Theo đó, 1 TCHNCC phải BTTHcho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà CCV, nhân viên hoặcngười phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình cô
ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG KHI GIAO DỊCH DÂN SỰ ĐƯỢC CÔNG CHỨNG BỊ TUYÊN BỐ VÔ HIỆU
Việc công chứng sai quy định pháp luật làm cho giao dịch dân sự vô hiệu, gây thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác
1.1.1 Việc công chứng sai quy định pháp luật làm cho giao dịch dân sự được công chứng bị tuyên bố vô hiệu
Việc công chứng phải tuân thủ khung pháp lý; việc xác định hành vi trái pháp luật là căn cứ để đánh giá xem công chứng có đúng quy định hay không Trong hoạt động công chứng, hành vi trái pháp luật là vi phạm pháp luật về công chứng và các quy định liên quan đến hình thức, nội dung giao dịch dân sự như Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, cũng như quy trình tiếp nhận hồ sơ thực hiện công chứng hợp đồng, giao dịch và các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của CCV Theo Khoản 1 Điều 17 Luật Công chứng năm 2014, CCV có quyền từ chối công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch vi phạm pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội; việc công chứng trong trường hợp đó sẽ có căn cứ xác định là không đúng quy định của pháp luật Do đó, nhận diện các trường hợp công chứng không đúng quy định của pháp luật là cần thiết; tác giả đã đưa ra các trường hợp điển hình.
(1) Trường hợp việc công chứng thuộc các hành vi bị cấm
Các trường hợp CCV không được công chứng theo điểm b, c khoản 1 Điều 7 Luật Công chứng năm 2014:
Việc công chứng chỉ có hiệu lực khi mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch và bản dịch không phạm pháp và không trái đạo đức xã hội; nếu mục đích và nội dung vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc mang tính giả tạo thì dù trước hay sau công chứng cũng không có giá trị pháp lý Các hành vi gian dối có thể bắt nguồn từ chính người yêu cầu công chứng; Luật Công chứng năm 2014 nghiêm cấm theo điểm b, c khoản 2 Điều 7: “người yêu cầu công chứng cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; sử dụng giấy tờ văn bản giả mạo hoặc bị tẩy xóa, sửa chữa trái pháp luật để yêu cầu công chứng” hoặc “người làm chứng, người phiên dịch có hành vi gian dối, không trung thực” Hành vi gian dối có thể có sự tham gia của CCV, vì vậy Luật Công chứng năm 2014 quy định đây là hành vi bị cấm; TCHNCC sẽ BTTH cho người yêu cầu công chứng và cho các cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà CCV, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng.
Việc công chứng hợp đồng, giao dịch và bản dịch có liên quan đến tài sản hoặc lợi ích của chính người công chứng hoặc của những người thân thuộc trong gia đình như vợ/chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; ông, bà; anh chị em ruột, anh chị em ruột của vợ hoặc chồng; cháu là con của con đẻ, con nuôi; Trường hợp này sẽ không đảm bảo tính khách quan vì văn bản được yêu cầu công chứng có nội dung liên quan đến quyền lợi của bản thân CCV hoặc những người thân thích trong gia đình của CCV.
(2) Trường hợp công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn
Khoản 5, 6 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014 quy định hai trường hợp CCV có quyền từ chối công chứng:
Trong trường hợp có căn cứ cho rằng hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng hoặc giao dịch có dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép và nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc đối tượng của hợp đồng, giao dịch chưa được mô tả cụ thể, CCV đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ; hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, CCV tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định Trường hợp không làm rõ được thì CCV có quyền từ chối công chứng Hồ sơ yêu cầu công chứng bao gồm các giấy tờ, tài liệu liên quan đến văn bản được yêu cầu công chứng; chính vì vậy, việc CCV xem xét các giấy tờ này là đánh giá tính hợp pháp của văn bản được yêu cầu công chứng Nếu đánh giá không cẩn thận, không chính xác có thể dẫn tới rủi ro.
(ii) CCV kiểm tra dự thảo hợp đồng, giao dịch; nếu trong dự thảo hợp đồng, giao dịch có điều khoản vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, đối tượng của hợp đồng, giao dịch không phù hợp với quy định của pháp luật thì CCV phải chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng để sửa chữa Trường hợp người yêu cầu công chứng không sửa chữa thì CCV có quyền từ chối công chứng Thực tế, các hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn có thể được soạn bởi nhiều chủ thể, không tránh khỏi trường hợp người soạn thảo thiếu kiến thức pháp luật, thiếu trình độ chuyên môn. CCV qua quá trình kiểm tra sẽ phát hiện và hỗ trợ người yêu cầu công chứng sửa đổi, bổ sung các vấn đề này và CCV có quyền từ chối công chứng nếu người yêu cầu công chứng không làm rõ các nghi vấn có liên quan.
(3) Trường hợp công chứng di chúc
Khoản 2 Điều 56 Luật Công chứng năm 2014 quy định:
(i) Trường hợp CCV nghi ngờ người lập di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình hoặc có căn cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép thì CCV đề nghị người lập di chúc làm rõ, trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng di chúc đó.
Trong trường hợp tính mạng của người lập di chúc bị đe dọa, người yêu cầu công chứng không phải xuất trình đầy đủ giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng, но phải ghi rõ trong văn bản công chứng các thông tin liên quan đến tình huống đe dọa tính mạng, gồm:
- Phiếu yêu cầu công chứng;
- Dự thảo hợp đồng, giao dịch;
- Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng;
Đối với các tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, trong trường hợp có hợp đồng hoặc giao dịch liên quan đến tài sản đó, phải cung cấp bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật công nhận Bản sao này là căn cứ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng và được chấp nhận trong các giao dịch liên quan, giúp đảm bảo tính hợp lệ của hợp đồng và quyền lợi của các bên.
- Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có.
Thực tế hiện nay, việc để lại di chúc khá phổ biến và thường liên quan đến những tài sản có giá trị lớn, nhưng không phải di chúc nào cũng hợp pháp, đặc biệt khi một số người thừa kế lợi dụng quy định để giả mạo di chúc nhằm chiếm đoạt tài sản Một di chúc hợp pháp là di chúc được lập tại thời điểm người để lại di chúc còn minh mẫn sáng suốt, thể hiện ý chí của họ mà không bị lừa dối hay ép buộc, nội dung không trái pháp luật và đạo đức xã hội và phải bảo đảm đúng hình thức Chính vì vậy, khi nghi ngờ tính hợp pháp của di chúc, CCV phải đề nghị người lập di chúc làm rõ ý chí và tính hợp pháp của di chúc; nếu không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng di chúc đó, bởi di chúc giả mạo không chỉ ảnh hưởng đến người lập di chúc mà còn đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế khác, gây áp lực lên ngành Tòa án khi giải quyết các tranh chấp thừa kế phát sinh.
(4) Trường hợp công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản
Khoản 3 Điều 57 Luật Công chứng năm 2014 quy định CCV phải kiểm tra để xác định người để lại di sản đúng là người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và những người yêu cầu công chứng đúng là người được hưởng di sản; nếu thấy chưa rõ hoặc có căn cứ cho rằng việc để lại di sản và hưởng di sản là không đúng pháp luật thì từ chối yêu cầu công chứng hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, CCV tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định TCHNCC có trách nhiệm niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản trước khi thực hiện việc công chứng.
Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản cho người hưởng di sản; chính vì vậy, CCV phải làm rõ tính hợp pháp của loại văn bản này, ví dụ: trường hợp thừa kế theo pháp luật, thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế; trường hợp thừa kế theo di chúc thì phải có bản sao di chúc, các giấy tờ chứng minh được hưởng di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (ví dụ giấy chứng nhận kết hôn, khai sinh, giấy chứng nhận mất khả năng lao động nếu có).
(5) Trường hợp công chứng bản dịch
Khoản 4 Điều 61 Luật Công chứng năm 2014 quy định CCV không được nhận và công chứng bản dịch trong các trường hợp CCV biết hoặc phải biết bản chính được cấp sai thẩm quyền hoặc không hợp lệ; bản chính giả; giấy tờ, văn bản được yêu cầu dịch đã bị tẩy xoá, sửa chữa, thêm, bớt hoặc bị hư hỏng, cũ nát không thể xác định rõ nội dung; giấy tờ, văn bản được yêu cầu dịch thuộc bí mật nhà nước; giấy tờ, văn bản bị cấm phổ biến theo quy định của pháp luật Và khoản 3 Điều 61 Luật Công chứng năm 2014 quy định lời chứng của CCV đối với bản dịch phải ghi rõ thời điểm, địa điểm công chứng, họ tên CCV, tên TCHNCC; họ tên người phiên dịch; chứng nhận chữ ký trong bản dịch đúng là chữ ký của người phiên dịch; chứng nhận nội dung bản dịch là chính xác, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; có chữ ký của CCV và đóng dấu của TCHNCC Như vậy, nội dung của điều luật này đưa ra trách nhiệm của CCV phải đảm bảo nội dung bản dịch là chính xác, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Luật Công chứng năm 2014 quy định rõ các trường hợp từ chối công chứng đối với hợp đồng, giao dịch và bản dịch vi phạm pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội theo quy định của pháp luật Nếu hoạt động công chứng rơi vào các hành vi thuộc các trường hợp nêu trên, đó được xem là căn cứ xác định việc công chứng không đúng quy định của pháp luật Việc tuân thủ các quy định này giúp bảo đảm tính hợp lệ và an toàn pháp lý của các giao dịch, đồng thời nâng cao uy tín của hệ thống công chứng và tạo cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm.
Thực tiễn xét xử hiện vẫn lúng túng khi xác định hành vi của CCV trong trường hợp người yêu cầu công chứng dùng giấy tờ, tài liệu giả mạo Giấy tờ giả ngày càng được làm tinh vi, khó phát hiện bằng mắt thường, gây nhiều khó khăn cho CCV trong hoạt động công chứng Dù cơ sở dữ liệu công chứng đã được triển khai trên toàn quốc như công cụ hỗ trợ CCV phát hiện giấy tờ giả và sai lệch sự thật, một số địa phương vẫn chưa có điều kiện áp dụng hoặc đã áp dụng nhưng chưa liên kết với cơ sở dữ liệu hộ tịch, đăng ký giao dịch bảo đảm, dẫn tới nhiều hệ lụy khi có sai phạm xảy ra.
Ngày 21/6/2019, Phòng Công chứng X tiếp nhận yêu cầu chứng nhận hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho căn nhà số 247 đường T, phường M, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Phước H và bà Đặng Thị Kim O, tuyên bố hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với căn nhà trên được ký giữa ông H và bà O, do bà Trần Phượng L đại diện theo ủy quyền theo hợp đồng ủy quyền số công chứng 846 ngày 31/05/2019 tại VPCC L với ông Phạm Văn.
Có lỗi của công chứng viên, nhân viên, người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng
Về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, khoản 1 Điều
584 BLDS năm 2015 quy định: "Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác" Như vậy, BLDS năm 2015 xác định căn cứ trách nhiệm BTTH dựa trên hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại Về lý thuyết, nếu căn cứ phát sinh BTTH trong hợp đồng là việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, thì BTTH ngoài hợp đồng thường là hành vi trái pháp luật của chủ thể khi không thuộc trường hợp BTTH do tài sản gây ra Đây là điểm khác biệt giữa BLDS năm 2015 và BLDS năm 2005 Mặc dù các quy định về BTTH có đề cập đến yếu tố "lỗi", BLDS năm 2015 vẫn thể hiện sự ưu tiên xác định trách nhiệm BTTH dựa trên hành vi xâm phạm.
Lỗi không phải là yếu tố bắt buộc để xác lập trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, theo Điều 604 BLDS năm 2005, trách nhiệm này chỉ phát sinh khi người gây thiệt hại có lỗi cố ý hoặc vô ý Với quy định này, ngoài chứng minh hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại, người bị thiệt hại còn phải chứng minh người gây thiệt hại có lỗi; quy định cũ yêu cầu chứng minh hành vi trái pháp luật và đồng thời chứng minh lỗi của người gây thiệt hại.
Có thể nói hai khái niệm "lỗi" và "hành vi trái pháp luật" khác nhau hoàn toàn về mặt ngữ nghĩa; đồng nhất chúng dễ dẫn đến người bị thiệt hại không được bồi thường xứng đáng Thực tiễn xét xử hầu như không phân biệt rõ hai khái niệm này: trong quá trình giải quyết tranh chấp, có tòa căn cứ lỗi, có tòa căn cứ vào hành vi trái pháp luật, hoặc thậm chí cả hai yếu tố Theo tác giả, việc đặt vấn đề lỗi ở đây không phải để xác định trực tiếp trách nhiệm BTTH mà là điều kiện để xác định ai phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
1.2.1 Lỗi của công chứng viên
Trong tình huống thứ ba, Tòa án xác định VPCC Ngọc Yến có lỗi và có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, đồng thời không có sự phân biệt giữa hai yếu tố này như ở tình huống thứ tư Theo bản án cấp phúc thẩm, bà Y đã ký và điểm chỉ thay cho 03 người con khi không được đồng ý và không có văn bản ủy quyền của các con, dẫn đến xâm phạm quyền thừa kế của H, Tr và Ph; đồng thời cháu Q không được ghi tên là người thừa kế cũng vi phạm quyền lợi về tài sản của cháu VPCC B biết rõ H, Tr và Ph là các người có quyền lợi liên quan nhưng không trực tiếp ký vào văn bản công chứng, vi phạm quy định của Luật Công chứng Do hai văn bản trên bị vô hiệu nên các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có giá trị pháp lý Tòa án dựa trên hành vi vi phạm quy định Luật Công chứng của VPCC B để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của TCHNCC.
Đỗ Văn Đại phân tích hệ thống Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam thông qua các bản án tiêu biểu và bình luận bản án, làm rõ nguyên tắc, phạm vi và cách áp dụng trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng trong thực tiễn Cuốn sách "Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án" là một sách chuyên khảo ở bản in thứ tư, tập 1, do Nxb Hồng Đức phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam xuất bản, trang 30 Tài liệu tổng hợp cơ sở pháp lý, giải thích quan điểm tư pháp và các tình huống thực tiễn, giúp người học và người làm nghề luật hiểu sâu về cách xác định thiệt hại, mức bồi thường và biện pháp khắc phục phù hợp khi xảy ra bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Khoản 2 Điều 585 BLDS năm 2015 quy định: “Người chịu trách nhiệm
BTTH có thể được giảm mức bồi thường khi không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý và thiệt hại vượt quá khả năng kinh tế của mình Do đó, tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng lỗi đóng vai trò đáng kể trong việc ấn định mức bồi thường và đồng thời ủng hộ việc bỏ yếu tố lỗi của người gây thiệt hại ra khỏi căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường.
Việc duy trì chức năng giáo dục của chế định BTTH ngoài hợp đồng là yếu tố then chốt để pháp luật có tác dụng giáo dục thay vì chỉ trừng phạt; các quy định của pháp luật được hình thành nhằm hướng tới lợi ích xã hội, nên người có hành vi trái pháp luật đang đi ngược lại hướng thiện của xã hội và cần được áp dụng chế tài phù hợp Việc áp dụng chế tài bồi thường không căn cứ vào khả năng nhận thức của cá nhân sẽ giúp hình thành thói quen tôn trọng các quy định của pháp luật: nếu không muốn bị xử phạt, chủ thể phải tuân thủ quy định của pháp luật Thứ hai, người vô ý gây thiệt hại được đối xử ưu已经 đải hơn người cố ý gây thiệt hại, do đó cách xử lý này làm giảm động cơ gây thiệt hại có chủ ý.
Khi xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH của TCHNCC, chỉ nên dựa trên ba điều kiện đã được phân tích trước đó Đối với yếu tố "lỗi", đây không được xem là điều kiện thứ tư và "lỗi" chỉ đóng vai trò để ấn định mức BTTH.
Trong trường hợp văn bản công chứng không đảm bảo tính xác thực, hợp pháp và không trái đạo đức xã hội, mà không do lỗi của CCV và TCHNCC, văn bản đó bị vô hiệu nhưng không đặt ra trách nhiệm bồi thường của TCHNCC Khoản 2 Điều 585 BLDS năm 2015 quy định: “Người chịu trách nhiệm BTTH có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình” Ngoài ra, có ba lý do khiến CCV không BTTH 30.
“1 Công chứng viên đã làm đúng thủ tục, quy trình theo quy định tại các Điều
Theo Điều 40 và Điều 41 của Luật Công chứng năm 2014, công chứng viên tiến hành kiểm tra và đối chiếu giấy tờ gốc với bản sao do các bên xuất trình; kiểm tra hành vi của các bên khi giao kết hợp đồng; giải thích quyền và nghĩa vụ, cũng như hậu quả pháp lý khi ký kết hợp đồng; kiểm tra tình trạng pháp lý của tài sản giao dịch có bị ngăn chặn hoặc hạn chế giao dịch hay không; và yêu cầu các bên đọc lại hợp đồng, sau khi đồng ý toàn bộ nội dung, hướng dẫn các bên ký tên và lăn tay trước mặt công chứng viên.
29 Đỗ Văn Đại, tlđd (28), tr 146.
30 https://plo.vn/phap-luat/bat-cap-an-tuyen-cong-chung-vien-boi-thuong-870874.html , truy cập lần cuối lúc 15h, ngày 29/3/2021.
2 Trong vụ việc có người đóng giả đối tượng chủ nhà, đất (vợ hoặc chồng hoặc cả hai)… để ký hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất, ở khía cạnh nào đó thì CCV cũng chỉ là nạn nhân vì CCV không thể phán đoán được ngay giấy tờ này là giả, người này là giả Cả cơ quan cảnh sát điều tra cũng không thể khẳng định thật giả ngay mà phải trưng cầu giám định để Phòng Kỹ thuật hình sự thực hiện giám định dấu vân tay, chữ viết, chữ ký Khi giám định thì cũng phải có mẫu cần giám định và mẫu so sánh, đồng thời sử dụng các phương tiện kỹ thuật, máy móc chuyên ngành kỹ thuật hình sự mới phát hiện, kết luận chính xác được.
3 Pháp luật không có quy định bắt buộc CCV phải có trách nhiệm phát hiện giấy tờ giả tinh vi Người yêu cầu công chứng phải chịu trách nhiệm về các giấy tờ mà mình xuất trình.”
Vụ việc dân sự tại TAND Thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến yêu cầu tuyên văn bản công chứng vô hiệu giữa bà Phạm Bích Lan A và Văn phòng công chứng C liên quan đến di sản thừa kế của ông M về căn nhà 192/16M1, phường D2, quận S Do ông M chết không để lại di chúc, di sản của ông được chia theo pháp luật cho bà E, ông G và bà Lan A; tuy nhiên khi làm thủ tục khai nhận và phân chia di sản, bà E đã cố tình bỏ sót Lan A Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Lan A và tuyên văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản do VPCC C công chứng là vô hiệu.
Tòa án cấp phúc thẩm nhận định bản án sơ thẩm cho rằng Văn phòng công chứng C không làm hết trách nhiệm khi không yêu cầu bà E cung cấp bản sao hộ khẩu cũ hoặc đến cơ quan công an để xác minh số lượng người có trong hộ khẩu và mối quan hệ với ông M; nhận định này không phù hợp với quy định của pháp luật Bà E có nghĩa vụ xuất trình đầy đủ các giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng nhưng bà E cố tình che giấu, do đó bà E là người có lỗi trong việc này Văn phòng công chứng C chưa thực hiện niêm yết đối với yêu cầu thỏa thuận phân chia di sản nên căn cứ quy định phải nộp án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.
Kiến nghị thứ sáu nêu rõ trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, làm giả và sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, hầu như các cơ quan tiến hành tố tụng không xem xét trách nhiệm của TCHNCC Tuy nhiên, nếu CCV thiếu sự quan tâm, chu đáo và chỉnh chu trong thực hiện nghiệp vụ đến mức không phát hiện sự giả mạo, lừa dối trong quá trình công chứng, thì hậu quả có thể ảnh hưởng tới tính minh bạch và hiệu lực của quá trình tố tụng.