1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc Trưng Tính Cách Văn Hóa Người Hán Hai Miền Nam Bắc Trung Quốc

27 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Trưng Tính Cách Văn Hóa Người Hán Hai Miền Nam Bắc Trung Quốc
Tác giả Nguyễn Minh Trí
Người hướng dẫn GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 600,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu đáng chú ý của những tác giả như Tôn Trung Sơn, Lương Thấu Minh, Tưởng Giới Thạch, hoặc đi từ phân biệt vùng miền đến khái quát thành những tính cách chung của Trung Hoa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN MINH TRÍ

ĐẶC TRƯNG TÍNH CÁCH VĂN HÓA

NGƯỜI HÁN HAI MIỀN NAM BẮC TRUNG QUỐC

Trang 2

văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Trần Ngọc Thêm

Phản biện độc lập 1: PGS.TS Đinh Phan Cẩm Vân

Phản biện độc lập 2: PGS.TS Dương Tuấn Anh

Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Đình Phức

Phản biện 2: PGS.TS Ngô Minh Oanh

Phản biện 3: TS Nguyễn Thanh Phong

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp đơn vị chuyên

môn họp tại:

vào hồi ……… giờ ……… ngày ……… tháng ……….năm………

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việc nghiên cứu về tính cách con người Trung Quốc đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều học giả Trung Quốc và không ít người ngoài Trung Quốc với nhiều công trình khác nhau Các công trình này đã chỉ ra nhiều đặc tính người Trung Quốc, nhưng

ít chú ý đến sự đa dạng của tính cách ở cấp độ vùng miền và chưa đạt được sự nhất quán trong các đặc tính được chỉ ra

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chúng tôi phân loại các nội dung hai nhóm chính là: (1) các nghiên cứu về tính cách Trung Quốc của chính người Trung Quốc, (2) các nghiên cứu về tính cách Trung Quốc của người bên ngoài Trung Quốc

2.1 Tính cách người Trung Hoa dưới mắt người Trung Hoa

2.1.1 Những nghiên cứu tính cách người Trung Hoa nói chung

2.1.1.1 Các nghiên cứu đáng chú ý của những tác giả như Tôn Trung Sơn,

Lương Thấu Minh, Tưởng Giới Thạch, hoặc đi từ phân biệt vùng miền đến khái quát thành những tính cách chung của Trung Hoa tiêu biểu có Lâm Ngữ Đường trong cuốn

Trung Hoa đất nước con người (1935), Phạm Dũng trong Tính cách văn hóa người Trung Quốc (2009), Đỗ Du trong Bản đồ nhân cách người Trung Quốc (2010) Ngoài

ra, còn nhiều công trình của các tác giả khác về tính cách người Trung Quốc được tập

hợp trong cuốn Tính cách của người Trung Quốc (2012) do Lý Diệc Viên và Dương

Quốc Khu chủ biên như "Phân tích nhân cách lý tưởng của nước Trung Quốc truyền thống" của Vệ Chính Thông, "Từ định hướng giá trị bàn về tính cách người Trung Quốc" của Văn Sùng Nhất, "Từ mối quan hệ xã hội, cá nhân và văn hóa, bàn về xu hướng cảm giác xấu hổ trong tính cách người Trung Quốc của Chu Sầm Lâu, "Chủ nghĩa gia tộc và tính cách Trung Quốc" của Dương Mậu Xuân, "Từ sự phát triển nhân cách nhìn về tính cách người Trung Quốc" của Tằng Văn Tinh,

2.1.1.2 Ngoài các công trình thiên về nghiên cứu đặc trưng giá trị trong tính

cách người Trung Hoa đã nêu, một số khác tập trung đi sâu nghiên cứu những tính cách

tiêu cực của người Trung Quốc Đáng chú ý là cuốn Người Trung Quốc xấu xí (1998) của Bá Dương, bản dịch năm 1998 của Nguyễn Hồi Thủ, cuốn Khoe bàn chân nhỏ cũng của Bá Dương, bản dịch năm 2015 của Châu Hải Đường, cuốn Những Khuyết

điểm của người Trung Quốc của Trương Bình Trị và Dương Cảnh Long, được Dương

Quốc Anh biên soạn với tên "Người Trung Quốc tự trào" (2002), Cuốn Vì sao người

Trung Quốc ngu thế? (2003) của Lê Minh Lưu Á Châu với Niềm tin và đạo đức (2010),

Zhu Song trong The Xenophobe's Guide to the Chinese (2010)

2.1.2 Những nghiên cứu tính cách người Trung Hoa theo vùng miền

2.1.2.1 Ở cấp độ địa phương (cấp tỉnh, cấp vùng)

Hướng nghiên cứu này tiêu biểu có Trần Quán Niệm trong Tính cách doanh

nhân Trung Quốc (2005), Dư Thủ Bân trong cuốn Bản đồ tính cách người Trung Quốc

(2012), Diêu Tùng Liễu trong cuốn Người Bắc và người Nam (2009), tập hợp 59 bài

viết của nhiều tác giả, được chia thành ba phần (Thượng, Trung, Hạ), trong đó phần Thượng gồm 13 bài viết trình bày khái quát về người miền Bắc và người miền Nam,

2.1.2.2 Ở cấp độ hai miền Nam Bắc của Trung Hoa

Trang 4

Từ thời cổ đại, sách Trung Dung đã ghi chép những nhận xét của Khổng Tử

về sự khác biệt trong tính cách con người hai miền Nam Bắc (chương Mười) Thời cận

hiện đại, có các nghiên cứu của Lãnh Thành Kim trong Quyền trí Trung Hoa (2002),

Lỗ Tấn với "Người Bắc và người Nam", Lâm Ngữ Đường với "miền Bắc và miền Nam", Tào Tụ Nhân với "Nam" và "Bắc" và "Nói về Đông Nam và Tây Bắc", Phan Quang Đán với "Bắc Trung Quốc và Nam Trung Quốc", Ngải Vân với "Phụ nữ miền Nam và phụ nữ miền Bắc", Dương Đông Bình với bài “Người Thượng Hải và người Bắc Kinh” Một số tác giả khác nghiên cứu văn hóa hai miền Nam Bắc thông qua tiểu

thuyết Hồng lâu mộng cụ thể như "Hồng lâu mộng và sự khác biệt văn hóa Nam Bắc" của Phan Địch (潘迪), "Nghiên cứu so sánh hình ảnh văn hóa Nam Bắc trong Hồng lâu

mộng" của Lý Nghênh Xuân (李迎春).

Nhìn chung, qua hai nhóm công trình trên, có thể thấy rằng cùng một đơn vị

hành chính nhưng được các tác giả đưa ra nhiều tính cách khác nhau Các tính cách được nêu ra chủ yếu mang tính độc lập tại từng tỉnh, thành, chưa thấy có mối quan hệ với đặc trưng của các vùng miền Các công trình nghiên cứu về đặc trưng tính cách vùng miền có nội dung khá phong phú, đa dạng nhưng cũng khá tản mạn, chiếm một phần nhỏ trong số toàn bộ các công trình nghiên cứu Các tính cách được chỉ ra hầu như chưa có tính hệ thống, có sự khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, chưa thấy được mối quan hệ của tính cách với đặc trưng vùng miền về điều kiện tự nhiên và kinh tế và

xã hội

2.2 Tính cách người Trung Hoa dưới mắt người ngoài Trung Hoa

2.2.1 Các công trình nghiên cứu của người Phương Tây và Nhật Bản

Trong số các tác phẩm của người phương Tây bàn về tính cách người Trung

Hoa đáng chú ý là cuốn Tính cách người Trung Quốc của Smith (1894) Ngoài cuốn này, Smith còn viết cuốn Cuộc sống làng quê ở Trung Quốc năm 1899, đề cập đến một

số đặc tính cộng đồng ở Trung Quốc Will Durant (1930) trong cuốn Di sản phương

Đông cũng đề cập đến một số tính cách của người Trung Quốc Cuốn Hoa cúc và gươm

của Ruth Benedict (1946/2020), tuy nội dung nghiên cứu chủ yếu về văn hóa Nhật Bản, nhưng những so sánh, đối chiếu với văn hóa Trung Hoa dưới con mắt của một người

Mỹ như Benedict cũng rất hữu ích để hiểu thêm về tính cách người Trung Quốc Cuốn

Văn minh Trung Quốc: Một cuốn sách nguồn (1993) do Patricia Buckley Ebrey tập hợp

và hiệu đính có một mục nhỏ đề cập đến sự khác biệt văn hóa miền Bắc và miền Nam Trung Hoa

Cuốn Mật mã tính cách của người Trung Quốc gồm hai tập Tập một là bản dịch từ cuốn Tính cách người Trung Quốc của Smith Arthur H và tập hai tập hợp các

bài viết của nhiều tác giả khác nhau như Kuwabara Jitsuzo (2012, Nhật Bản), Bertrand Russell (2012, Anh), Lucu (2012, Ba Lan), Ngoài ra, bằng sự nghiên cứu và từng trải của mình, nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng phương Tây qua các thời kỳ cũng đã rút ra những nhận định rất cụ thể về tính cách người Trung Quốc phải kể đến như Gottfried Wilhelm (von) Leibniz, George Grove Cukor, Évariste Régis Huc, Ferdinand von Richthofen, Paul Monroe, John Dewey, John King Fairbank, Bertrand Arthur William Russell, Victor William Williams Saunders Purcell, Joseph Needham Nhìn chung, các nhà nghiên cứu phương Tây thường theo hướng chỉ ra các tính cách chung của người Trung Quốc và đặt chúng trong quan hệ so sánh với người phương Tây

2.2.2 Các công trình nghiên cứu của người Việt Nam

Trang 5

Những nghiên cứu trong nước có đề cập đến tính cách người Trung Quốc (bao

gồm cả vùng miền Trung Quốc) như Trung Quốc sử lược (1958) của Phan Khoang, Sử

Trung Quốc (1983/1997) của Nguyễn Hiến Lê, Lịch sử Trung Quốc (2006/2007) của

Nguyễn Gia Phu - Nguyễn Huy Quý, bài “Nho - Pháp tỉnh dụng và con đường bành

trướng của thiên triều” của Trần Đình Hượu (2007), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1996/2006) và Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng (2012) của Trần Ngọc Thêm, Đề tài khoa học cấp cơ sở Nhận thức của sinh viên Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội về người ngoại quốc (Định khuôn về đặc điểm tính cách, năng lực của người Trung Quốc) (2004) của Lê Thị Minh Loan, cuốn Giáo trình Văn hóa Trung Hoa (2017) của Nguyễn Ngọc Thơ, cuốn Người Hoa Việt Nam và Đông Nam Á hình ảnh hôm qua và vị thế hôm nay (2018) của Châu Thị Hải,

Luận án Tiến sĩ Văn hóa Bách Việt vùng Lĩnh Nam trong quan hệ với văn hóa truyền

thống ở Việt Nam cũng của tác giả Nguyễn Ngọc Thơ, Luận án Tiến sĩ Đặc thù hai miền Nam Bắc Trung Quốc qua văn hóa tinh thần của Trần Phú Huệ Quang, cuốn Người xưa cảnh tỉnh thói hư tật xấu của người Việt trong con mắt các nhà trí thức nửa đầu thế kỷ XX (2019) của Vương Trí Nhàn (sưu tầm và biên soạn) và Trần Văn Chánh

(tổng thuật và luận giải), Có thể thấy rằng các tính cách người Trung Quốc theo vùng miền phần lớn thường trình bày đan xen trong một cuốn sách hay dưới dạng những bài viết riêng, chưa có một công trình chuyên sâu

3 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là tính cách văn hóa như những giá trị tinh thần mang

tính đặc trưng của cộng đồng tộc Hán ở hai miền Nam Bắc Trung Quốc

Giới hạn về khách thể nghiên cứu là tộc Hán Về không gian nghiên cứu: lục địa Trung Quốc đã được hạn định Về thời gian nghiên cứu: chủ yếu là giai đoạn tiền

hiện đại (từ thời Tần đến thời Thanh)

Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc xác lập hệ thống giá trị đặc trưng trong

tính cách văn hóa của tộc Hán hai miền Nam Bắc Trung Quốc thể hiện qua ba lĩnh vực chính trị, văn học và văn hóa dân gian để hiểu rõ và lý giải những suy nghĩ, lời nói và hành động của người Hán ở hai miền, có thể dùng làm cơ sở tham khảo cho việc xây dựng các chính sách giao lưu, ứng xử ở cấp quốc gia, xã hội và cá nhân

4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu chủ yếu là: Tính cách văn hóa đặc trưng của người Hán

ở hai miền Nam - Bắc Trung Quốc khác nhau như thế nào và cơ sở của sự khác biệt ấy

là gì?

Giả thuyết nghiên cứu chủ yếu là:

Trung Quốc nằm ở Đông Bắc Á thuộc loại hình văn hóa trung gian (đặt trong tương quan so sánh với khu vực Đông Nam Á và phương Tây), nên sẽ vừa có cả các đặc trưng văn hóa thiên về dương tính và thiên về âm tính Trong đó, miền Bắc và miền Nam Trung Quốc có sự khác biệt rõ rệt về điều kiện tự nhiên (ôn đới và cận nhiệt đới,

khô hạn và sông nước), về kinh tế (trồng lúa cạn và trồng lúa nước) cho nên có thể giả

định là tính cách văn hóa người miền Bắc sẽ thiên về dương tính hơn, còn tính cách văn hóa người miền Nam sẽ thiên về âm tính hơn (trong phạm vi của loại hình văn hóa

trung gian)

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Việc nghiên cứu sẽ được thực hiện bằng cách tiếp cận liên ngành, trong đó

Trang 6

góc nhìn văn hóa học giữ vai trò chủ đạo Cách tiếp cận này được thực hiện bằng nhiều phương pháp cụ thể như: Phương pháp hệ thống, phương pháp loại hình, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp,

phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, phương pháp điền dã, kết hợp với sử

dụng tri thức địa văn hóa, sử văn hóa và các loại tri thức kinh tế, văn học, nghệ thuật,

Nguồn tư liệu khảo sát phục vụ cho luận án là các bộ chính sử về hoạt động

của các vị hoàng đế, các phụ nữ quyền lực hai miền Nam Bắc Trung Hoa (trong lĩnh

vực chính trị); hai bộ tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa và tiểu thuyết Hồng lâu mộng

với các nhân vật hai miền Nam Bắc Trung Hoa thể hiện qua góc nhìn của hai tác giả

La Quán Trung và Tào Tuyết Cần (trong lĩnh vực văn chương); các phong tục dân gian và các câu tục ngữ, ngạn ngữ của hai miền Nam Bắc Trung Hoa (trong lĩnh vực

văn hóa dân gian) Các tư liệu này được khai thác bằng tiếng Việt, tiếng Trung, tiếng

Anh trong các tư liệu thành văn như sách báo, bài viết trên mạng internet… Luận án còn sử dụng các loại tư liệu khác như hình ảnh, từ điển, bách khoa thư

6 Đóng góp của luận án

6.1 Về phương diện khoa học

Luận án (1) cung cấp bức tranh tổng quan về đặc trưng tính cách văn hóa của người Hán hai miền, để thấy được mức độ đóng góp của miền Bắc và miền Nam trong quá trình trong xây dựng hệ giá trị chung của Trung Quốc; (2) cung cấp bức tranh về tính cách tộc người từ hướng tiếp cận so sánh miền, trên cơ sở xác định sự phân bổ không gian các yếu tố thuộc đối tượng so sánh, chỉ ra quy luật và tính chất đặc trưng của chúng ở từng miền phân bố Luận án có đóng góp nhất định về hướng đi giải mã một nền văn hóa; (3) giúp nhận thức sâu sắc hơn, làm cơ sở cho việc nghiên cứu văn hóa Trung Hoa, đóng góp vào quá trình xây dựng chuyên đề văn hóa Trung Quốc, phục

vụ công tác giảng dạy và công tác nghiên cứu

6.2 Về phương diện thực tiễn

Kết quả nghiên cứu (1) cung cấp tư liệu tham khảo cho Việt Nam lựa chọn phương thức ứng xử về ngoại giao, chính trị phù hợp với người Trung Quốc nói chung

và người Hán hai miền nói riêng; (2) giúp các công ty và các cơ quan liên quan đặc biệt trong lĩnh vực du lịch tiến hành phân khúc, khai thác thị trường khách Trung Quốc được thuận lợi hơn, bởi "không thể mang một sản phẩm du lịch chung để đi quảng bá, xúc tiến chung trong toàn đất nước Trung Quốc rộng lớn" (Nguyễn Minh Trí, 2019b, tr.62) Luận án đóng góp hướng nghiên cứu thị trường gắn với đặc trưng văn hóa vùng miền; (3) cung cấp một tư liệu quan trọng trong việc học tập kinh nghiệm về lựa chọn phương thức quản lý và phát triển kinh tế thích hợp với đặc trưng văn hóa của từng miền

7 Kết cấu và quy cách trình bày luận án

Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, toàn văn luận án gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Đặc trưng tính cách văn hóa người Hán hai miền Nam Bắc Trung

Quốc trên bình diện tổ chức

Chương 3: Đặc trưng tính cách văn hóa người Hán hai miền Nam Bắc Trung

Quốc trên bình diện ứng xử

Trang 7

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cở sở lý luận

1.1.1 Tính cách và tính cách văn hóa

1.1.1.1 Trong phạm vi của Luận án, chúng tôi tạm hiểu tính cách là những đặc

trưng quan trọng, cơ bản bên trong con người được thể hiện thông qua thái độ và hành

vi của con người đối với thế giới xung quanh, cho phép nhận diện con người với tư cách là một thành viên của xã hội Những đặc trưng đó không chỉ thể hiện ở từng cá nhân, mà còn thể hiện ở tập thể Tính cách là một dạng của nhân cách, nhưng về nội hàm tính cách bao gồm cả tính cách tốt và tính cách xấu

1.1.1.2 Nói đến văn hóa là nói đến khía cạnh giá trị Tính cách văn hóa được

định nghĩa là "hệ thống các giá trị tinh thần tương đối bền vững của một cộng đồng

người (chủ thể) trong điều kiện không gian và thời gian sinh tồn cụ thể của họ" (Trần

Ngọc Thêm, 2016, tr.60) Như vậy, tính cách văn hóa thuộc nhóm giá trị tinh thần (tính chất tích cực), gắn với một cộng đồng người (tập thể) trong điều kiện không gian và thời gian sinh tồn cụ thể của cộng đồng đó

1.1.2 Tính cách tập thể, tính cách dân tộc và tính cách văn hóa dân tộc

Tính cách được hình thành không phải trong một sớm một chiều mà phải có quá trình, có tính ổn định của nó Tính cách gồm có tính cách cá nhân và tính cách tập thể, nên có thể xem tính cách tập thể, tính cách dân tộc là một trường hợp của tính cách con người

Tính cách tập thể, một trường hợp của tính cách dân tộc, được hiểu là "hệ thống các đặc điểm tinh thần tương đối bền vững thuộc về con người của một cộng đồng người (chủ thể) trong điều kiện không gian và thời gian sinh tồn cụ thể của họ (Trần Ngọc Thêm, 2016, tr.5) Mở rộng ra và để phù hợp với việc nghiên cứu, áp dụng

trong luận án của mình, chúng tôi tạm hiểu đặc trưng tính cách văn hóa người Hán hai

miền Nam Bắc Trung Quốc là hệ thống các giá trị tinh thần tương đối bền vững của tộc

Hán, có tính riêng biệt và tiêu biểu trong quan hệ đối sánh giữa hai miền Nam Bắc Trung Quốc Văn hóa biểu hiện trên nhiều phương diện, trong đó có ba lĩnh vực nhận thức - tổ chức - ứng xử, tính cách dân tộc là sự phản ảnh của "hệ thống các đặc điểm tinh thần" dưới những biểu hiện cụ thể trong hoạt động thực tiễn và trong giao tiếp, vậy

nên tính cách văn hóa dân tộc biểu hiện cụ thể và rõ nét nhất ở hai lĩnh vực văn hóa tổ chức và ứng xử.

1.1.3 Mối quan hệ giữa giá trị, văn hóa và tính cách văn hóa dân tộc

Giá trị, văn hóa và tính cách văn hóa dân tộc là những khái niệm giao nhau nhưng không trùng nhau Điểm giao nhau giữa ba khái niệm này chính là mặt giá trị tinh thần của chủ thể trong điều kiện không gian và thời gian sinh tồn cụ thể

Trang 8

hóa và lý luận phân vùng văn hóa Trung Hoa

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Về không gian: Điều kiện tự nhiên - xã hội hai miền Nam Bắc Trung Hoa

Điều kiện tự nhiên có sự khác biệt rõ rệt giữa hai miền Nam Bắc của Trung Quốc về khí hậu, lượng mưa, đất đai, địa hình, cảnh quan và tài nguyên tự nhiên Sự khác biệt này đã tác động đến sự khác biệt trong hoạt động kinh tế, đối ngoại của hai miền Sự khác biệt của điều kiện tự nhiên hai miền Nam Bắc chịu ảnh hưởng rất lớn bởi dãy Tần Lĩnh - dòng Hoài Hà Theo đánh giá của Vương Tịnh Ái (2007/2015), đây chính là "phân giới tự nhiên" của hai miền và là "là ranh giới địa lý quan trọng nhất của

cả nước" (tr.227) Về điều kiện xã hội: Tổ chức nhà nước hình thành ở miền Bắc từ rất sớm và đi vào quy củ, chặt chẽ, giai cấp xã hội được hoàn chỉnh so với miền Nam

1.2.2 Về chủ thể: Quá trình hình thành và đặc điểm người Hán hai miền Nam Bắc Trung Hoa

1.2.2.1 Quá trình hình thành người Hán ở hai miền

Về nguồn gốc: Tổ tiên người Hán có nguồn gốc du mục, xuất phát từ phía

Tây Bắc (vùng Trung Á) Văn hóa miền Bắc Trung Hoa khởi nguồn sớm nhất ở vùng rừng núi Các bộ lạc cổ đại ở miền Bắc đại đa số đều ở sâu trong núi rừng Sống nhờ vào mục súc (Trương Nhân Phúc, 2009b, tr.38), dần dần tràn xuống chiến thắng những giống "man tộc" ở lưu vực sông Hoàng Hà, và càng ngày càng tràn ra khắp cả trên cõi đất đại lục Trung Quốc

Về quá trình hình thành: Theo Trần Ngọc Thêm (1996/2004), tộc Hán trải

qua hai giai đoạn gắn với quá trình "Đông tiến" (từ Tây sang Đông) và "Nam tiến" (từ Bắc xuống Nam) Còn theo Từ Kiệt Thuấn (徐傑舜), một nhà nghiên cứu về tộc Hán

của Trung Quốc, cho rằng tộc Hán trải qua ba giai đoạn Giai đoạn đầu là cục diện các

nhà nước sơ khai lần lượt được thành lập trên hai miền Nam Bắc, cùng với bốn phía là Man, Di, Nhung, Địch Ở lưu vực Hoàng Hà là ba nhà Hạ, Thương, Chu lần lượt thay

thế nhau Ở lưu vực Trường Giang tiêu biểu có Sở, Việt Giai đoạn hai từ thời Xuân

Thu Chiến Quốc đến thời Tần, là giai đoạn hình thành tộc Hoa Hạ, mang trong mình đủ

các dòng máu của Hạ, Thương, Chu, Sở, Việt, Man, Di, Nhung, Địch Giai đoạn ba

vào thời Tây Hán, tộc Hoa Hạ phát triển mạnh mẽ và biến đổi thành tộc Hán

Về tên gọi của tộc Hán: Dưới triều Tần, tập đoàn Hoa Hạ được gọi là “người

Tần” (秦人) Nhà Hán thay thế nhà Tần, dần dần từ “tộc Hán” (漢族) ra đời Tên gọi

“tộc Hán” được ổn định qua các thời kỳ lịch sử

1.2.2.2 Đặc điểm người Hán hai miền

Người Hán hai miền có sự khác biệt về thể chất, đặc điểm xã hội và tính cách

(phần tính cách được trình bày tại chương II, III) Đặc điểm thể chất người Hán hai

miền từ thời xa xưa đã có sự khác nhau Người miền Bắc thì cao to, rắn rỏi, người miền Nam thì thường thấp nhỏ, yếu ớt Người Hán hai miền cũng khác nhau về khuôn mặt,

mắt, mũi, môi và màu da Về đặc điểm xã hội: Do đa số các triều đại ở Trung Hoa được

dựng lên ở miền Bắc (77,35%), nên công tác giáo dục chính trị tư - tưởng của chính quyền Trung ương ở miền Bắc cũng trở nên mạnh mẽ hơn so với miền Nam, hình thành trục quan hệ trung tâm-ngoại vi với miền Nam

Trang 9

1.2.3 Về thời gian: Lịch sử phát triển quốc gia và giao lưu văn hóa hai miền Nam Bắc Trung Hoa

1.2.3.1 Giai đoạn trước thời Tần - Hán

Trong giai đoạn này, phương Bắc tiếp thu ảnh hưởng của phương Nam trên nhiều phương diện, tựu trung trên hai lĩnh vực: đời sống vật chất và đời sống tinh thần

1.2.3.2 Giai đoạn từ thời Tần - Hán trở về sau

Đến thời Tần - Hán, khu vực phía Nam - nơi các tộc người Bách Việt ở phía Nam Trường Giang - về mặt lãnh thổ đã bị sáp nhập vào đất đai Hoa tộc từ đời Tần Tuy nhiên, về mặt văn hóa thì ở vùng đất phía Nam này vẫn bảo lưu được cơ tầng văn hóa Việt trong thời gian khá dài, việc Hán hóa về mặt văn hóa chỉ mãi đến tận thế kỷ XII mới hoàn tất (như trích dẫn ở Trần Ngọc Thêm, 1996/2004, tr.580)

1.2.4 Xác định nội dung và đối tượng khảo sát

Do giới hạn về nguồn tư liệu liên quan đến đối tượng nghiên cứu, chúng tôi tập trung khảo sát trên ba lĩnh vực có đủ tư liệu là chính trị, văn học và văn hóa dân gian Trong mỗi lĩnh vực đều định vị đối tượng khảo sát tương ứng Lĩnh vực chính trị tập trung vào các hoàng đế và những phụ nữ quyền lực hai miền Lĩnh vực văn học tập

trung vào hai trong "tứ đại danh tác" của Trung Quốc là Hồng lâu mộng và Tam quốc

diễn nghĩa Lĩnh vực văn hóa dân gian tập trung vào phong tục và tục ngữ, ngạn ngữ

hai miền

Trên cơ sở các điều kiện đã xác lập, có 13 nhân vật miền Nam và miền Bắc thuộc hai lĩnh vực chính trị và văn chương được chọn nghiên cứu

Bảng: Các nhân vật đối xứng thuộc lĩnh vực chính trị và văn chương

Thuộc miền Bắc Thuộc miền Nam

phong tục hôn nhân được coi "là sự tổng hòa giữa cái thế tục và cái thiêng như là một

thể hiện của tư tưởng thiên nhân hợp nhất" (Nguyễn Ngọc Thơ, 2017, tr.153-154)

Về định vị tục ngữ, ngạn ngữ hai miền Nam Bắc Trung Hoa: Danh sách các câu tục ngữ, ngạn ngữ hai miền khảo sát trong luận án này được chúng tôi tập hợp từ ba nguồn sau: (1) từ kho tục ngữ ngạn ngữ Trung Quốc khá đồ sộ với hơn bốn mươi ngàn câu in trong hai tập thượng, hạ (中國俗語諺語庫; 上, 下), do Trương Ấn Đống biên tập (1999); (2) dữ liệu đã được Trần Phú Huệ Quang (2014) hệ thống trong phần phụ

lục Luận án Tiến sĩ Đặc thù văn hóa hai miền Nam Bắc qua văn hóa tinh thần; (3) từ

Trang 10

các trang web điện tử có độ tin cậy của Trung Quốc với khoảng 400 câu tục ngữ, ngạn ngữ (số lượng mỗi miền tương ứng là khoảng 200 câu)

Tiểu kết chương một: Phần lý luận đã xác định hệ thống các khái niệm cần thiết để

triển khai áp dụng trong luận án Xác định luận án sẽ được triển khai chủ yếu dựa trên

lý thuyết loại hình văn hóa, so sánh nội văn hóa và lý luận phân chia vùng miền văn

hóa Trung Hoa Ở phần cơ sở thực tiễn, chúng tôi tiến hành định vị văn hóa hai miền

Nam Bắc theo cấu trúc tọa độ bao gồm không gian - chủ thể - thời gian Quá trình hình thành và phát triển của tộc Hán gắn với di dân, tiếp xúc, dung hợp, đồng hóa các dân tộc khác Trong quá trình đó, đặc điểm người Hán về thể chất, văn hóa cũng dần thay đổi và có sự khác biệt giữa các vùng miền Trên cơ sở cấu trúc tọa độ (K-C-T), các tư liệu khảo sát thuộc sáu nhóm đối tượng (vua chúa nam nữ hai miền; nhân vật tiểu thuyết hai miền; phong tục hôn nhân hai miền; tục ngữ ngạn ngữ hai miền) cũng đã được định vị cụ thể, làm cơ sở nghiên cứu phân tích đặc trưng tính cách văn hóa người Hán hai miền Nam Bắc Trung Hoa ở các chương sau

CHƯƠNG II

ĐẶC TRƯNG TÍNH CÁCH VĂN HÓA NGƯỜI HÁN

HAI MIỀN TRÊN BÌNH DIỆN TỔ CHỨC

Trên cơ sở các tài liệu đã khảo cứu được liên quan đến những nội dung và đối tượng khảo sát kết hợp với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu đã xác lập, có thể thấy tính cách văn hóa người Hán hai miền Nam Bắc trong lĩnh vực văn hóa tổ chức bộc lộ bốn cặp đặc trưng nổi bật là: Tính trọng sức mạnh đối lập với tính trọng mềm mỏng, Tính trọng thế tục đối lập với tính trọng tâm linh, Tính trọng nam đối lập với tính trọng nữ, Tính trọng người già đối lập với tính trọng người trẻ Dưới đây luận án sẽ lần lượt đi vào khảo sát bốn cặp đặc trưng này

2.1 Tính trọng sức mạnh và tính trọng mềm mỏng

Trong lĩnh vực tổ chức, người miền Bắc có xu hướng coi trọng sức mạnh, trong khi người miền Nam lại thiên về coi trọng mềm mỏng Tính cách này thể hiện trên nhiều khía cạnh mà rõ nhất là biểu hiện qua (1) hoạt động xây dựng, ban hành chính sách trị vì của các hoàng đế hai miền tập trung vào chính sách cai trị, thuế khóa,

tổ chức nhân sự (tổ chức đời sống tập thể) và tổ chức đời sống cá nhân; (2) ở con đường tiến thân của phụ nữ quyền lực hai miền Song song đó, tính cách này còn thể hiện (3) ở chiến thuật tác chiến của tướng lĩnh hai miền mà La Quán Trung cho các

nhân vật (đã định vị) trong Tam quốc diễn nghĩa tổ chức thực hiện.

2.1.1 Tổ chức cai trị của hoàng đế hai miền

2.1.1.1 Chính sách cai trị và thuế khóa

Trong việc lựa chọn chính sách cai trị đất nước, Tần Thủy Hoàng (thuộc

miền Bắc) chủ trương lấy trường phái Pháp gia làm chỗ dựa, chú trọng đến sức mạnh cai trị bằng pháp luật, quy tắc và trừng phạt nghiêm khắc khi không tuân lệnh hoàng đế Hán Cao Tổ (thuộc miền Nam) chú trọng đến việc quản lý đất nước bằng đạo đức hơn, chủ trương dựa vào Nho gia, bổ sung một số chính sách theo Pháp gia, bỏ đi những hình phạt hà khắc của nhà Tần, thực hiện phương thức cai trị bằng đạo đức là chủ yếu, còn hình phạt chỉ là bổ sung

Đối với chính sách thuế khóa, Tần Thủy Hoàng đã chủ trương tịch thu đất

của tầng lớp quý tộc phân chia lại cho nông dân và thu thuế trực tiếp từ họ, cho xây

Trang 11

nhiều công trình vĩ đại thể hiện cá tính mạnh mẽ một hoàng đế miền Bắc Hán Cao Tổ lại cho miễn giảm thuế từ sáu đến mười hai năm và giảm bắt dân đi phu, hạn chế chi tiêu, trả tự do cho những người đã bán thân làm nô lệ Dưới thời Hán, "ban đầu thuế điền chỉ thu một phần mười lăm hoa lợi, đến đời Hán Văn Đế thì miễn hết thuế ruộng" (Phan Khoang, 1958, tr.143)

2.1.1.2 Chính sách nhân sự

Tần Thủy Hoàng và Hán Cao Tổ đều là những hoàng đế được đánh giá rất

cao trong việc dùng người Đặc điểm lớn nhất trong cách dùng người của Tần Thủy Hoàng chính là việc mạnh dạn tin tưởng giao quyền chủ động cho bên dưới với phương châm "đã dùng thì không nghi mà một khi đã nghi thì không dùng" Tần Thủy Hoàng

đã đặt niềm tin mãnh liệt vào các tướng lĩnh của mình Tần Thủy Hoàng và Hán Cao

Tổ trong cách dùng người thoạt nhìn giống nhau ở điểm dùng người thì không nghi ngờ (用人不疑), nhưng Tần Thủy Hoàng có lẽ "giữ vững lập trường" hơn Hán Cao Tổ cũng tin dùng thuộc hạ, song không ít lần "dao động" mà việc truy vấn và cho người dò thám thuộc hạ Dù coi trọng người tài, nhưng Hán Cao Tổ cũng không tránh khỏi sự mềm yếu chi phối bởi tình cảm gia đình của một hoàng đế thuộc miền Nam Khác với hoàng đế nhà Tần, hoàng đế nhà Hán ngay từ khi lên ngôi đã lần lượt trừ khử, phế truất các công thần để các hoàng tử và những người trong hoàng tộc thay thế làm vương

Với ý chí của một hoàng đế phương Bắc, Tống Nhân Tông thực hiện việc tổ

chức nhân sự khá mạnh mẽ Ông cho gọi lại những đại thần trước đây đã bị đày đi nơi khác, đuổi bọn hoạn quan và bãi chức tướng nào cậy thế làm bậy, phóng thích cung

nhân và thực hiện cải cách công tác nhân sự Tống Lý Tông (thuộc miền Nam) chỉ

trọng dụng trở lại một số quan thần, chấn chỉnh triều chính chỉ trong thời gian lúc đầu, mềm yếu, không tiến hành đến nơi đến chốn, chẳng bao lâu sau đó bọn gian thần lại nổi lên ảnh hưởng tiêu cực đến công việc triều chính Trong việc xử lý tướng lĩnh, khi nhà Tây Hạ trả lại cho Tống Nhân Tông hàng tướng Thạch Nguyên Tôn Nhân Tông tuy không giết chết, nhưng đã cho tước đoạt toàn bộ quan tước của gia đình hàng tướng này Khi quân Mông Cổ đánh sang Biện Kinh, thuộc Nam Tống, Tử Tài và Triệu Quỳ bỏ thành chạy, góp phần làm cho cuộc Bắc phạt của nhà Nam Tống thất bại nặng nề Thay

vì trị tội nghiêm để làm gương cho các quan thần, tướng sĩ về sau, hoàng đế Lý Tông lại vỗ về và giữ lại hai người này

2.1.1.3 Tổ chức đời sống cá nhân

Tần Thủy Hoàng (thuộc miền Bắc) luôn muốn vượt lên trên số phận, kháng cự

lại cái chết Ông dành nhiều thời gian để theo đuổi khát vọng "trường sinh bất tử", sai

người đi tìm thuốc tiên Chính vì nghĩ có thể tìm ra tiên, nên ông không thích nói về cái

chết và cũng không chuẩn bị chọn người kế vị Để rồi nối ngôi ông không phải là con

cả mà là con thứ được Lý Tư và Triệu Cao đạo diễn đưa lên Hán Cao Tổ (thuộc miền Nam) luôn biết phải "thuận theo tự nhiên", không thể cưỡng lại quy luật sinh tử: "Sống chết có số, dù là Biển Thước cũng không thể thay đổi được!" Do đã biết được quy luật sinh tử, nên ngay từ lúc còn khỏe Hán Cao Tổ đã chủ đích chọn người kế vị mình, mặc

dù người kế vị sau này không phải như ông mong muốn ngay từ lúc đầu

Đối với vấn đề sắc dục, Tống Nhân Tông (thuộc miền Bắc) mạnh mẽ thoát ra

và chăm lo đến công việc triều chính, còn Tống Lý Tông của Nam Tống lại mềm lòng, yếu đuối trước người đẹp Ông ham mê sắc dục không quan tâm đến triều chính, dẫn

Trang 12

đến bên trong thì gian thần lộng quyền, bên ngoài thì quân giặc bủa vây, dẫn đến kết cục là đất nước suy tàn nhanh chóng

2.1.2 Con đường tiến thân của phụ nữ quyền lực hai miền

2.1.2.1 Vào quan phủ và hoàng cung

Lưu Nga (thuộc miền Bắc) mồ côi cha mẹ và đi phiêu bạt khắp nơi Sau đó, bà được vào phục vụ trong quan phủ và nảy sinh tình cảm với Tương vương Triệu Hằng Khi bị trục xuất ra khỏi kinh thành, bà đã tìm mọi cách ở lại Việc bà Lưu Nga không chịu rời khỏi kinh thành có thể xuất phát từ tình cảm mãnh liệt với Triệu Hằng, nhưng

đó cũng là một trong những biểu hiện đầu tiên của tính cách mạnh mẽ của bà nơi kinh thành Nó đặt nền móng cho việc vào cung của bà sau này Khi Triệu Hằng được kế vị,

bà chính thức được đón vào cung và sau đó được phong làm Mỹ nhân Trong khi đó, bà

Tạ Đạo Thanh (thuộc miền Nam) vốn xuất thân là con nhà dòng dõi vương tộc Do có mối quan hệ với hoàng thái hậu Thọ Minh, nên bà được hoàng thái hậu chọn vào cung

để tuyển chọn hoàng hậu Khi vào cung, hoàng đế Tống Lý Tông không thích bà Với tính cách nhu mềm, bà không tìm mọi cách để "lọt vào mắt xanh" của Lý Tông Được

sự giúp đỡ của nhiều người, bà được phong làm Thông Nghĩa quận phu nhân mà không phải đi từ tước hiệu Mỹ nhân như bà Lưu Nga

2.1.2.2 Vươn lên ngôi hoàng hậu

Bà Lưu Nga đã tìm cách để hoàng đế đề xuất lập mình lên làm hoàng hậu với

kế "mượn bụng sinh con" (Tá phúc sinh tử) Trái với bà Lưu Nga luôn coi trọng sự chinh phục trong bước đường vươn lên và bảo vệ ngôi hậu của mình, bà Tạ Đạo Thanh (thuộc miền Nam) lại thiên về sự hòa hợp hơn là tìm cách chinh phục Mặc dù biết hoàng đế Tống Lý Tông không thích mình và có ý lập Giả quý phi làm hoàng hậu, nhưng bà vẫn bình thản Sau này, dù đã lên làm hoàng hậu, nhưng bà Tạ Đạo Thanh cũng không được Tống Lý Tông sủng ái bằng Giả quý phi Khác với bà Lưu Nga không sinh được con cho Chân Tông phải dùng kế "Tá phúc sinh tử", bà Tạ Đạo Thanh sinh được một hoàng tử cho Lý Tông (dù hoàng tử chỉ sống được hai tháng tuổi)

2.1.3 Tổ chức chiến thuật tác chiến

Các cuộc chiến tranh trong Tam quốc diễn nghĩa, cho thấy sự nghiệp, công

danh của những chiến sĩ ở hai miền gắn chặt với các chiến thuật "đất Bắc cưỡi ngựa, miền Nam bơi thuyền" (La Quán Trung, 2016b, tr.360) Quân của Tào Tháo, Lưu Bị giỏi cưỡi ngựa thì quân của Tôn Quyền lại giỏi bơi thuyền Người miền Bắc cưỡi ngựa,

có thể điều khiển nó đi theo những nguyên tắc mà mình đưa ra Một khi ngựa đã quen với cung đường đi, thì nó có thể sẵn sàng đi đến nơi về đến chốn mà không cần đến chủ dẫn đường Trái lại người miền Nam phải linh hoạt, uyển chuyển trong bơi thuyền vì thường phải phụ thuộc vào mưa gió, con nước mà thiên nhiên thì không bao giờ cố định

2.2 Tính trọng thế tục và tính trọng tâm linh

Trong lĩnh vực nhận thức, người miền Bắc có xu hướng coi trọng thế tục, người miền Nam thiên về coi trọng tâm linh Tính cách này thể hiện trên nhiều khía cạnh mà rõ nhất là qua tập các tục hôn nhân bình thường và hôn nhân "phi lễ chế"

2.2.1 Hình thái hôn nhân bình thường

2.2.1.1 Các tập tục trước khi cưới

Người Hán miền Bắc thiên về chú trọng thực tế, có phần đơn giản hơn, nhưng vẫn đảm bảo truyền thống gia đình và chuẩn mực xã hội Khi đã thấy được "môn đăng

Trang 13

hộ đối", gia đình nhà trai ở miền Bắc cử người mai mối tiến hành các bước đi đến hôn nhân, trong đó có việc đưa lễ vật sang nhà gái (hạ sính) và một khi đã hạ sính thì coi như việc hôn nhân đã xác định xong (Trần Viện, 2015, tr.24) Trong khi đó, người Hán miền Nam thường thiên về những yếu tố gắn với đời sống tâm linh Mặc dù nhà gái đã nhận lễ vật nạp thái, nhà trai vẫn muốn báo cáo và trình xin ý kiến thần linh về việc này

2.2.1.2 Các tập tục trong khi cưới

Ở miền Bắc, việc chọn người đưa dâu, thường chọn cô, bác hoặc chị, chứ không chọn dì và em Ở miền Nam, thành phần đưa dâu "rộng rãi" hơn gồm con gái, con dâu và anh em trong gia đình sẽ đưa cô dâu về nhà chồng Yếu tố tâm linh được thể hiện rõ nét ở việc lạy từ biệt bàn thờ tổ tiên của cô dâu miền Nam Đường đi rước dâu

và đường đi đưa dâu cũng phải là hai con đường khác nhau, không được trùng, nếu phạm phải từ "trùng" (重) thì sau này sẽ có thể phải tái hôn (再婚) (Trương Tuấn Cường, 2013, tr.16) Ở miền Nam (Tứ Xuyên), người ta còn tin rằng tổ tiên các đời trong dòng họ nhà cô dâu cũng sẽ đi theo đoàn đưa dâu đến nhà chú rể Vì vậy, khi kiệu hoa cô dâu đến trước nhà chú rể, người nhà trai sẽ sai đầu bếp bắt một con gà trống ra giết trước kiệu hoa Sau đó lấy máu gà vẩy quanh kiệu, đốt pháo, đốt nhang đèn và tế thần để mời những vị tổ tiên đó quay trở về nhà Tục này được gọi là "về ngựa xe" (hồi

xa mã/回車馬)

Đối với tục bái đường (拜堂), cô dâu chú rể ở hai miền đều phải tiến hành bái đường Tuy nhiên, việc bái đường có đảm bảo đầy đủ theo ba trình tự này không thì còn phụ thuộc vào từng vùng miền Ở miền Bắc (Sơn Tây, Thiểm Tây), thông thường chỉ có chú rễ lạy trời đất (bái thiên địa), còn cô dâu thì không Cô dâu chỉ lại cha mẹ

chồng (Trần Viện, 2015, tr.25) Ở miền Nam thì cô dâu chú rể đều thực hiện đầy đủ ba

trình tự của phong tục bái đường này Tục động phòng ngoài ý nghĩa, chúc phúc cho đôi vợ chồng mới, giúp cô dâu, chú rể giải tỏa những điều chưa hiểu nhau và cũng giảm bớt căng thẳng, người miền Nam còn cho rằng tục này còn có ý nghĩa tâm linh Họ tin rằng ngày hôn lễ quỷ thần sẽ đến quấy nhiễu, nên cần có nhiều người nói chuyện, trêu đùa, ma quỷ thấy thế mà không dám đến (Trương Tuấn Cường, 2013, tr.18)

2.2.1.3 Các tập tục sau khi cưới

Mặc dù đã bái đường, nhưng để được sự thừa nhận của tổ tiên và người thân bên nhà chồng, cô dâu ở hai miền còn phải tiến hành thủ tục cúng tế tổ tiên ở miếu

(miếu kiến/廟見) và lạy chào hỏi người trên kẻ dưới ở nhà chồng (bái đại tiểu/拜大小)

Sau đó, họ mới chính thức được gia đình chồng thừa nhận và trở thành thành viên của gia đình chồng Người miền Bắc thiên về chú trọng thế tục nên cô con dâu tiến hành lạy cha mẹ chồng và chào hỏi những người trên kẻ dưới trong gia đình chồng trước, rồi sau

đó đi cúng tế tổ tiên Ở miền Nam do chú trọng đến tâm linh nên đi cúng tế tổ tiên trước, rồi lạy chào cha mẹ chồng và chào hỏi những người trên dưới trong gia đình chồng sau Nếu cô dâu chưa cúng tế tổ tiên nhà chồng mà chẳng may chết, thì bị xem như là "phụ nữ chưa thành hôn" (Trương Tuấn Cường, 2013, tr.18)

2.2.2 Một số hình thái hôn nhân phi lễ chế

Trong thực tế, phong tục hôn nhân của người Hán còn rất nhiều hình thái khác nhau, nhưng nhìn chung đa số vẫn mang nét đặc trưng trọng thế tục thiên về miền Bắc, còn trọng tâm linh thiên về miền Nam Những hình thái hôn nhân được thai nghén và ra đời rất sớm ở miền Bắc có thể kể đến như giao hoán hôn (hôn nhân trao đổi); đồng dưỡng hôn (cô dâu hoặc chú rể được mang về nuôi từ bé đến khi trưởng thành thì kết

Ngày đăng: 27/10/2022, 17:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w