TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THANH LONG ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THỂ LOẠI DIỄN NGÔN BÌNH LUẬN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN BÁO MỸ CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI BẢN DỊCH TRÊN BÁO VIỆT Ngành:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THANH LONG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THỂ LOẠI DIỄN NGÔN BÌNH LUẬN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN BÁO MỸ (CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI BẢN DỊCH TRÊN BÁO VIỆT)
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 9222024
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2022
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
Vào lúc 8 giờ 30 ngày 30 tháng 06 năm 2022
Người phản biện: 1 PGS.TS DƯ NGỌC NGÂN
2 PGS.TS PHẠM HỮU ĐỨC
3 TS ĐINH LƯ GIANG
Bạn đọc có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG TPHCM
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2022
Trang 3DẪN NHẬP
0.1 Lí do chọn đề tài
Trong các thể loại báo chí, thể loại bình luận là thể loại có tính sáng tạo, thông tin trí tuệ cao Đối tượng của bình luận là các sự kiện, vấn đề thời sự có tính phức tạp, thu hút nhiều ý kiến đa chiều Diễn ngôn bình luận có nhiệm vụ đánh giá, nhận định các sự kiện, vấn đề cụ thể của đời sống, mang đến cái nhìn toàn diện, sâu sắc Chính vì đặc trưng này của thể loại bình luận báo chí, mà việc đọc hiểu, phân tích kỹ lưỡng về các diễn ngôn bình luận là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực đối với mọi độc giả
Nó giúp cho việc tương tác, tiếp nhận thông tin trở nên phong phú, đa chiều và trí tuệ hơn; từ đó mang đến những hiểu biết toàn diện, hệ thống về những sự kiện, vấn đề trong
xã hội và hình thành những thái độ, hành vi đúng mực, hợp lý trong các hoàn cảnh mà thực tiễn đặt ra
Dịch thuật giúp giải mã những nền văn hóa, văn minh đã bị chôn vùi, giúp nối liền quá khứ với hiện tại, và mở rộng những khám phá mới trong tương lai Bassnett & Schäffner (2010) cho rằng: “Nghiên cứu dịch thuật ngày nay đặt trọng tâm vào thực tiễn
xã hội, thực tiễn văn hóa và giao tiếp, vào tầm quan trọng của văn hóa và ý thức hệ của quá trình dịch thuật và bản dịch, vào yếu tố chính trị bên ngoài của bản dịch và vào mối quan hệ giữa hành vi dịch thuật và các yếu tố xã hội” (tr.12) Thật vậy, dịch thuật không chỉ là một quá trình ngôn ngữ trung gian mà là một hoạt động xã hội phức tạp không thể tách rời khỏi ngữ cảnh nơi quá trình dịch thuật xảy ra và liên quan đến các tác nhân xã hội
Như thế, ngoài việc thể loại bình luận báo chí là thể loại diễn ngôn có những đặc thù riêng cần phải tập trung nghiên cứu, thì việc chuyển dịch các diễn ngôn bình luận từ tiếng Anh sang tiếng Việt trên báo chí là một quá trình cần được nghiên cứu kỹ không chỉ vì các diễn ngôn này sẽ được xuất bản trên một tờ báo khác mà còn vì chúng được trình bày cho một kiểu độc giả có ngôn ngữ, văn hóa và các yếu tố xã hội khác biệt so với diễn ngôn nguồn
Theo những thông tin mà chúng tôi thu thập được, cho đến thời điểm hiện tại, chưa
có công trình nào đi sâu vào phân tích đặc điểm ngôn ngữ của thể loại diễn ngôn này và
các bản dịch trên báo tiếng Việt Do vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm
ngôn ngữ thể loại diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội trên báo Mỹ (có đối chiếu với bản dịch trên báo Việt)”, với mong muốn góp phần vào việc tìm hiểu đặc điểm thể
loại diễn ngôn bình luận kinh tế-xã hội trên báo Mỹ và các bản dịch trên báo tiếng Việt
0.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
0.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
0.2.1.1 Về diễn ngôn báo chí
Diễn ngôn truyền thông nói chung và báo chí nói riêng ngày càng được xem là một lĩnh vực thú vị và là đối tượng thu hút sự quan tâm nghiên cứu từ nhiều mục đích khác nhau Các nhà nghiên cứu đã có những cách tiếp cận khác nhau để tìm hiểu các đặc điểm của ngôn ngữ báo chí Khi đề cập đến các công trình nghiên cứu về diễn ngôn báo chí
có tính chuyên sâu, không thể không nhắc đến công trình “News as discourse” (van Dijk 1988),“The language of News Media” (Bell, 1991), “Language in the News: Discourse and Ideology in the Press” (Fowler, R., 1991), “Media Discourse”(Fairclough, 1995),
“The language of Newspapers” (Reah, 1998), “Telling media tales: the news story as rhetoric” (White, 1998), “English Media Texts - Past and Present” (Ungerer, 2000), “An
Trang 4Introduction to Journalism: Essential Techniques and Background Knowledge” (Rudin
và Ibbotson, 2002)v.v Những công trình này đem lại nhiều đóng góp to lớn cho việc
nghiên cứu diễn ngôn báo chí
0.2.1.2 Về thể loại
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu thể loại như: “Language as Social Semiotic: The Social Interpretation of Language and Meaning” (Halliday, 1978), công trình này được xem như là một nền tảng cho cách tiếp cận thể loại theo Ngôn ngữ học chức năng hệ thống; “The Problem of Speech Genres” (Bakhtin, 1986); “Shaping Written Knowledge: The Genre and Activity of the Experimental Article in Science (Bazerman, 1988); “The Ideology of Genre: A Comparative Study of Generic Instability (Beebee, 1994); “Genre in a Changing World (Bazerman và các cộng sự, 2009);
“Analysing Genre: Language Use in Professional Settings (Bhatia, 1993); “Genre and the New Rhetoric (Freedman và các cộng sự, 1994); “Genre as Social Action” (Miller, 1994); “Genre Analysis: English in Academic and Research Settings (Swales, 1990);
“The Origin of Genre” (Todorov, 2000), v.v Những công trình này có nhiều đóng góp cho sự phát triển của những nghiên cứu về thể loại và những ứng dụng của thể loại trong thực tiễn
0.2.1.3 Về phân tích diễn ngôn báo chí theo thể loại
Khi nhắc đến các công trình nghiên cứu về một thể loại báo chí cụ thể, công trình đầu tiên phải kể đến là “News as Discourse” của van Dijk (1988), một công trình nghiên cứu cấu trúc của diễn ngôn tin theo hướng tiếp cận tri nhận Công trình tập trung vào cấu trúc diễn ngôn tin và quá trình xử lý tri nhận trong sản xuất và lĩnh hội tin Kế đến
là Bell với công trình “The Language of Media” (1991) Tác giả cố gắng tích hợp các vấn đề về cấu trúc văn bản, sản xuất tin và khán giả Ông so sánh diễn ngôn tin nhanh (hard news) với tường thuật cá nhân và tìm thấy sự khác biệt về cấu trúc và ngôn ngữ.Theo tác giả, một diễn ngôn tin thường bao gồm một cấu trúc ba thành phần (three-components structure) gồm tiêu đề, dẫn đề và nội dung được thể hiện và đọc theo thứ tự
đó, nhưng được tạo lập theo thứ tự dẫn đề - nội dung - tiêu đề (lead-body-headline)
Kế thừa và phát triển các quan điểm của van Dijk, White (1998) đã đưa ra mô hình diễn ngôn tin theo quỹ đạo (orbital structure) bao gồm hạt nhân (tiêu đề và dẫn đề) và các vệ tinh độc lập trong phần nội dung, liên kết với tiêu đề/dẫn đề theo các mục đích khác nhau: tạo dựng, ngữ cảnh hóa, giải thích và đánh giá Các công trình nghiên cứu diễn ngôn tin còn phải kể đến “Media Discoure” (Fairclough, 1995), “Mediated Discourse as Social Interaction: A study of News Discourse (Scollon, 1998) Những công trình này đều có những đóng góp to lớn cho việc nghiên cứu một thể loại diễn ngôn báo chí cụ thể
W Wang với công trình “Newspaper commentaries on terrorism in China and Australia: a constrastive genre study” (2006), đã nghiên cứu diễn ngôn bình luận báo chí có cùng một chủ đề theo hướng đối chiếu thể loại Richardson với công trình
“Analysing newspapers: An approach from critical discourse analysis” (2007) đã giới thiệu một hướng tiếp cận hiện đại về ngôn ngữ báo chí và việc áp dụng phương pháp phân tích diễn ngôn để phân tích một thể loại báo chí cụ thể
Trang 50.2.2 Các nghiên cứu trong nước
0.2.2.1 Về diễn ngôn báo chí
Ở trong nước có khá nhiều nghiên cứu về diễn ngôn báo chí và ngôn ngữ báo chí
Có thể kể tên một số công trình nổi bật như: “Báo chí, những vấn đề lý luận và thực tiễn” (Hà Minh Đức, 1997), “Cơ sở lý luận báo chí – đặc tính chung và phong cách” (Hà Minh Đức, 2000), “Từ lí luận đến thực tiễn báo chí” (Tạ Ngọc Tấn, 1999), “Về diện mạo báo chí Việt Nam” (Phan Quang, 2001), “Nghề văn nghiệp báo” (Phan Quang, 2005), “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” (Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường và Trần Quang, 2004), “Phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ báo chí” (Dương Văn Quảng, 1998), “Ngôn ngữ báo chí – Những vấn đề cơ bản” (Nguyễn Đức Dân, 2007), “Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí” (Hoàng Anh, 2003), và “Ngôn ngữ báo chí” (Vũ Quang Hào, 2001)
0.2.2.2 Về thể loại báo chí
“Các thể loại báo chí – thông tấn” (Đinh Văn Hường, 2011) đã hướng dẫn cách phân tích và chứng minh qua các thí dụ thuộc ba thể loại tin, phỏng vấn và tường thuật Công trình “Thể loại báo chí” của nhiều tác giả đã cung cấp cho sinh viên ngành báo chí một số lý luận và kĩ thuật cơ bản để viết một số thể loại báo chí thông dụng Hai công trình “Các thể loại báo chí chính luận” (Trần Quang, 2005) và “Kỹ thuật viết tin” (Trần Quang, 2005) đã giới thiệu những cơ sở lý luận và hướng dẫn kĩ thuật viết tin, phỏng vấn, tường thuật và các thể loại báo chí chính luận khác “Các thể loại báo chí chính luận nghệ thuật” (Dương Xuân Sơn, 2004) đã trình bày những tri thức, kinh nghiệm thực tiễn báo chí Việt Nam và thế giới qua các thể loại: phóng sự, ký chân dung, ký chính luận, ghi nhanh và câu chuyện báo chí Trong “Tiêu đề văn bản tiếng Việt” (Trịnh Sâm, 2001) đã khái quát tính chất tiêu biểu của tiêu đề văn bản tiếng Việt và công trình “Đặc điểm ngôn ngữ báo chí nhìn từ hoạt động báo chí ở TP.HCM” (Trịnh Sâm, 2008) đã nêu những đặc điểm khái quát cũng như các mô hình tổ chức thông tin trên báo chí ở Thành phố Hồ Chí Minh
0.2.2.3 Về phân tích diễn ngôn báo chí theo thể loại
“Phân tích diễn ngôn về chính trị - xã hội trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại” (Nguyễn Hòa, 1999) và công trình “Phân tích diễn ngôn: một số vấn đề
lí luận và phương pháp” (Nguyễn Hòa, 2008) đã có những đóng góp quan trọng trong việc tìm kiếm, cung cấp lý luận và phương pháp thích hợp cho việc phân tích diễn ngôn với luận án tiến sĩ Công trình “So sánh ngôn ngữ báo chí tiếng Việt và tiếng Anh qua một số thể loại” (Nguyễn Hồng Sao, 2010) thông qua lý thuyết thẩm định nghiên cứu
về cấu trúc thể loại và ngôn ngữ lượng giá trong hai thể loại diễn ngôn tin quốc tế và phóng sự Luận án “Ngôn ngữ báo chí Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh” (Trần Thanh Nguyện, 2011) đã tổng kết tình hình nghiên cứu ngôn ngữ báo chí ở Việt Luận án “Đối chiếu ngôn ngữ phóng sự trong báo in tiếng Anh và tiếng Việt” (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2003) đề cập đến ba siêu chức năng của ngôn ngữ học chức năng hệ thống Công trình “Ngôn ngữ bình luận trong báo in tiếng Việt hiện nay” (Huỳnh Thị Chuyên, 2014) nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ bình luận trong báo in tiếng Việt theo ngữ pháp chức năng của Halliday Luận án “Tính tương tác của diễn ngôn báo chí qua một số báo điện
tử phổ biến hiện nay” (Vũ Thị Hồng Tiệp, 2017) đã khảo sát 7 chủ đề và phân loại thành
ba kiểu tương tác: tạo lập chủ đề, duy trì chủ đề, duy trì và phát triển chủ đề
0.3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 60.3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thể loại Cụ thể, là chỉ ra những đặc điểm về cấu trúc và ngôn ngữ của thể loại DNBLKTXH trên báo Mỹ, qua đó tìm hiểu sâu hơn quan điểm bình luận về thông tin sự kiện và so sánh với với bản dịch trên báo Việt Mặt khác, luận án cố gắng xây dựng hệ thủ pháp lựa chọn thông tin và ngữ cảnh hóa khi chuyển dịch các DNBLKTXH trên báo Mỹ sang tiếng Việt
0.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nêu trên của luận án được thực hiện qua các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý thuyết về PTDN theo đặc trưng thể loại và lý thuyết
0.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
0.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu cấu trúc diễn ngôn và đặc điểm ngôn ngữ bình luận, lập luận trong DNBLKTXH trên báo Mỹ cũng như các đặc điểm liên quan đến chiến lược lựa chọn thông tin và ngữ cảnh hóa trong các DNBLKTXH trên các báo tiếng Việt được dịch từ báo Mỹ
0.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung vào:
- Đặc điểm của DNBLKTXH trên các báo Mỹ
- Chiến lược lựa chọn thông tin và ngữ cảnh hóa trong các DNBLKTXH trên báo tiếng Việt được dịch từ báo Mỹ
0.5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận án này, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích diễn ngôn, phương pháp so sánh - đối chiếu Chúng tôi còn sử dụng một số thủ pháp bổ trợ như thống kê và phân tích dữ liệu
để phục vụ cho việc làm rõ những luận điểm trong luận án
0.6 Đóng góp của luận án
0.6.1 Về phương diện lí luận
Luận án góp phần cung cấp một số vấn đề lý thuyết phân tích diễn ngôn theo đặc trưng thể loại trên cơ sở tham chiếu các thành tố ngữ vực, góp phần mở rộng các đường hướng nghiên cứu diễn ngôn báo chí, cách riêng là thể loại bình luận Bên cạnh đó, chúng tôi cố gắng làm rõ cấu trúc DNBLKTXH điển hình, các đặc điểm ngôn ngữ về bình luận và lập luận trong DNBLKTXH trên các báo của Mỹ
Chúng tôi hy vọng làm rõ một số vấn đề còn ít được quan tâm trong dịch thuật báo chí Anh - Việt là chiến lược lựa chọn thông tin và dịch ngữ cảnh hóa
0.6.2 Về phương diện thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ báo chí tiếng Việt, bao gồm việc hiểu thông tin, cảm nhận cái hay, cái chưa đạt của diễn ngôn và nâng cao kĩ năng cho người viết báo Nghiên cứu về DNBLKTXH tiếng Anh
Trang 7trên báo Mỹ theo đặc trưng loại thể còn có thể mang lại một số thông tin tham khảo hữu ích trong giảng dạy ngôn ngữ báo chí nói chung và ngôn ngữ bình luận nói riêng Ngoài ra, việc nghiên cứu luận án cũng sẽ giúp ích cho việc giảng dạy chuyên ngành dịch, việc chuyển ngữ các diễn ngôn bình luận báo chí trong lĩnh vực kinh tế từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại
1.1.1 Thể loại và thể loại báo chí
1.1.1.1 Khái niệm thể loại
Thể loại đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trong lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng Hai tác giả Bawashi &Reiff (2010) cho rằng “thể loại được hiểu như là các hình thức của kiến thức văn hóa mà về mặt khái niệm hình thành nên bộ khung và làm trung gian cho cách chúng ta hiểu và hành động điển hình trong các tình huống khác nhau Quan điểm này xem thể loại vừa như là nhân tố tổ chức và vừa như là nhân tố tạo
ra các loại văn bản và các hành động xã hội, trong mối quan hệ năng động và phức tạp với nhau” (tr.24)
1.1.1.2 Phân tích thể loại
Phân tích thể loại (genre analysis) được Bhatia gọi là miêu tả ngôn ngữ theo hướng giải thích Bhatia cho rằng để có một sự mô tả sâu ngôn ngữ hành chức thì cần kết hợp được các khía cạnh văn hoá – xã hội (gồm cả dân tộc học) lẫn tâm lí học (gồm cả nhận thức) vào quá trình tạo lập văn bản (text–construction) và thuyết giải quá trình đó bằng những am hiểu chuyên sâu về ngôn ngữ nhằm giải đáp khúc mắc: Vì sao các thể loại diễn ngôn cụ thể lại được viết và sử dụng bởi các cộng đồng chuyên nghiệp theo cách riêng biệt như hiện có Swales (1990) đã tiến hành phân tích thể loại diễn ngôn trên các văn bản khoa học – kĩ thuật Kết quả nghiên cứu chứng tỏ rằng có rất nhiều các mối quan hệ tương tác giữa hình thức và chức năng của các văn bản loại này, giúp ích rất nhiều cho giáo viên dạy tiếng, người dịch và các cán bộ khoa học – kĩ thuật
Trang 81.1.2 Diễn ngôn báo chí và phân tích diễn ngôn báo chí theo thể loại
1.1.2.1 Diễn ngôn và diễn ngôn báo chí
a Diễn ngôn
Theo Cook (1989) thì “diễn ngôn: những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là có nghĩa, thống nhất và có mục đích”, còn “văn bản: một chuỗi ngôn ngữ giải thuyết được
ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh”, từ đó ông cho rằng các thuật ngữ “văn bản” và
“diễn ngôn” có thể thay thế cho nhau được Văn bản chỉ các ghi chép hoặc ghi âm một sản phẩm giao tiếp, diễn ngôn chỉ một sản phẩm giao tiếp trong ngữ cảnh
Mục tiêu của đề tài là phân tích thể loại diễn ngôn bình luận nên quan điểm được lựa chọn ở đây là thuật ngữ diễn ngôn bao gồm văn bản và ngữ cảnh Như vậy văn bản
và ngữ cảnh là hai nhân tố của diễn ngôn Đề tài cũng áp dụng quan điểm ngữ cảnh của van Dijk trong đó ngữ cảnh bao gồm cả những người tham gia vào giao tiếp, và vai trò, mục tiêu của họ cũng như những kiến thức mà họ cùng chia sẻ (van Dijk, 1998, tr.211)
b Diễn ngôn báo chí
Diễn ngôn báo chí không phải là bản sao chụp thế giới bên ngoài, mà thực tế nó là hình ảnh của thế giới đó thông qua lăng kính của người viết Phương tiện để tạo thành
diễn ngôn báo chí chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ trong báo chí là sự hòa kết của chức năng
thông tin, chức năng tác động và chức năng liên nhân Thông tin là những nội dung cụ thể,
là điều mà nhà báo (tòa soạn) gửi gắm trong thông điệp (bài báo) chuyển đến độc giả với mong muốn thực hiện việc tác động
1.1.2.2 Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis)
Nghiên cứu diễn ngôn tức là nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng (language in use) Trước đây, ngữ pháp văn bản chuyên nghiên cứu văn bản một cách biệt lập, hoàn toàn tách rời khỏi ngữ cảnh thì phân tích diễn ngôn nhằm làm nổi bật mối quan hệ chặt chẽ giữa kết cấu ngôn từ bên trong văn bản với những yếu tố ngoài văn bản Việc chuyển đối tượng từ câu/phát ngôn sang diễn ngôn là một sự chuyển hệ quan trọng - chuyển sang hệ giao tiếp Người phân tích diễn ngôn cần giải thích được người tạo mã cho diễn ngôn đã làm như thế nào để có các câu văn liên kết với nhau và giúp tạo ra sự mạch lạc cho cấu trúc diễn ngôn trong các tình huống giao tiếp nhất định Và chỉ ở cấp độ diễn ngôn, chúng ta mới thấy rõ tính chất giao tiếp của ngôn ngữ
1.1.2.3 Phân tích diễn ngôn báo chí theo thể loại
Trên thực tế, phân tích diễn ngôn đã được xem xét trên một số bình diện sau:
- Trên bình diện lý thuyết: các nghiên cứu về phân tích diễn ngôn có thể xếp thành
hai nhóm Một nhóm tập trung vào mặt hình thức hoặc chức năng của việc sử dụng ngôn ngữ gồm ngữ nghĩa học và ngữ dụng học Nhóm còn lại tập trung vào việc sử dụng ngôn ngữ mang tính chế ước hóa trong các bối cảnh văn hóa – xã hội khác nhau Trong đó giao tiếp bằng ngôn ngữ được xem là một hoạt động xã hội (communication as social action)
- Trên bình diện chung - chuyên ngành: gồm các nghiên cứu phân tích diễn ngôn
các cuộc hội thoại hằng ngày; các loại văn bản mô tả, chính luận và các diễn ngôn có tính chuyên môn như các bài báo khoa học, văn bản pháp luật, các trao đổi bác sĩ – bệnh nhân, luật sư – khách hàng
- Trên bình diện ứng dụng: gồm những nghiên cứu phân tích diễn ngôn xuất phát
từ các mục tiêu ứng dụng khác nhau như dạy-học tiếng, dịch thuật
Trang 9- Dựa trên cấp độ phân tích: Các nghiên cứu phân tích diễn ngôn được phân loại
theo cấp độ từ phân tích hình thức bề mặt tới phân tích chức năng của ngôn ngữ hành chức Sự phân loại này cũng phản ánh sự chuyển biến của phân tích diễn ngôn ứng dụng
từ hình thức sang chức năng, từ ngữ pháp sang diễn ngôn và giao tiếp trong những năm gần đây
1.1.3 Ngữ vực và phân tích ngữ vực
1.1.3.1 Ngữ vực
Halliday (1976, tr.22) định nghĩa “ngữ vực” là “các đặc điểm ngôn ngữ liên hội được một cách điển hình với một cấu hình của các đặc điểm tình huống- với những giá
trị riêng biệt của trường, thức và không khí chung” Theo Halliday, ngữ vực là một cấu
hình nghĩa (semantic configuration) gắn liền với đặc điểm tình huống được đặc trưng
bởi trường (field), thức (mode) và không khí (tenor)
1.1.3.2 Phân tích ngữ vực
Halliday chính là một trong những nhà nghiên cứu có công lớn trong việc xây dựng
và phát triển phương pháp phân tích ngữ vực – là phương pháp phân tích hay miêu tả các sự kiện giao tiếp theo hai phương diện chức năng và đặt chúng vào trong một ngữ cảnh tình huống nhất định
Phương pháp phân tích ngữ vực rất hữu ích trong việc khảo sát các khác biệt về hình thức của các biến thể hay dạng ngôn ngữ khi giao tiếp Phân tích ngữ vực không chỉ tập trung chủ yếu vào việc nhận diện các đặc điểm từ vựng – ngữ pháp có tần suất cao về mặt thống kê của một biến thể ngôn ngữ mà còn quan tâm đến các yếu tố phi ngôn ngữ có tác động đến quá trình giao tiếp
1.2 Về thể loại bình luận báo chí
1.2.1 Một số quan niệm về bình luận, lập luận và bình luận báo chí
Trong cuốn Các thể loại báo chí, tác giả A.A Chertưchonưi (2004) viết: “Trong
thời đại chúng ta, bình luận chiếm vị trí quan trọng trong tổng thể các hình thức báo chí chủ yếu Với sự giúp sức của nó, tác giả có thể bày tỏ thái độ với những sự kiện thời sự quan trọng, xác định những nhiệm vụ và vấn đề gắn với chúng dưới hình thức phân tích hàm súc những thiếu khuyết hay thành tựu, và đồng thời bày tỏ cả sự đánh giá, dự đoán phát triển … Bình luận khác với các thể loại thông tin khác chính là ở sự hiện diện của phân tích bình luận thường phân tích hiện tượng mà bạn đọc đã biết, và trong phân tích đó làm nổi bật lên thái độ đối với đối tượng phản ánh” (tr.199)
Theo Trần Thanh Nguyện (2011), bình luận báo chí đóng vai trò là thể loại hạt nhân trong nhóm các thể loại báo chí chính luận Bình luận báo chí là kiểu văn bản giải thích, phân tích sự kiện thông tin theo chính kiến người viết (tr.177)
Đỗ Hữu Châu (2005, tr.140) cho rằng: “Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm đi tới một kết luận nào đấy.” Nguyễn Đức Dân (2018, tr.20) định nghĩa: “về cơ bản, lập luận là: “Xuất phát từ tiền đề (cũng gọi là luận cứ), dựa trên những lý lẽ chúng ta đi tới những kết luận”
Trudy Govier (2010) định nghĩa: “Lập luận là một tập hợp các luận điểm trong đó một hoặc nhiều luận điểm gọi là tiền đề được nêu ra nhằm đưa ra lý lẽ cho một luận điểm khác gọi là kết luận.” (tr.1) Richardson (2007) cho rằng: “Lập luận nhằm mục đích giải quyết sự khác biệt về quan điểm, xuất hiện trong một ngữ cảnh xã hội vật chất
cụ thể, và được hiện thực hóa qua các tham thể đưa ra lập luận mà họ tin rằng lập luận
Trang 10đó ủng hộ quan điểm của mình và nhằm mục đích gây ảnh hưởng lên quan điểm, thái
độ và thậm chí hành vi của người khác” (tr 156)
Như vậy, hầu hết các nhà ngôn ngữ đều thống nhất rằng: Lập luận là đưa ra những
lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận mà người nói muốn đạt tới Hay nói cách khác đưa ra một lập luận là đưa ra những lý lẽ hoặc minh chứng để hỗ trợ cho một kết luận
1.2.2 Diễn ngôn bình luận và Diễn ngôn bình luận kinh tế-xã hội
Chen (2011) cho rằng: “Diễn ngôn bình luận thường truyền tải ý kiến cá nhân và chủ quan về các sự kiện mang tính thời sự hoặc các vấn đề có liên quan và các diễn ngôn bình luận được viết bởi các cá nhân không phải là thành viên hoặc làm việc cho tờ báo nhưng thường là các chuyên gia, nhà chuyên môn hoặc nhân vật nổi tiếng trong một số lĩnh vực nhất định Những diễn ngôn bình luận này nhằm tranh luận hay chống lại một trường hợp và thuyết phục độc giả rằng những quan điểm trong đó là hợp lý và đáng tin cậy.” (tr 694)
Từ điển Webster’s new world dictionary(Neufeldt & Guralnik, 1988) định nghĩa kinh tế-xã hội (socio-economic) là các vấn đề: “thuộc hoặc có liên quan đến các yếu tố kinh tế lẫn xã hội” (tr 1273) Chúng tôi chọn quan điểm của Chen và định nghĩa trên của từ điển Webster để làm cơ sở cho việc khảo sát ngữ liệu, vậy trong đề tài này, diễn ngôn bình luận kinh tế-xã hội là diễn ngôn bình luận về các sự kiện, thông tin trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống: kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa, thể thao v.v theo chính kiến của người viết
1.2.3 Cấu trúc diễn ngôn bình luận kinh tế-xã hội
Đề tài nghiên cứu này nhìn nhận các diễn ngôn bình luận kinh tế-xã hội như là sự thể hiện quan điểm, chính kiến hay sự đánh giá của người viết về một sự kiện quan trọng nào đó xảy ra Diễn ngôn bình luận điển hình trong nghiên cứu này luôn có cấu trúc ba phần: tiêu đề chính và dẫn đề, phần nội dung (nêu sự kiện và bình luận) phát triển chủ
đề thông qua các chủ đề con của mỗi đoạn – thành phần Phần kết thể hiện ý kiến của người viết
1.3 Về dịch thuật báo chí
1.3.1 Nghiên cứu dịch thuật định hướng diễn ngôn
Sự quan tâm của các học giả vào ngữ cảnh chính trị, văn hóa xã hội và sự phát triển của mô hình NNHCNHT đã làm gia tăng xu hướng sử dụng PTDN trong các nghiên cứu dịch thuật Nhiều công trình đã sử dụng lý thuyết PTDN cho nghiên cứu dịch thuật (Baker, 1992; Hatim và Mason, 1990, 1997; House, 1997; Munday, 2002; Schäffner, 2004) Một số khác đã tập trung vào vấn đề đánh giá chất lượng bản dịch (Translation Quality Assessment - TQA) và cách phân tích ngữ vực trong PTDN có thể được sử dụng
để thiết kế một mô hình cho TQA (House, 1997) Những công trình khác tập trung phân tích diễn ngôn theo đường hướng ngữ dụng học hay xã hội học (Baker, 992; Hatim và Mason, 1990, 1997); trong khi đó, một số tác giả lại tập trung vào phân tích diễn ngôn chính trị (Schäffner, 2004; Schäffner và Bassnett, 2010)
1.3.2 Hệ tư tưởng và dịch thuật
Sự quan tâm đến hệ tư tưởng trong lĩnh vực Nghiên cứu dịch thuật và cái được gọi
là “bước ngoặt văn hóa” (cultural turn) đã khiến các học giả như Lefevere (1992) chuyển
từ các khía cạnh ngôn ngữ của hoạt động dịch thuật sang xem xét các vấn đề liên quan đến ngữ cảnh văn hóa Tác giả, chủ yếu nghiên cứu các văn bản văn học, tập trung vào
Trang 11các yếu tố chi phối việc tiếp nhận, chấp nhận và “thần thánh hóa”(canonization) các văn bản trong một nền văn hóa Những yếu tố này là quyền lực, ý thức hệ, thể chế và sự can thiệp chỉnh sửa (manipulation) (tr.2) Từ quan điểm này, nhiều học giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa ý thức hệ và dịch thuật trong các thể loại ở các khía cạnh như: sự bảo trợ, sự kiểm duyệt, hướng dẫn dịch thuật, chính sách dịch thuật dưới các chế độ độc tài, cấu trúc quyền lực và các khía cạnh khác (xem thêm Schäffner, 2012, 2014)
Nhiều nhà nghiên cứu đã đóng góp những công trình nghiên cứu về ý thức hệ trong dịch thuật, và kết quả nghiên cứu từ công trình của họ đã cung cấp thêm những cơ sở lý luận trong việc nghiên cứu thêm về hiện tượng này
1.3.3 Tương đương trong dịch thuật
Hiện tại các nhà lý luận dịch có ba quan điểm khác nhau về tương đương dịch thuật như sau: (1) Tương đương là điều kiện cần thiết để dịch thuật thực hiện được và tương đương là đích của dịch thuật, là cái có thể đạt được (Catford, Nida, Toury, Koller); (2) Tương đương dịch thuật là không thể thực hiện được và là điều cản trở cho việc nghiên cứu dịch thuật (Snell - Hornby, Gentzler); (3) Tương đương là cách phân loại hữu ích
để mô tả và nghiên cứu dịch thuật (Baker), là khái niệm tận dụng để nghiên cứu dịch thuật và thực hành dịch thuật chứ không hẳn là do đơn vị nào đó của khái niệm này trong
lý thuyết dịch
1.3.4 Dịch thuật báo chí
Việc dịch diễn ngôn báo chí khác hẳn với việc dịch các thể loại diễn ngôn khác nên trong quá trình dịch thuật, người ta chỉ chọn những nội dung hay sự kiện ngoài việc mang lại lợi ích thông tin cho công chúng còn phải mang lại hiệu quả cho việc tuyên truyền, định hướng dư luận Nhiều học giả đã sử dụng thuật ngữ “dịch hiệu đính” để chỉ quá trình dịch thuật và chỉnh sửa trong phòng tin tức hay thuật ngữ “transeditor” (tạm dịch: “người dịch hiệu đính”) để chỉ nhà báo- người dịch thực hiện quá trình này
1.3.5 Ngữ cảnh hóa (framing) trong dịch diễn ngôn báo chí
Thuật ngữ “framing” (ngữ cảnh hóa) có nguồn gốc từ lập luận của Bateson (1955)
và sau đó Goffman (1974) áp dụng cho các nghiên cứu về phương tiện truyền thông Entman (1993, tr.53) cho rằng ngữ cảnh hóa là “về cơ bản liên quan đến sự lựa chọn và
làm nổi bật Baker (2007, tr.156) đưa ra khái niệm “ngữ cảnh hóa” để chỉ những cách
mà các câu chuyện kể được phóng chiếu và lồng vào trong một văn bản hoặc bài nói chuyện cụ thể Trong trường hợp dịch thuật, “ngữ cảnh hóa” biểu thị cách các câu chuyện trong các diễn ngôn nguồn được người dịch làm nổi bật, làm giảm hoặc sửa đổi trong các ngôn ngữ và các nền văn hóa khác nhau
Tiểu kết
Trang 12Trong chương này, chúng tôi trình bày một số vấn đề cơ sở lý thuyết làm nền tảng cho các khảo sát, mô tả ở các chương sau
Đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn báo chí là vấn đề đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu Các tác giả đã bước đầu chỉ ra đặc điểm cấu trúc của một số thể loại cụ thể Song các đặc điểm về cấu trúc, các yếu tố bình luận và lập luận của thể loại DNBLKTXH tiếng Anh là những vấn đề đang cần được xem xét chi tiết hơn Bên cạnh đó, việc chuyển dịch các DNBLKTXH tiếng Anh sang tiếng Việt trên báo tiếng Việt là một quá trình cần được nghiên cứu kỹ vì các diễn ngôn này được xuất bản trên một tờ báo khác và được trình bày cho một đối tượng độc giả có ngôn ngữ, văn hóa và các yếu tố xã hội khác biệt so với diễn ngôn nguồn
Như vậy, những vấn đề mang tính lý luận chung ở chương này là cơ sở cho những khảo sát cụ thể ở phần sau Đó là sự vận dụng khung lý thuyết SFL, lý thuyết thể loại, ngữ vực để xem xét các đặc điểm về cấu trúc, bình luận và lập luận của thể loại DNBLKTXH trên các báo của Mỹ; đó là sự vận dụng lý thuyết về hệ tư tưởng và dịch thuật, chiến lược dịch ngữ cảnh hóa, lý thuyết CDA vào việc khảo sát và đối chiếu với những DNBLKTXH trên báo tiếng Việt được dịch từ báo Mỹ
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THỂ LOẠI DIỄN NGÔN
BÌNH LUẬN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN BÁO MỸ
2.1 Đặc điểm cấu trúc của diễn ngôn bình luận kinh tế-xã hội trên báo Mỹ 2.1.1 Tiêu đề
a) Đặc điểm hình thức
Trong phần này, chúng tôi tìm hiểu các đặc điểm về thì động từ (verb tense), trợ động từ tình thái (modal auxiliary verb), câu hỏi (question), và thể bị động (passive voice) được sử dụng trong các TĐ để thể hiện quan điểm của người viết về sự kiện xảy
Người viết TĐ cũng sử dụng những trợ động từ tình thái như “may” (có lẽ),
“could” (có thể) đễ diễn tả đánh giá của mình đối với khả năng xảy ra của sự việc Ví dụ:
SELF-DRIVING TRUCKS MAY BE CLOSER THAN THEY APPEAR (NYT, 13/11/2017, 20 PL1) (Xe tự lái có thể đến sớm hơn dự định)
Ngữ liệu khảo sát cho thấy chỉ có 3 TĐ có dạng câu hỏi Tuy nhiên, phải thấy rằng
TĐ dạng câu hỏi khơi dậy sự quan tâm của độc giả để đọc trọn vẹn diễn ngôn Với TĐ câu hỏi, độc giả được gợi ý đọc diễn ngôn theo quan điểm của người viết TĐ dạng câu hỏi khơi gợi sự quan tâm của một người để tìm hiểu thêm về sự kiện được nêu ra Tóm lại, TĐ dạng câu hỏi hấp dẫn người đọc vì chúng nhanh chóng thu hút sự chú ý Ví dụ: HAS CHINA RESTORED PRIVATE LAND OWNERSHIP?
(NYT, 1/05/2017, 3 PL1) (Trung Quốc phục hồi quyền sở hữu đất tư nhân?)
Trang 13Việc sử dụng TĐ dạng cụm từ làm cho tiêu đề trở nên hấp dẫn, súc tích Những
TĐ dạng cụm từ thu hút sự chú ý của độc giả vì chúng thể hiện bản tóm tắt sắc nét về
sự kiện nêu ra Ví dụ: THE DIMINISHING ROLE OF ART IN CHILDREN’S LIVES
(The Atlantic, 05/07/2017, 62 PL1)
(Vai trò nghệ thuật đang biến mất trong đời sống trẻ em)
Các TĐ diễn ngôn bình luận dạng cụm từ là những bản tóm tắt ngắn gọn các tư tưởng được trình bày trong diễn ngôn
Các TĐ được viết dưới dạng bị động tạo ra sự tò mò ở độc giả khiến họ hình thành các giả định về quan điểm được nêu ra Ví dụ:
IN CHINA, DESIGNER GOODS DELIVERED TO YOUR DOORSTEP (NYT, 30/07/2017, 6 PL1) (Ở Trung Quốc, hàng hiệu được giao đến tận nhà) Ngôn ngữ của TĐ của DNBL có tác động mạnh mẽ vì nó ảnh hưởng đến suy nghĩ của độc giả Có thể nói rằng các TĐ của DNBL là những tóm tắt ngắn gọn về quan điểm
có sức kích thích mạnh mẽ, thu hút sự chú ý của độc giả vào nội dung thông tin của diễn ngôn
b) Đặc điểm cấu trúc
TĐ được xem là một phát ngôn độc lập có chức năng thể hiện chủ đề của diễn ngôn và giúp người đọc nắm được nội dung chính của diễn ngôn.Theo đó, TĐ được tổ chức dưới nhiều dạng khác nhau Có TĐ là một thông điệp hoàn chỉnh, thể hiện rõ chủ
đề diễn ngôn.Ví dụ: THE OLD ARE EATING THE YOUNG (Bloomberg, 14/6/2017,
65 PL1) (Người Lớn đang ăn người Trẻ)
Có TĐ khái quát nội dung toàn diễn ngôn, ví dụ: FELICITY HUFFMAN AND 13 OTHERS TO PLEAD GUILTY IN COLLEGE ADMISSIONS SCANDAL (NYT, 8/4/2019, 45 PL1) (Felicity Huffman và 13 người khác nhận tội trong vụ bê bối gian lận tuyển sinh đại học)
Hoặc TĐ chỉ nêu chi tiết có giá trị dự báo chủ đề của diễn ngôn
Ví dụ: AS AUSTRALIA’S CITIES GET CROWDED, ITS LEADER TARGETS IMMIGRATION (NYT, 19/11/2018, 42 PL1)
(Khi các thành phố trở nên đông đúc, vị nguyên thủ quốc gia Úc nhắm đến việc nhập cư)
Dù được tổ chức theo cách thức nào, các yếu tố hiện diện ở TĐ đều có khả năng góp phần hiện thực hóa chủ đề của diễn ngôn
Có những TĐ gây khó khăn cho việc lĩnh hội diễn ngôn (nếu không có tri thức
nền, không cùng tiền giả định Ví dụ: CHINA DESERVES DONALD TRUMP
(NYT, 21/05/2019, 44 PL1) (Trung Quốc đáng phải chịu Donald Trump) Bên cạnh đó, cấu trúc của tiêu đề diễn ngôn bình luận có mô hình A: B cũng xuất hiện nhiều Ví dụ: LIKE EUROPE IN MEDIEVAL TIMES’: VIRUS SLOWS
CHINA’S ECONOMY (NYT, 10/02/2020, 52 PL1)
(Như Châu Âu thời Trung Cổ: Virus làm chậm nền kinh tế Trung Quốc) Kết cấu tiêu đề dạng này có tác dụng nhấn mạnh và phân biệt các bộ phận có quan
hệ với nhau, có thể xuất hiện yếu tố bình luận, lại có thể chứa yếu tố biểu cảm nhưng lại
có thể phân lập với nhau, nhằm thu hút sự chú ý của độc giả nhiều hơn
c) Đặc điểm ngữ dụng