Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập với số lượng phụ âm, nguyên âm tương đối nhiều, đặc biệt làhệ thốngthanh thanh điệu tạo nên đặc trưngriêng của ngôn ngữ này.. Đây cũng là nhữn
Trang 1sử DỤNG PHƯ0NG PHÁP DẠY HỌC HỌC PHẦN
Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh *
* ThS Khoa THCS, Trường CĐSP Nghệ An
ABSTRACT
Vietnamese is an solitary language with a relatively large number of consonants and vowels Along with the complex tonal system, it makes teaching and learning Vietnamese phonetics very difficult for foreigners Understanding to shape an appropriate teaching and learning method will help teachers and learners overcome the initial barrier when accessing this language That is also the main problem that the article noted.
Keywords: Solitary language, consonants, vowels, tonal system, phonetics, teaching and learning method.
Received: 8/02/2022; Accepted: 15/02/2022; Published: 21/02/2022
LMỞđầu
Ngôn ngữ là hệ thống âm thanh đặc biệt, là
phương tiệngiao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của
loài người Cái ngôn ngữ dùng đểgiao tiếp vàtruyền
đạt tư tưởng ấy ngay từ đầu là ngôn ngừ thành tiếng,
ngônngữ âm thanh Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn
ngữ đơn lập với số lượng phụ âm, nguyên âm tương
đối nhiều, đặc biệt làhệ thốngthanh thanh điệu tạo
nên đặc trưngriêng của ngôn ngữ này Đây cũng là
những rào cản lớn nhất, khó khăn nhất của người
người nước ngoài khibắt đầu họctiếng Việt.Bàiviết
này tác giả muốn trao đổi về cách lên lớp để giúp
người học tiếp cận với hệ thống ngữ ảm tiếng Việt
như thế nào cho hiệuquà nhất
2 Nội dung nghiên cứu
Ngữâm tiếng Việt đượccấutạo bới 5thànhtố,đó
làhệ thông phụ âm đầu, âmđệm,âm chính, âm cuối
vàthanh điệu
Tuy nhiên, việc phân chia một cách rành mạch
ranh giới các hệ thống trongmột âm tiết với người
nước ngoài chủ yếu học tiếng Việt từ góc độ giao
tiếp theo tác giả là không thật sự cần thiết Chỉ cần
hiểu rõ về 3 nội dung sau: hệthống phụ âm đầu, hệ
thống nguyên âmvàhệ thống thanh điệu Sau đólưu
ý những diêm đặc biệt, khác biệt quan trọng trong
từng hệ thống để mục đích cuối cùng là giúp họ có
thểphát âm tiếng Việt một cách chuẩn xác nhất.Với
mục đích đó bài giảng cùa tác giá đi theo bố cục:
luyệnphát âm luyệnviết, luyện đọc, luyện chính tà
2.1 Phần phụ âm
Phụ âm là những âm khi phát ra luồng hơi đi ra
bị cản ở một vị trínào đó Thông thường,trong buồi
đầu tiênkhi giớithiệu về tiếng Việt, đối với phần ngữ
âm, nhiều người dạy chọn cách đưa rabàng chữ cái (bảng thường dùng cho học sinh tiểu học) rồi giới
thiệu lầnlượt Cáchlàm đó cũng giúp người học biết được trong tiếngViệtcó baonhiêu phụ âm, các phụ
âm được phátâmnhưthếnào Tuy nhiên, điếm quan
trọng là họ không thể nhận ra được nhữngphụ âm nàocóđặcđiểmcấuâm gần giống nhau dễ gây nhầm lẫnkhi phátâm.Điều nàycó thể sẽ gây ra những lẫn lộntrong phát âm của họcviên
Do đó, theo tác già có thế chọn cáchgiới thiệu phụ âm theo vị trí cấu âm đe người dạy giúpngười học dề dàng sosánh diêm giốngvà khác nhau
Chẩng hạn như:những phụ âmth, t, đ, n, X, d, gi,
1 khi phátâm lưỡi cong lên, đầu lưỡi chạmrăng.Còn
khi phát âm phụ âm s, r đầu lưỡi chạm ngạc cứng, hơi thoát ra xátmạnh, không có tiếng thanh
Phu ám dầu lưỡi vòm cứng
Trên cơ sở như vậy, tác giả tạm chia các phụ âm
cụthê theotừng nhóm nhưsau:
TH
B T CH/TR K/C/Q
M Đ
Trang 2PH X/ s KH h
L
Với cách chia nhómnhư vậy, ngườidạy sẽ giúp
ngườihọc:
- Nhận diện được cách phát âm của các phụ âm
trongnhóm một cách rõ ràng Ngườihọchiêu ngay
được vị trí của cơ quan câu âm cho mồi phụ âm
Chẳnghạn như: khiphátâm các phụâmb, m, p, ph,
V đều có sựtham gia của môi: ch, tr, nh dều có sự
thamgiacủa mặt lưỡi
- Tìm được những khác biệt hay đặc điểm gần
giống của các phụ âm trong nhóm Chăng hạn như
ngay khi phátâm nhóm b, m, p, ph, Vthì hai âm b,
m haimôi ngậm lại, bật hơi, cótiếngthanh.Phátâm
p thìhai môicũng ngậm lại nhưng lại không bậthơi,
vô thanh Trong khi đó đế phát âm ph, Vthi lạicần
rang trênngậm hờ môi dưới,hơi ra bị xátnhẹ
- Người dạy có thê nhận ra người học thường
nhầm lẫn các phụ âm nào với nhau Từ đó sẽ tim ra
hướng khắc phục, sửa chữa trongcácgiai đoạn tiếp
sau của khóa học một cách có trọng tâm Với học
viên Lào đào tạo tại cơ sở chúng tôi, họ hay nhầm
lẫn hai âmb vàV Thông thườnghọ không phát âm
được chínhxác Vmà thường phátâm V giống như b
Cần thêm sự lưu ý là phụ âm tiếng Việt có sự
khác biệt khi đứng ở vị trí đầu hay vị trí cuối.
+ ch trong các vân ich, êch, ach có xu hướng
phátâmcủa c,khác vớikhi ch đứng ở vị tríbắtđầu
âm tiết như chợ là một âm mặt lưỡi Ví dụ sự khác
biệtcủach trong: chích, chách, chếch với cha, chợ,
chú.,
+ nh ở vị trí bắt đầu là âm mặt lưỡi, phát âm
hướng ra ngoài còn nh đứng ở vịtrí kết thúc âmtiết
trongvần inh, ênh, anhlại là âm có xu hướng gốc
lưỡi như ng Ví dụ như: nhà, nhé, nhi với lạnh,
mình,bình
Việc phânnhóm cácphụ âmnhư vậy giúpngười
dạy xây dựngphần luyện tập khoa học và rõ ràng
hơn
2.2 Nguyên ăm
Nguyên âm: Khi phát âm luồng hơi đi ra tự do,
không bị cản ởvị trínào cả Tương tự như phần phụ
âm, nếu giới thiệunguyên âm cũng dựavào thứtự
abc thì rất khó khăncho người học vì không nhận ra
được sựgiống và khác biệtgiữa các nguyên âmvới
nhau Vì thế người dạy cũng nên chia các nguyên âm
thànhcác nhóm có cơquan cấu âm gầngiống nhau
đế người học dễ hìnhthànhthói quen trong phát âm
vàgiúp mình nhận ra đượclỗi màhọ haymắcphải
Trong việc phân chia nhóm,có một diêm cần chú
ý là có sự phân biệt giữa nguyên âm có dấu mà nguyên âm không có dấu. Vì vậy, đầu tiên người dạy cóthêphânchia theonhóm cùnghình thức chữ viết nhưng dấu khác nhau đưa đến việc phát âm khác nhau Điều này được thê hiện thành các nhóm
nguyên âmnhưsau:
- a, ă, â: đâylà những nguyên âm há miệng phát
âm, đế luồng hơi đi ra tự do, cóthế kéo dài Khi phát
âm a kéodài, ăvà âphátâm ngăn
- u, ô, ơ: thuộc nguyên âm hàng sau trònmôi nên
khiphátâmhình dáng của môi phải tròn(nguyênâm
o trònmôi hơn nguyênâmô, u).
- ơ, ư: há miệngphát âm, đeluồng hơi đi ra tự do
Độmởcủamiệng trung bình, môi khôngtròn
- i, e, ê:Khiphátâmi, ê, e lưỡi đưa về phía trước;
độhácủa miệng khi phátâm âm i hẹphơn ê vàe
Làngườibản ngữ chúng ta nhìn tưởng dề nhưng
từ kinh nghiệm thực tế tác giả nhận thấy người nước ngoài ban đầu không định hình và không nhận diện tốt về dấu của nguyên âm.Họthườngbỏ quên nó khi viết và không hiếu đó là dấu hiệu thế hiện độngắn
dàicùanguyên âm Mặt khác họ lại dềnhầm dấu của
nguyên âm sangthanhđiệu của âm tiết/ từ nên với nhiềungười nước ngoài diêm này lại trởthành phức
tạp
Sau khi phân chia vàlàm rõ chongườihọc cách
ghépnhóm thứ nhấtnày, ngườidạy cóthê dựa vào3 tiêu chílà vị trí của lưỡi,độmở miệngvà hình dáng môiđểnhóm các nguyênâmlại với nhau Chẳng hạn
như:
- Nhóm nguyên âm hàng trước, không tròn môi: i,
ê, e
- Nhỏm nguyên ám hàng sau không tròn môi: ư,
ơ, ă, a, ă
- Nhóm nguyên âm hàng sau tròn môi: u, ô, o
Thêm một chú ý với người dạy là trường hợp đặc biệt của nguyên âm a. Đó là trường hợp a đi với nh, ch thành vần anh, ach. Khi đó, dù viết
làa nhưngkhi phátâm lại không phải làa mà phải phát âm như evà hơn thế có xuhướng ngán hơn so với e bình thường Bờithế, một thựctế rất dễ nhận thấy, các lưu học sinh thường hay đọc anh thànheng,
nhanh thành nheng Đây làđiểm mà nhiều người
dạykhông nắmrõ dẫnđến người học bị phát âm sai ngay với từđầu hoặc cảm thấy khó phát âm do ấn
tượng con chữ để lại
2.3 Thanh điệu
Trang 3Tiếng Việt cũng như các ngôn ngừ có thanh điệu
khác, ngoài ngừ điệu (sự biến đổi giọng tác động
lên toàn bộ câu nói) ta còn thấysự biến đôi giọng
nói trong phạm vi một tiếng hay một từ đon, với
tác dụng phân biệt các tiếng với nhau Hiện tượng
này chínhlàthanh điệu (tone).Vídụ trong loạt cáctừ
thuânViệtme, mè, mé, mẻ, mẽ, mẹ mỗitừ có ý nghĩa
khác nhau do có thanh điệu khác nhau Thanh điệu
làđặc điểm ngữâmtiêu biêucủa tiếng Việt Nó là sự
thayđồi caođộ cua giọngnói vàlà trở ngại lớnnhất
đoivới ngườihọc đặc biệt những người đen từ các
ngôn ngữkhác loại hình như Anh, Mĩ, Hàn, Nhật
Hệ thống thanhđiệutiếngViệtgồm 6 thanh được
chia làm hai nhóm: các thanh điệu có âm vực thấp
(huyền, hỏi, nặng)và các thanh điệucó âm vực cao
(không, ngã,sắc)
Khi giới thiệu thanh điệu cho học viên nước
ngoài, người dạy có thể đưa ra một cách lần lượt:
không dấu, huyền, ngã, hỏi, sắc, nặng Tuy nhiên,
nếu chì dừng ờ đó, học viên cũng sẽ có những hiểu
lầmhoặchiêu không sâu về các thanh dẫnđen sự khu
biệt các thanh khôngrõ ràng Bởi thế, sau khi giới
thiệu đầy đủ 6 thanh như trên, người dạy cần phải
chia nhóm cho các thanh đề chi ra điểm đặc trưng
của mỗi thanh(bao gồm cả sựgiống nhau và khác
nhau) Cụ thểơ đây, có thể chỉ racácnhóm nhưsau:
- Nhóm thanh không dấu và thanh báng-, chi khác
nhau về cao độ, đường nét tương đối bằng phẳng
Do đó,giáo viênsẽ giúp ngườihọcngay từ đầuhiếu
được việc phải đạt cao độ ra sao khi phát âm hai
thanh này và lồi sẽ mắc phái nếu thanh không dấu
hay thanh bằng không đạt được một cách tương đối
độcaocua chúng Chẳng hạn như: bavới bà, movới
mò, cha với chà
- Nhóm thanh không dấu và thanh sắc. haithanh
này đều thuộc âmvựccao Tuynhiên, trườngđộ cua
thanhkhôngphaidài hơn thanhsắc rất nhiều Haycó
thể nôm na đưa ra đặc trưng của thanh khôngdấu là
cao, dàivà thanhsắc là cao, ngắn.Chi ra đượcđiểm
giống và khác biệt đó chắc chắc sẽ giúp học viên
tránh việc mắc lồi Chẳng hạn như: đavới đá, lovới
ló, banh vớibánh
- Nhóm thanh bang và thanh nặng: hai thanh này
đều thuộcâm vực thấp Sự khácbiệt ởchồ,trườngđộ
cùathanh bang dài hơn còn thanhnặng ngắn và đột
ngột Giống như trên, cóthểquyvềhai đặc điểmsau
cho mồi thanh: thanh bằng là thấp, dài; thanh nặng
làthấp, ngắn.Chẳng hạn như: lanh với lạnh, bé với
bế, chănvớichặn
- Nhóm thanh ngã và thanh hỏi'. Hai thanh này
diêm giống nhau đều cónét gãy nhưngsựkhác biệt
rõ ràng nhất là với thanh ngã trong giai đoạn phát âm
thứ hai phai thắtlại, hẹp hơn so với thanhhỏi Chắng hạn như: lãvới lả, ngõ với ngỏ, ngã với ngả Thanh điệu là yếu tố duy nhấtbao trùm lên hệ
thông âm tiết tiếng Việt Có the nói, đối với người nướcngoài việc đọc đúng thanhđiệu là vấnđề gặp
khó khãn nhiềunhất Yeu tố bàn ngữ ảnh hướngrất lớn vàothói quen phát âm Thực tế chúng tôi nhận thấy có một số học viên sinh sống tại các tinh
Savannakhệt, Xiêng Khoảng, Viên Chân của nước CHDCND Lào rất khó phátâm thanh ngã, mà
thường chuyển sang thanh sắc; học viên tỉnh Hủa Phăn Bòlikhămxay lại lẫn lộn giữa thanh ngã và
thanh nặng Đây là những phân biệt cơ bản còn tất
nhiên trong quá trình dạy, phátâm họcviên sẽ bộc lộ những nhầm lần của mình Thực tế vớingườinước
ngoài họ có the nham lẫn tất cả các thanh điệu với nhau Tuynhiên, việcchỉ ra nhữngđặc trung cơ bản theo nhóm như vậy ít nhất cũng giúphọ có cái nhìn
vàcách hiểu đầutiên theo hệthống để tránhtốiđa lỗi phát âm sau này
3 Kết luận
Ngừ âm là học phần đầu tiên lưu học sinh tiếp cận Vấn đề tìm ra cách thức, phương pháp giảng
dạy đetránh mắc phải những lồi lầm ngay từ ban đầu
là mộtviệc vô cùng cần thiết Cónhư thểmới tránh được sự vất vả cho người dạy những tri thức tiếp
theo và tránh chongười học cảm giác áp lực, nặng
nề.Định hình ngay từ những kiến thức đầu tiênsẽtạo thành con đườngquen thuộc chonhững bướcđi còn lại Một sốtrao đổi củachúng tôivề cáchtiến hành giới thiệu ngữ âm trong buôiđầu tiên dạytiếng Việt
chongười nước ngoài chỉ là một sự gợi ý Hi vọng với những chia sẽ trên, bài viết sẽ đem lại phần nào những lợi ích trong quá trình dạy và học tiếng Việt
đối với lưu học sinh./
Tài liệu tham khảo
1 MaiNgọc Chừ,Vũ Đức Nghiêu, Hoàng Trọng
Phiến (1999), Cơ sở ngôn ngừ học và tiếng Việt,
NXB Giáođục, Hà Nội
2 Nguyễn VănHuệ (2004), Một sổ kỹ thuật dạy phát ảm,NXB Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
- ĐHQGTP Hồ Chí Minh
3 NguyềnViệt Hương (2019), Tiếng Việt cơ sờ,
NXBĐại học Quốcgia Hà Nội
4 Nguyễn Chí Hòa (2001),Nội dung và phương pháp giảng dạy Ngữ âm tiếng Việt thực hành cho học viên Quốc tể ,NXB Đại họcQuốc gia Hà Nội