NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG IIĐôì MÚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC MÔN Tư TƯỞNG HỒ CHÍ MINH THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG Lực NGƯỜI HỌC Phạm Phúc Vĩnh * , Huỳnh Thị Kim Quyên ** * TS.. Neu ho
Trang 1NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG II
Đôì MÚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC
MÔN Tư TƯỞNG HỒ CHÍ MINH THEO HƯỚNG TIẾP CẬN
NĂNG Lực NGƯỜI HỌC
Phạm Phúc Vĩnh * , Huỳnh Thị Kim Quyên **
* TS Trường Đại học Sài Gòn
*♦ ThS.Trường Đại học Sài Gòn.
ABSTRACT
The article analyzes the current situation, advantages and restricts of testing and evaluating results in process teaching the Ho Chi Minh ideology and manipulate the theory of assessment methods towards to competency approach to design the format of the competency assessment test for Ho Chi Minh ideology subject to contribute improving the teaching effectiveness of this subject.
Keyword: Testing, Assessment, Ho Chi Minh ideology, Capacity approach.
Received:18/02/2022; Accepted:24/02/2022; Published:28/02/2022
l Đặt vấn đề
Kiểm tra, đánh giá (KTĐG) kết quả học tập
là khâu quan trọng trong quá trình dạy học, có ý
nghĩa tác động điều chỉnh toàn bộ quá trình dạy
học Neu hoạt động đánh giá kết quả học tập của
người học được thực hiện khách quan, chính xác
thì sẽ tạo hứng thú, động lực thúc đẩy sinh viên
(SV) trong quá trình lĩnh hội kiến thức và hình
thành các năng lực cần thiết theo mục tiêu của
môn học và chương trình đào tạo
Hiện nay, môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
(TTHCM) đã được thiết kế theo hướng dạy
học phát triển năng lực người học, nhưng cách
KTĐG giá vẫn chưa đổi mới theo mục tiêu
của môn học Thực tế đó đòi hỏi phải đổi mới
phương pháp KTĐG môn TTTHCM theo hướng
tiếp cận năng lực người học (NLNH) để đáp ứng
yêu cầu đổi mới pp dạy học và mục tiêu của
môn học
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Khái niệm kiếm tra, đánh giả
Theo tác giả Nguyễn Công Khanh và Đào
Thị Oanh: “Đánh giá trong giáo dục là một quá
trình thu thập, tổng hợp, diễn giài thông tin về
đối tượng cần đánh giá (hiểu biết về năng lực
của HS, chương trình giáo dục, điều kiện nhà trường, ) một cách có hệ thống nhằm mục đích hiểu biết sâu và sử dụng các thông tin này
để quyết định về HS, về chương trinh, về nhà trường hay đưa ra các chính sách giáo dục”.Đó
là quá trình “xem xét, tổ chức thu thập thông tin
và gắn với hoạt động đo lường để đưa ra các kết quả, so sánh, đối chiếu với yêu cầu, mục tiêu hay chuẩn đã đề ra, với mục đích xác định xem cái gì
đã đạt được, cái gì chưa đạt được, những nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng và chi phối
2.2 Kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực người học
KTĐG kết quả học tập của HS theo hướng tiếp cận NLNH tập trung vào các định hướng cơ bản như sau:
- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khóa học nhằm mục đích xếp hạng, phân loại sang sừ dụng các loại hình thức đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ sau từng chủ đề, từng chương nhằm mục đích phản hồi điều chỉnh quá trình dạy học
- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, KN sang đánh giá NLNH Tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo
TẠP CHÍ THIẾT BỊ GIÁO DỤC - sõ 260 kỳ 1 - 3 / 2022 51
Trang 2II NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG
- Chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như
độc lập với quá trình dạy học sang tích hợp đánh
giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá như là
một pp dạy học;
- Tăng cường sử dụng CNTT trong KTĐG:
sử dụng các phần mềm thẩm định các đặc tính
đo lường của công cụ (độ tin cậy, độ khó, độ
phân biệt, độ giá trị) và sử dụng các mô hình
thống kê vào xử lý phân tích, lý giái kết quả
đánh giá
2.3 Sự cần thiết phải đối mới KTĐG kết
quả học tập môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
2.3.1 Mục tiêu của môn TTHCM
về kiến thức, sv hiểu được những kiến thức
cơ bản về khái niệm, nguồn gốc, quá trình hình
thành và phát triển TTHCM, những nội dung cơ
bản về TTHCM, sự vận dụng của Đảng Cộng
sản Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân và cách mạng XHCN
về KN, hình thành cho sv khả năng tư duy
độc lập, phân tích, đánh giá, vận dụng sáng tạo
TTHCM và giải quyết các vấn đề trong thực tiền
đời sống, học tập và công tác
về thái độ, sv được nâng cao bản lĩnh chính
trị, yêu nước, trung thành với mục tiêu, lý tưởng
độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; nhận thức
được vai trò, giá trị của TTHCM với Đảng và
dân tộc Việt Nam, thấy được trách nhiệm của
bản thân trong học tập, rèn luyện để góp phàn
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
TTHCMhiện nav
về phương thức đánh giá kết quả học tập, tất
cả các trường đại học đều áp dụng phương thức
đánh giá quá trình (đánh giá thường xuyên và
đánh giá định kỳ trong suốt quá trình dạy học)
với nhiều phương thức kiểm tra phong phú, đa
dạng
về hình thức bài thi cuối kì môn TTHCM
thường được thực hiện bằng bài thi viết với ba
hình thức cơ bản như sau:
Thứ nhât, Bài thi tự luận được áp dụng phô
biến nhất Cụ thể như: Đề thi học kì 2, năm học
2019 -2020 của Trường ĐH Sài Gòn gồm hai
câu: Câu 1: Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc và Câu 2: Phân tích những chuẩn mực đạo đức cách mạng theo TTHCM Anh/chị hãy liên
hệ thực tiễn về thực trạng đạo đức xã hội ở nước
ta hiện nay Đề thi học kì 2, năm học 2020 - 2021 của Trường ĐH Y dược TP Hồ Chí Minh gồm hai câu hỏi như sau: Câu 1: Phân tích TTHCM
về vai trò và bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam? Làm rõ sự vận dụng sáng tạo quan điểm Mác - Lênin của Hồ Chí Minh về việc sáng lập
và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam? Câu 2: Phân tích TTHCM về thời kỳ quá độ lên CNXH
ở Việt Nam Anh/chị hãy phân tích những thuận lợi và khó khăn của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH hiện nay
Phần lớn các đề thi tự luận chỉ yêu cầu người học ở mức độ ghi nhớ hoặc chép lại những gì đã
có trong giáo trình, yêu cầu người học tái hiện lại kiến thức, nhắc lại và nhớ lại về những thông tin hoặc sự kiện đơn thuần mà không nhất thiết phải hiểu về chúng Đề thi chưa đánh giá được khả năng nắm vừng kiến thức hoặc quá đặt nặng khả năng ghi nhớ kiến thức
Thứ hai, Bài thi trắc nghiệm khách quan hoặc kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận Các câu hỏi của dạng đề thi trắc nghiệm khách quan chủ yếu là kiểm tra kiến thức liên quan đến môn học của sv Dạng đề thi này hiện nay chưa được sử dụng phổ biến
kể từ khi chương trình học phần TTHCM được ban hành kèm theo Quyết định số 4890/QĐ- BGDĐT ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Bộ GD&ĐT được áp dụng
Việc KTĐG học phần TTHCM như trên chưa thật sự đánh giá đầy đủ năng lực cùa người học theo các mục tiêu môn học, không khuyến khích người học hình thành động cơ học tập tích cực, đồng thời không thu được đầy đủ các thông tin phản hồi giúp GV điều chỉnh pp dạy học
2.3.3 Những năng lực cân đánh giá trong học tập môn TTHCM
Các chuân năng lực tương ứng làm cơ sở cho việc xây dựng các tiêu chí kiêm tra và thiết
52 TẠP CHÍ THIẾT BỊ GIÁO DỤC - số 260 kỳ 1 - 3 / 2022
Trang 3NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG II
<ế các bài thi đế đánh giá kết quả học tập môn
TTHCM:
Nhớ: Mức độ nhận thức này yêu cầu người
học nắm được những kiến thức cơ bản đã học,
có khả năng nhắc lại các thông tin đã được tiếp
nhận trong quá trình học môn học TTHCM
Muốn đạt được mức độ nhận thức “nhớ” yêu cầu
sv phải nắm được một cách hệ thống nội dung
cơ bản bài học, nhớ lại đúng điều được hỏi đến,
lặp lại đúng một định nghĩa, nội dung cơ bản của
môn học TTHCM
Hiểu: Ở mức độ nhận thức này yêu cầu sv
phải nẳm được nội dung, ý nghĩa cúa môn học
TTHCM thể hiện thông qua khả năng phân tích,
diễn giải, suy diễn; biết nhận xét, đánh giá vấn
đề ở nhiều góc độ khác nhau Từ đó, đưa ra quan
điểm của cá nhân và biết bảo vệ quan điềm cá
nhân bằng việc sử dụng tổng thể kiến thức đã
học làm dần chứng sinh động cho việc bào vệ
quan điểm đó
Trong trường hợp môn học TTHCM, hiêu là
đọc và hiểu được nội dung trong bài học, liên
quan đến các vấn đề khoa học xã hội, chính trị
xã hội nói chung, sv phải trình bày được chủ
kiến ve một số hiện tượng, tình huống liên quan
đến nội dung môn học như khẳng định, hoặc
phủ định, nhận xét về một sự kiện, hiện tượng
hay một vấn đề liên quan đến nội dung môn học
TTHCM
Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng vào
thực tiễn (sáng tạo): Vận dụng kiến thức vào
thực tiền là mức độ nhận thức cao hơn so với
nhớ và hiểu trong thang đo đánh giá năng lực,
đây là khả năng sv tự giãi quyết các vấn đề
đặt ra trong thực tế một cách hiệu quả và nhanh
chóng trên cơ sở vận dụng kiến thức, kĩ năng
hoặc trải nghiệm của bản thân để xử lý các tinh
huống đó
Trong trường hợp môn học TTHCM, vận
dụng thực tiễn được hiểu là khả năng người học
sử dụng kiến thức môn học TTHCM đe giái
thích, mô tà một số sự kiện, tình huống, phát
sinh trong thực tế Biểu hiện cụ thể cùa năng
lực “vận dụng” trong môn học TTHCM là người
học biết cách phân tích những tình huống có
thực trong cuộc sống; biết phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề phát sinh trong thực tế, biết cách phản biện với tư duy độc lập sáng tạo, trên
cơ sở đó lựa chọn những giải pháp nhằm giải quyết các tình huống trên một cách thiết thực và hiệu quả nhất
2.4 Giải pháp đổi mới KTĐG theo hướng tiếp cận năng lực người học
- Tiếp tục áp dụng phương thức đánh giá quá trình như đang áp dụng phổ biến trong việc đánh giá môn TTHCM ở các trường hiện nay
- Tăng cường hiệu quà của việc đánh giá chuyên cần, đánh giá thông qua tháo luận, thực
tế chuyên môn Căn cứ chất lượng tham gia phát biêu ý kiến xây dựng bài, chất lượng thảo luận, Xeminar để đánh giá kha năng giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn của sv.
- Thiết kế bài thi đánh giá năng lực để thay thế cho các dạng bài thi hiện nay trong quá trình kiểm tra giữa kì và bài thi kết thúc học phần
- Nội dung câu hỏi KTĐG cần đảm bào về lý thuyết và liên hệ thực tiễn, nội dung giảng trên lớp và tự học, tự nghiên cứu của sv Hệ thống càu hỏi cùa bài thi phải thể hiện sự phân hoá và đánh giá được quá trình nhận thức của sv theo các cấp độ như: nhớ, hiểu, sáng tạo Đê đáp ứng yêu cầu này, tác giả đã thiết kế bài kiếm tra cá nhân kết hợp ba hình thức khác nhau: trắc nhiệm khách quan, đọc đoạn dừ liệu cho trước để trả lời câu hỏi trắc nghiệm và tự luận
Phần trắc nghiệm khách quan chủ yếu kiểm tra những kiến thức cơ bản nhằm đánh giá quá trình nhận thức ở cấp độ ghi nhớ, nhận biết; sv chi cần tham gia học tập, nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản của môn học
Phần bài đọc yêu cầu sv dựa vào đoạn trích
đê trả lời các câu hởi Dạng bài này kiểm tra mức độ hiểu và vận dụng kiến thức của sv Mỗi đoạn vãn sẽ có 3 càu hỏi trắc nghiệm với mức
độ từ dễ đen khó với các mức độ nhận thức như nhớ, hiểu, phân tích và vận dụng mới có thể trả lời các câu hởi dạng này
Phần tự luận nhàm đánh giá kha năng vận dụng kiến thức, KN đã học để giãi quyết các vấn
đề thực tiễn trong cuộc sống, câu hỏi được nêu
TẠP CHÍ THIẾT BỊ GIÁO DỤC - sổ 260 kỳ 1 - 3 / 2022 53
Trang 4NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG
ra phải mang tính liên hệ với thực tiền
Dạng thức bài thi đánh giá năng lực như trên
đã được tác giả áp dụng thí điểm bước đầu tại
Trường ĐH Sài Gòn(1) Kết quả thu được bước
đầu cho thấy, dạng thức bài thi này khắc phục
được những hạn chế của các dạng bài thi trước
đây, giúp kiểm tra được những kiến thức cơ bản
nhất liên quan đen môn học, đánh giá được năng
lực tư duy, vận dụng kiến thức của sv, đặc biệt
là khi làm bài, sv hoàn toàn tự chủ, phải đọc và
suy nghĩ dữ liệu được cung cấp để trả lời, không
còn tình trạng học thuộc lòng hay mớ giáo trình
để trả lời như các dạng đề thi cũ, kết quả bài thi
thể hiện sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm sv(2)
và đế làm được bài thi này, đòi hỏi sv phải tham
gia học tập tích cực, chủ động, từ đó hình thành
động cơ học tập tích cực cho sv
3.Kết luận
Việc KTĐG kết quả học tập môn TTHCM
theo hướng tiếp cận năng lực không tập trung
vào việc kiểm tra khả năng ghi nhớ những kiến
thức mà chủ yếu tập trung vào đánh giá năng
lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực
tiễn, tư duy sáng tạo Từ đó, hướng đến đánh
giá, năng lực phẩm chất cùa người học toàn
diện, chú trọng đến năng lực cá nhân, khuyến
khích sv thể hiện cá tính và năng lực bản thân
Cách đánh giá này giúp sv hình thành khả năng
vận dụng kiến thức, áp dụng sáng tạo tri thức đã
được học trong những tình huống thực tiễn phát
sinh trong cuộc sống Hình thức KTĐG theo
hướng tiếp cận năng lực giúp sv hình thành
động cơ học tập tích cực, tự chủ, tự chịu trách
nhiệm, không còn tình trạng không cần học tốt
vẫn thi đạt kết quả cao do yêu cầu của đề thi đơn
gian như trước đây Đây chính là động lực thúc
đẩy việc điều chỉnh quá trinh dạy học đạt hiệu
quá cao, góp phần hiện thực hóa Nghị quyết Hội
nghị lần thứ XII của Đàng về đổi mới giáo dục
và đào tạo
Chủ thích:
(1) Nhóm nghiên cứu đã áp dụng bài thi theo
dạng thức đánh giá năng lực trong kì thi giữa ki
và kì thi kết thúc học phần môn TTHCM của
Trường Đại học Sài Gòn trong học kì 2 năm học
2019 - 2020 và học kì 1 năm học 2020 - 2021 (2) Phổ điểm thi kết thúc học phần được đánh giá bằng bài thi theo dạng thức đánh giá năng lực thể hiện rõ nét độ phân hóa giữa các nhóm đối tượng sv, có tính phản hồi tốt cho GV và sv trong việc điều chỉnh pp dạy học
(*
) Bài báo này là sản phẩm của đề tài nghiên cứu cấp cơ sở “Hướng dẫn đánh giá và học tập môn TTHCM theo hướng phát triển năng lực người học”
Tài liệu tham khảo
l.Đồ Anh Dũng (2019), Đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng tiếp cận năng lực học sinh, http: Đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng tiếp cận năng lực học sinh (moet.gov.vn) Truy cập ngày 18/10/2021
2.Nguyền Thu Hà (2014), Giảng dạy theo năng lực và đánh giá theo năng lực trong giáo dục: Một sổ vấn đề lí luận cơ bản, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội: Nghiên cứu Giáo dục, Số 30
3.Nguyễn Công Khanh (chủ biên) (2017), Giáo trình “Kiểm tra đánh giá trong giáo dục” của NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội
4.Lê Đình Trung (Chủ biên), (2020), Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phồ thông, NXB Đại học
Sư phạm, Hà Nội
5.Nguyễn Thị Uyên (2019), Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn “Những vấn đề cơ bản của Chú nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” ở trường Chính trị Tình Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Thái Nguyên
6.Lê Công Triêm (chu biên), (2002), “Một số vấn đề hiện nay cùa phương pháp dạy học đại học”; NXBGD, Hà Nọi
7.Đàng Cộng sản Việt Nam (2016), Vãn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thử XII, https:// tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh- trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xii/dai- hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xii-cua-dang- cong-san-viet-nam-3, truy cập ngày 10-2-2022
54 TẠP CHÍ THIẾT BỊ GIÁO DỤC - số 260 kỳ 1 - 3 / 2022