Trường hợp bị đơn có nơi cư trú hoặc trụ sở ở nước ngoài thì tòa án có thẩm quyền là tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn. Về thẩm quyền của tòa án đối với hoạt động trọng tài thì ý chí, sự thỏa thuận của đương sự cũng có vai trò rất lớn. Các bên có thể thỏa thuận lựa chọn tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài trước hoặc sau khi có tranh chấp. Việc thỏa thuận lựa chọn tòa án đối với hoạt động trọng tài không phải là vô giới hạn, mà thỏa thuận lựa chọn đó phải đảm bảo nguyên tắc chỉ có một Tòa án có thẩm quyền đối với một hoạt động trọng tài hoặc tất cả hoạt động trọng tài. Đồng thời việc lựa chọn đó phải tuân thủ đúng quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật TTTM. Trường hợp thỏa thuận của các bên không đúng quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật TTTM (tức là lẽ ra hai bên phải thỏa thuận chọn một TAND cấp tỉnh giải quyết, nhưng lại thỏa thuận chọn một tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết) thì thẩm quyền của tòa án đối với hoạt động trọng tài được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật TTTM về thẩm quyền theo lãnh thổ của tòa án và quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật TTTM về thẩm quyền theo cấp của tòa án (đó là TAND cấp tỉnh). Việc các bên thỏa thuận lựa chọn tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài phải được lập bằng văn bản do các bên cùng ký, trong đó nêu rõ loại việc yêu cầu tòa án giải quyết, tên TAND cấp tỉnh mà các bên lựa chọn thì thỏa thuận đó mới có giá trị pháp lý. 2.3. Sự hỗ trợ của tòa án trong việc thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng Đây là quy định mới của Luật TTTM năm 2010 so với Pháp lệnh TTTM năm 2003 về sự hỗ trợ của tòa án đối với việc thu thập chứng cứ và triệu tập người làm chứng. Tài liệu, chứng cứ trong các vụ án do trọng tài thụ lý giải quyết chủ yếu do các bên đương sự xuất trình, giao nộp cho trọng tài để làm căn cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, hay phản đối yêu cầu của phía bên kia. Trọng tài chỉ trực tiếp thu thập chứng cứ, tài liệu trong những trường hợp mà trọng tài cho là cần thiết để làm rõ sự thật. Một trong những nguồn chứng cứ là lời khai của người làm chứng mà trọng tài có thể khai thác, nhằm làm rõ các tình tiết của vụ án, giúp cho việc xét xử của trọng tài được chính xác.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn: TS NGUYỄN THỊ THU HIỀN
Hà Nội, 6/2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận với đề tài “Vai trò của tòa án đối với hoạt động tố tụng trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Em xin cam đoan khóa luận này là do tự bản thân thực hiện cùng với sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thu Hiền thuộc Trường Đại học Luật Hà Nội và không sao chép các công trìnhnghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Các thông tin sử dụngtrong toàn bộ khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của khóa luận
Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị ThuHiền – Trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuậnlợi cho em hoàn thành tốt đề tài này Trong quá trình thực hiện khóa luận, em họchỏi được rất nhiều điều từ cô
Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo giảngdạy ở Khoa Luật – Viện Đại học mở Hà Nội, những người đã cung cấp cho emnhững kiến thức quý báu trong thời gian học tập, rèn luyện tại khoa
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ trongsuốt thời gian qua
Mặc dù đã cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, tuy nhiên do thờigian và kiến thức còn hạn chế, chắc chắn khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếusót về mặt nội dung và hình thức Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫncủa quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn
Sinh viên thực hiện
Triệu Thị Nhung
Trang 4MỤC LỤC
BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT 7
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
5
1.1 Khái quát về trọng tài thương mại 5
1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại 5
1.1.2 Đặc điểm trọng tài thương mại 8
1.1.3 Phân loại trọng tài thương mại 12
1.2 Tổng quan về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng
trọng tài 15
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài 15
1.2.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài 19
1.2.3 Tố tụng trọng tài thương mại 21
1.2.4 Ưu điểm và nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp
thương mại bằng trọng tài 23
1.3 Khái quát về tòa án và vai trò của tòa án trong tố tụng trọng tài
thương mại 25
1.3.1 Khái quát về tòa án 25
1.3.2 Vai trò của tòa án trong tố tụng trọng tài thương mại 26
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 29
2.1 Chỉ định thay đổi trọng tài viên đối với trọng tài vụ việc 29
2.2 Xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
trọng tài 31
2.3 Sự hỗ trợ của tòa án trong việc thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng 33
2.3.1 Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ 34
Trang 5MỤC LỤC
2.3.2 Tòa án hỗ trợ triệu tập người làm chứng 35
2.4 Sự hỗ trợ của tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 36
2.5 Giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 38
2.6 Đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc 39
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 40
3.1.Thực trạng thực hiện vai trò của tòa án đối với hoạt động tố tụng
trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay 40
3.1.1. quy Về định Tòa án có thẩm quyền chỉ định, thay đổi Trọng tài viên 42
3.1.2. Về xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp của Hội đồng trọng tài Error! Bookmark not defined. 3.1.3 Về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 43
3.1.4 Về quy định hủy phán quyết Trọng tài 44
3.2.Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện vai trò của tòa án đối với tố tụng trọng tài thương mại ở Việt Nam 45
3.2.1 Cần có cơ chế hỗ trợ pháp lý từ phía Nhà nước đối với các tổ chức phi Chính phủ, trong đó có trọng tài thương mại 45
3.2.3.Nâng cao năng lực của Thẩm phán trong quá trình thực hiện vai trò của
tòa án đối với tố tụng trọng tài 47
3.2.4. Lựa chọn Trung tâm trọng tài phù hợp 47
3.2.5. Về chỉ định, thay đổi Trọng tài viên 48
3.2.6. Về quy định hủy phán quyết của trọng tài 49
Trang 6BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế đã đem lại những thành quả to lớn
về kinh tế xã hội Nền kinh tế nước ta sau gần ba mươi năm đổi mới đã có nhữngchuyển biến tích cực, hợp tác và giao lưu thương mại ngày càng phát triển Cũngtrong bối cảnh đó, các quan hệ thương mại ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp
Vì vậy, tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại là điều khôngthể tránh khỏi Do tính chất cũng như hậu quả của nó gây ra cho các chủ thể thamgia tranh chấp nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng
đã sớm có những quan tâm nhất định đến hoạt động này, cũng như các phương thứcgiải quyết nó thể hiện thông qua các quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật.Pháp luật Việt Nam đã quy định nhiều phương thức giải quyết tranh chấp như:thương lượng, hòa giải, tòa án hay trọng tài thương mại Đối với từng phương thứcđều có những ưu điểm, hạn chế, không có phương thức nào chiếm vị thế tuyệt đôi.Tuy nhiên, căn cứ vào những ưu điểm vượt trội của trọng tài thì phương thức nàyđang được các doanh nghiệp lựa chọn Trọng tài thương mại là hình thức giải quyếttranh chấp khá phổ biến trên thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thịtrường phát triển Có thể nói, từ khi Việt Nam nỗ lực hoàn chỉnh khung pháp lý chohoạt động của trọng tài bằng việc ban hành Pháp lệnh trọng tài thương mại năm
2003 và Luật trọng tài thương mại 2010, việc giải quyết các tranh chấp thương mạibằng trọng tài đã thực sự chuyển biến và mang lại những dấu hiệu tích cực Cùngvới hoạt động của trọng tài thì sự hỗ trợ của tòa án cũng có những tác động nhấtđịnh tới hiệu quả giải quyết các tranh chấp đó Tòa án có vai trò hết sức quan trọngtrong hoạt động tố tụng trọng tài thương mại Với tư cách là một cơ quan tài phánnhân danh Nhà nước, tòa án góp phần làm cho hoạt động tố tụng của trọng tàithương mại thực hiện được một cách nhanh chóng, chính xác, công bằng hơn Tuynhiên, với những quy định của pháp luật hiện hành về vai trò của tòa án đối với hoạtđộng tố tụng trọng tài đã có một số những bất cập Nhận thấy được điều đó, em
chọn đề tài “Vai trò của Tòa án đối với hoạt động tố tụng Trọng tài thương mại
ở Việt Nam hiện nay – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”.
Trang 82 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây, vấn đề “Vai trò của tòa án đối với hoạt động tố tụng trọngtài” được quan tâm nghiên cứu nhằm tăng cường hiệu quả giải quyết các tranh chấpthương mại, đồng thời nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện vai trò của tòa án đốivới việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài Đã có những công trìnhnghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau Trước khi Luật trọng tàithương mại năm 2010 được thông qua, ở Việt Nam đã một số công trình nghiên cứuliên quan đến trọng tài thương mại Sau khi Luật trọng tài thương mại 2010 ra đời,vấn đề nghiên cứu pháp luật về trọng tài thương mại đã nhận được sự quan tâm củanhiều nhà khoa học và đã có một số đề tài nghiên cứu về vai trò của tòa án đối vớihoạt động tố tụng trọng tài
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, Luật trọng tài thương mại năm 2010 thaythế cho pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 bị đánh giá là còn nhiều điểmchưa hợp lý, chưa hấp dẫn các doanh nghiệp tìm đến con đường giải quyết tranhchấp bằng trọng tài thương mại, một phương thức tỏ ra có ưu thế hơn hẳn tòa ánđược thừa nhận ở hầu hết các nước trên thế giới Trong đó, vai trò của tòa án đối vớihoạt động của trọng tài thương mại là một trong những vấn đề cần phải bàn tớinhiều nhất Vì vậy, em chọn đề tài này cũng là để tìm hiểu sâu sắc hơn về các quyđịnh pháp luật về vấn đề này để có thể đưa ra được nhận xét chính xác nhất, qua đónêu lên một số đề xuất để việc thực hiện thủ tục giải quyết tranh chấp thương mạibằng trọng tài thương mại được thuận lợi hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu, làm sáng tỏ những quy định pháp luật vềTTTM, giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM và những quy định pháp luật
về sự hỗ trợ của tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại để làm rõ các vấn đề
về vai trò của tòa án trong tố tụng TTTM Qua đó, phân tích làm rõ thực trạng phápluật về vai trò của tòa án đối với tố tụng trọng tài ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn
áp dụng pháp luật của vấn đề này Từ thực tiễn áp dụng, khóa luận đưa ra một sốkiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện vai trò của tòa án đối với hoạt động tố
Trang 9tụng trọng tài ở Việt Nam hiện nay Đề tài nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề
lý luận, các khía cạnh pháp lý về vai trò của tòa án trong tố tụng trọng tài nhằm tiếpcận vấn đề sâu hơn và có cái nhìn toàn diện hơn
Để đạt được những mục đích đã nêu ra ở trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Một là, nghiên cứu và phân tích làm rõ cơ sở lý luận về TTTM và vai tròcủa tòa án đối với hoạt động tố tụng TTTM
- Hai là, nghiên cứu và phân tích nội dung quy định pháp luật hiện hành về vaitrò của tòa án đối với hoạt động tố tụng TTTM ở Việt Nam
- Ba là, phân tích và đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về vai trò của tòa
án đối với hoạt động tố tụng trọng tài ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghịnhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện vai trò của tòa án đối với hoạt động tốtụng TTTM
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê Nin
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã áp dụng một số phương pháp cụthể như: phương pháp phân tích để làm sáng tỏ nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu;phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ mức độ tương quan giữa các quyđịnh, các quan điểm để từ đó có những đánh giá, nhận định khách quan về nội dụngnghiên cứu; phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa nội dung nghiêncứu một cách có hệ thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên ngắn gọn, súc tích, dễhiểu; phương pháp thống kê đem đến một cách nhìn cụ thể hơn thông qua nhữngcon số
Trang 10Chương II: Nội dung quy định pháp luật Việt Nam về vai trò của tòa án đối với hoạt động tố tụng trọng tài thương mại.
Chương III: Thực trạng thi hành pháp luật về vai trò của tòa án đối với tố tụng trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị
Trang 11CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về trọng tài thương mại
1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại
Trong cơ chế nền kinh tế thị trường, các chủ thể có quyền tự chủ rất cao và họ
có toàn quyền quyết định việc thiết lập các quan hệ kinh tế - thương mại của mìnhmiễn là không trái với các quy định của pháp luật Chính vì vậy, các quan hệ thươngmại trong nền kinh tế rất đa dạng và phức tạp Tính phức tạp và chồng chéo đan xencủa các quan hệ thương mại ẩn chứa một nguy cơ phát sinh tranh chấp rất cao Cácchủ thể kinh tế khi tham gia vào những quan hệ thương mại mà họ cho là có lợi, cóthể là vật chất hoặc phi vật chất và khi mục đích có nguy cơ không đạt được cũng sẽphát sinh tranh chấp Trong quan hệ thương mại, quyền lợi của bên này cũng tươngứng với nghĩa vụ của bên kia, điều đó khiến cho xung đột lợi ích sẽ phát sinh nếucác bên không đi đến một thỏa thuận thống nhất dung hòa được quyền lợi và nghĩa
vụ của họ Khi tranh chấp xảy ra phải có phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp
là đòi hỏi khách quan để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh
tế, đảm bảo nguyên tắc pháp chế, thông qua đó góp phần tạo lập môi trường pháp lýlành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường phảiđáp ứng các yêu cầu:
- Nhanh chóng, thuận lợi, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh
- Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh
- Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên trên thương trường
- Kinh tế nhất
Căn cứ vào nhu cầu điều chỉnh pháp luật có sự phân hóa đối với các hoạt độngkinh doanh thì cho tới thời điểm hiện tại, các phương thức giải quyết tranh chấp chủyếu được áp dụng rộng rãi bao gồm: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại
Trang 12và giải quyết thông qua tòa án Cùng với sự phát triển kinh tế, TTTM đã trở thànhphương thức giải quyết tranh chấp thương mại phổ biến nhất và được các chủ thểkinh tế ưu tiên lựa chọn.
Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòagiữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia Người Hy Lạp và La Mã cổ đại
đã biết sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp Quy định sơ khai vềtrọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bấthòa của mình không cần có sự can thiệp của Nhà nước Về sau, Luật La Mã chophép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ởnhững nước La Mã có trao đổi hàng hóa, trải rộng trên khắp lục địa Châu Âu
Trong hệ thống pháp luật của Anh, văn bản đầu tiên về trọng tài phải kể đếnLuật trọng tài năm 1697, nhưng vào thời điểm luật được thông qua thì nó đã trởthành một phương thức rất phổ biến vì phán quyết đầu tiên của trọng tài ở Anh đãđược đưa ra năm 1610 Tuy nhiên, quy định sơ khai về trọng tài trong hệ thống luậtpháp Common law thể hiện một hạn chế cơ bản là bất cứ bên tham gia tranh chấpnào cũng có thể từ chối thực hiện phán quyết của trọng tài nếu thấy phán quyết đóbất lợi cho mình Hạn chế này đã được khắc phục trong Luật trọng tài năm 1697.Trong hiệp ước Jay năm 1974, Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn đề còn tranhchấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở trọng tài Việc giảiquyết tranh chấp kéo dài 7 năm và được coi là kết thục thành công Từ đầu thế kỷ
XX, các nước trên thế giới (trong đó có Pháp và Mỹ) bắt đầu thông qua các đạo luậtquy định và khuyến khích giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thay cho tòa án.Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, phương thức giải quyếttranh chấp bằng trọng tài cũng phát triển, dẫn tới việc hình thành những tổ chứctrọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp đồng thươngmại quốc tế Tầm quan trọng của trọng tài ngày càng được thừa nhận rộng rãi.Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập và ngày càng được sử dụngrộng rãi trong thực tiễn xét xử quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ kinh tếquốc tế Cuối thế kỷ XIX, người ta đã cố gắng hợp thức hóa tư cách pháp lý chohình thức trọng tài qua hai Hội nghị Quốc tế Đó là hội nghị Hòa Bình được tổ chức
Trang 13tại La – Hay, Hà Lan năm 1899 và năm 1907 Hai hội nghị này đã đi đến việc soạnthảo quy chế và thủ tục và nỗ lực hướng dẫn các quốc gia áp dụng triệt để các hiệpước trọng tài Cũng như các thuật ngữ khoa học pháp lý khác, khái niệm “trọng tài”
đã được đề cập nhiều trong luật quốc tế Định nghĩa sớm nhất về trọng tài được nêu
trong công ước La – Hay năm 1899, theo đó: “Trọng tài là nhằm để giải quyết những bất đồng của các bên, thông qua một người thứ ba do chính các bên lựa chọn và đặt trên cơ sở tôn trọng luật pháp” Công ước La-Hay năm 1907 qui định:
“Trọng tài quốc tế có đối tượng giải quyết là những tranh chấp giữa các quốc gia qua sự can thiệp của những trọng tài viên do các quốc gia tranh chấp lựa chọn và đặt trên cơ sở của sự tôn trọng luật pháp” (Theo: Trần Thị Tường Vân, Hội nghị
khoa học trẻ Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh lần 1 “Pháp luật hiện hành về trọng tàithương mại trên hành trình hội nhập và phát triển”)
Trong khoa học pháp lý, TTTM được nghiên cứu dưới nhiều bình diện khácnhau và do đó, hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về trọng tài Tuy nhiên, cóhai cách tiếp cận phổ biến nhất, đó là:
Thứ nhất, TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt
động thương mại Theo cuốn đại từ điển kinh tế thị trường, Trọng tài được hiểu làphương pháp giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp Ở đó, chỉ đôi bên đương sự tựnguyện đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho người thứ ba có tưcách công bằng, chính trực xét xử, lời phán quyết do người này đưa ra có hiệu lựcràng buộc với hai bên tranh chấp (Theo: đại từ điển kinh tế thị trường (1998), Nhàxuất bản bách khoa, Hà Nội) Bên cạnh đó, theo Hội đồng trọng tài Mỹ AAA
(American Arbitration Association) thì: “Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình tranh chấp đó cho một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành”.
Ở Việt Nam, chế định về TTTM được du nhập vào hệ thống pháp luật từ cuốithế kỷ XIX Tuy nhiên trong giai đoạn sơ khai (giai đoạn trước năm 2003), không
có một luật về trọng tài thống nhất điều chỉnh hệ thống trọng tài trong nước và trọngtài quốc tế Thêm vào đó, quyết định giải quyết tranh chấp của trọng tài không được
Trang 14bảo đảm thi hành Vì thế, mô hình trọng tài thương mại chưa thực sự đạt đượcnhững thành tựu đáng kể trên hành trình tiếp cận những chuẩn mực của trọng tàithương mại hiện đại Ngày 25/02/2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháplệnh TTTM 2003, thể hiện nỗ lực hội nhập to lớn của Việt Nam cũng như đánh dấugiai đoạn chuyển tiếp trong quá trình phát triển của pháp luật trọng tài ở nước ta.
Tại khoản 1, Điều 2 Pháp lệnh TTTM năm 2003 quy định: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Pháp lệnh này quy định”.
Qua hơn sáu năm áp dụng và cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, một số quyđịnh của Pháp lệnh đã bộc lộ bất cập và không còn phù hợp Do vậy, Pháp lệnhTTTM năm 2003 đã được thay thế bằng Luật TTTM năm 2010 được Quốc Hộithông qua ngày 17/06/2010 và chính thức có hiệu lực ngày 01/01/2011 Theo quy
định tại khoản 1, Điều 3 của Luật TTTM năm 2010 thì “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”.
Thứ hai, TTTM là một cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt
động thương mại, được thành lập tự nguyện bởi các TTV để giải quyết các tranhchấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại theo yêu cầu của các bêntranh chấp Dưới góc độ này, trọng tài bao gồm những cá nhân được các bên lựachọn để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các vụ việc dân sự của họ hay là một
cơ quan trung gian được các bên đương sự giao tranh chấp cho để xét xử
Dù được tiếp cận dưới góc độ nào, xét về mặt bản chất, TTTM là một phươngthức giải quyết tranh chấp do các bên tự thỏa thuận lập ra nhằm giải quyết dứt điểmcác vụ tranh chấp Nói cách khác, trọng tài là cơ quan xét xử mang tính chất “tư” docác bên đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết các tranh chấp kinh doanh,thương mại của chính họ
1.1.2 Đặc điểm trọng tài thương mại
Với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp thương mại, TTTM cónhững đặc điểm sau:
Trang 15Thứ nhất, Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia
của bên thứ ba – một TTV duy nhất hoặc HĐTT Trọng tài do các bên tranh chấpthỏa thuận lựa chọn trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp sẽ hoàn toàn độc lập vớicác bên, đưa ra phán quyết có tính chất bắt buộc để bảo vệ quyền lợi của các bên
Thứ hai, Trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một thủ
tục tố tụng chặt chẽ Tuy các quy tắc tố tụng trọng tài ở các quốc gia rất khác nhaunhưng nhìn chung quy tắc lựa chọn TTV và thủ tục của hầu hết các Trung tâm trọngtài trên thế giới đều dựa theo khuôn mẫu của Quy tắc trọng tài mẫu UNCITRAL.Khi giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, các TTV và các đương sự phải tuân thủđúng trình tự tố tụng mà pháp luật trọng tài, điều lệ và quy tắc tố tụng của tổ chứctrọng tài đó quy định
Thứ ba, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp giữa yếu tố
thỏa thuận và tài phán Trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên mà xuất phát từ
sự thỏa thuận từ các chủ thể tranh chấp đối với trọng tài Nếu muốn một tranh chấpđược đưa ra trọng tài giải quyết thì các bên phải có thỏa thuận lựa chọn trọng tàigiải quyết vào thời điểm trước hoặc kể cả sau khi tranh chấp xảy ra Nếu không cóthỏa thuận trọng tài hoặc có nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trọng tài cũngkhông có thẩm quyền giải quyết Thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và khôngthể có phán quyết thoát ly những yếu tố đã được thỏa thuận Bởi vậy, về nguyên tắcthẩm quyền của trọng tài không bị giới hạn bởi pháp luật Các đương sự có thể lựachọn bất cứ một trọng tài vụ việc (Trọng tài ad-hoc) hoặc một tổ chức trọng tài nàotrên thế giới Tuy nhiên, do trọng tài không phải là cơ quan xét xử của Nhà nướcnhư tòa án nên phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực Nhà nước Phánquyết của trọng tài có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp nhưng không cógiá trị ràng buộc đối với bên thứ ba Ngay cả khi một bên tranh chấp không tôntrọng phán quyết trọng tài và không tự nguyện thi hành phán quyết thì trọng tàicũng không có cơ chế cưỡng chế thi hành Phán quyết trọng tài do các bên tựnguyện thi hành hoặc nhờ đến sự hỗ trợ của cơ quan Nhà nước cụ thể là tòa án đểcưỡng chế thi hành
Trang 16Thứ tư, hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đã đảm bảo quyền tự do
định đoạt của các đương sự cao hơn so với quyết định giải quyết tranh chấp bằngtòa án như:
Các đương sự có quyền lựa chọn TTV, lựa chọn địa điểm tranh chấp, quy tắc
tố tụng và được chọn luật áp dụng cho tranh chấp Điều 14, Luật TTTM năm 2010quy định:
“1 Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp.
2 Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật
do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất.
3 Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc
áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.
Ngoài ra, một trong những nguyên tắc khi giải quyết tranh chấp thương mạibằng TTTM đó là phiên họp giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM khôngdiễn ra công khai trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Nguyên tắc này đã thểhiện được sự tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt do đó ngoài nguyên đơn và bị đơn,Trọng tài chỉ triệu tập các đương sự khác khi cần thiết
Với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp, TTTM có những đặc điểmnhư sau:
Thứ nhất, TTTM là một loại hình tổ chức phi Chính phủ (không hưởng ngân
sách nhà nước), hoạt động theo pháp luật và quy chế trọng tài Thuật ngữ “Trọng tàiphi Chính phủ” không có nghĩa là cơ quan này sẽ không chịu sự quản lý, giám sátcủa Nhà nước Phi Chính phủ là để phân biệt với một cơ quan tài phán Nhà nước,
có quyền lực Nhà nước Nhà nước không can thiệp sâu vào các hoạt động của cơquan trọng tài, nhưng sẽ thực hiện vai trò quản lý của mình thông qua hệ thống cácquy định pháp luật, cũng như những tác động khác như tham gia điều ước quốc tế,
Trang 17đào tạo, hỗ trợ kinh phí và cơ sở vật chất…TTTM hoạt động theo pháp luật và quychế trọng tài Nó có quyền ban hành phán quyết như Tòa án và có giá trị ràng buộcvới các bên tranh chấp Tính Phi Chính phủ được thể hiện:
- Tổ chức Trọng tài không phải được thành lập bởi Nhà nước mà được thànhlập theo sáng kiến của TTV sau khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chophép;
- HĐTT, các tổ chức Trọng tài và các TTV không nằm trong hệ thống cơ quanquản lý Nhà nước, cũng không thuộc hệ thống cơ quan xét xử Nhà nước
- Các tổ chức Trọng tài hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải mà không đượccấp kinh phí hoạt động trong ngân sách Nhà nước
- TTV hoặc HĐTT không nhân danh quyền lực Nhà nước mà nhân danh ngườithứ ba để ra phán quyết
- HĐTT vẫn luôn đặt dưới sự hỗ trợ và quản lý của Nhà nước, Nhà nước banhành các văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động nhưcấp, thay đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động của cácTrung tâm trọng tài Nhà nước hỗ trợ các hoạt động tố tụng của trọng tài như: hỗ trợchỉ định, thay đổi TTV, cưỡng chế thi hành phán quyết trọng tài
Thứ hai, phán quyết của TTTM có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước
bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào Trong khi tòa án xử từ sơ thẩm đến phúc thẩm, rồicòn thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, rồi còn khiếu nại, khiếu kiện và còn có sựtham gia của nhiều cơ quan khác (như Viện kiểm sát ) Còn cách thức giải quyếtbằng trọng tài lại hết sức đơn giản và linh động Tính chung thẩm của quyết địnhtrọng tài không chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiếncác bên không thể chống án hay kháng cáo Xét xử tại trọng tài chỉ có một cấp xét
xử Khi tuyên phán quyết xong, HĐTT hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tạicủa mình Những ưu điểm này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu tư thươngmại Chính những ưu điểm đó bảo đảm rằng nếu các bên ưu tiên giải quyết tranhchấp bằng trọng tài thì các nhà đầu tư sẽ giảm rủi ro cho bên nước ngoài khi quyếtđịnh tham gia đầu tư thương mại tại Việt Nam; tạo thuận lợi cho các bên nước ngoài
và cả bên Việt Nam thông qua việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam Phán quyết
Trang 18trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh những tổn thất vềtiền, hàng trong kinh doanh thương mại Phán quyết trọng tài là quyết định cuốicùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của tòa án Tuy là chung thẩm, nhưng tốtụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế thi hành, nên bên đương sự nào khôngchấp nhận phán quyết của trọng tài thì có thể kiện ra Tòa kinh tế theo thủ tục giảiquyết các vụ án.
1.1.3 Phân loại trọng tài thương mại
Trọng tài vụ việc (Ad-hoc) là loại hình xuất hiện sớm nhất và rất phổ biến trên thế
giới Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tại được lập ra để giải quyết những tranhchấp cụ thể khi có yêu cầu và tự giải thể khi giải quyết xong những tranh chấp đó.Theo khái niệm tại trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn doTrung tâm Thương mại Quốc tế UNCTAD/WTO – Geneva: ITC thì: “Trọng tài vụviệc có nghĩa là trọng tài không được tiến hành theo quy tắc của một tổ chức Trọngtài thường trực Do các bên không bắt buộc phải tiến hành Trọng tài theo quy tắccủa một tổ chức Trọng tài thường trực nên họ có thể tự do quy định quy tắc tố tụngriêng Nói cách khác, Trọng tài vụ việc là trọng tài tự tiến hành (do it yourselfarbitration).”
Trọng tài vụ việc là loại hình trọng tài chỉ có tính chất lâm thời, không có trụ sở và
bộ máy cố định và không lệ thuộc vào bất cứ một quy tắc xét xử nào Về nguyêntắc, các bên đương sự khi yêu cầu trọng tài Ad-hoc xét xử có quyền lựa chọn thủtục, các phương thức tiến hành tố tụng Tính chất của trọng tài vụ việc là hoàn toànphụ thuộc vào ý chí của các bên đương sự, do vậy, trọng tài vụ việc có một số đặcđiểm sau:
Một là, các bên có quyền lựa chọn TTV không bị giới hạn vào một danh sách trọng
tài có sẵn như ở hình thức trọng tài quy chế TTV có thể là bất cứ ai mà các bên tínnhiệm Thông thường đó là các luật gia, luật sư, giáo sư các trường đại học, cácthương gia có uy tín, chuyên gia hàng đầu trong nhiều lĩnh vực như ngoại thương,đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, công nghệ thông tin, sở hữu công
Trang 19nghiệp Họ là những người vừa có kiến thức về pháp lý lại vừa có kinh nghiệmtrong hoạt động thương mại.
Hai là, các bên cũng có toàn quyền trong việc xác lập quy chế tố tụng như cách
thiết lập HĐTT và thủ tục giải quyết thích hợp với từng vụ tranh chấp Các bên sẽ
tự tổ chức HĐTT, tự thỏa thuận quá trình tố tụng Hoạt động trọng tài không lệthuộc vào bất cứ quy tắc xét xử nào miễn là bảo đảm được nguyên tắc xét xử kháchquan, vô tư và đúng pháp luật
Trọng tài vụ việc là hình thức tổ chức đơn giản, khá linh hoạt và mềm dẻo vềphương thức hoạt động nên nói chung phù hợp với những tranh chấp ít tình tiếtphức tạp, có nhu cầu giải quyết nhanh chóng và nhất là các bên tranh chấp có kiếnthức và hiểu biết pháp luật cũng như kinh nghiệm tranh tụng Nhưng, trên thực tế,đây là một quá trình tốn thời gian nhằm thảo ra những quy định đặc biệt dành riêngcho trọng tài vụ việc Thông thường hình thức này được áp dụng với TTTM quốc
tế, phù hợp với những trường hợp mà thiệt hại lớn, đặc biệt trong những vụ việc cóliên quan tới chủ thể là một quốc gia hay một tổ chức quốc gia có liên quan và cácvấn đề thuộc chính sách và quyền lực công có thể phát sinh Thông qua trọng tài vụviệc, có thể tạo ra thủ tục về tố tụng có lợi cho cả hai bên, mà vẫn đạt được nhữngyêu cầu đặt ra trong những vụ việc nhạy cảm có liên quan đến một bên chủ thể làquốc gia Trước khi Pháp lệnh TTTM 2003 ra đời, ở Việt Nam, trọng tài vụ việc chỉđược thừa nhận để giải quyết các tranh chấp quốc tế Điều này được quy định trongnhiều văn bản pháp lý khác nhau như: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luậthàng không dân dụng, Pháp lệnh chuyển giao công nghệ…Pháp lệnh TTTM 2003lần đầu tiên quy định tương đối cụ thể về Trọng tài vụ việc, cho phép Trọng tài vụviệc giải quyết tất cả các tranh chấp phát sinh kể cả tranh chấp quốc tế và trongnước miễn là các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn Pháp lệnh quy định về việcchọn TTV để thành lập HĐTT, thủ tục tố tụng, việc hủy quyết định trọng tài, việcthi hành quyết định của trọng tài vụ việc tương tự như trọng tài quy chế Hiện nay,Luật TTTM 2010 được ban hành trên cơ sở kế thừa những quy định của Pháp lệnhTTTM 2003 và bổ sung thêm một số quy định mới về trọng tài vụ việc như việc
Trang 20đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc Những quy định này là cơ sở vững chắc để Trọng tài vụ việc hoạt động song song với trọng tài quy chế và tòa án.
Trọng tài quy chế là những trọng tài có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có trụ sở cố định,
có danh sách TTV và hoạt động theo điều lệ riêng, được thành lập để giải quyết cáctranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại Phần lớn các tổ chứctrọng tài lớn, có uy tín riêng trên thế giới đều được thành lập theo mô hình này dướicác tên gọi như: Trung tâm trọng tài (như Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapo(SIAC), Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế của Australia, Trung tâm Trọngtài Quốc tế Hồng Kông…), các Hiệp hội trọng tài (Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ(AAA), Hiệp hội Trọng tài Thương mại Nhật Bản) hay các Viện trọng tài (ViệnTrọng tài Stockhom của Thụy Điển, Viện Trọng tài Singapo, Viện trọng tài LuânĐôn) Các tổ chức này tồn tại độc lập, không nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước
và hoạt động một cách thường xuyên, sẵn sàng giải quyết các tranh chấp khi cácđương sự yêu cầu Tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ tồn tại trong pháp luật trọngtài ở một số nước Châu Á như Trung Quốc và Thái Lan Ở Trung Quốc, các Ủy banTrọng tài Kinh tế là cơ quan nhà nước thuộc Cục Quản lý Hành chính Công thươngcác cấp Ở Thái Lan, Viện trọng tài trực thuộc Bộ Tư pháp, có quy tắc tố tụng riêngnhằm hỗ trợ, phát triển các hoạt động hòa giải và trọng tài
Ở Việt Nam, trọng tài thường trực hay trọng tài quy chế là hình thức được pháp luậtghi nhận trước Ngay từ năm 1963, trọng tài thường trực đã ra đời Đó là Hội đồng trọng tài ngoại thương được tổ chức theo Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 30/04/1963
và Hội đồng trọng tài hàng hải được tổ chức theo NĐ 153 ngày 05/10/1964 của Hộiđồng chính phủ Đến năm 1993, theo Quyết định số 204/QĐ-TTg ngày 28/04/1993 của thủ tướng chính phủ, cho phép thành lập Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài Ngoại thương và Hội đồng Trọng tài Hàng hải Đồng thời với việc ban hành nghị định
116/NĐ-CP ngày 05/09/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế cũng cho ra đời các trung tâm trọng tài là những tổ chức trọng tài thường trực Các Trungtâm trọng tài kinh tế đã mang dáng dấp của một tổ chức phi chính phủ, có Điều lệ
Trang 21và con dấu nhưng vẫn chưa có tư cách pháp nhân Điều lệ của các Trung tâm trọng tài kinh tế cần được sự chuẩn y của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, các TTV trong danh sách TTV phải do Hội đồng xét chọn TTV do Bộ Tư pháp thành lập, xét duyệt và được Bộ trưởng Bộ tư pháp công nhận và cấp thẻ TTV có thời hạn hai năm Đến Pháp lệnh TTTM 2003, TTTM được chính thức thừa nhận là tổ chức phi Chính phủ,
có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, danh sách TTV do tổ chức trọng tài tự lựa chọn Quy định này tiếp tục được ghi nhận trong Luật TTTM năm 2010
Như vậy, Luật TTTM năm 2010 cũng phân loại TTTM thành hai hình thức, đó làtrọng tài vụ việc và trọng tài quy chế Đây cũng là một điểm mới của Luật TTTMnăm 2010 khi không gọi trọng tài thường trực như trong Pháp lệnh TTTM năm
2003 mà thay bằng trọng tài quy chế Nhìn chung, sự thay đổi này chủ yếu là thayđổi về tên, còn về bản chất thì loại hình trọng tài này không khác biệt đáng kể
1.2 Tổng quan về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, TTTM, với tư cách là một cơ chế giải quyếttranh chấp ngoài toà án, đã và đang góp phần không nhỏ vào sự ổn định của hoạtđộng thương mại trên thế giới Chế định trọng tài du nhập vào hệ thống pháp luậtnước ta từ cuối thế kỷ XIX Trong một tranh chấp đất đai năm 1897, Tòa thượngthẩm Sài Gòn xét rằng “trọng tài được thừa nhận trong pháp luật An Nam” Trongthời gian này, các bộ luật dân sự rồi toà án thương mại lần lượt ra đời Như vậy, cuốithế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chế định trọng tài đã là một phần trong pháp luật tốtụng dân sự Tuy nhiên, bối cảnh xã hội đương thời không thuận lợi cho sự pháttriển của mô hình trên Do đó, về cơ bản, trọng tài không có tác động đáng kể đến
xã hội Việt Nam trong giai đoạn này
Những sự kiện lịch sử diễn ra vào giữa thế kỷ XX đã làm thay đổi vận mệnhquốc gia, trong đó có hệ thống pháp luật Cùng với chế độ hợp đồng kinh tế, các tổ
Trang 22chức trọng tài kinh tế được hình thành tuy mang nét khác biệt cơ bản so với TTTMhiện đại Bên cạnh đó, còn tồn tại trọng tài phi chính phủ, đó là Hội đồng trọng tàingoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải Việt Nam Tuy nhiên, hai tổ chức trênchỉ thực sự hoạt động từ năm 1989 khi quan hệ ngoại thương bắt đầu phát triển Sau
đó chúng được sáp nhập thành Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnhPhòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam theo Quyết định số 204/TTg ngày28/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ
Bước vào thời kỳ hội nhập, diện mạo pháp luật nước ta có sự thay đổi Lúcnày tồn tại song song hai hệ thống cùng có chức năng giải quyết tranh chấp kinh tế
là trung tâm trọng tài kinh tế và tòa án kinh tế Ngoài ra, tồn tại hai mô hình trọngtài phi Chính phủ khác nhau Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnhPhòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hoạt động theo Điều lệ và Quy tắc tốtụng riêng Trong khi đó, có 5 trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định116/CP ngày 05/09/1994 với hoạt động thực tiễn rất hạn chế Do đó, thành công củaNghị định 116/CP khá khiêm tốn do yếu tố quản lý nhà nước được đề cao mà chưachú ý đúng mức yếu tố thực tiễn Hơn nữa, các văn bản pháp luật trên đều có hiệulực pháp lý thấp Do vậy, yêu cầu phải sớm ban hành văn bản thống nhất, có hiệulực pháp lý cao nhằm ổn định mặt bằng pháp lý cho mô hình trọng tài trở nên bứcthiết Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng tác động tích cực đến việc xây dựnghành lang pháp lý, đặc biệt thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1988 vàcác văn bản luật sửa đổi, bổ sung sau đó Năm 1995, Việt Nam gia nhập Công ướcNew York, đánh dấu sự cải thiện đáng kể môi trường pháp lý nhằm tạo thuận lợitrong việc thu hút đầu tư nước ngoài Trong thời kỳ này, không có một luật về trọngtài thống nhất điều chỉnh hệ thống trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế Thêmvào đó, quyết định giải quyết tranh chấp của trọng tài không được bảo đảm thi hành
Vì thế, mô hình TTTM trong giai đoạn này chưa thực sự đạt được những thành tựuđáng kể trên hành trình tiếp cận những chuẩn mực của TTTM hiện đại
Nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật thời kỳ trước, sau sáu nămchuẩn bị, ngày 25/02/2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnhTTTM gồm 8 chương và 37 điều, thể hiện nỗ lực to lớn của Việt Nam hoà cùng xu
Trang 23thế hội nhập Pháp lệnh TTTM năm 2003 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng mangtính chuyển tiếp trong tiến trình phát triển của pháp luật Việt Nam về TTTM Về cơbản, Pháp lệnh đã khắc phục được những hạn chế trong các quy định về TTTM màchính những hạn chế đó là nguyên nhân chủ yếu làm giảm sút đáng kể sự hấp dẫncủa chế định trọng tài trong thực tiễn giải quyết tranh chấp nảy sinh trong quá trìnhkinh doanh, thương mại Trong bối cảnh Pháp lệnh TTTM 2003 được ban hành vàothời điểm Luật Thương mại 1997 vẫn đang còn hiệu lực nhưng các nhà lập pháp đãmạnh dãn đưa ra khái niệm thương mại theo hướng mở, tương thích với Luật mẫu
về TTTM UNICITRAL mà không bị bó buộc trong 14 hành vi quy định trong Luậtthương mại năm 1997 Đây được coi là một bước đột phá trong công tác lập phápthời điểm này Bên cạnh đó, về mô hình và cơ cấu tổ chức, Pháp lệnh TTTM 2003thừa nhận hai hình thức trọng tài gồm Trung tâm trọng tài (Trọng tài thường trựchoặc tổ chức trọng tài) và trọng tài vụ việc (Trọng tài Ad hoc) Hình thức trọng tài
vụ việc lần đầu tiên được thừa nhận, tạo điều kiện cho các bên tự do lựa chọn hìnhthức trọng tài Trong một tranh chấp về việc giao nhận thầu xây dựng diễn ra vàocuối năm 2009, các bên đã tiến hành giải quyết tranh chấp thông qua một HĐTT vụviệc Đây được xem là vụ kiện bằng phương thức trọng tài vụ việc đầu tiên tại ViệtNam Hơn nữa, Pháp lệnh TTTM 2003 xác định phạm vi cụ thể hơn thẩm quyềncủa trọng tài bằng cách liệt kê các loại việc trọng tài được giải quyết (Điều 2) Pháplệnh đưa ra cơ chế xác định hiệu lực pháp lý của thoả thuận trọng tài, làm cơ sởphân định thẩm quyền giữa trọng tài và tòa án Có thể nói, Pháp lệnh TTTM năm
2003 đã khắc phục được hầu hết những bất cập trong các quy định trước đây đặcbiệt là quy định về sự hỗ trợ, giám sát của tòa án, cơ quan thi hành án trong quátrình giải quyết tranh chấp và thi hành quyết định trọng tài, khắc phục tình trạngphán quyết trọng tài được tuyên nhưng không có bất kỳ cơ chế thi hành nào khiếndoanh nghiệp mất lòng tin khi lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp
Mặc dù Pháp lệnh TTTM 2003 đã thể hiện sự thành công đáng kể trong việcđiều chỉnh các vấn đề chủ yếu của trọng tài Tuy nhiên, qua sáu năm thực hiện, Pháplệnh TTTM 2003 cũng bộc lộ không ít bất cập và cần được khắc phục kịp thời như:thỏa thuận trọng tài vô hiệu, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, việc triệutập nhân chứng, vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của HĐTT,
Trang 24việc hủy quyết định trọng tài mà đặc biệt là cơ chế hỗ trợ của tòa án, cơ quan thihành án đối với quyết định trọng tài Do đó, thực hiện chiến lược cải cách tư phápnhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật TTTM 2010được hội thông qua ngày 17/06/2010 và chính thức có hiệu lực ngày 01/01/2011 vớimục tiêu ghi nhận chủ trương mở rộng các hình thức giải quyết tranh chấp tronghoạt động thương mại và một số quan hệ dân sự khác, đáp ứng nhu cầu và khuyếnkhích các bên tranh chấp sử dụng hình thức trọng tài, góp phần giảm tải hoạt độngxét xử của hệ thống toà án hiện nay.
Luật TTTM năm 2010 đã khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vithẩm quyền của trọng tài đối với các tranh chấp thương mại, trên cơ sở đó bảo đảm
sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành thông qua việc mở rộng phạm
vi thẩm quyền của trọng tài tới nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi íchcủa các bên (Điều 2) Đồng thời, Luật đã giới hạn lại các tình huống làm thoả thuậntrọng tài vô hiệu (Điều 18) và quy định hướng giải quyết khi thỏa thuận trọng tàikhông rõ ràng nhằm nâng cao khả năng tính khả thi trong thực tế Luật TTTM 2010
đã kế thừa Pháp lệnh TTTM 2003 trong quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối vớiTTV nhằm hình thành đội ngũ TTV có năng lực, chuyên nghiệp và uy tín xã hội.Tuy nhiên, Luật TTTM 2010 không yêu cầu TTV phải có quốc tịch Việt Nam nhưPháp lệnh TTTM 2003, quy định mới của Luật đã đáp ứng nhu cầu thực tế tronggiai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh đó, Luật TTTMnăm 2010 đã phân biệt rõ khái niệm “quyết định trọng tài” và “phán quyết trọng tài”(Khoản 9 và 10, Điều 3) Trong quá trình giải quyết tranh chấp, HĐTT có quyền ranhiều loại quyết định khác nhau, trong đó, phán quyết trọng tài là loại quyết địnhđặc biệt, giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài Việcphân biệt trên phù hợp với thực tiễn cũng như pháp luật và thông lệ quốc tế Luậtcũng đã xác định rõ nét mối quan hệ giữa trọng tài với toà án trong toàn bộ quátrình giải quyết tranh chấp bằng việc cụ thể hoá thẩm quyền của toà án đối với hoạtđộng trọng tài Thêm vào đó, Luật cũng nâng cao vị thế của trọng tài thông qua việc
mở rộng thẩm quyền của HĐTT như cho phép TTTM được thu thập chứng cứ, triệutập nhân chứng, áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trang 25(Điều 47, 48, 49, 50 và 51) Quy định của Luật đã tiếp thu Luật mẫu UNCITRAL được sửa đổi năm 2006 nhằm nâng cao tính hiệu quả của hoạt động tố tụng trọng tài
1.2.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài
TTTM được thành lập là để giải quyết các tranh chấp thương mại Nhưngnhững tranh chấp thương mại cũng chỉ có thể thuộc thẩm quyền giải quyết củaTTTM nếu các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận này có hiệu lực.Khi các bên đã thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài, họ traocho HĐTT thẩm quyền giải quyết tranh chấp và phủ định thẩm quyền xét xử đó củatòa án trừ khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc các bên hủy thỏa thuận trọng tài.Theo Luật TTTM năm 2010, để TTTM có thẩm quyền giải quyết thì cần các điềukiện sau:
a Điều kiện về loại tranh chấp:
Thứ nhất, tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại Loại
tranh chấp này đòi hỏi các bên trong tranh chấp đều phải là các chủ thể tiến hànhhoạt động thương mại, mà theo quy định tại khoản 1, Điều 3 Luật thương mại năm
2005 thì “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồmmua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt độngnhằm mục đích sinh lợi khác” Chủ thể tiến hành hoạt động thương mại trước hết làthương nhân, bao gồm thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài Bêncạnh hoạt động của thương nhân, hoạt động của các cá nhân dưới hình thức tự mìnhhằng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật chophép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinhlợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định vềpháp luật đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” cũng được xem làhoạt động thương mại
Thứ hai, tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt
động thương mại Quy định này mở rộng phạm vị thẩm quyền của trọng tài Trướcđây, theo quy định của Pháp lệnh TTTM năm 2003, TTTM chỉ có thẩm quyền giảiquyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại giữa các tổ chức, cá nhân
Trang 26kinh doanh, nên trong thực tế các tranh chấp giữa một bên là thương nhân và bênkia không phải thương nhân đã không được trọng tài giải quyết theo quy định củaPháp lệnh TTTM 2003 Theo quy đinh của Luật TTTM 2010, TTTM có thẩmquyền giải quyết các vụ tranh chấp mà trong đó chỉ cần một bên tranh chấp làthương nhân (thực hiện hoạt động thương mại), còn các bên còn lại có thể khôngphải thương nhân, cũng không phải thực hiện hoạt động thương mại.
Thứ ba, các tranh chấp khác giữa các bên pháp luật quy định được giải quyết
bằng trọng tài Đây là quy định mở nhằm đảm bảo các luật ban hành sau này có thểquy định các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thuộc phạm vi điềuchỉnh của luật đó có thể được giải quyết bằng trọng tài mà không cần sửa đổi LuậtTTTM năm 2010 Ngoài ra, theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014, cáctranh chấp nội bộ doanh nghiệp cũng có thể giải quyết bằng trọng tài Trước LuậtTTTM 2010, trên thực tế các tranh chấp nội bộ doanh nghiệp không được trọng tàithụ lý giải quyết
b Điều kiện về thỏa thuận Trọng tài
Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật TTTM 2010 quy định: “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp” Do đó có thể thấy,
một trong những điều kiện để một vụ tranh chấp được giải quyết bằng hình thứcTTTM chính là sự thỏa thuận của các bên, TTTM chỉ có thể giải quyết các tranhchấp thương mại nếu các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận nàykhông thuộc vào các trường hợp vô hiệu theo quy định tại Điều 18 Luật TTTM
Trang 27- Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật TTTM 2010.
- Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu
- Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật
Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, HĐTT phải xem xét hiệu lực củathỏa thuận trọng tài; thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không và xemxét thẩm quyền của mình Trong trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa mình thì HĐTT tiến hành giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.Trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thỏa thuận trọng tài vôhiệu hoặc xác định rõ thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì HĐTTquyết định đình chỉ việc giải quyết và thông báo ngay cho các bên biết Khác vớithẩm quyền của tòa án, thẩm quyền của trọng tài chỉ là thẩm quyền theo vụ việc,nếu được các bên tranh chấp lựa chọn đích danh Các nguyên tắc phân định thẩmquyền theo lãnh thổ, theo trụ sở hoặc chỗ ở của bị đơn và theo sự thỏa thuận củanguyên đơn không được áp dụng trong tố tụng trọng tài Mặt khác, theo quy định tại
điều 6 Luật TTTM 2010: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” Do vậy, khi có người khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết vụ tranh chấp phát
sinh trong hoạt động thương mại thì tòa án yêu cầu người khởi kiện cho biết trướchoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài hay không Lúc này,
dù không trực tiếp giải quyết, nhưng tòa án có vai trò hỗ trợ và giám sát hoạt độnggiải quyết tranh chấp bằng TTTM khi một trong các bên HĐTT có yêu cầu
1.2.3 Tố tụng trọng tài thương mại
Tố tụng TTTM được hiểu là trình tự, thủ tục xem xét, giải quyết vụ việc tranhchấp thương mại bằng hình thức TTTM nhằm giải quyết các vụ tranh chấp đượcnhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật Tố tụng trọng tài là chế địnhhình thức, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và cácquy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp của mỗi thiết chế trọng tài (không
Trang 28trái quy định pháp luật), điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyếttranh chấp và giữa các bên tham gia giải quyết tranh chấp với nhau Việc giải quyếttranh chấp bằng trọng tài là một phương thức mềm dẻo và linh hoạt nhờ các quyđịnh về tố tụng Chính ở phương thức giải quyết này, ý chí của các bên được tôntrọng, cho nên đại bộ phận các quy phạm về tố tụng trọng tài đều là những quyphạm tùy nghi và tính tùy nghi này là ở chỗ: cho phép có thỏa thuận khác và nếukhông có thỏa thuận khác thì phải theo quy định của pháp luật Tố tụng trọng tài có
sự khác biệt và có ưu thế hơn so với tố tụng tài tòa án Thông thường, đối với cáchợp đồng quốc tế, các bên rất khó thỏa thuận để lựa chọn một tòa án quốc gia Hơnnữa lựa chọn một tòa án quốc gia ở nước thứ ba thì hầu như không thích hợp Tốtụng tòa án thường kéo dài bởi các tòa án quốc gia bị quá tải công việc và tòa ánquốc gia có các cấp thẩm quyền khác nhau Điều này khiến cho các bên chưa thỏamãn có cơ hội yêu cầu xem xét lại nội dung vụ kiện Hơn nữa, tòa án quốc giakhông phải bao giờ cũng chuyên về vấn đề thương mại và thẩm phán chưa hẳn đã
có đủ kiến thức để giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Ở một số nước, tòa ánquốc gia có thể được cho là không được đảm bảo về tính độc lập và khách quan,những yêu cầu cơ bản đối với cơ quan tư pháp tốt Nhìn chung, đặc trưng của tốtụng tòa án là các quy tắc thủ tục nghiêm ngặt, thường khá cứng nhắc Trong khi đó,đặc trưng của tố tụng trọng tài là quy tắc “tính độc lập của các bên” Các bên tùy ý
tổ chức tố tụng bằng cách dẫn chiếu quy tắc tố tụng trọng tài sẵn có hoặc soạn thảoquy tắc riêng Các bên có thể tự chọn TTV, ấn định thời hạn hoặc nhờ bên thứ ba ấnđịnh thời hạn Về nguyên tắc, quyết định trọng tài có giá trị chung thẩm Cơ hội đểhủy phán quyết trọng tài rất ít, chủ yếu do các sai sót thủ tục cơ bản Giống như cácthẩm phán, các TTV cũng phải có tính độc lập Nhưng các TTV có được chọn chomột vụ việc cụ thể hay không còn quỳ thuộc vào nghề nghiệp và trình độ chuyênmôn cũng như việc họ có thời gian để làm nhiệm vụ TTV hay không Hơn nữa,trọng tài có tính bí mật, còn tố tụng tòa án thì các phiên xét xử được giải quyết côngkhai Một điểm khác biệt nữa là các bên không phải trả thù lao cho thẩm phán,nhưng họ phải chịu mọi khoản thù lao và chi phí của các TTV cũng như các khoảnphí của tổ chức trọng tài quy chế giám sát vụ việc Các TTV không có quyền ra lệnhcưỡng chế bồi thường hoặc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc triệu tập
Trang 29nhân chứng hoặc bên thứ ba khi họ không muốn tham gia vào tố tụng Có thể thấyrằng, một sự lựa chọn chủ yếu thay thế cho trọng tài là đưa vụ tranh chấp ra trướctòa án quốc gia Tuy nhiên, các bên trong một vụ tranh chấp thương mại lại chọnđưa ra trọng tài thay vì đưa ra tòa án và TTTM được thành lập khắp nơi trên thế giớinhư là một phương thức thông thường giải quyết các tranh chấp thương mại Bởitrọng tài tạo cho các bên cơ hội lựa chọn một diễn đàn “trung lập” và một HĐTT
“trung lập” Đồng thời, đối với trọng tài, nếu đi đến cùng sẽ dẫn đến một quyết định
có hiệu lực thi hành đối với bên thua kiện không chỉ ở nơi phán quyết trọng tài đượctuyên mà cả ở trên bình diện quốc tế, theo các quy định của các điều ước quốc tế
1.2.4 Ưu điểm và nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài kết hợp được các ưu điểm củaphương thức thương lượng, hòa giải và tòa án nên rất phù hợp, hiệu quả và đượcnhiều thương nhân lựa chọn sử dụng Nhà nước rất khuyến khích giải quyết tranhchấp bằng trọng tài theo quy định của pháp luật, không những tạo điều kiện pháttriển, hoàn thiện hoạt động TTTM phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước mà còn đáp ứng yêu cầu mở rộng kinh doanh quốc tế trong giai đoạnhội nhập Từ những điểm khác nhau giữa chế định trọng tài và tòa án, có thể đưa ranhững ưu điểm cũng như nhược điểm của chế định trọng tài, từ đó cũng có thể thấy
rõ được vai trò cần thiết của tòa án trong việc hỗ trợ TTTM giải quyết tranh chấpthương mại
Trang 30giản, thực hiện nhanh chóng, các bên có thể chủ động về thời gian, địa điểm giảiquyết tranh chấp, không trải qua nhiều cấp xét xử như ở tòa án, do đó hạn chế đượcthời gian, chi phí của các bên tranh chấp Bên cạnh đó, các bên được chọn TTVhoặc đề nghị chỉ định TTV thành lập HĐTT giải quyết vụ việc nên các bên chủđộng lựa chọn được TTV giỏi, am hiểu sâu sắc vấn đề đang tranh chấp để từ đó họ
có thể giải quyết tranh chấp nhanh chóng, chính xác Các bên có thể tác động đếnquá trình trọng tài thông qua việc lựa chọn trọng tài, cung cấp chứng cứ có lợi chomình, chọn địa điểm giải quyết tranh chấp, nguyên tắc xét xử không công khai giúpcác bên giữ được bí mật kinh doanh và hạn chế ảnh hưởng uy tín trên thươngtrường Đây được coi là ưu điểm được các bên tranh chấp ưa chuộng nhất
TTTM là tổ chức xã hội – nghề nghiệp, không đại diện cho quyền lực Nhànước mà nhân danh ý chí của các bên nên rất phù hợp để giải quyết tranh chấp cóyếu tố nước ngoài
Bên cạnh những ưu điểm so với tòa án, TTTM có những ưu điểm vượt trội màthương lượng, hòa giải không có:
Việc tham gia thương lượng, hòa giải không chỉ đòi hỏi các bên có thiện chí,trung thực mà còn phải có kiến thức cần thiết về chuyên môn và pháp lý Điều nàykhông dễ dàng có được đối với mỗi bên tranh chấp, trong khi đó trọng tài thường lànhững người có chuyên môn, am hiểu pháp luật có thể giúp các bên tranh chấp khắcphục những khiếm khuyết về pháp lý của mình đồng thời trọng tài thường có kinhnghiệm giải quyết tranh chấp hơn bên thứ ba trong hòa giải
Tuy là tổ chức phi Chính phủ nhưng trọng tài lại được sự đảm bảo, hỗ trợ vềmặt pháp lý của tòa án Trong khi đó, hoạt động thương lượng, hòa giải ở nước tahiện nay hoàn toàn mang tính tự phát, theo truyền thống, chưa có văn bản nào điềuchỉnh quá trình thương lượng, hòa giải Do đó, giá trị của kết quả thương lượng, hòagiải không được xác định rõ ràng, thường bị các bên lợi dụng để kéo dài thời gianthực hiện nghĩa vụ
b Nhược điểm