1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

91 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu
Tác giả Lương Công Hậu
Người hướng dẫn Ths. Mai Thị Lâm
Trường học Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 4,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ KỶ LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC ĐÃ NGHỈ VIỆC, NGHỈ HƯU (12)
    • 1.1 Một số khái niệm cơ bản và đặc điểm của xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (13)
      • 1.1.1 Khái niệm cán bộ (13)
      • 1.1.2 Khái niệm công chức (13)
      • 1.1.3 Khái niệm cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (14)
      • 1.1.4 Khái niệm xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (15)
    • 1.2 Ý nghĩa của việc quy định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (17)
      • 1.2.1 Đối với cơ quan nhà nước và hệ thống chính trị (17)
      • 1.2.2 Đối với cán bộ, công chức (18)
    • 1.3 Những quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (19)
      • 1.3.1 Hành vi vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (19)
      • 1.3.2 Các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu . 14 (20)
      • 1.3.3 Nguyên tắc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (24)
      • 1.3.4 Thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (28)
      • 1.3.5 Thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (30)
      • 1.3.6 Các trường hợp được miễn trách nhiệm kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (34)
      • 1.3.7 Thủ tục xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (34)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ KỶ LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC ĐÃ NGHỈ VIỆC, NGHỈ HƯU (12)
    • 2.1 Tình hình vi phạm của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu mới phát hiện vi phạm trong thời gian công tác (41)
      • 2.1.2 Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, Công chức và Luật Viên chức năm 2019 có hiệu lực (sau ngày 01 tháng 7 năm 2020) (46)
    • 2.2 Thực trạng về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (48)
      • 2.2.1 Bất cập pháp luật về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (48)
      • 2.2.2 Những hạn chế trong thực tiễn xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (57)
    • 2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (63)
      • 2.3.1 Nguyên nhân khách quan (63)
      • 2.3.2 Nguyên nhân chủ quan (64)
    • 2.4 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu (66)
      • 2.4.1 Kiến nghị về mặt pháp luật (66)
      • 2.4.2 Kiến nghị về mặt thực tiễn (73)

Nội dung

Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm các quy định về nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức; những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm; nội quy, quy chế của cơ

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ KỶ LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC ĐÃ NGHỈ VIỆC, NGHỈ HƯU

Một số khái niệm cơ bản và đặc điểm của xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

Tùy từng chế độ chính trị của mỗi quốc gia mà có những quan niệm khác nhau về các khái niệm cụ thể Ở đây, vấn đề được bàn đến là khái niệm về “cán bộ” Nhiều quan điểm cho rằng các nước tư bản không coi cán bộ là một khái niệm phổ biến; khái niệm này chỉ được dùng trong hệ thống công vụ của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam Đối với Việt Nam, khái niệm về cán bộ không chỉ xuất hiện rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội mà còn được xem là một khái niệm trong khoa học pháp lý.

Theo Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước hoặc các tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ở cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) và ở cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Bên cạnh phạm vi cán bộ nói chung, khoản 3 Điều 4 cũng quy định về cán bộ xã, phường, thị trấn (cấp xã): là công dân Việt Nam được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã.

Ở cấp xã, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội và công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, có biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Đây là nhóm cán bộ có tính chất và đặc thù riêng, hoạt động ở cấp cơ sở trong hệ thống hành chính nước ta Đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, cán bộ được nhận diện qua các dấu hiệu pháp lý nhất định.

Thứ nhất, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh Thứ hai, làm việc theo nhiệm kỳ

Thứ ba, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Công chức là một thuật ngữ có nhiều cách tiếp cận và nghiên cứu; mỗi quốc gia lại có những cách hiểu khác nhau về khái niệm này, phụ thuộc vào pháp luật thực định của nước đó Phạm vi của khái niệm có thể rộng hay hẹp tùy quy định pháp lý Ví dụ, một số nước coi công chức là tất cả những người làm việc trong bộ máy nhà nước, bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp và cả lực lượng vũ trang, công an Ngược lại, một số nước chỉ giới hạn công chức ở những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước, hoặc hẹp hơn nữa.

6 Nguyễn Cảnh Hợp (2011), Thể chế công vụ, NXB Tư pháp, TP Hồ Chí Minh, tr 86

Theo quy định tại 7 Khoản 1 Điều 1 của Luật Cán bộ, Công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008, khái niệm về hành chính nhà nước được hiểu và áp dụng ở mức độ khác nhau giữa các quốc gia, phản ánh sự đa dạng trong hệ thống quản trị công Vì vậy, mỗi nước có những quan niệm riêng về quản trị hành chính, dựa trên các yếu tố như chính trị, lịch sử và kinh tế - xã hội Những yếu tố này giải thích sự khác biệt trong cách nhìn nhận và tổ chức bộ máy nhà nước, cũng như cách thức quản lý và phân bổ nguồn lực công.

Ngày 25 tháng 11 năm 2019, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung năm

Năm 2019, thuật ngữ “công chức” được sửa đổi so với Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 Theo quy định mới, công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; hoặc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Đối chiếu với thuật ngữ “công chức” được quy định trong Luật Cán bộ, Công chức.

So với Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019, những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý trong các đơn vị sự nghiệp công lập không còn là công chức nữa và được xác định tư cách là viên chức theo quy định của Luật Viên chức 2010.

Dựa trên quy định của pháp luật hiện hành, nếu cán bộ được nhận diện bằng dấu hiệu pháp lý là “bầu” và làm việc theo “nhiệm kỳ”, công chức được nhận diện bằng các dấu hiệu pháp lý tương ứng được quy định, bảo đảm xác định rõ nguồn gốc bổ nhiệm, phương thức tuyển dụng và thời hạn công tác, từ đó tăng cường tính hợp pháp và minh bạch trong hệ thống công vụ.

Thứ nhất, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào chức vụ, chức danh

Thứ hai, có ngạch công chức

Thứ ba, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Những người được xác định là công chức được liệt kê cụ thể tại Nghị định 06/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25 tháng 01 năm 2010, quy định danh sách công chức (gọi tắt là Nghị định 06/2010/NĐ-CP) Nghị định này sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 138/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27 tháng 11 năm 2020, quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.

1.1.3 Khái niệm cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

Qua phân tích các khái niệm cán bộ, công chức, có thể nhận thấy sự khác biệt căn bản giữa cán bộ, công chức đang đương nhiệm và cán bộ, công chức đã nghỉ việc hay nghỉ hưu chính ở dấu hiệu nghỉ việc hoặc nghỉ hưu Dấu hiệu này giúp nhận diện trạng thái làm việc của từng người, từ đó xác định quyền lợi, nghĩa vụ và cơ chế quản lý, bổ nhiệm phù hợp với từng nhóm trong hệ thống công vụ.

Nghỉ việc là hành động dừng lại công việc hoặc chức vụ đang đảm nhận và không tiếp tục làm việc Theo từ điển Tiếng Việt, nghỉ hưu hay nói cách khác là về hưu có nghĩa tương tự với nghỉ việc, tức là bỏ một công việc nào đó Tuy vậy, cách hiểu như vậy vẫn chưa làm rõ sự khác biệt giữa “nghỉ việc” và “nghỉ hưu”, vì từ điển thường dùng chung một định nghĩa cho hai khái niệm Một cách hiểu khác là từ “hưu trí” ám chỉ nghỉ việc của công chức khi đã đến tuổi về già, tức là nghỉ hưu nhấn mạnh yếu tố tuổi tác và đối tượng là cán bộ, công chức.

Trần Nghị (2017) trình bày nội dung về trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước Tác phẩm nhấn mạnh sự liên kết giữa hành động công vụ và kết quả quản trị công, đồng thời đề cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và cải thiện chất lượng phục vụ người dân như những yếu tố then chốt để tiến hành đổi mới hệ thống hành chính Được xuất bản bởi NXB Chính trị quốc gia – Sự thật tại Hà Nội, tham khảo trang 06 cho thấy mối quan hệ giữa nhiệm vụ công và mục tiêu cải cách tổ chức và nâng cao hiệu quả dịch vụ công.

9 Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, Công chức và Luật Viên chức ngày 25 tháng 11 năm 2019

10 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr 677

Theo từ điển tham khảo được trích dẫn (truy cập ngày 01 tháng 4 năm 2021 tại https://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/), hai khái niệm nghỉ việc và nghỉ hưu có sự khác biệt; xét về nghĩa, có thể nghỉ việc được xem là từ sát nghĩa nhất với nghỉ hưu Tiêu chí phân biệt nghỉ việc hay nghỉ hưu dựa trên độ tuổi: nghỉ việc là không tiếp nhận một công việc nào trong độ tuổi lao động, còn nghỉ hưu là không tiếp tục một công việc khi đã quá độ tuổi lao động (hay nói cách khác là nghỉ việc khi đã già) Chính dấu hiệu này là đặc trưng quan trọng để phân định ai là cán bộ, công chức đang tại vị và ai là cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu.

Khái niệm cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu ở đây có thể hiểu là những người từng giữ vị trí cán bộ, công chức, nhưng sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu thì họ không còn được gọi là cán bộ, công chức nữa; trong các văn bản và thảo luận, nhóm đối tượng này được gọi là nguyên cán bộ, công chức.

1.1.4 Khái niệm xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

Chế độ kỷ luật của cán bộ, công chức được hiểu là một chế định pháp luật, gồm tập hợp các quy phạm nhằm bảo đảm trật tự và nề nếp hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức Cụm từ "chế độ kỷ luật" có thể xem gần nghĩa với "xử lý kỷ luật", và ở phạm vi chung nhất thuật ngữ này được hiểu là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân xem xét, giải quyết các vi phạm của các chủ thể thuộc cơ quan, tổ chức đó nhằm chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương và bảo đảm nề nếp trật tự cho cơ quan, tổ chức.

Ý nghĩa của việc quy định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

1.2.1 Đối với cơ quan nhà nước và hệ thống chính trị

Cán bộ, công chức là đội ngũ nắm vai trò đặc biệt quan trọng Họ là nhân tố con người trong hoạt động của bộ máy Nhà nước, bên cạnh chủ trương và chính sách pháp luật Việc xử lý kỷ luật hướng đến mục đích trừng trị, răn đe và giáo dục những đối tượng có hành vi vi phạm Tuy nhiên, mục đích cao nhất có thể thấy đó là bảo vệ sự ổn định của cơ quan, tổ chức; trật tự nội bộ bên trong của cả hệ thống chính trị nói chung và cơ quan nhà nước nói riêng

Xử lý kỷ luật là một dạng trách nhiệm pháp lý Chế định này có vai trò bảo vệ sự ổn định của pháp luật bên cạnh việc giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan nhà nước Điều này được thể hiện như sau:

Việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu góp phần bảo vệ pháp chế trong hoạt động của cơ quan nhà nước Đối với lực lượng cán bộ, công chức, yêu cầu pháp chế đặt ra ở mức cao hơn vì họ là những người trực tiếp thực thi và áp dụng pháp luật trong quản lý nhà nước Khi vi phạm kỷ luật mà đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu nhưng sau đó mới bị phát hiện, sai phạm này vô hình chung ảnh hưởng đến mục tiêu của pháp chế trong hoạt động của cơ quan Thực hiện và chấp hành pháp luật một cách nghiêm chỉnh là điều kiện để pháp chế có hiệu lực Bên cạnh đó, pháp chế đòi hỏi khi đương nhiệm, đội ngũ cán bộ, công chức phải chú trọng vào nhiệm vụ và quyền hạn để thực hiện đúng chức trách theo quy định pháp luật Những yếu tố này góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và hạn chế tối đa việc lạm quyền và sai phạm trong công tác quản lý nhà nước.

Thứ hai, việc xử lý cán bộ và công chức đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu được thực hiện nhằm hướng tới mục tiêu cuối cùng là thực hiện có hiệu quả cải cách hành chính và nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy nhà nước.

Cán bộ, công chức là lực lượng quan trọng để tạo ra năng lực quản trị hành chính của một quốc gia Nếu không đề cao trách nhiệm xử lý kỷ luật, năng lực hoạt động của nền hành chính nhà nước sẽ bị giảm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy nhà nước có sự phân công, phân nhiệm và phối hợp giữa các nhánh quyền lực, trong đó con người là yếu tố trung tâm Do đó, nếu cán bộ, công chức sai phạm sẽ làm gián đoạn một mắt xích trong chu trình quản lý Khi phát hiện vi phạm, cần xử lý kỷ luật một cách kịp thời và nghiêm minh để duy trì trật tự, kỷ cương và sự tin cậy đối với hệ thống.

Hoàng Thị Ngân (2012) nhấn mạnh nâng cao vai trò của kỷ luật hành chính trong quản lý cán bộ, công chức, cho rằng việc siết chặt kỷ luật hành chính sẽ tăng cường tính chuyên nghiệp và trách nhiệm của đội ngũ này Bài viết đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 201, trang 74 phân tích cách kỷ luật hành chính tác động lên hiệu quả và năng lực của cả một chu trình hoạt động trong bộ máy nhà nước Vì vậy, củng cố kỷ luật hành chính là yếu tố then chốt để cải thiện chất lượng quản trị, từ công tác tuyển dụng, đào tạo, đánh giá đến thực thi và phục vụ công chúng, đồng thời nâng cao hiệu quả và năng lực của toàn hệ thống.

Thứ ba, việc xếp loại kỷ luật cán bộ, công chức (CB, CC) đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu đóng vai trò then chốt trong việc duy trì, tăng cường và nâng cao kỷ luật trong thực thi công vụ của cơ quan nhà nước Việc tiến hành xếp loại kỷ luật CB, CC ở cả giai đoạn làm việc và sau khi nghỉ hưu giúp đảm bảo tính công bằng, minh bạch và nhất quán trong quản lý nhân sự, từ đó củng cố chuẩn mực công vụ, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và tăng cường niềm tin xã hội vào hệ thống hành chính công.

Việc duy trì, tăng cường và nâng cao kỷ luật trong thực thi công vụ đóng vai trò quan trọng đáng kể trong việc tạo niềm tin của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu: "Phải nâng cao kỷ luật, giữ vững kỷ luật." Phát hiện kịp thời và xử lý kỷ luật nghiêm minh các hành vi vi phạm kỷ luật có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao hiệu quả thực thi công vụ Ngoài ra, với việc vi phạm kỷ luật của một bộ phận cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu như hiện nay, việc chấn chỉnh và siết chặt xử lý kỷ luật mới đủ sức khơi dậy niềm tin vững chắc của nhân dân vào Đảng và Nhà nước.

1.2.2 Đối với cán bộ, công chức

Pháp luật không chỉ dựa trên nền tảng lý luận mà còn phải phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý cán bộ Việc quy định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu là minh chứng cho sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, đồng thời có ý nghĩa quan trọng đối với các cơ quan nhà nước và hệ thống chính trị Xử lý kỷ luật CB-CN nghỉ việc, nghỉ hưu còn đóng vai trò giáo dục, răn đe và phòng ngừa vi phạm cho cán bộ, công chức nói chung và đối với những trường hợp đã nghỉ việc, nghỉ hưu nói riêng.

Thứ nhất, về mặt giáo dục

Giáo dục giúp cán bộ, công chức nhận thức đầy đủ về sự cần thiết và tự giác thực hiện các hành vi tốt, đồng thời tránh các hành vi xấu; công tác giáo dục pháp luật, chính trị và tư tưởng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, đặc biệt là giáo dục tư tưởng đạo đức và nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức Khi cán bộ đương chức nhận thức được trách nhiệm kỷ luật và hậu quả của hành vi sai phạm, ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm được nâng lên, giúp giảm thiểu việc xử lý kỷ luật khi họ nghỉ hưu Cán bộ công chức sẽ điều chỉnh hành vi cho phù hợp với quy định của pháp luật, hạn chế tối đa các trường hợp bị kỷ luật, từ đó góp phần tích cực vào quá trình cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.

Thứ hai, về mặt răn đe, trừng phạt

Pháp luật không chỉ nhằm quản lý xã hội để đảm bảo trật tự và ổn định mà còn đặt ra các chế tài trừng trị đối với những cá nhân vi phạm; các quy định xử lý kỷ luật được thiết lập để hiện thực hóa mục tiêu này Nếu cán bộ, công chức có thành tích tốt sẽ được biểu dương và khen thưởng; ngược lại, những cán bộ, công chức vi phạm kỷ luật, đạo đức sẽ bị xử lý kỷ luật theo quy định, trong đó có việc XLKL.

Đối với CB, CC đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu, cần xác lập rõ ràng trách nhiệm kỷ luật nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xử lý vi phạm Việc này tăng tính răn đe và bảo đảm sự thống nhất với các quy định hiện hành, đồng thời củng cố tính nhất quán trong quản lý cán bộ.

16 Hồ Chí Minh Toàn tập (1984), NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr 116

Hoàng Thị Ngân (2012) nhấn mạnh vai trò của kỷ luật hành chính trong quản lý cán bộ, công chức và cho rằng chế tài này là công cụ thích đáng để xử lý sai phạm của cán bộ, công chức khi đương nhiệm cũng như những vi phạm được phát hiện sau khi nghỉ việc, nghỉ hưu Đồng thời, cơ chế này vừa là công cụ răn đe đối với các trường hợp vi phạm vừa là bài học để các cán bộ, công chức chưa vi phạm có ý thức tự kiểm điểm và thực hiện nhiệm vụ một cách nghiêm túc nhằm tránh sai phạm tương tự Đây được xem là sự trừng trị nghiêm khắc của Đảng đối với những người từng vi phạm và là bài học đích thực cho toàn bộ hệ thống quản lý cán bộ, công chức.

Nhà nước coi công bộc là người đại diện của nhân dân, nhưng khi họ không hoàn thành đầy đủ vai trò, chức trách thì các loại trách nhiệm pháp lý vẫn mang tính răn đe cao, trong khi trách nhiệm hình sự nhấn mạnh yếu tố trừng phạt Với trách nhiệm kỷ luật, mức độ trừng phạt được thể hiện rõ ở việc phải trả giá cho vi phạm bất kể hoàn cảnh khách quan hay chủ quan, kể cả khi đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu Đây là giá trị lớn nhất mà xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu đạt được so với trách nhiệm kỷ luật áp dụng đối với cán bộ, công chức đang đương chức.

Thứ ba, về mặt phòng ngừa

Quy định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu có tác dụng phòng ngừa vi phạm pháp luật đối với cả cán bộ, công chức vi phạm và những người không vi phạm, từ đó nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và giúp cán bộ, công chức nhận diện rõ điều nên làm và không nên làm để tránh vi phạm pháp luật trong suốt quá trình đương nhiệm công tác.

THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ KỶ LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC ĐÃ NGHỈ VIỆC, NGHỈ HƯU

Tình hình vi phạm của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu mới phát hiện vi phạm trong thời gian công tác

2.1.1 Trước khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 có hiệu lực (trước ngày 01 tháng 7 năm

Ngay từ năm 2016, tức đầu nhiệm kỳ Đại hội XII, cho đến trước khi Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 có hiệu lực (01/7/2020), công tác XLKL CB đương nhiệm và cả những cán bộ, công chức đã nghỉ hưu là vấn đề nóng được dư luận quan tâm và thực hiện có hiệu quả nhờ sự chỉ đạo sát sao của Đảng và sự vào cuộc của Nhà nước Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30 tháng 10 năm 2016 của Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cùng những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa, cho thấy quyết tâm mạnh mẽ trong công tác XLKL CB, CB đã nghỉ việc, nghỉ hưu nói riêng Một trong những nhiệm vụ và giải pháp được thực hiện mạnh mẽ là siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức; cán bộ, đảng viên vi phạm phải được xử lý kịp thời, công khai, minh bạch và công bằng Thông qua việc triển khai và đưa Nghị quyết 04-NQ/TW vào cuộc sống, công tác XLKL CB, CC được tăng cường và củng cố niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng.

Ban chấp hành Trung ương khóa XII đã đồng hành cùng đời sống xã hội và kiên quyết thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, được ban hành kèm theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủ Những kết quả đáng ghi nhận cho thấy sự tiến bộ ở chỉ số hài lòng của người dân đối với đội ngũ cán bộ, công chức từ 81,81% năm 2017 lên 85,1% năm 2018 và 85,62% năm 2019 Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đánh giá công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng được đẩy mạnh, có nhiều đổi mới, thực hiện toàn diện, đồng bộ, có hiệu lực, hiệu quả, nhất là ở cấp Trung ương; hoạt động của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp được tăng cường, kỷ luật, kỷ cương được siết chặt.

Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được như đã nêu, số vụ vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức, kể cả những người đã nghỉ hưu, ngày càng phát hiện ở mức gia tăng về số lượng và phạm vi Qua công tác kiểm tra, giám sát trong nhiệm kỳ XII vừa qua, kết quả cho thấy sự nỗ lực trong công tác kỷ luật: Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với trên 15.000 tổ chức đảng và trên 47.000 đảng viên (trong đó trên 23.000 là cấp ủy viên các cấp), giám sát trên 183.000 tổ chức đảng và trên 528.000 đảng viên (trong đó trên 154.000 là cấp ủy viên các cấp); tập trung nhiều vào những điểm nóng, những lĩnh vực nhạy cảm và dễ phát sinh tiêu cực.

56 Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30 tháng 10 năm 2016 của Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XII về

Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm củng cố nền tảng tư tưởng và kỷ cương tổ chức Đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các biểu hiện 'tự diễn biến', 'tự chuyển hóa'.

Năm 2019, 57 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội Cựu chiến binh Việt Nam công bố chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước, làm nổi bật những vấn đề bức xúc dư luận quan tâm và mức độ tín nhiệm vào hệ thống công quyền Báo cáo cho thấy sự vi phạm của đội ngũ cán bộ, công chức khi còn đương chức nhưng khi nghỉ hưu mới phát hiện được, thể hiện qua suy thoái đạo đức, lối sống, dẫn tới lãng phí, tham nhũng và nhũng nhiễu nhân dân ở nhiều ngành, lĩnh vực với mức độ ngày càng tăng và có tính tổ chức chặt chẽ, móc nối phức tạp để trục lợi Một số cấp ủy nhận xét chung chung hoặc sai lệch đến mức vô trách nhiệm; nhiều vụ việc tham nhũng, tha hóa đạo đức và lối sống của cán bộ, đảng viên phải được đưa ra xét xử và xử lý kỷ luật Đáng chú ý, hành vi tham nhũng nổi lên là hiện tượng cực kỳ nổi cộm và được xử lý nhiều nhất.

Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng (2016) đến năm 2020, công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục có bước tiến mạnh mẽ với nhiều chủ trương, giải pháp đột phá đi vào chiều sâu và đạt được nhiều kết quả rất quan trọng Về kết quả phát hiện, xử lý tham nhũng, toàn ngành thanh tra đã triển khai 4.706 cuộc thanh tra hành chính và 150.560 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành; qua thanh tra đã chấn chỉnh quản lý, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật trên nhiều lĩnh vực; phát hiện vi phạm về kinh tế 64.551 tỷ đồng, 7.077 ha đất; kiến nghị thu hồi 26.007 tỷ đồng và trên 1.174 ha đất, chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 124 vụ, 118 đối tượng Kết quả kiểm toán đã kiến nghị xử lý tài chính 54.770,44 tỷ đồng; chuyển hồ sơ 04 vụ việc có dấu hiệu tội phạm được phát hiện thông qua kiểm toán sang Cơ quan Cảnh sát điều tra; 02 vụ việc báo cáo Thủ tướng Chính phủ; cung cấp 101 báo cáo kiểm toán và các tài liệu có liên quan cho các cơ quan chức năng Các cơ quan điều tra trong Công an Nhân dân đã thụ lý điều tra 508 vụ án, 1.186 bị can phạm tội tham nhũng Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã giải quyết 218 vụ/621 bị can, đạt 74,1%, giảm 17,5% so với cùng kỳ năm 2019 (trong đó truy tố 218 vụ/577 bị can) Tòa án Nhân dân các cấp đã thụ lý 388 vụ với 1.101 bị cáo; đã xét xử sơ thẩm 203 vụ với 523 bị cáo về các tội tham nhũng.

Hiện nay, báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng đã phản ánh khá rõ một thực tế: nhiều vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu vẫn bị phát hiện muộn sau khi rời khỏi chức vụ Theo đó, hàng loạt vụ việc vi phạm kỷ luật tại thời điểm đương nhiệm được ghi nhận nhưng chỉ sau khi nghỉ hưu mới được phát hiện và lên tiếng công khai Qua tổng hợp, tìm hiểu thực trạng cho thấy có một số vụ việc điển hình ở cấp trung ương cho thấy sự chậm trễ trong việc nhận diện và xử lý vi phạm khi người vi phạm đã nghỉ hưu Các vụ việc này nhấn mạnh nhu cầu tăng cường công tác giám sát kỷ luật cả khi còn đương chức và sau khi nghỉ hưu, nhằm tăng tính răn đe và đảm bảo kỷ cương trong hệ thống.

Thứ nhất, vi phạm của ông Vũ Huy Hoàng liên quan tới thời kỳ ông đảm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Công Thương từ năm 2011 đến 2016 và đến nay ông đã bị xóa tư cách nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương Tháng 4/2016, tại kỳ họp thứ 11 của Quốc hội khóa XIII, Quốc hội phê chuẩn miễn nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Công Thương và Chủ tịch nước đã ký quyết định miễn nhiệm.

58 https://tuoitre.vn/ky-luat-de-nghi-ky-luat-hon-1300-to-chuc-dang-gan-70000-dang-vien- 20210127170750397.htm (truy cập ngày 20/5/2021)

59 Dương Quang Hiển (2017), “Phòng chống suy thoái đạo đức, lối sống trong Cán bộ, Đảng viên”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, (số 09), tr 65

60 https://thanhtra.gov.vn/xem-chi-tiet-tin-tuc/-/asset_publisher/Content/quoc-hoi-cho-y-kien-bao-cao-cua- chinh-phu-ve-cong-tac-pctn-nam-2020?6006561 (truy cập 20/5/2020)

Vào ngày 03/11/2016, sau khi xem xét báo cáo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Bí thư kết luận ông Hoàng đã có biểu hiện buông lỏng lãnh đạo và chỉ đạo, thiếu trách nhiệm, vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ và vi phạm quy chế làm việc của Ban cán sự đảng.

Vi phạm, khuyết điểm được nêu ra đối với Ban cán sự đảng Bộ Công thương và ông Vũ Huy Hoàng đã gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, của Bộ Công thương và cá nhân ông Hoàng, đồng thời gây bức xúc trong xã hội Như vậy, sau khi được miễn nhiệm (không còn đảm nhận chức vụ và công việc) mới phát hiện ra các vi phạm này; do đó có thể khẳng định các hành vi vi phạm được thực hiện khi ông Hoàng còn đương chức nhưng lại chỉ bị phát hiện sau khi nghỉ việc.

Thứ hai, đó là vi phạm của ông Nguyễn Bắc Son Ông Son trước đây từng là

Nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông của nhiệm kỳ 2011 – 2016 đã bị xóa tư cách và miễn nhiệm chức vụ Cụ thể, vào tháng 4/2016, tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã phê chuẩn và Chủ tịch nước miễn nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Ngày 02/6/2018, kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khẳng định những vi phạm của Ban Cán sự Đảng Bộ TT-TT, ông Nguyễn Bắc Son và các cá nhân liên quan là rất nghiêm trọng, làm thất thoát lớn tài sản nhà nước, ảnh hưởng xấu đến hoạt động và quá trình cổ phần hóa của Tổng công ty MobiFone, làm suy giảm uy tín của tổ chức Đảng và Bộ TT-TT, gây bức xúc trong xã hội, đến mức phải xem xét xử lý kỷ luật.

Ông Son đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc, thiếu dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo và không bàn bạc, thảo luận tập thể Ban Cán sự Đảng trực tiếp chỉ đạo và quyết định nhiều nội dung liên quan đến dự án không đúng quy định, ký văn bản trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư và giao cho cấp dưới ký một số văn bản liên quan đến dự án có nội dung trái quy định, không đúng nhiệm vụ được phân công; thiếu chỉ đạo, kiểm tra quá trình thực hiện dự án, để xảy ra nhiều vi phạm rất nghiêm trọng Như vậy, sau khi được miễn nhiệm (tức không còn đảm nhận chức vụ và công việc) thì mới phát hiện ra những vi phạm của ông Son, cho thấy các hành vi vi phạm này được thực hiện khi còn đương nhiệm nhưng nghỉ việc mới phát hiện ra vi phạm đó.

Thứ ba là vi phạm của ông Nguyễn Minh Quang, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhiệm kỳ 2011–2016 Ông Quang được nhắc đến với vi phạm liên quan đến thời kỳ lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường Tháng 4/2016, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII, Quốc hội phê chuẩn miễn nhiệm chức vụ Bộ trưởng của ông, và Chủ tịch nước ký quyết định miễn nhiệm.

61 http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/tieusulanhdao?personProfileIdt8&govOrgId(56 (truy cập ngày 20/5/2021)

62 https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/ban-bi-thu-ky-luat-cuu-bo-truong-vu-huy-hoang-337762.html (truy cập ngày 20/5/2021)

63 https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/ban-bi-thu-ky-luat-cuu-bo-truong-vu-huy-hoang-337762.html (truy cập ngày 20/5/2021)

64 http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/tieusulanhdao?personProfileId430&govOrgId(84 (truy cập ngày 20/5/2021)

65 https://tuoitre.vn/de-nghi-khai-tru-dang-cac-ong-nguyen-bac-son-truong-minh-tuan- 20190930170346992.htm (truy cập ngày 20/5/2021)

Trong hai ngày 18/4/2017 và 21/4/2017, Ban Bí thư đã họp để xem xét báo cáo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Theo đó, Ban Bí thư xác định ông Nguyễn Minh Quang, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, có những vi phạm, khuyết điểm gây hậu quả rất nghiêm trọng cho môi trường và đời sống của nhân dân; gây bức xúc xã hội; làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và môi trường đầu tư; ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng.

Theo thông tin từ Bộ Tài nguyên và Môi trường và tỉnh Hà Tĩnh, sau khi ông Quang được miễn nhiệm (tức không còn đảm nhận chức vụ và công việc) mới phát hiện ra những vi phạm liên quan đến ông Do đó, có thể cho rằng các hành vi vi phạm của ông Quang đã diễn ra trong thời gian đương chức nhưng chỉ được phát hiện sau khi nghỉ việc.

Thực trạng về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

2.2.1 Bất cập pháp luật về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

Trước ngày 01/7/2020, hệ thống pháp luật Việt Nam không có văn bản quy định xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu; luật Cán bộ, Công chức chỉ quy định xử lý kỷ luật đối với công chức đã chuyển công tác (khoản 4 Điều 15 Nghị định 34/2011/NĐ-CP) và trường hợp nghỉ công tác chờ làm thủ tục nghỉ hưu (khoản 1 Điều 22 Nghị định 34/2011/NĐ-CP) Theo giải thích của Bộ Nội vụ, các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý kỷ luật còn thiếu, chưa thống nhất, áp dụng vào thực tiễn còn nhiều khoảng trống, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý cán bộ; nhiều hành vi vi phạm phải bị xử lý kỷ luật nhưng chưa được quy định, và các quy định về áp dụng hình thức kỷ luật còn chung chung, khó áp dụng Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có một số Luật hiện hành quy định điều chỉnh đối với đối tượng là cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu, cụ thể như sau.

Luật Cơ yếu ngày 26 tháng 11 năm 2011 quy định: Điều 29 Thời hạn không được tham gia hoạt động mật mã

Người làm việc trong tổ chức cơ yếu được quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 23 của Luật này khi nghỉ hưu, chuyển ngành, chuyển công tác khác hoặc thôi việc thì trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày có quyết định nghỉ hưu, chuyển ngành, chuyển công tác khác hoặc thôi việc, không được tham gia hoạt động mật mã cho tổ chức, cá nhân ngoài ngành cơ yếu.

Luật Phòng, chống tham nhũng ngày 20 tháng 11 năm 2018 quy định:

“ Điều 92 Xử lý người có hành vi tham nhũng

1 Người có hành vi tham nhũng giữ bất kỳ chức vụ, vị trí công tác nào đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác.”

Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã bổ sung quy định về xử lý kỷ luật đối với người đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu khi phát hiện vi phạm trong thời gian công tác, tạo khuôn khổ pháp lý rõ ràng cho các trường hợp này Giải pháp này nhằm đảm bảo công bằng, ngăn ngừa các hành vi tiêu cực và giảm thiểu những bất công, từ đó củng cố niềm tin của nhân dân vào quản lý nhà nước Việc áp dụng hiệu quả quy định mới được cho là sẽ giảm bớt bức xúc xã hội và tăng cường tính minh bạch, kỷ cương trong hệ thống công vụ.

Đối với công chức đã chuyển công tác nhưng bị phát hiện vi phạm pháp luật trong thời hạn quy định, cơ quan quản lý công chức trước đây có trách nhiệm ra quyết định kỷ luật và gửi hồ sơ, quyết định kỷ luật đến cơ quan đang quản lý công chức Nếu cơ quan trước đây đã giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, những người có trách nhiệm liên quan phải bàn giao đầy đủ hồ sơ để cơ quan đang quản lý công chức tiếp tục tiến hành xử lý kỷ luật.

Trường hợp công chức đang nghỉ công tác để làm thủ tục nghỉ hưu bị phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian thi hành công vụ, cơ quan, tổ chức, đơn vị dừng việc giải quyết thủ tục nghỉ hưu cho đến thời điểm có quyết định kỷ luật hoặc có kết luận công chức không vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền xử lý kỷ luật.

83 Bộ Nội Vụ (2018), Báo cáo số 4201/BC-BNV năm 2018 của Bộ Nội vụ về Tổng kết thi hành Luật Cán bộ,

84 Bộ Nội vụ (2018) công bố báo cáo số 4203/BC-BNV của Bộ Nội vụ về đánh giá tác động dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, Công chức và Luật Viên chức năm 2019.

Qua thực tiễn triển khai pháp luật về công tác xử lý kỷ luật CB, CC đã nghỉ việc, nghỉ hưu cho thấy vẫn còn nhiều bất cập Hệ thống văn bản còn chồng chéo, thiếu quy định rõ thẩm quyền và trình tự xử lý đối với người đã nghỉ việc, sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa đồng bộ, và quy trình xem xét, kết luận còn kéo dài, thiếu tính minh bạch và khả thi trong thực tế Cụ thể, các tồn tại chủ yếu tập trung ở việc thiếu hướng dẫn cụ thể cho từng trường hợp nghỉ việc, chưa có cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả, và còn thiếu chế tài phù hợp để đảm bảo việc xử lý kỷ luật sau nghỉ không bị bỏ ngỏ.

Thứ nhất, về vấn đề quy định hành vi vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019, mọi hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu đều bị xử lý theo quy định của pháp luật Cụm từ “mọi hành vi” trong quy định này mang tính khái quát và định tính, từ đó dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng Do đó, còn tồn tại một số bất cập cần được làm rõ và khắc phục để bảo đảm tính nhất quán và công bằng khi xử lý vi phạm của cán bộ, công chức đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu.

Việc quy định chi tiết các hành vi vi phạm kỷ luật theo hướng liệt kê cho thấy Chính phủ đang hướng tới sự rõ ràng, nhưng liệu Nghị định có thể liệt kê hết mọi vi phạm của cán bộ, công chức hay không, bởi còn những hành vi vi phạm ranh giới rất mong manh và khó xác định chế tài tương ứng; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tính chất hành vi vi phạm kỷ luật cũng chưa được tính đầy đủ Thực tế, các hành vi được quy định tại Điều 6 Nghị định 112/2020/NĐ-CP chỉ mang tính nguyên tắc và định hướng áp dụng; trên thực tế, tùy từng hành vi cụ thể sẽ có các chế tài xử lý kỷ luật tương ứng ở từng hình thức kỷ luật Vì vậy, quy định tại Điều 6 có thể được xem là không cần thiết nếu các hành vi đã được quy định rõ ràng trong các hình thức kỷ luật.

Hai là, giả sử một hành vi trong thực tế được xem là vi phạm kỷ luật theo một văn bản khác, nhưng hành vi này lại không được quy định trong điều luật về hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật 87 theo Luật sửa đổi, bổ sung năm … Điều này tạo ra một khoảng trống trong hệ thống xử lý kỷ luật, khiến việc áp dụng hình thức xử lý phù hợp trở nên khó khăn khi không có quy định cụ thể Vì vậy, cần cân nhắc việc tham chiếu đến các văn bản liên quan hoặc áp dụng nguyên tắc giải thích luật để xác định xem hành vi đó có thể bị xem là vi phạm và mức xử lý nào tương ứng, đồng thời bảo đảm sự nhất quán giữa thực tế hành vi và quy định pháp lý hiện hành.

Vấn đề liệu có thể xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu theo quy định tại 2019 và Nghị định 112/2020/NĐ-CP chưa có câu trả lời rõ ràng; ví dụ hành vi “tiết lộ thông tin, tài liệu về kết luận kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức” (điểm 88) có thể bị xử lý kỷ luật khiển trách khi áp dụng xử lý vi phạm hành chính, tuy nhiên Khoản 9 Điều 8 của Nghị định 112/2020/NĐ-CP lại quy định các hành vi vi phạm khác liên quan đến cán bộ, công chức và đưa vào một “điều khoản quét” ở cuối vì Nghị định không thể liệt kê hết tất cả các hành vi vi phạm; do vậy Nghị định 19/2020/NĐ-CP đặt ra câu hỏi có phải dư thừa khi đã có quy định chung của Nghị định 112/2020/NĐ-CP, và nếu hai nghị định mâu thuẫn về hình thức kỷ luật áp dụng đối với vi phạm thì cần có cơ chế làm rõ và giải quyết.

85 Khoản 18 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, Công chức và Luật Viên chức ngày 01 tháng 7 năm 2020

86 Vũ Thư (2020), “Một số vấn đề về hoàn thiện chế định trách nhiệm kỷ luật hành chính ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (số 06), tr 18

87 Điều 6 Nghị định 112/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18 tháng 9 năm 2020 quy định về về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức

Khoản 1 Điều 24 của Nghị định 19/2020/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2020 quy định về kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính; theo nguyên tắc, Nghị định 112/2020/NĐ-CP phải bao quát đầy đủ các hành vi vi phạm kỷ luật được quy định trong Nghị định 19/2020/NĐ-CP và quy định rõ thẩm quyền, trình tự, biện pháp xử lý nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu lực của công tác kiểm tra và xử lý kỷ luật đối với hành vi vi phạm hành chính.

Ba là, nếu khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện vi phạm kỷ luật nhưng hành vi này thuộc nhóm hành vi áp dụng thời hiệu và thời hiệu xử lý kỷ luật đã hết thì trong trường hợp này vẫn không thể tiến hành xử lý kỷ luật được Điều này mâu thuẫn với quy định của Luật như đã nêu về cụm từ “mọi hành vi” (Điều 89) Do đó, không phải mọi hành vi vi phạm được thực hiện trong thời gian công tác nhưng khi nghỉ việc, nghỉ hưu mới phát hiện đều bị xử lý kỷ luật.

Thứ hai, về vấn đề quy định các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

Hiện nay, Nghị định 112/2020/NĐ-CP không có quy định rõ ràng về việc thi hành hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu Mức quy định tại Luật chỉ nêu chung ba hình thức kỷ luật cho đối tượng này mà không có điều khoản hướng dẫn thi hành trong Nghị định, khiến việc áp dụng gặp khó khăn Điều này dẫn tới lúng túng trong thực tiễn triển khai và chưa thật sự phù hợp với tình hình thực tế Cụ thể, một số bất cập phát sinh như thiếu quy trình thi hành rõ ràng, thiếu hướng dẫn về thẩm quyền và đối tượng áp dụng sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu, làm giảm hiệu quả xử lý kỷ luật và gây nhầm lẫn cho cơ quan quản lý.

Nguyên nhân của những hạn chế trong xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật về XLKL CB, CC đã nghỉ việc, nghỉ hưu không có và thiếu đồng bộ trong xử lý kỷ luật

Trước khi Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 được ban hành, pháp luật Việt Nam chưa có quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu Trong thực tiễn công vụ, nhiều hành vi vi phạm vẫn phải bị xử lý kỷ luật nhưng chưa có quy định cụ thể để áp dụng (122).

Việc phát hiện vi phạm trên thực tế nhưng không xử lý được do thiếu cơ sở xử lý tạo ra một khoảng trống lớn trong quản trị kỷ luật, đặc biệt đối với các vi phạm được phát hiện sau khi người vi phạm đã về hưu Khoảng trống này ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả của hệ thống kỷ luật nói chung và làm giảm niềm tin của cán bộ, công chức vào tính công bằng của cơ chế xử lý vi phạm Để khắc phục, cần xây dựng khung pháp lý rõ ràng, các cơ chế rà-soát và cập nhật dữ liệu vi phạm, nhằm tăng khả năng xử lý cả với người đã về hưu và những vi phạm được phát hiện muộn Mặt khác, việc nâng cao sự liên thông giữa các cơ quan chức năng và triển khai quy trình xử lý kỷ luật linh hoạt sẽ đảm bảo tính nhất quán và hiệu quả của hệ thống quản trị kỷ luật.

Thiếu sự đồng bộ giữa thi hành kỷ luật hành chính đối với cán bộ, công chức đã nghỉ hưu và kỷ luật Đảng với tư cách đảng viên dẫn đến tình trạng vi phạm thời công tác bị phát hiện sau khi nghỉ mà chưa tới mức xử lý hình sự, thì vẫn không thể bị xử lý kỷ luật hành chính Khi nghỉ việc, nghỉ hưu mà hành vi vi phạm được phát hiện, nếu mức độ vi phạm chưa đến mức xử lý hình sự thì kỷ luật hành chính không thể áp dụng; ngược lại, nếu sau khi nghỉ việc, nghỉ hưu phát hiện ra hành vi vi phạm thì vẫn bị xử lý kỷ luật Đảng bình thường nhưng cũng không thể xử lý kỷ luật hành chính Nguyên nhân là không có cơ sở pháp lý quy định xử lý kỷ luật người đã nghỉ việc, nghỉ hưu trong khoảng thời gian trước khi Luật sửa đổi, bổ sung năm được ban hành.

2019 được ban hành; cho nên cơ quan có thẩm quyền muốn tiến hành xử lý kỷ luật hành chính một ai đó cũng không được

Thứ hai, pháp luật quy định còn chung chung nên phải đợi các văn bản hướng dẫn thi hành dưới luật thì mới áp dụng được

Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/7/2020, các vấn đề liên quan đến xử lý kỷ luật người đã nghỉ việc, nghỉ hưu được Quốc hội giao cho Chính phủ quy định chi tiết Nghị định 112/2020/NĐ-CP được ban hành để quy định hướng dẫn về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức và viên chức và có hiệu lực từ ngày 20/9/2020, cho thấy sau hơn hai tháng Chính phủ mới ban hành nghị định hướng dẫn thi hành những vấn đề được Quốc hội giao Giả sử phát hiện hành vi vi phạm trong khoảng thời gian này mà chưa có nghị định hướng dẫn sẽ khiến việc xử lý trên thực tế gặp nhiều khó khăn.

122 Bộ Nội vụ (2018), Báo cáo số 4201/BC-BNV năm 2018 về Tổng kết thi hành Luật Cán bộ, Công chức (2010

Bộ Nội vụ năm 2018 công bố Báo cáo số 4203/BC-BNV về Đánh giá tác động của dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, Công chức và Luật Viên chức năm 2019, trong đó trang 34 nêu rõ các tác động đối với quản lý cán bộ, công chức và viên chức và cung cấp căn cứ để hoàn thiện dự thảo luật.

Thứ ba, vấn đề pháp lý về xử lý kỷ luật người đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu khi phát hiện vi phạm trong thời gian công tác được quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung năm …; bài viết phân tích phạm vi áp dụng, căn cứ xử lý và thẩm quyền, đồng thời nêu trình tự, thời hạn và các quyền lợi của người bị xử lý khi đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mà vi phạm được phát hiện sau khi rời đơn vị Nội dung nhằm tăng tính minh bạch và hợp lệ của quá trình xử lý kỷ luật, bảo đảm nguyên tắc công bằng và phù hợp với các quy định liên quan về trách nhiệm và hình thức kỷ luật.

2019 còn nhiều bất cập và vướng mắc

Như đã trình bày ở phần thực trạng pháp luật, quy định về xử lý kỷ luật đối với người đã nghỉ việc, nghỉ hưu vẫn mang tính chung chung và thiếu nhất quán, đồng thời nhiều nội dung chưa được hướng dẫn đầy đủ trong nghị định nên khó áp dụng như hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật, nguyên tắc xử lý kỷ luật, thời hiệu và thời hạn xử lý kỷ luật Bên cạnh đó, nhiều quy định tạo ra các cách hiểu khác nhau về đối tượng cán bộ, công chức bị xử lý khi đã nghỉ việc là ai, khiến phạm vi xử lý chưa được làm rõ Mặt khác, luật còn thiếu quy định về tên gọi và hình thức của quyết định xử lý kỷ luật, hiệu lực của quyết định và thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với công chức nghỉ việc, nghỉ hưu khi đương nhiệm mà không giữ chức vụ quản lý.

Thứ tư, do tác động của những yếu tố liên quan khác

Cơ chế kiểm soát quyền lực được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra, khiếu nại, tố cáo nhưng vẫn chưa hoàn thiện và còn nhiều sơ hở pháp lý, là yếu tố làm phát sinh vi phạm của một số cán bộ, công chức trong thời kỳ đương nhiệm và chỉ được phát hiện khi họ đã nghỉ hưu Vi phạm khó phát hiện khiến việc xử lý không phải là yếu tố duy nhất, mà quan trọng là khả năng nhận diện và phát hiện vi phạm kịp thời Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có thẩm quyền xử lý kỷ luật người đã nghỉ việc, nghỉ hưu chưa đồng đều; ở nhiều nơi còn hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Thứ nhất, công tác kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay chưa thật sự tốt và còn nhiều hạn chế

Để xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu, phải phát hiện vi phạm trong thời đương nhiệm thông qua quá trình thanh tra, giám sát của các cơ quan nhà nước; việc kiểm tra công vụ được tiến hành thường xuyên bởi chính cơ quan của cán bộ, công chức đó và cơ quan cấp trên trực tiếp Tuy nhiên, việc phát hiện và xác minh vi phạm trên thực tế gặp nhiều khó khăn vì nhiều vi phạm đã xảy ra từ lâu, khiến việc phát hiện sau khi nghỉ hưu rất khó và điều quan trọng không chỉ là xử lý mà còn là phát hiện vi phạm lúc cán bộ, công chức đang đương chức hay đã nghỉ hưu Ví dụ về tham nhũng cho thấy: theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ về công tác Phòng, chống tham nhũng năm 2020, ngành thanh tra đã triển khai 4.706 cuộc thanh tra hành chính và 150.560 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành; qua thanh tra đã chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 124 vụ, 118 đối tượng; kết quả kiểm toán kiến nghị chuyển hồ sơ 4 vụ việc có dấu hiệu tội phạm được phát hiện thông qua kiểm toán sang Cơ quan Cảnh sát điều tra; 2 vụ việc được báo cáo Thủ tướng Chính phủ, và các cơ quan điều tra trong Công an Nhân dân đã thụ lý điều tra 508 vụ án.

Theo số liệu được báo cáo, có 186 bị can phạm tội tham nhũng và 124 vụ việc liên quan được xử lý, cho thấy công tác thanh tra được triển khai với quy mô hàng ngàn lượt nhưng kết quả thực tế chỉ đạt ở mức vài trăm vụ vi phạm được làm rõ Con số này khiến nhiều người đặt nghi vấn về chất lượng kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước hiện nay Nếu vi phạm không được phát hiện lúc đương chức, khi nghỉ hưu khả năng phát hiện sẽ càng khó khăn do thời gian trôi qua và sự im lặng kéo dài Bên cạnh đó, việc phát hiện các vi phạm còn chưa kịp thời và xử lý kỷ luật chỉ xuất hiện khi sự việc liên quan bị kéo ra từ một vi phạm khác, trong khi tính chủ động để xử lý vẫn còn ít.

Thứ hai, những người có thẩm quyền ra quyết định kỷ luật thường chịu áp lực tâm lý sợ bị cho rằng quản lý không nghiêm, điều này dễ làm họ thiếu kiên quyết và dẫn tới nhiều lỗi công vụ trong cơ quan, đơn vị của mình.

Yếu tố tâm lý và nhận thức đóng vai trò quan trọng nhưng hiện vẫn chưa được trang bị đầy đủ để thực thi hiệu quả các quy định Nỗi sợ ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan khiến cán bộ e ngại khi báo cáo vi phạm, dẫn đến thái độ nể nang và cố tình bao che; nhiều vụ sai phạm bị che giấu khi cấp dưới “đóng cửa bảo nhau” ở một số cơ quan, khiến việc phát hiện và xử lý gặp khó khăn, nhất là khi sai phạm chỉ được nhìn thấy sau khi cán bộ nghỉ hưu hoặc đang đương chức Với tâm lý bao che lâu nay trong hệ thống công vụ, những vụ vi phạm lớn mới được xem xét xử lý sau khi nghỉ hưu, còn các hành vi vi phạm nhỏ ít được quan tâm và mức độ nhẹ khó bị xử lý, nên dù có sai phạm nhưng động lực xử lý chưa đủ mạnh và dễ bị bỏ qua.

Ở khía cạnh thứ ba, việc phê bình, tự chỉ trích, nhận lỗi và từ chức của cán bộ, công chức vẫn chưa được chú ý thực hiện một cách tự giác ở các cơ quan, tổ chức cũng như tại từng cá nhân vi phạm.

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức ở cả Trung ương và địa phương vẫn thể hiện sự chủ quan và ỳ ạch trong tư duy nhận thức, khiến khả năng thay đổi hành vi trước phản ánh của Nhân dân bị hạn chế Vì phần lớn đội ngũ này là đảng viên, học tập Nghị quyết về vấn đề này được xem là nhiệm vụ thường xuyên của các tổ chức Đảng nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy cải cách hành vi Tuy nhiên, kết quả thực hiện ở nhiều nơi rất nghiêm túc, trong khi ở một số nơi khác vẫn mang tính làm cho có và hời hợt Dù Nghị quyết có tuyên truyền và nhiều bản kiểm điểm cán bộ, đảng viên ghi nhận ưu điểm và khuyết điểm, thực tế những nội dung đó đôi khi chỉ là chữ viết đầy đủ mà chưa chuyển hóa thành hành động cụ thể.

Thứ tư, có sự hạn chế nhất định từ các chủ thể có thẩm quyền xử lý kỷ luật

Một số bộ phận cán bộ, công chức có thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với người đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu chưa nhận thức đầy đủ quyền hạn được giao và chưa thực hiện đúng chức trách trong thực thi nhiệm vụ Việc thiếu trách nhiệm hoặc không thực hiện đầy đủ chức trách có thể gây sai lệch trong công tác xử lý kỷ luật và ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, làm giảm niềm tin của người dân vào cơ quan nhà nước.

124 https://thanhtra.gov.vn/xem-chi-tiet-tin-tuc/-/asset_publisher/Content/quoc-hoi-cho-y-kien-bao-cao-cua- chinh-phu-ve-cong-tac-pctn-nam-2020?6006561 (truy cập ngày 03/6/2021)

125 Cao Thị Hà (2012), “Kỷ Luật Cán bộ, Công chức – Cần một nhận thức nghiêm túc hơn”, Tạp chí Quản lý nhà nước, (số 201), tr 76

Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

2.4.1 Kiến nghị về mặt pháp luật

Phân tích các bất cập đã nêu cho thấy pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu cần được sửa đổi, bổ sung cụ thể ở những điểm vướng mắc nhằm bảo đảm sự công bằng, minh bạch và hiệu quả trong quản lý cán bộ sau khi rời khỏi cơ quan; các nội dung sửa đổi nên tập trung vào phạm vi áp dụng, thẩm quyền và trình tự xử lý, thời hiệu và điều kiện khởi tố hoặc khiếu nại, quyền và nghĩa vụ của người bị xử lý, cũng như cơ chế bảo vệ quyền lợi và cơ chế giám sát, kiểm tra, thanh tra để tăng cường trách nhiệm và nâng cao hiệu quả thực thi.

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về đối tượng cán bộ, công chức đã nghỉ việc bị xử lý kỷ luật

Nghị định 112/2020/NĐ-CP quy định rõ đối tượng áp dụng là cán bộ, công chức đã nghỉ việc hoặc đã nghỉ hưu, trong đó việc xác định đối với người đã nghỉ hưu được thực hiện một cách rõ ràng Tuy nhiên, đối với trường hợp cán bộ, công chức đã “nghỉ việc” lại chưa được làm rõ, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau và gây ra sự không thống nhất trong thực thi.

Theo Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 và Nghị định 112/2020/NĐ-CP, cần bổ sung thuật ngữ “nghỉ việc” vào phần giải thích từ ngữ; đồng thời quy định mới phải phân biệt rõ giữa các trường hợp nghỉ việc và các trường hợp áp dụng quy định xử lý kỷ luật đối với người đã nghỉ việc khi vi phạm được phát hiện trong thời gian công tác, nhằm bảo đảm tính nhất quán và công bằng trong xử lý vi phạm và tránh nhầm lẫn giữa thời gian công tác và nghỉ việc.

Để làm rõ ý nghĩa thuật ngữ nghỉ việc trong hệ thống pháp luật, có thể bổ sung quy định giải thích từ ngữ theo hướng: “Nghỉ việc là việc cán bộ, công chức, viên chức dừng hẳn một công việc và chuyển công tác ra khỏi khu vực nhà nước.” Quy định này làm cho pháp luật rõ ràng hơn, đồng thời giúp công tác áp dụng pháp luật được thống nhất và dễ nhận diện các dấu hiệu pháp lý để xử lý đúng với tinh thần quy định.

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về quy định các hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật sau khi đã nghỉ việc, nghỉ hưu

Nghị định 112/2020/NĐ-CP dùng phương pháp liệt kê để quy định các hành vi vi phạm kỷ luật, nhưng cách tiếp cận này còn tồn tại những điểm chưa hợp lý vì khó liệt kê và dự liệu hết mọi hành vi vi phạm; hiện nay các hành vi vi phạm ngày càng tinh vi và mang tính công nghệ cao như vi phạm về bảo vệ bí mật nhà nước, sử dụng văn bằng, giấy tờ giả Do đó cần nghiên cứu và bổ sung thêm các hành vi vi phạm kỷ luật thường gặp trên thực tế vào từng điều luật quy định về áp dụng hình thức kỷ luật đối với người đã nghỉ việc, nghỉ hưu, để dễ nhận diện hành vi và từ đó xác định hình thức kỷ luật tương ứng Đồng thời, khi phát hiện hành vi vi phạm của cán bộ, công chức sau khi đã nghỉ việc, nghỉ hưu, cơ sở xử lý kỷ luật sẽ có căn cứ pháp lý vững chắc để tiến hành xử lý.

Hai là, như đã trình bày, quy định về các hành vi bị xử lý kỷ luật tại Điều 6

Nghị định 112/2020/NĐ-CP chưa đảm bảo tính khả thi khi các hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật được quy định ở các văn bản pháp luật khác nhau, dẫn tới chồng chéo và thiếu sự thống nhất Trong lần sửa đổi sắp tới, các nhà làm luật nên định hướng ban hành các quy định về hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý kỷ luật hiện có và sẽ có, nhằm đảm bảo tính nhất quán và tránh sự chồng chéo Cụ thể, cần xem xét và liên hệ các hành vi vi phạm kỷ luật với các quy định hiện hành và chế tài áp dụng trong các lĩnh vực đã có hoặc sẽ có Bên cạnh đó, không nên đóng khung hay cố định các hành vi vi phạm mà nên bổ sung quy định rộng mở, gắn với cụm từ “các hành vi vi phạm khác” ở cuối điều luật về hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật.

Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định nguyên tắc xác định hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu, nhưng quy định này chứa nhiều điểm bất hợp lý và mâu thuẫn với chính quy định hiện hành Không phải mọi hành vi vi phạm đều bị xử lý; chỉ những vi phạm được quy định và phát hiện sau khi nghỉ mới có thể bị xem xét xử lý, và điều này phụ thuộc vào thời hiệu quy định Vì vậy, cần sửa Luật theo hướng: các hành vi vi phạm xảy ra trong thời gian công tác của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu mà vẫn còn thời hiệu theo quy định thì bị xử lý kỷ luật; hoặc các hành vi vi phạm được phát hiện sau khi nghỉ mà liên quan đến thời gian công tác và còn thời hiệu theo quy định thì cũng bị xử lý kỷ luật Việc sửa đổi như trên sẽ khắc phục mâu thuẫn với chính quy định của Luật.

Thứ ba, hoàn thiện quy định về các hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

Nhà làm luật cần ghi nhận đầy đủ nội dung được Luật giao về việc áp dụng các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu trong Nghị định hướng dẫn chi tiết mới này Cụ thể như sau:

Một nguyên tắc cơ bản là vi phạm kỷ luật phải được quy định trong mối quan hệ tương quan với các hình thức kỷ luật, nhằm bảo đảm sự nhất quán và hiệu quả trong quản lý cán bộ, công chức Việc tham khảo kinh nghiệm lập pháp về việc áp dụng các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức đang đương nhiệm có thể giúp xây dựng các quy định phù hợp và nhất quán ở phần này Theo đó, cần quy định rõ các vi phạm kỷ luật cụ thể và xác định rõ điều kiện áp dụng đối với từng hình thức kỷ luật kèm theo.

127 Khoản 1 Điều 18 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, Công chức và Luật Viên chức ngày

Quy định ngày 25 tháng 11 năm 2019 nêu rõ mọi hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu đều bị xử lý theo quy định của pháp luật Vì vậy, cần đánh giá chính xác tính chất và mức độ của từng vi phạm kỷ luật để xác định mức xử lý phù hợp Đồng thời phải cân nhắc kỹ xem hành vi vi phạm có nên áp dụng hình thức kỷ luật hạ bậc lương cho công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; hay hình thức kỷ luật giáng chức cho người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; hay hình thức kỷ luật cách chức cho người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, và gán cho một trong các hình thức cảnh cáo, khiển trách hoặc xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm sao cho phù hợp.

Theo pháp luật Đức, công chức đang công tác có các hình thức kỷ luật như cảnh cáo, phạt tiền, giảm lương, hạ bậc và sa thải; trong khi công chức nghỉ hưu phải đối mặt với hai hình thức kỷ luật riêng là giảm lương hưu và truất lương hưu (truất vĩnh viễn) Khi bị truất lương hưu, công chức nghỉ hưu mất quyền hưởng lương hưu và các quyền liên quan đến thân nhân theo quy định, đồng thời mất quyền giữ các chức vụ, chức danh đã có trước khi nghỉ Điều này có nghĩa là trước khi nghỉ hưu, ở các vị trí như chuyên viên cao cấp, trưởng phòng, vụ trưởng hoặc thứ trưởng, người bị kỷ luật theo hình thức này sẽ không được tự giới thiệu hay được giới thiệu với danh xưng trước kia Hình thức kỷ luật "truất lương hưu" với công chức đã nghỉ việc theo pháp luật Đức xét về phương diện nhân thân giống tương tự với hình thức "xóa tư cách chức vụ đảm nhiệm" của pháp luật Việt Nam.

Vì vậy, nhà làm luật cần có sự hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng hình thức kỷ luật “xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm” trong quy định, bằng cách giải thích rõ ràng tại khoản đầu tiên của quy định hoặc ít nhất trong phần giải thích từ ngữ Đồng thời, cần bổ sung một định nghĩa thêm rằng “xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm” có nghĩa là xóa bỏ chức vụ, chức danh của cán bộ, công chức vi phạm mà họ từng nắm giữ trước khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu.

Đề xuất có một quy định riêng với tên điều luật là “Các quy định liên quan sau khi có quyết định xử lý kỷ luật đối với người đã nghỉ việc, nghỉ hưu”, trong đó nêu rõ các hệ quả pháp lý về vật chất và tinh thần sẽ áp dụng đối với hình thức xử lý kỷ luật cảnh cáo, khiển trách và đặc biệt là hình thức xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm Đối với hệ quả pháp lý về mặt vật chất, có nhiều lợi ích vật chất khác nhau, nhưng bài viết tập trung vào vấn đề lương hưu Theo thực trạng đã trình bày, hiện nay khi cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu mà bị xử lý kỷ luật thì không thể cắt hay giảm lương hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 Do đó, nhà làm luật cần nghiên cứu sửa đổi những quy định của Luật Bảo hiểm xã hội về tiền lương theo hướng tương thích và nhất quán với quy định về hệ quả pháp lý vật chất khi áp dụng hình thức xử lý trong XLKL CB, CC đã nghỉ việc, nghỉ hưu Việc sửa đổi này cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để ban hành các quy định phù hợp với bản chất của pháp luật về tiền lương, tránh việc gây bất cập và mâu thuẫn giữa các hệ thống luật liên quan.

Quy định kỷ luật công chức được thiết kế để duy trì kỷ cương và sự công bằng trong khu vực công, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi lương hưu của người đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu Các hệ quả pháp lý vật chất được xác định nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp về lương hưu và quy định rõ trường hợp quyền lợi có thể bị ảnh hưởng Việc thực thi đúng thẩm quyền và minh bạch giúp ngăn ngừa vi phạm, bảo vệ quỹ lương hưu và ngân sách nhà nước Khi các quyết định kỷ luật được áp dụng đúng chuẩn, người nghỉ hưu sẽ nhận đầy đủ các chế độ lương hưu và quyền lợi liên quan họ xứng đáng Nhờ vậy, hệ thống công chức được củng cố niềm tin của người dân và tăng cường hiệu quả quản lý.

Trong thực tiễn xử lý vi phạm, chỉ áp dụng hình thức xử lý kỷ luật như cảnh cáo hoặc khiển trách mà không đi kèm với hệ quả pháp lý sẽ khó đạt được mục đích trừng trị và răn đe, vì nó chỉ tác động tới danh tiếng còn các lợi ích vật chất như lương hưu, nhà công vụ, xe công vẫn không bị ảnh hưởng Ngược lại, nếu một cá nhân vi phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng lại chịu hình thức xử lý hành chính bằng cảnh cáo hoặc khiển trách thì hiệu quả xử lý sẽ giảm và mang tính hình thức Giải pháp là gắn kết yếu tố kỷ luật với các hệ quả pháp lý phù hợp, nhằm nâng cao tính răn đe, trừng trị và giáo dục người vi phạm Đối với hệ quả pháp lý về mặt tinh thần, ngoài các lợi ích khác, bài viết tập trung bàn đến huân chương và danh hiệu thi đua—khiến cần quy định tước bỏ và không công nhận các danh hiệu thi đua, huân chương và huy chương đã đạt được trong thời gian công tác, buộc nộp lại giá trị vật chất kèm theo như hiện vật và hiện kim của từng danh hiệu.

Ngày đăng: 27/10/2022, 16:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 2016
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 2021
1. Hồ Chí Minh Toàn tập (1984), NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh Toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 1984
2. Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Tập 5, NXB. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh Toàn tập
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
3. Hoàng Thị Kim Quế (2015), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, NXB. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Hoàng Thị Kim Quế
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia
Năm: 2015
4. Lê Đinh Mùi (2015), Pháp luật về đạo đức công chức ở Việt Nam hiện nay, NXB. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về đạo đức công chức ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Đinh Mùi
Nhà XB: NXB. Tư pháp
Năm: 2015
5. Nguyễn Cửu Việt (2003), Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp Luật, NXB. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp Luật
Tác giả: Nguyễn Cửu Việt
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia
Năm: 2003
6. Nguyễn Cảnh Hợp (2011), Thể chế công vụ, NXB. Tư pháp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế công vụ
Tác giả: Nguyễn Cảnh Hợp
Nhà XB: NXB. Tư pháp
Năm: 2011
7. Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Cửu Việt
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 2013
8. Nguyễn Minh Đoan (2014), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm pháp lý của nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan nhà nước ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm pháp lý của nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan nhà nước ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2014
9. Nguyễn Cảnh Hợp (2017), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, NXB. Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Cảnh Hợp
Nhà XB: NXB. Hồng Đức
Năm: 2017
10. Phạm Hồng Thái (2004), Công vụ công chức nhà nước, NXB. Tư pháp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công vụ công chức nhà nước
Tác giả: Phạm Hồng Thái
Nhà XB: NXB. Tư pháp
Năm: 2004
11. Phạm Thị Huệ (2020), Kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, NXB. Chính trị Quốc Gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Thị Huệ
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc Gia – Sự thật
Năm: 2020
12. Tô Tử Hạ (1998), Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ công chức hiện nay, NXB. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ công chức hiện nay
Tác giả: Tô Tử Hạ
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 1998
13. Trần Ngọc Đường (2000), Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, NXB. Chính trị Quốc gia – Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia – Sự Thật
Năm: 2000
14. Trần Nghị (2017), Trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước, NXB. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước
Tác giả: Trần Nghị
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2017
15. Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng, Đà Nẵng. • LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB. Đà Nẵng
Năm: 2003
1. Phan Thị Ngọc Thanh (2002), Trách nhiệm kỷ luật của công chức - Lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm kỷ luật của công chức - Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phan Thị Ngọc Thanh
Năm: 2002
2. Hà Thị Minh Châu (2014), Quy trình xử lý kỷ luật công chức, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình xử lý kỷ luật công chức
Tác giả: Hà Thị Minh Châu
Năm: 2014
3. Nguyễn Thị Ngọc Đức (2014), Xử lý kỷ luật công chức, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.• BÀI BÁO, TẠP CHÍ VÀ CÁC BÀI VIẾT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý kỷ luật công chức
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Đức
Năm: 2014

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w