể gọi lối sống hòa đồng với thiên nhiên truyền thống là lối sống văn hóa sinh thái tiểu

nông Với những nét đẹp và chưa đẹp, lối sống sinh thái tiểu nông truyền thống

Việt Nam ngày nay đang phải đối mặt với nhiều yếu tố mới của sự phát triển chưa từng có trong lịch sử của dân tộc Đảng ta luôn luôn quan tâm đến việc

hướng hành vi con người Việt Nam mới vào sự phát triển nhân cách theo quan

điểm bền vững, gắn sự phát triển các thế hệ người Việt Nam với tự nhiên

1.1.2.2 Về sự biến đổi của đạo đức sinh thái ở nước ta hiện nay

Ngày nay, đất nước ta đang diễn ra một quá trình đổi mới toàn điện và sâu sắc Nền kinh tế thị trường cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang có tác động mạnh mẽ lên mọi mặt của đời sống xã hội Tất

cả những điều kiện đó đang ảnh hưởng đến những truyền thống văn hóa dân

tộc, và các giá trị văn hóa truyền thống đang có những bước chuyển đổi Thực trạng môi trường sống Việt Nam đang có những diễn biến phức tạp theo chiều

hướng tiêu cực, như nạn cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên: đất, rừng,

nước ngọt, các loại khoáng sản và nhiên liệu; sự nghèo dần tính đa dạng sinh

học; nạn ô nhiễm nặng nề môi trường sống bởi các chất thải sinh hoạt và sản

xuất công nghiệp; việc lạm dụng các chất hóa học trong phòng trừ dịch hại cho cây trồng và gia súc, việc sử dụng bừa bãi các chất kích thích cây trồng và vật

nuôi nhằm thu lãi nhanh nhất, bất chấp sức khoẻ và mạng sống của con người;

sự bùng phát ngày càng rộng rãi các tệ nạn xã hội do sử dụng các chất kích

thích dưới dạng ma túy đã gây ra nhiều bệnh tật hiểm nghèo Vấn để môi trường sống ở Việt Nam đã trở nên cấp bách và phức tạp hơn bao giờ hết Nguyên nhân sâu xa của thực trạng môi trường Việt Nam hiện nay chính là do

Trang 27

sự cùng tồn tại đan xen phức tạp của các nền văn minh chưa được định hình trên cái nền của văn minh nông nghiệp - lúa nước Do vậy, những giá trị đạo

đức sinh thái truyền thống cũng đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ

Triết lý sống hài hòa với thiên nhiên là một giá trị vĩnh hằng và luôn

đúng Tuy nhiên, nội dung triết lý sống hài hòa với thiên nhiên ngày nay đã đổi khác Từ những năm 60 của thế kỷ XX, nước ta đã bắt đầu quá trình công

nghiệp hóa và ngày nay bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cùng với đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, nên kinh tế thị trường

và việc mở cửa làm ăn với nước ngoài đã tạo điều kiện cho con người khai thác

thiên nhiên mạnh mẽ hơn Công cụ sản xuất hiện đại, lợi ích kinh tế trước mắt cùng với một nền dân trí còn thấp của một xã hội chủ yếu là văn minh nông

nghiệp (khoảng 80% dân số và 70% lao động xã hội là nông dân, tỷ trọng

nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân còn quá cao ) là những nguyên nhân chủ yếu đưa đến những tác động tiêu cực cho môi trường sống Việt Nam hiện nay Khi khoa học và công nghệ tiên tiến (máy móc, trang thiết bị hiện đại, các chất hóa học: từ các chất phòng trừ dịch hại đến các chất kích thích ) nằm

trong tay những người kém hiểu biết (không chỉ ở nông thôn mà ở cả thành thị, không chỉ trong sản xuất nông nghiệp mà ở tất cả các ngành nghề), nhưng lại

khát khao những món lợi kếch xù, những lợi ích vật chất trước mắt sẽ gây nên những tai họa sinh thái - nhân văn Biết bao cánh rừng trù phú tồn tại hàng trăm, hàng nghìn năm nay bỗng chốc đã bị triệt phá Đi liền với nạn phá rừng

là thảm họa thiên tai, lũ lụt liên tiếp xảy ra khắp cả ba miền, năm sau to hon,

sức tàn phá mạnh hơn năm trước: lũ lụt ở ở đồng bằng sông Cửu Long năm

1998, miền Trung năm 1999; 2000; lũ quét ở Tây Nguyên, Sơn La, Lai Châu Một tai họa khác đang đe dọa sức khoẻ của con người, sức sống của xã hội và

sự trong sạch, an toàn của môi trường tự nhiên, đó là nạn lạm dụng, sử dụng bừa bãi các chất hóa học, chất kích thích trong sản xuất nông nghiệp và chế biến lương thực, thực phẩm Nạn ô nhiễm môi trường cũng đã đến mức báo động, nhất là ô nhiễm nước bởi các chất hoá học,chất thải bẩn, rác ở các thành

phố lớn

Trang 28

Qua một vài ví dụ trên đây, để chứng tỏ rằng tình hình môi trường sống

ở Việt Nam đã và đang có nhiều vấn đề gay cấn, phức tạp, căng thẳng và cấp bách Không thể chuyển lối sống từ thái cực chỉ biết phụ thuộc, nương nhờ vào

thiên nhiên, sang thái cực chinh phục, khai thác thiên nhiên bằng bất cứ giá

nào nhằm thỏa mãn những lợi ích trước mắt của con người Chữ “hài hòa” giờ

đây phải được hiểu: có khai thác thiên nhiên, thậm chí phải khai thác mạnh mẽ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường để phát triển đất nước; song, mặt khác, cần phải biết “bù đấp” kịp thời cho thiên nhiên và phải biết dừng ở giới hạn cho phép, hay ở “ngưỡng” chịu đựng của từng loại tài nguyên Chẳng hạn, khai thác rừng sao cho độ che phủ của nó không tụt xuống dưới 30% - vì 30% độ che phủ của rừng là “ngưỡng” an toàn đối với rừng; Ngày nay, với trình độ khoa học và công nghệ hiện đại, con người đã hoàn toàn có thể xác

n3

định được các “ngưỡng” hay các “chỉ số cho phép” đối với từng yếu tố của môi

trường, từng loại tài nguyên thiên nhiên

Ngày nay, sống hài hòa với thiên nhiên phải tuân theo nguyên tắc phát triển lâu bền - một nguyên tắc của lối sống hiện đại, đang được toàn nhân loại

quan tâm “Phát triển lâu bền là sự phát triển kinh tế - xã hội lành mạnh, dựa

trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường: nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế

hệ trong tương lai trong việc thỏa mãn những nhu cầu của họ” Như vậy, phát triển lâu bên là một vấn đề mang tính toàn cầu, mà mỗi quốc gia, dân tộc trên

cơ sở bản sắc riêng của mình đều phải tham gia vào giải quyết vấn đề đó

Yêu thiên nhiên cũng là một giá trị văn hóa - sinh thái Con người ta sinh ra ai cũng yêu thiên nhiên như một bản năng vốn có Tuy nhiên, ở từng dân tộc, vào những giai đoạn phát triển khác nhau, tình yêu đó cũng có những biểu hiện khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố: sự hiểu biết, kỹ thuật và công nghệ, nhu cầu của con người

Ở Việt Nam, tình yêu thiên nhiên của con người trong xã hội truyền

thống và ngày nay đã có những chuyển đổi cơ bản vẻ nội dung Ngày nay, nền

Trang 29

kinh tế thị trường cùng với khoa học và công nghệ đã đi vào và bắt đầu có ảnh

hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội, không phải chỉ ở thành phố,

mà ở khắp nơi Trong điều kiện như vậy, để có thể khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên và môi trường một cách hợp đạo lý, theo nguyên tắc phát

triển lâu bền, thì những tri thức kinh nghiệm lẻ tẻ, rời rạc của người nông dân

về thiên nhiên là chưa đủ Đưa khoa học và công nghệ vào cuộc sống trên cái

nền của trình độ đân trí còn thấp (học vấn thấp, tri thức kinh nghiệm là chủ yếu ), cộng với lối sống tự đo, tùy tiện, được chăng hay chớ, bóc ngắn cắn dai của người sản xuất nhỏ, cùng với những cám dỗ to lớn về mặt lợi ích

trước mắt của kinh tế thị trường sẽ là một thử thách quá lớn đối với con người hiện nay, trong nhiều trường hợp còn dẫn đến tai họa khôn lường

Ngày nay, yêu thiên nhiên không thể chỉ bằng cảm tính đơn thuần, mà yêu thiên nhiên là phải hiểu biết sâu sắc và toàn điện về nó (về cấu trúc và các

quy luật hoạt động của từng yếu tố nói riêng, của toàn bộ thiên nhiên, nói chung), về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, từ đó con người tự nguyện

tự giác có thái độ và hành vi ứng xử đúng đắn đối với tự nhiên, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường theo nguyên tắc phát

triển lâu bền Điều đó có nghĩa là phải giáo dục ý thức sinh thái một cách có

hệ thống, rộng rãi trong toàn xã hội Đó là sự bổ sung thêm cho giá trị yêu thiên nhiên trong thời đại ngày nay

Đối với các giá trị yêu lao động cũng cần có những bổ sung cần thiết cho

phù hợp với thời đại Sáng tạo phải là một phẩm chất mới của con người hiện

đại Sự sáng tạo cùng những phẩm chất khác của người lao động như chăm chỉ, cần cù, lại được sự trợ giúp của khoa học và công nghệ, tạo điều kiện để con người khai thác và sử dụng thiên nhiên nhanh hơn và hiệu quả hơn

Tình yêu thương con người còn được biểu hiện qua cách thức làm ăn nghiêm túc, trung thực, không lạm dụng các hóa chất trong sản xuất và chế biến lương thực, thực phẩm Điều đó thể hiện đạo đức sinh thái mới, vừa đảm bảo sức khoẻ cho mọi người, vừa bảo vệ được môi trường sống, thể hiện đạo lý

“Thương người như thể thương thân”

Trang 30

Thực tế của sự suy thoái nghiêm trọng môi trường sinh thái nước ta hiện nay cả về mặt định hướng, lẫn mặt định tính là bằng chứng rõ ràng cho sự

chuyển đổi các giá trị đạo đức sinh thái: chuyển đổi từ quan niệm, quan hệ lợi ích đến hành vi của con người đối với thiên nhiên Trước những đổi mới của

thời đại, của đất nước, lý tưởng đạo đức sinh thái “Thiên - Nhân hợp nhất”

không thể chỉ theo cái nghĩa truyền thống nữa Con người Việt Nam cần phải khai thác và khai thác nhiều hơn nữa các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi

trường để phát triển xã hội, trước hết là phát triển lực lượng sản xuất, nghĩa là

con người cần phải biết khai thác và sử dụng hợp lý các yếu tố tự nhiên Biết khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả tối đa những tính năng vốn có của

thiên nhiên - những giá trị sử dụng của thiên nhiên là một việc làm rất cần thiết, chứng tỏ một bước tiến bộ mới của xã hội, của lực lượng sản xuất

Vấn đề đặt ra cho thế hệ chúng ta và các thế hệ tiếp theo là không thể ngừng khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường để

bảo toàn lý tưởng đạo đức sinh thái “Thiên - Nhân hợp nhất” theo kiểu truyền

thống, song cũng không thể vì sự phát triển trước mắt mà đành hy sinh môi trường sinh thái, đành triệt tiêu cơ hội phát triển của các thế hệ mai sau Không

thể nói rằng, các thế hệ hôm nay chỉ cần để lại cho con chấu tri thức — trí tuệ, nghĩa là chỉ cần khoa học - công nghệ là đủ, không cần tài nguyên thiên nhiên, không cần bảo vệ môi trường, và vì vậy, cũng không cần gì đến phát triển lâu

bền Theo chúng tôi, đây là quan niệm sai lầm, bởi hai ly do sau:

Một là, tuy rằng với trình độ phát triển nhanh của khoa học và công

nghệ hiện đại, một số tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản, nhiên liệu hóa

thạch sẽ không còn có giá trị sử dụng cao nữa, song, nhiều nguồn tài nguyên

thiên nhiên vẫn luôn có giá trị đối với cuộc sống của con người và sự tồn tại của xã hội, chẳng hạn, như nước, ánh sáng, đất đai, không khí, năng lượng trái đất, năng lượng mặt trời, cây xanh, động vật, vi sinh vật.v.v Con người có tạo

ra được những vat liéu mới, thì những chất liệu để tạo ra các vật liệu mới đó nói riêng, và toàn bộ của cải vật chất xã hội nói chung, có được đều có nguồn gốc từ tự nhiên Bởi vậy, tài nguyên thiên nhiên và môi trường luôn là nguồn

Trang 31

vốn tối cần thiết của sản xuất xã hội, là cơ sở vật chất không thể thiếu được

của sự tôn tại và phát triển của xã hội

Hai là, con người xét về nguồn gốc và bản chất đều gắn liền với thiên nhiên, con người không thể sống tách mình ra khỏi môi trường tự nhiên Do vậy, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

luôn là trách nhiệm, nghĩa vụ và lương tâm của mọi thế hệ Cần phải khẳng

định rằng, con người sống cần các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường

sinh thái trong sạch, bởi con người là một thực thể sinh học - xã hội

Sự chuyển đổi hiện nay của các giá trị đạo đức sinh thái, từ chỗ đề cao

lý tưởng đạo đức “Thién - Nhan hop nhất”, sang lý tưởng “Nhân định thắng Thiên”, con người chỉ biết khai thác thật nhiều và thật nhanh các giá trị sử dụng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên để thỏa mãn không ngừng nhu cầu

ngày càng cao của con người là một bước đột phá, một bước chuyển đổi tất

yếu và khách quan của xã hội trong quá trình phát triển Ở đây, đạo đức sinh thái giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ đó Sự suy thoái của môi trường sinh thái hiện nay có nguyên nhân trực tiếp từ việc

đặt lợi ích kinh tế trước mắt của con người lên trên hết Cần phải có một nền

đạo đức sinh thái mới Đạo đức sinh thái mới cần phải dựa trên cơ sở của lý tưởng “Thiên - Nhân hợp nhất” hiện đại; với mối quan hệ hài hòa thực sự giữa

con người và tự nhiên, trong đó không chỉ lợi ích của con người được thỏa

mãn, mà cả những giá trị nội tại vốn có của tự nhiên cũng luôn được bảo vệ, mọi hành vi của con người đối với tự nhiên đều được điều chỉnh bởi những chuẩn mực đạo đức sinh thái mới Điều đó có nghĩa là, những giá trị của đạo đức sinh thái truyền thống đang được đặt trước những thách thức to lớn của những điều kiện phát triển mới Trước mắt, chúng đang chuyển đổi chỉ theo chiều hướng có lợi cho con người, vì lợi ích trước mất của con người và xã hội

Song, với mục tiêu phát triển lâu bền, sự chuyển đổi của các giá trị đạo đức sinh thái như hiện nay chắc chắn sẽ bị phủ định Con người Việt Nam cần phải xây dựng một đạo đức sinh thái mới trên cơ sở tiếp thu và phát huy những giá

Trang 32

trị đạo đức sinh thái truyền thống phù hợp với những điều kiện phát triển mới

của xã hội và thời đại

1.2 Giáo dục đạo đức sinh thái là yêu cầu khách quan của sự tồn tại

việc giáo dục đạo đức sinh thái xuất phát từ vai trò của đạo đức sinh thái

Một là, đạo đức sinh thái là một bộ phận của đạo đức và giáo duc đạo đức

Con người là một thực thể tự nhiên - xã hội (sinh vật - xã hội) Trong

bản chất của con người, hai mặt sinh vật và xã hội gắn bó chặt chẽ với nhau

trong một chỉnh thể thống nhất và toàn vẹn Con người là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả cao nhất của quá trình tiến hóa lâu dài và phức tạp của thế

giới vật chất Do vậy, để tồn tại, trước tiên con người phải sống và hoạt động

trong môi trường tự nhiên, lấy từ đó nguồn vật chất, năng lượng và thông tin cần thiết để thỏa mãn các nhu cầu của mình với tư cách là một thực thể sinh

vật Đồng thời, trong quá trình sống, con người còn tạo ra cho riêng mình một

môi trường sống mới - môi trường xã hội, là kết quả của sự tác động lẫn nhau

giữa người và người, cùng với những tạo phẩm văn hóa vô cùng phong phú và

đa dạng được con người làm nên trong quá trình “nhào nặn tự nhiên theo quy luật của cái đẹp” (C.Mác), con người đã làm cho môi trường sống của mình trở nên đặc thù bởi tính chất văn hóa sinh thái nhân văn

Môi trường văn hóa sinh thái nhân văn là môi trường sống đặc thù của con người Sống trong môi trường này, con người phải chịu sự ràng buộc, sự quy định của ba mối quan hệ: quan hệ giữa con người với con người (cá nhân

với cá nhân); quan hệ giữa con người với xã hội (cá nhân với cộng đồng); quan

Trang 33

hệ giữa con người với tự nhiên Con người và xã hội đã đùng nhiều công cụ để điều chỉnh các mối quan hệ này như kinh tế, luật pháp, hành chính, phong tục, tập quán, v.v , đặc biệt là đạo đức Các mối quan hệ thứ nhất và thứ hai được

điêu chỉnh trực tiếp bởi đạo đức xế hội, còn mối quan hệ thứ ba được điều chỉnh bởi đạo đức sinh thái — một đạng đạo đức xã hội đặc thù, được vận dụng

vào việc điều chỉnh hành vi của con người trong mối quan hệ giữa con người

và tự nhiên, đạo đức sinh thái là một dạng đặc thù của đạo đức xã hội

Hai là, sự khủng hoảng môi trường sinh thái đã đặt ra yêu cầu bức xúc vấn đề đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái

Dân số ở các xã hội tiền công nghiệp, hái lượm, săn bắt để kiếm sống,

số dân trên thế giới chỉ tính vào số hàng chục triệu người, do đó hệ sinh thái

không biến động mạnh Nhưng với sản xuất công nghiệp và hậu công nghiệp luôn luôn gắn liền với các kỹ nghệ y học tiên tiến và các kỹ nghệ khác, cho phép một bộ phận nhỏ cư dân có thể nuôi số đông còn lại, và vì vậy mà có thể làm cho tỷ lệ đân số phát triển cao Kỹ nghệ công nghiệp hóa quy mô lớn đã

làm nảy sinh một số vấn đề:

Thứ nhất, sự nhiễm bắn môi trường tự nhiên, đe dọa hoặc phá hoại cuộc

sống theo một phản động lực dây chuyền có thể xuyên qua cả những sinh thể nhỏ bé nhất cho tới con người

Thứ hai, sự suy kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, như gỗ, dầu, khoáng

sản, mà nhiều thứ là nhu cầu không thể thay thế được Cuộc sống trên trái đất chỉ

tồn tại trong sinh quyển một lượng đất, không khí và nước ở trên hoặc ở gần bẻ mặt hành tỉnh Trong sinh quyền này, mọi sinh thể tổn tại trong sự cân bằng mong manh với một sinh thể khác và với những nguồn tài nguyên môi trường Hệ

sinh thái là một cộng đồng sinh thể tự lực trong môi trường tự nhiên

Trong các xã hội tiền công nghiệp, con người đối xử với thiên nhiên theo truyền thống kính trọng tự nhiên khi coi bản thân mình là một bộ phận của giới tự nhiên Trong các xã hội công nghiệp hóa, con người tự cho mình là

Trang 34

những nguồn để khai thác Khi các nhu cầu của con người tăng lên, việc khai

thác lại càng được mở rộng Con người không hẻ coi sự tàn phá môi trường của mình là vô đạo đức, mà lại là sự “tiến bộ” hoặc có đạo đức Kết quả là các chất

thải đưa vào môi trường và sự ô nhiễm có thể tàn phá sự cân bằng sinh thái

Trước đây, khi bàn về các vấn đề đạo đức người ta ít quan tâm đến quan

hệ giữa con người và tự nhiên Mấy thập kỷ qua ô nhiễm môi trường đã bắt đầu

đe dọa sự cân bằng sinh thái của hành tỉnh và sức khoẻ của muôn loài làm cho con người thức tỉnh đó là vấn đề đạo đức Vấn đề ô nhiễm không dễ giải quyết được, do đó sự điều chỉnh hành vi bằng pháp luật phải kết hợp với sự điều

chỉnh hành vi tự nguyện tự giác bằng đạo đức Nhiều cá nhân và chính phủ coi

ô nhiễm như là một điều đáng tiếc, nhưng lại là một thứ sản phẩm phụ không

thể tránh khỏi của quá trình phát triển kinh tế “ở đâu có khói thì ở đó có việc làm” Chính vì lý do này mà các nhà đạo đức học đặt vấn đề lao động trong môi trường trong sạch

Việc kiểm soát ô nhiễm đòi hỏi sự phối hợp quốc tế, vì sự lan truyền của các chất ô nhiễm có thể tới mọi nước qua không khí hoặc qua lương thực

Vì thế, nếu không giải quyết vấn đề sinh thái bằng giáo dục đạo đức sinh thái

sẽ rất ít hiệu quả trong bảo vệ sức khoẻ con người Ảnh hưởng của ô nhiễm có

thể không xuất hiện trong vòng nhiều năm, sự phá hoại môi trường ít được sự nhận thức về mặt đạo đức Do ít được giáo dục về đạo đức sinh thái mà vấn dé

ô nhiễm lại gia tăng

Hiện nay, nguồn ô nhiễm môi trường quan trọng nhất là việc nông nghiệp sử dụng hàng trăm thứ chất độc hóa học dưới dạng chất diệt cỏ, diệt

sâu Chúng có thể chuyển hóa và tập trung vào chuỗi thức ăn cho tới vài năm

sau có khi mới lọt vào cơ thể của các động vật Các hóa chất này có ở mọi nơi trên thế giới — thậm chí có cả ở những con chim cánh cụt ở châu Nam Cực, cả

trong gấu Bắc Cực, những nơi cách xa nguồn ô nhiễm hàng nghìn đặm Bệnh

cúm gà ở châu Á vừa qua đã do các đàn chim bay từ Hàn Quốc đến Nhật Bản

và nhiều nước khác Nếu thiếu ý thức đạo đức sinh thái chỉ vì quyền lợi quốc

Trang 35

gia hay địa phương thì sự đe dọa cuộc sống của nhiều dân tộc sẽ trở nên rất

nghiêm trọng

Sự phổ biến của nhiễm khuẩn thuốc sâu có thể là một vấn đẻ rất nghiêm

trọng, song nó chỉ là khía cạnh thứ yếu của vấn đề ô nhiễm hàng trăm loại nhiễn khuẩn, hơn 60 nghìn hóa chất tổng hợp hiện vẫn đang được bán trên thị

trường, với lợi nhuận to lớn trong các lĩnh vực y học, chế biến thực phẩm và sản xuất Tuy thế, hơn một nửa số hóa chất và vi khuẩn này đã được cơ quan Bảo vệ Môi trường của chúng ta phân loại như là những thứ có hại tiềm tàng hoặc có hại rõ rệt đối với sức khoẻ con người Hơn nữa, các vi rút mới, các hóa

chất mới vẫn không ngừng được tổng hợp và sản xuất Đa số các chất này

không tồn tại hay tồn tại đặc trưng trong tự nhiên Vì vậy con người đã tạo ra những chất có hại cho tự nhiên Ngay cả những sản phẩm gia đình thông

thường cũng đã bao gồm hàng ngàn chất mà ảnh hưởng lâu dài của chúng là

không thể lường nổi Các vấn đề nhiễm khuẩn ô nhiễm chất độc hóa học đó đặt

ra một cách nghiêm túc đối với việc giáo dục đạo đức sinh thái hiện nay không

chỉ ở nước ta mà còn trên phạm vi toàn cầu

Đạo đức sinh thái gắn toàn điện với hệ sinh thái, trong đó đặc biệt là vấn

đề nhiễm bẩn nước Khi nước thấm qua các lớp đất bề mặt nước ngầm đang

ngày càng bị ô nhiễm bởi hàng ngàn hóa chất khác nhau từ thuốc trừ sâu dùng cho nông nghiệp, tới các loại tẩy sạch dùng trong các gia đình cho tới đủ loại chất thải công nghiệp, sự thực thì cơ quan Bảo vệ môi trường đã tính rằng 3/4

điểm chứa chất thải độc hại đã biết có thể bị dd dỉ và ngấm vào nước ngầm

Chỉ cần một lần nhiễm bẩn là nước ngầm thực sự không thể làm sạch được, và

có lẽ việc nhiễm bẩn nguồn cung cấp nước to lớn này khó mà tránh khỏi được Điều đó đặt ra rất khẩn thiết trong việc xây dựng và giáo dục đạo đức sinh tháitrong việc bảo vệ mồi trường nước

Thứ ba, vấn đề sinh thái và đạo đức sinh thái còn liên hệ trực tiếp với sự

ô nhiễm không khí

Sau vài thập kỷ để hơi độc thoát ra vô tội vạ vào không khí, hầu hết các

xã hội công nghiệp hóa đang hiệu lực hóa các tiêu chuẩn không khí sạch và

Trang 36

chất lượng không khí trong các xã hội này nói chung tốt hơn bất kỳ thời nào trong 15 năm qua Nhưng không khí sạch là một vấn đề tùy thuộc vào thái độ

và đạo đức của con người Một khối lượng khổng lồ bị ô nhiễm bởi việc sản xuất, việc phát điện, xử lý các chất thải và giao thông hàng năm tuôn vào bầu khí quyển có nguyên nhân thiếu quan điểm đạo đức sinh thái Nếu không xây dựng quan niệm đúng đắn về đạo đức sinh thái thì rõ ràng không thể nào kiểm soát được ô nhiễm không khí

Tuy nhiên, hậu quả lâu dài của nhiễm bẩn không khí chính là việc thay

đổi khí hậu toàn cầu Kết quả của việc đốt nhiên liệu, chất thải và nạn phá rừng làm cho lượng các bon đioxide trong khí quyển ngày càng tăng Loại hơi đốt này đã tạo ra một “hiệu ứng nhà kính” ở trên hành tinh, vì nó để cho mặt trời chiếu xuống bề mặt trái đất, nhưng lại ngăn cản hơi nóng bức xạ trở lại vũ trụ

Hậu quả là toàn cầu đang nóng lên, chắc chắn sẽ gây tan băng ở các cực, làm

cho mực nước biển sẽ dâng lên và mô hình khí hậu sẽ biến đổi Trái đất đang

nóng dần lên và nhiệt độ trung bình toàn cầu có lẽ sẽ tăng lên khoảng từ 3 đến

§ độ vào quãng năm 2030 Sự giao động nhiệt độ địa cầu cũng gây ra những hậu quả không thể lường được Trước thực tế đó việc sáng tạo và kiểm chế các

quy luật khách quan ấy không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là vấn đề ý thức

đạo đức Vì cuộc sống của hành tinh xanh và sạch, mỗi người hãy tham gia vào bảo vệ nó với một thái độ đạo đức tích cực

Hầu hết các mô hình sinh thái nông nghiệp và khí hậu tương tự như hiện nay sẽ đều bị phá vỡ và hậu quả đối với sự sống trên hành tỉnh của chúng ta sẽ không biết đâu mà lường Vấn đề xây dựng một văn hóa sinh thái mà trung tâm điểm của nó là đạo đức sinh thái sẽ giúp hàng ngàn triệu người thoát khỏi

nhiều căn bệnh nan y

Thứ tư, vấn đề quan trọng nhất có liên quan đến hệ sinh thái là nguồn tài nguyên Trong các xã hội tiền công nghiệp, kỹ nghệ đã tạo ra một chút ít nhu cầu đối với các nguồn tài nguyên môi trường Dân số tương đối ít và vì đa số

nhu cầu vật chất của con người đều rất hạn chế và rất đễ thỏa mãn Tuy nhiên,

công nghiệp hóa đã làm cho dân số phát triển rất nhanh - và cùng với nó, nhu

Trang 37

cầu vật chất của con người đường như tăng lên vô hạn độ Hầu hết các xã hội tiên tiến về phương diện kỹ thuật đang ra sức đào sâu hơn nữa vào vỏ trái đất

để lấy nguyên liệu và năng lượng cần thiết cho sự phát triển kinh tế của họ

Thực ra, nếu các mô hình bòn rút thiên nhiên hiện nay vẫn còn tiếp dién thì hầu hết những nguồn quặng mỏ đã biết như sắt, crôm, niken, nhôm, chì, đồng, thiếc và kẽm sẽ cạn kiệt, với nhiều trường hợp, điều đó diễn ra chỉ trong

một thế kỷ Những nguồn tài nguyên mới sẽ được phát hiện, nhưng tỷ lệ phát

hiện những nguồn mới đang ngày một thưa thớt hơn Khi các nhu cầu đang phát triển, trong tương lai một vài thiếu hụt và giá cả tăng lên là không thể tránh khỏi Nếu con người tự giác điều chỉnh nhu câu gắn liên với các chuẩn

mực đạo đức sinh thái, cuộc sống sẽ bớt đi nhiều hiểm họa Đúng là không thể phủ nhận rằng tài nguyên hành tỉnh là có hạn hay nó chỉ có thể bao nổi một lượng cư dân hạn chế nào đó Nếu cư dân thế giới tiếp tục phát triển nhanh, nếu công nghiệp hóa bành trướng ra toàn thế giới và nếu nhiễm bẩn và suy kiệt tài nguyên không ngừng phát triển - mà tất cả những cái đó lại đang xảy ra thì

xã hội loài người sẽ đi về đâu? Câu trả lời cho vấn đề này là các biến đổi xã hội cần phải được thực hiện rất nhanh gắn liền luật pháp với đạo đức sinh thái

Sự phát triển của nền văn minh công nghiệp mà chúng ta vẫn coi nó như

là một tiến bộ hướng về một tương lai tươi sáng hơn, lại đang có những ảnh hưởng tàn phá đối với những đạng sống khác trên hành tỉnh này Trên thực tế

cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI này, chúng ta đang chứng kiến một thảm họa tuyệt điệt các loài khác Vì có những kỹ thuật phát triển cao, có thể làm biến đổi tự nhiên, nên các xã hội công nghiệp hóa tiên tiến đã tạo ra những phá hủy to lớn nhất cho hệ sinh thái hành tinh trong quá khứ Tuy nhiên, hiện nay chính các xã hội này lại đang cố gắng bảo vệ những loài bị đe đọa và có nguy cơ bị tuyệt diệt

Trên toàn thế giới, và đặc biệt là ở những xã hội ít phát triển, sức ép của

dân số và các nên kỹ nghệ mới đang ra sức tàn phá những hệ sinh thái tự nhiên Sức ép này thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau Chúng ta phải coi đạo đức sinh thái là đối tượng của môn học đạo đức hiện đại, phải giáo dục đạo đức

Trang 38

sinh thái sâu rộng cho mọi người

Ba là, giáo dục đạo đức sinh thái là yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trong môi trường văn hóa hiện nay ở nước ta, các quan hệ đạo đức đang

nổi cộm xung quanh các vấn đề quản lý xã hội, trong đó có các vấn đề quản lý

môi trường sinh thái tài nguyên của đất nước Văn hóa quản lý đòi hỏi trách nhiệm, lương tâm, danh dự, sự trung thực và công bằng Nếu có tài mà không

có đức cũng không thể nào làm cho xã hội phát triển được Ngược lại, có đức

mà thiếu tài năng thì không nâng trình độ giải quyết vấn đề mà mình phụ trách lên một bước phát triển mới được; đặc biệt là, trong điều kiện nhân dân ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Dư luận xã hội lên án các hiện tượng thiếu khách quan, kém hiệu quả trong quản lý tài nguyên

Quan điểm tiêu dùng, duy nhất hóa đời sống vật chất, duy nhất hóa lợi

nhuận rất dễ phá hoại sinh thái khi chỉ chú ý đến lợi nhuận và cũng sẽ dẫn tới

thái độ vô đạo đức Trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa cần thiết

phải tổ chức giáo dục đạo đức theo định hướng xã hội chủ nghĩa để khắc phục

các tình trạng phạm tội phá hoại tài nguyên của Tổ quốc, tham nhũng, ăn bám, nghiện ngập mà tâm điểm là giáo dục lao động chân chính trong quan hệ giữa

cá nhân và cộng đồng Định hướng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực đạo đức trong môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay phải xác lập các nguyên tắc nhân

văn Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật ảnh hưởng tới các hành vi ứng xử đạo

đức của con người, do đó tính tích cực cá nhân được gia tăng và nội dung giao

tiếp đạo đức giữa con người có biến đổi Sự nâng cao dân trí, thành thạo nghề

nghiệp có liên quan tới năng lực và phẩm chất đạo đức Trong đó có liên quan

đến vấn để giáo dục đạo đức sinh thái cho nhân dân và hệ thống quản lý Vì

một Việt Nam giàu có, hạnh phúc và phát triển lâu bên việc giáo dục đạo đức

sinh thái cho toàn dân, trong đó có các cán bộ quản lý cấp huyện là một yêu

cầu bức xúc

Trang 39

1.3 Nội dung đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái trong

điều kiện hiện nay

Đạo đức sinh thái là một vấn đề mới Bởi vì, trước đây chưa nhận thức

đúng, chưa hiểu rõ sự khủng hoảng sinh thái, nên nhiều lý thuyết đạo đức đã tách con người ra khỏi mối quan hệ với tự nhiên Hiện nay, sự phát triển nhiều mặt của con người đã cho phép con người xây dựng một cách hệ thống những

lý thuyết cơ bản về đạo đức sinh thái

1.3.1 Hình thành và giáo dục chuẩn mực đạo đức sinh thái

Cũng như đạo đức xã hội, đạo đức sinh thái mang tính lịch sử cụ thể, do

đó, mỗi một thời đại, mỗi một giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người đều có những hệ chuẩn mực đạo đức sinh thái khác nhau đặc trưng cho thời đại

đó Hệ chuẩn mực hành vi đạo đức sinh thái, và hệ chuẩn mực đạo đức sinh thái

đó, một mặt, phụ thuộc vào trình độ nhận thức của con người đối với tự nhiên (ý thức, quan niệm, tình cảm đạo đức) và mặt khác, phụ thuộc vào quan hệ lợi ích (quan hệ đạo đức sinh thái) của con người trong quan hệ với tự nhiên

Ngày nay, chúng ta cần xây dựng một hệ thống chuẩn mực đạo đức sinh

thái hiện đại, phù hợp với một xã hội đang phát triển, cụ thể là trong điều kiện

của nền kinh tế thị trường và của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và thông tin hiện đại Để xây dựng hệ chuẩn mực hành vi đạo đức sinh thái mới,

trước tiên, về mặt lý luận, theo chúng tôi cần phải hiểu bản chất mối quan hệ

giữa con người và tự nhiên

Môi trường thiên nhiên bao gồm cả các yếu tố tự nhiên và phi tự nhiên, tồn tại, vận động và phát triển gắn bó hữu cơ trong một thể thống nhất Con

người là một thành tố quan trọng của môi trường ấy Mọi sinh vật luôn có xu hướng thích nghi và biến đổi Môi trường thiên nhiên là tổng hòa những yếu

tố tự nhiên vô cơ và hữu cơ có ý nghĩa sống còn đối với mọi sự tồn tại và phát triển của các sinh vật Trong môi trường thiên nhiên diễn ra một quá trình sinh

vật vừa thích nghi, lại vừa biến đổi để có được những điều kiện cần thiết cho sự sinh tồn giao tiếp và phát triển của chúng Môi trường thiên nhiên không chỉ là

Trang 40

nơi cung cấp năng lượng, nguyên liệu, điều kiện cho sự sống và cuộc sống của

sinh vật, của con người mà còn là nơi thu nhận và đồng hóa các chất phế thải của động vật và con người

Trước hết môi trường thiên nhiên là nơi các quá trình sống phải thích

nghĩ và tự bảo tồn Trong môi trường tự nhiên có sự vận động của các quy luật

vật lý giữa đất, nước, không khí và sự tương tác giữa các vật thể vật lý, các sinh

thể Các quy luật bảo toàn năng lượng được diễn ra Các quá trình trao đổi chất

được tiến hành trong thiên nhiên Trong môi trường thiên nhiên có bốn quy

luật vận động chính:

Một là, mọi vật đều liên quan và tương tác với nhau, nên một cái nào đó

mất cân bằng thì lập tức tác động đến cái khác, điều đó đòi hỏi tự nhiên có các ứng xử sinh học tự điều chỉnh

Hai là, mọi sự tồn tại trong môi trường thiên nhiên đều lan truyền, tạo ra

các phản ứng dây chuyền, nên không hề có nơi nào an toàn hoặc không an toàn

Tất cả đều tồn tại trong sự thống nhất và đa dạng các mặt đối lập Điều này đòi hỏi mọi sự ứng xử đều xác lập tính tổng thể và toàn điện tuyệt đối

Ba là, mọi sự biến đổi trong môi trường thiên nhiên đều có bản sao tự

nhiên từ thức ăn đến hơi thở và tính có chu kỳ Trong thiên nhiên do các sinh vật và vật thể tồn tại tương tác với nhau hàng chục triệu năm cho nên không có vật nào thừa, cái nọ tồn tại nhờ cái kia, và cái kia là thiên địch của cái này Vì vậy, nếu ứng xử bên ngoài hệ thống tự điều chỉnh thì con người sẽ bị trả giá

Về điều này Ph.Ăngghen đã viết: “Không nên quá tự hào về những thắng lợi

của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi,

là một lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta”

Bốn là, môi trường thiên nhiên là môi trường vừa thích nghi vừa biến

đổi Biến đổi tăng chất lượng của hệ sinh thái hoặc giảm chất lượng của hệ sinh thái, điều đó đồi hỏi mọi ứng xử tự nhiên hoặc ứng xử của con người phải

chấp nhận sự lựa chọn

Ngày đăng: 16/03/2014, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w